Hiệp Sĩ Dòng Thánh Giá: Tiểu Thuyết Lịch Sử Krzyzacy

Lượt đọc: 68 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1

❊ ❊ ❊

Dẫu Glowacz rất nôn nóng muốn nhanh chóng đến Zgorzelice, anh vẫn không thể đi nhanh như ý muốn bởi đường sá quá mức lầy lội. Một đợt tan băng diện rộng đã diễn ra sau mùa đông khắc nghiệt, những trận giá rét căm căm cùng những đống tuyết dày chất đống che lấp cả các ngôi làng.

Tháng Hai, bất chấp cái tên của nó, hoàn toàn không tỏ ra đáng sợ chút nào.[110] Đầu tiên là những làn sương mù dày đặc, liên miên, nối tiếp sau đó là những trận mưa như trút nước cuốn trôi những đống tuyết trắng ngay trước mắt; và trong những khoảng tạnh ráo lại có những cơn gió rất mạnh đúng như thường lệ vào tháng Ba. Rồi những đám mây giông bỗng bị xé toạc bởi cơn gió lúc thì dồn chúng lại, lúc lại thổi tản đi, trong khi ở dưới mặt đất, gió hú lên trong các lùm cây, rít qua những cánh rừng và làm xơ xác lớp tuyết mà chỉ ít lâu trước đó thôi, những cành cây và thân cây còn đang chìm trong giấc ngủ mùa đông yên bình.

Những khu rừng chuyển sang một màu sẫm tối. Các đồng cỏ ngập chìm trong những vũng nướcênh ơnh. Sông suối đều dâng nước tràn bờ. Chỉ có những kẻ đánh cá là vui mừng trước sự dồi dào của yếu tố nước ấy, nhưng phần nhân loại còn lại thì bị giam cầm như trong ngục tối, quây quần ẩn náu trong những ngôi nhà và túp lều của mình. Ở nhiều nơi, việc giao thông giữa làng này với làng khác chỉ có thể thực hiện bằng thuyền. Chẳng hề thiếu những con đê điều, bờ chắn cùng những con đường xuyên qua rừng và đầm lầy được làm từ thân cây và khúc gỗ, thế nhưng giờ đây các con đê đã trở nên mềm nhũn và những gốc cây ở các vùng đất trũng ngập nước khiến việc đi lại trở nên nguy hiểm, hoặc những con đường hoàn toàn trở thành vô phương qua lại. Phần đường khó khăn nhất đối với người xứ Bohemia khi phải vượt qua chính là vùng đất hồ Wielkopolska, nơi mà mỗi độ xuân về, băng tan nhiều hơn bất cứ vùng nào khác trên đất Ba Lan. Do đó, con đường càng trở nên vô cùng gian nan đối với ngựa.

Do vậy, anh buộc phải chờ đợi ròng rã suốt nhiều tuần, có khi ở những thị trấn nhỏ, có khi ở các ngôi làng và trang trại, nơi anh và tùy tùng được đón tiếp nồng hậu theo phong tục bởi những người dân luôn sẵn sàng lắng nghe câu chuyện về các "Hiệp sĩ Thập tự chinh" và đáp lại bằng bánh mì cùng muối. Vì lý do này, mùa xuân đã tiến sâu và phần lớn tháng Ba đã trôi qua trước khi anh đặt chân đến vùng lân cận Zgorzelice và Bogdaniec.

Anh khao khát được gặp người chủ của mình càng sớm càng tốt, dẫu anh biết rằng mình chẳng bao giờ có thể với tới nàng, giống như chẳng thể với tới các vì sao trên trời; thế nhưng anh vẫn sùng kính và yêu thương nàng bằng cả tâm hồn. Tuy nhiên, anh quyết định trước hết phải đến gặp Maćko; thứ nhất, bởi anh được cử đến với ông; thứ hai, bởi anh đang dẫn theo những người sẽ được để lại Bogdaniec. Zbyszko, sau khi hạ sát Rotgier theo đúng các quy tắc được thừa nhận, đã trở thành chủ nhân của đoàn tùy tùng của y, bao gồm mười người và từng ấy con ngựa. Hai trong số đó đã được cử quay về cùng thi hài của Rotgier tới Szczytno. Hiểu rõ người chú của mình khao khát có được những người khai (khẩn hoang) đến nhường nào, cậu đã cử tám người còn lại đi cùng Glowacz làm món quà dâng lên lão Maćko.

Người xứ Bohemia, khi đến Bogdaniec, đã không gặp Maćko ở nhà; anh được thông báo rằng Maćko đã cùng bầy chó và chiếc nỏ đi vào rừng; thế nhưng lão đã trở về ngay trong ngày hôm đó, và khi nghe tin có một phái đoàn quan trọng đang đợi mình, lão vội vã ra chào đón các vị khách và bày tỏ lòng hiếu khách. Ban đầu lão không nhận ra Glowacz, nhưng khi anh xưng tên, Maćko vô cùng xúc động, vứt cả mũ lẫn nỏ xuống và kêu lên:

– Vì Chúa! Hãy nói cho ta biết, chúng đã giết nó rồi chứ? Hãy nói những gì anh biết đi.

– Họ không giết ngài ấy đâu, – người xứ Bohemia đáp. – Ngài ấy vẫn đang mạnh khỏe.

Nghe vậy, Maćko có phần ngượng ngùng, bắt đầu thở phì phò; cuối cùng lão hít một hơi thật sâu.

– Tạ ơn Chúa Kitô, – lão nói. – Bây giờ nó đang ở đâu?

– Ngài ấy đã đi Malbork và cử tôi đến đây báo tin.

– Và tại sao nó lại đi Malbork?

– Để đón vợ.

– Này chàng trai, nhân danh Chúa, hãy cẩn thận lời ăn tiếng nói, nó đi đón người vợ nào chứ?

– Con gái của Jurand. Có rất nhiều chuyện để kể, đủ cho cả một đêm dài, nhưng thưa ngài đáng kính, xin hãy cho phép tôi nghỉ ngơi đôi chút, vì tôi đã liên tục lên đường từ nửa đêm rồi.

Maćko ngưng gặng hỏi trong chốc lát, bởi sự kinh ngạc tột độ đã khiến lão nghẹn lời. Khi đã bình tâm đôi chút, lão hét lớn bảo người hầu ném thêm củi vào lò sưởi và mang thức ăn cho người xứ Bohemia; rồi lão bắt đầu đi qua đi lại, vừa ra hiệu vừa lẩm bẩm một mình:

– Ta không thể tin nổi tai mình nữa…. Con gái của Jurand…. Zbyszko đã kết hôn….

– Ngài ấy kết hôn rồi mà cũng chưa kết hôn, – người xứ Bohemia nói.

Rồi anh bắt đầu chậm rãi kể lại những gì đã xảy ra, trong khi Maćko chăm chú lắng nghe, chỉ ngắt lời bằng những câu hỏi khi điều mà người xứ Bohemia kể chưa đủ rõ ràng với lão. Chẳng hạn, Glowacz không thể nêu chính xác thời điểm Zbyszko kết hôn, vì không có lễ cưới công khai nào diễn ra cả. Dù vậy, anh vẫn khẳng định rằng cuộc hôn nhân đó chắc chắn đã diễn ra, và nó thành hiện thực là do sự thúc đẩy của Công nương Anna Danuta, và chỉ được công khai sau sự xuất hiện của Hiệp sĩ Thập tự chinh Rotgier, khi Zbyszko thách đấu hắn trước phán quyết của Chúa, trước sự chứng kiến của toàn bộ triều đình Mazovia.

– A! Nó đã chiến đấu ư? – Maćko thốt lên, đôi mắt lóe lên vẻ tò mò tột độ. – Tiếp theo thế nào?

– Ngài ấy đã chém đôi tên người Đức, và Chúa cũng ban phước cho tôi khi trao tên giáp sĩ vào tay tôi.

Maćko lại bắt đầu thở phì phò, nhưng lần này mang theo vẻ hài lòng.

– Chà! – lão nói. – Nó không phải là kẻ có thể dây dưa được đâu. Nó là người cuối cùng của dòng họ Grady, nhưng nhân danh Chúa, chẳng hề kém cỏi chút nào. Nó vốn đã thế rồi trong trận chiến với người Friesland… khi vẫn chỉ là một thiếu niên…

Đến đây, lão sắc sảo liếc nhìn người xứ Bohemia một hai lần, rồi tiếp tục:

– Và thế là anh đã cố gắng bắt chước nó, và xem ra anh nói thật. Ta đã hoài nghi lời anh, nhưng như chính anh nói đấy, anh chẳng tốn mấy công sức với tên giáp sĩ đó. Nhưng nếu nó đã chặt đứt tay của tên khốn kiếp đó sau khi hạ con bò rừng, thì đó quả là những chiến công dũng cảm.

Rồi lão đột ngột hỏi:

– Có chiến lợi phẩm hậu hĩnh không?

– Chúng tôi đã thu giữ vũ khí, ngựa và mười người, tám trong số đó vị lãnh chúa trẻ gửi tặng ngài.

– Thế còn hai kẻ kia nó xử lý thế nào?

– Ngài ấy cử họ quay về cùng thi thể.

– Sao vị công tu không cử hai người hầu của chính ngã? Hai kẻ kia sẽ không quay về đâu.

Người xứ Bohemia mỉm cười trước lòng tham của Maćko – thứ vốn thường xuyên làm lão lộ tẩy.

– Vị lãnh chúa trẻ giờ đây không cần phải bận tâm đến những chuyện vặt vãnh như vậy, – anh nói. – Spychow là một lãnh địa lớn.

– Đúng là một lãnh địa lớn; thì sao chứ, nó đâu phải của nó ngay được.

– Thế thì của ai?

Maćko đứng phắt dậy từ ghế ngồi.

– Nói mau! Thế còn Jurand?

– Jurand đang là tù nhân, và đang hấp hối trong tay các Hiệp sĩ Thập tự chinh. Chúa mới biết liệu ông ấy có sống nổi không, và ngay cả khi ông ấy sống sót trở về thì sao chứ? Cha Caleb chẳng đã đọc di chúc của Jurand, loan báo cho tất cả rằng vị lãnh chúa trẻ sẽ là chủ nhân của họ đó sao?

Những lời cuối cùng rõ ràng đã tạo ra ấn tượng lớn đối với Maćko; bởi lão quá đỗi kinh ngạc nên chưa thể thấu triệt ngay tin tức đó. Việc Zbyszko kết hôn thoạt đầu khiến lão thấy đau đớn, bởi lão dành cho Jagienka tình yêu thương như con đẻ, và tha thiết mong muốn thấy Zbyszko nên duyên cùng nàng. Nhưng mặt khác, lão vốn đã quen với việc coi như mất trắng cơ hội ấy; hơn nữa, tiểu thư nhà Jurand mang theo rất nhiều thứ mà Jagienka không bao giờ có được: sự sủng ái của công tu, và là con một nên của hồi môn gấp nhiều lần. Maćko đã mường tượng ra cảnh Zbyszko trở thành bạn của công tu, là chủ nhân của Bogdaniec và Spychow; thậm chí, trong tương lai gần, sẽ là một quan trấn thủ. Điều đó không hề khó xảy ra. Bởi người ta vẫn kể vào những ngày ấy về một nhà quý tộc nghèo nọ có mười hai người con, sáu người ngã xuống trong trận chiến và sáu người kia trở thành quan trấn thủ rồi bước tới sự vĩ đại; chỉ cần một danh tiếng là có thể giúp Zbyszko trên con đường này, để tham vọng và khát vọng về dòng dõi của Maćko có thể thành hiện thực theo đúng ý muốn của lão. Tuy nhiên, lão già cũng có quá nhiều điều để lo sợ. Chính lão từng có lần bước vào hang ổ của các Hiệp sĩ Thập tự chinh để cứu Zbyszko và mang về một mảnh sắt găm giữa những chiếc xương sườn; giờ đây Zbyszko lại đến Malbork, ngay vào tận họng sói. Phải chăng là để đón vợ ở đó hay tìm cái chết? Ở đó chúng sẽ chẳng nhìn nó bằng ánh mắt thiện cảm đâu, Maćko nghĩ thế. Nó vừa tiêu diệt một trong những hiệp sĩ lừng danh của chúng và trước đó đã hạ sát Lichtenstein. Những kẻ mang dòng máu chó ấy rất thích báo thù. Ý nghĩ đó khiến vị hiệp sĩ già vô cùng bất an. Lão cũng chợt nghĩ rằng Zbyszko với tính khí nóng nảy sẽ gây sự đánh nhau với kẻ nào đó người Đức; hoặc điều lão sợ nhất là chúng sẽ bắt cóc nó giống như đã bắt lão Jurand và con gái ông ta. Ngay tại Zlotoria, chúng còn chẳng ngần ngại bắt cóc cả vị công tu cơ mà. Vậy thì cớ gì phải dè chừng với Zbyszko?

Rồi lão tự hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu cậu thanh niên trốn thoát được bọn hiệp sĩ, nhưng lại không tìm thấy vợ? Ý nghĩ này làm lão thấy dễ chịu, bởi dẫu Zbyszko có không tìm lại được nàng đi nữa, thì cậu vẫn sẽ là chủ nhân của Spychow, nhưng niềm vui đó chỉ kéo dài trong chốc lát. Bởi trong khi lão già vô cùng bận tâm về tài sản, thì dòng dõi hậu duệ của Zbyszko cũng làm lão quan tâm chẳng kém. Nếu Danusia cứ thế mất tích bặt vô âm tín như đá ném xuống nước và chẳng ai biết sống chết ra sao, Zbyszko sẽ không thể kết hôn với ai khác, và khi ấy sẽ chẳng còn người thừa kế cho dòng họ Grady ở Bogdaniec. A! Mọi chuyện sẽ hoàn toàn khác biệt biết bao nếu nó kết hôn với Jagienka!… Moczydoly không phải là nơi đáng chê bai; nó rộng rãi và trù phú. Một cô gái như thế, chẳng khác nào cây táo trong vườn, năm nào cũng sẽ đơm hoa kết trái chẳng trật đi đâu được. Thế là nỗi tiếc nuối của Maćko lớn hơn cả niềm vui trước viễn cảnh sở hữu lãnh địa mới. Nỗi tiếc nuối và bồn chồn thúc giục lão tiếp tục gặng hỏi, và lão lại hỏi người xứ Bohemia rằng hôn lễ đã diễn ra như thế nào và vào lúc nào.

Nhưng người xứ Bohemia đáp:

– Tôi đã thưa với ngài rồi, thưa ngài đáng kính, rằng tôi không biết nó diễn ra khi nào, và những gì tôi phỏng đoán thì tôi không thể lấy mạng sống ra thề đảm bảo được.

– Thế anh phỏng đoán những gì?

– Tôi chưa từng rời xa vị chủ nhân trẻ và chúng tôi ngủ cùng nhau. Chỉ có một buổi tối nọ, ngài ấy ra lệnh cho tôi rời đi khi tôi thấy tất cả bọn họ đến thăm ngài: công nương đi cùng tiểu thư nhà Jurand (Danusia), lãnh chúa de Lorche và Cha Wyszoniek. Tôi thậm chí còn ngạc nhiên khi thấy tiểu thư đội vòng hoa trên đầu; nhưng tôi nghĩ họ đến để làm lễ ban các bí tích cho chủ nhân tôi…. Có lẽ hôn lễ đã diễn ra vào lúc đó…. Tôi nhớ chủ nhân đã ra lệnh cho tôi ăn mặc như trong lễ cưới, nhưng khi ấy tôi cũng nghĩ rằng đó là để chịu lễ thánh thể.

– Và sau đó, họ ở lại một mình chứ?

– Họ không ở lại một mình; và ngay cả khi có ở lại một mình đi nữa thì lúc ấy chủ nhân cũng suy yếu đến mức chẳng thể tự ăn mà không cần người giúp đỡ. Và đã có những người do Jurand cử đến đang đợi tiểu thư, rồi nàng đã rời đi vào sáng hôm sau…

– Thế từ đó đến nay Zbyszko chưa gặp lại nàng ấy sao?

– Không một đôi mắt phàm trần nào nhìn thấy nàng ấy nữa.

Rồi sự im lặng bao trùm trong chốc lát.

– Anh nghĩ sao? – Maćko cất lời hỏi lát sau. – Bọn Hiệp sĩ Thập tự chinh có trả lại nàng ấy không?

Người xứ Bohemia lắc đầu, rồi xua tay đầy nản lòng.

– Tôi nghĩ, – anh chậm rãi nói, – nàng ấy đã mất tích vĩnh viễn rồi.

– Tại sao? – Maćko hoảng hốt hỏi.

– Bởi vì, khi họ nói họ đang giữ nàng thì vẫn còn hy vọng, người ta vẫn có thể đấu tranh với họ, hoặc chuộc lại, hoặc dùng vũ lực cướp lấy từ tay họ. Nhưng họ lại nói: "Chúng ta đã giải cứu được một cô gái khỏi tay bọn cướp và đã thông báo cho Jurand; ông ta không nhận ra nó, và chính trước mặt chúng ta, ông ta đã tàn sát người của chúng ta nhiều hơn cả số thương vong trong một trận chiến đàng hoàng."

– Thế thì chúng đã đưa cho Jurand xem một cô gái khác rồi.

– Người ta đồn vậy. Chúa mới biết đâu là sự thật. Có thể không đúng, và cũng có thể chúng đã đưa một cô gái khác cho ông ta xem thật. Nhưng sự thật là ông ta đã giết người, và bọn Hiệp sĩ Thập tự chinh sẵn sàng thề độc rằng chúng chưa bao giờ bắt cóc tiểu thư Jurandowna, và đó là một rắc rối cực kỳ hóc búa. Ngay cả khi Đại sư lệnh ra lệnh điều tra, chúng cũng sẽ đáp rằng nàng không có trong tay chúng; nhất là khi các triều nhân ở Ciechanow từng bàn về bức thư của Jurand, trong đó ông nói rằng nàng không ở cùng bọn Hiệp sĩ Thập tự chinh.

– Biết đâu nàng ấy không ở cùng chúng thật.

– Xin lỗi ngài!… Nếu chúng tái chiếm được nàng từ tay bọn cướp, thì chẳng vì lý do nào khác ngoài mục đích tiền chuộc. Bọn cướp trước khi chuyện đó xảy ra không thể viết thư, không thể bắt chước chữ ký của lãnh chúa Spychow, cũng chẳng thể cử một sứ giả danh dự nào.

– Điều đó đúng; nhưng bọn Hiệp sĩ Thập tự chinh giữ con bé lại làm gì chứ?

– Để trả thù dòng dõi của Jurand. Chúng thích trả thù hơn cả rượu mật và rượu vang; và nếu muốn có cớ, chúng sẵn có cớ trong tay. Lãnh chúa Spychow là nỗi kinh hoàng đối với chúng, và hành động cuối cùng của ông ấy đã kết liễu hoàn toàn bọn chúng…. Chủ nhân của tôi, tôi cũng nghe nói, đã giơ tay chống lại Lichtenstein; ngài ấy đã giết Rotgier…. Chúa cũng giúp tôi đập nát cánh tay của tên khốn kiếp đó. Xin ngài hãy đợi, hãy cùng suy ngẫm xem. Từng có bốn tên bọn chúng phải trừ khử; giờ đây hiếm hoi lắm mới còn sống một tên, mà tên đó lại là một lão già, và ân xá ngài phải ghi nhớ rằng chúng ta vẫn còn răng để cắn.

Lại một thoáng im lặng trôi qua.

– Anh là một giáp sĩ khôn ngoan, – cuối cùng Maćko nói; – nhưng anh nghĩ chúng sẽ làm gì với con bé?

– Công tu Witold, người ta nói, là một vị công tu hùng mạnh, ngay cả hoàng đế Đức cũng phải cúi đầu trước ngài; thế nhưng chúng đã làm gì với những đứa con của ngài ấy? Chúng có ít lâu đài lắm sao? Ít ngục tối dưới lòng đất lắm sao? Ít cái giếng lắm sao? Ít dây thừng vàòng cổ lắm sao?

– Nhân danh Chúa hằng sống! – Maćko thốt lên.

– Chúa ban ơn để chúng không giam giữ luôn cả vị lãnh chúa trẻ, dẫu ngài ấy đến đó với bức thư từ công tu, và đi cùng de Lorche – một lãnh chúa quyền thế có họ hàng với công tu. À, tôi vốn không muốn lên đường đến nơi này. Nhưng ngài ấy đã ra lệnh cho tôi đi. Tôi từng nghe ngài ấy nói với lão lãnh chúa Spychow rằng: "Thật đáng tiếc khi ông không tinh ranh, bởi tôi sẽ chẳng đạt được gì bằng sự mưu mẹo, mà với bọn chúng thì đó là điều cần thiết. Ôi chú Maćko! Ông ấy sẽ rất hữu dụng ở đây;" và vì lý do đó ngài ấy đã phái tôi đi. Nhưng còn về tiểu thư Jurandowna, ngay cả ngài, thưa ngài, cũng sẽ không tìm thấy nàng đâu, vì có lẽ nàng đã ở thế giới bên kia rồi, và một khi đã liên quan đến cái chết thì ngay cả sự khôn ngoan lớn nhất cũng chẳng thể cứu vãn.

Maćko chìm đắm trong suy tư một lúc lâu, sau đó lão nói:

– Ha! Thế thì hết cách rồi. Mưu mẹo chẳng thể thắng nổi tử thần. Nhưng nếu ta đến đó và chỉ để nhận được sự đảm bảo rằng nàng đã bị thủ tiêu, thì khi ấy cả Spychow lẫn Zbyszko vẫn còn nguyên. Nó sẽ có thể trở về đây và kết hôn với một thiếu nữ khác.

Đến đây Maćko thở phào nhẹ nhõm, tựa như một gánh nặng vừa được trút khỏi lồng ngực, và Glowacz rụt rè, nhỏ nhẹ hỏi:

– Ý ngài là tiểu thư ở Zgorzelice sao?

– Chà! – Maćko đáp, – nhất là khi con bé là trẻ mồ côi, và Cztan xứ Rogow cùng Wilk xứ Brzozowa cứ bám riết theo đuổi cầu hôn nó.

Nghe vậy, người xứ Bohemia liền đứng thẳng người lên.

– Tiểu thư mồ côi ư?… Hiệp sĩ Zych ấy á?…

– Thế ra anh không biết gì cả.

– Vì tình yêu của Chúa! Đã có chuyện gì xảy ra vậy?

– Chà, anh nói đúng. Làm sao anh biết được, khi mà anh vừa mới đến; và nãy giờ chúng ta chỉ nói chuyện về Zbyszko. Con bé đã mồ côi rồi. Trừ khi có khách khứa, Zych xứ Zgorzelice không bao giờ chịu ở nhà; nếu không thì ông ấy luôn tìm cách tránh mặt khỏi Zgorzelice. Ông ấy từng viết thư cho vị viện phụ của anh rằng ông sẽ đến thăm Công tu Przemka xứ Oświęcim và xin ngài ấy gả anh cho ông. Zych làm vậy vì ông rất quen thuộc với vị công tu và họ thường xuyên vui đùa cùng nhau. Do đó Zych đã ghé qua gặp ta và nói thế này: "Ta đi Oświęcim đây, rồi sẽ tới Glewic; hãy canh chừng Zgorzelice giùm ta." Ta ngay lập tức nghi ngờ có điềm gở nên đã nói: "Đừng đi! Ta sẽ canh gừng Jagienka và điền trang thật kỹ," bởi ta biết Cztan và Wilk định làm hại anh, và anh cũng nên biết rằng vị viện phụ vì căm ghét Zbyszko nên đã ưu ái Cztan hoặc Wilk cho con bé. Nhưng sau đó ông ấy đã hiểu rõ con người chúng hơn và hắt hủi cả hai, đuổi cổ chúng khỏi Zgorzelice; tuy nhiên không triệt để cho lắm, vì chúng cứ lì lợm đeo bám. Giờ thì chúng đã chịu nằm yên một thời gian, bởi chúng vừa đánh nhau bị thương nặng và đang phải nằm liệt giường, nhưng trước chuyện đó thì chẳng có lấy một khoảnh khắc nào được yên ổn. Mọi thứ đều đè nặng lên đầu ta, từ việc bảo vệ cho đến giám hộ. Giờ thì Zbyszko muốn ta đến…. Chuyện gì sẽ xảy ra với Jagienka ở đây – ta không rõ, nhưng giờ ta sẽ kể cho anh nghe về Zych; ông ấy đã không nghe lời khuyên của ta – ông ấy vẫn đi. Chà, họ ăn tiệc và vui đùa cùng nhau. Từ Glewic, họ đi thăm lão Nosak – cha của Công tu Przemka, người đang trị vì ở Cieszyn; cho đến khi Jasko – công tu xứ Racibor, vì căm thù Công tu Przemka, đã sai băng cướp dưới sự chỉ huy của tên người Bohemia là Chrzan ra tay sát hại họ; Công tu Przemka và Zych xứ Zgorzelice đều bỏ mạng trong cuộc đụng độ ấy. Bọn cướp đã đánh ngất vị viện phụ bằng một cây chùy sắt, khiến cho cho đến tận bây giờ đầu ông ấy vẫn cứ lắc lư và chẳng còn biết gì về thế giới xung quanh nữa, đã mất đi khả năng nói năng, Chúa phù hộ, vĩnh viễn rồi! Giờ thì lão Công tu Nosak đã bỏ tiền chuộc lại Chrzan từ tay chủ nhân xứ Zampach, và tra tấn hắn ta dã man đến mức những người cao tuổi nhất cũng chưa từng nghe thấy sự tàn ác nhường ấy, — thế nhưng sự tàn ác đó chẳng thể làm giảm bớt nỗi đau buồn của lão già dành cho đứa con trai; cũng chẳng thể làm sống lại Zych, hay lau khô những giọt nước mắt của Jagienka. Đây chính là kết quả của cuộc vui chơi đó…. Sáu tuần trước, người ta đã đưa Zych về đây và chôn cất ông ấy.

– Một người chủ khắc nghiệt làm sao!… – người xứ Bohemia đau buồn nói. – Dưới thời Bolesław, tôi từng có cuộc sống thoải mái khi ngài ấy bắt tôi làm tù binh. Nhưng đó lại là cảnh tù đày mà tôi sẵn sàng đổi lấy tự do…. Ông ấy là một người chủ tốt và đáng kính! Xin Chúa ban cho ông vinh quang muôn đời. A, tôi đau lòng lắm! Nhưng tôi phải đau buồn thay cho cô tiểu thư bất hạnh.

– Bởi vì con bé tội nghiệp là một đứa trẻ ngoan, nó yêu cha mình hơn cả người ta yêu mẹ. Hơn nữa nó lại chẳng được an toàn ở Zgorzelice. Sau đám tang, tuyết còn chưa kịp phủ kín ngôi mộ của Zych thì Cztan và Wilk đã đặt chân đến dinh thự Zgorzelice rồi. Người của ta đã được báo tin từ trước. Thế rồi ta cùng mấy tá điền đã kéo đến ứng cứu; chúng ta đến đúng lúc và nhờ ơn Chúa đã cho chúng một trận đòn nên thân. Ngay sau cuộc chiến, con bé sụp xuống quỳ lót dưới chân ta và cầu xin ta cứu mạng. "Nếu con không thể thuộc về Zbyszko," nó nói, "con sẽ chẳng thuộc về ai khác; xin hãy cứu con khỏi những kẻ tra tấn đó, thà chết còn hơn phải về tay chúng…" Ta nói cho anh hay, ta đã biến Zgorzelice thành một pháo đài thực sự. Sau đó, chúng còn xuất hiện thêm hai lần tại điền trang, nhưng anh tin ta đi, chúng chẳng thể làm gì được đâu. Giờ thì sẽ được yên bình một thời gian, bởi như ta đã nói với anh: chúng tự gây thương tích cho nhau nặng quá, đến mức chẳng ai cử động nổi dù chỉ là cái đầu hay bàn chân.

Glowacz không đưa ra bình luận nào về chuyện này, nhưng khi nghe đến hành vi của Cztan và Wilk, anh bắt đầu nghiến răng kèn kẹt lớn đến mức nghe như tiếng cửa mở ra đóng vào, rồi anh bắt đầu chà xát đôi bàn tay lực lưỡng lên đùi cứ như thể chúng đang ngứa ngáy lắm vậy. Cuối cùng, anh khó nhọc thốt lên đúng một từ:

– Lũ khốn!

Nhưng đúng lúc đó, một giọng nói vang lên ở tiền sảnh, cánh cửa thình lình mở toang và Jagienka lao vào nhà, đi cùng con bé là Jasko – người anh trai cả nay đã mười bốn tuổi và trông giống hệt con bé cứ như thể họ là cặp sinh đôi vậy.

Con bé đã nghe được từ một số nông dân ở Zgorzelice rằng họ nhìn thấy tên người Bohemia Hlawa đang dẫn đầu một nhóm người hành trình đến Bogdaniec, và giống như Maćko, con bé cũng vô cùng hoảng sợ, và khi họ thông báo rằng Zbyszko không có mặt trong số đó, con bé gần như chắc chắn rằng tai họa đã giáng xuống rồi. Do đó con bé chẳng chần chừ phút nào, vội vã phóng đến Bogdaniec để xác minh sự thật.

– Đã có chuyện gì xảy ra vậy?… Nhân danh Chúa, hãy nói cho con biết đi, – con bé hét lên khi vẫn còn ở ngưỡng cửa.

– Có chuyện gì được cơ chứ? – Maćko đáp. – Zbyszko vẫn sống và khỏe mạnh.

Người xứ Bohemia vội vã tiến về phía tiểu thư trẻ, quỳ một chân xuống và hôn lên gấu váy nàng, nhưng nàng chẳng thèm để ý; chỉ khi nghe câu trả lời của vị hiệp sĩ già, nàng mới quay đầu từ lò sưởi về phía góc tối hơn của căn phòng, và phải một lát sau, như thể vừa quên mất việc cần phải chào hỏi người xứ Bohemia, nàng mới cất lời:

– Nguyện danh Chúa Giêsu Kitô được ngợi khen!

– Đời đời kiếp kiếp được ngợi khen, – Maćko đáp.

Bấy giờ nàng mới nhận ra người xứ Bohemia đang quỳ dưới chân mình và cúi người về phía anh.

– Từ tận đáy lòng, ta rất vui mừng được gặp lại anh, Hlawa, nhưng sao anh lại để chủ nhân của mình ở lại phía sau thế?

– Ngài ấy đã đuổi tôi đi, thưa tiểu thư đáng kính.

– Ngài ấy có lệnh gì?

– Ngài ấy ra lệnh cho tôi đến Bogdaniec.

– Đến Bogdaniec ư?… Còn gì nữa không?

– Ngài ấy cử tôi đến để xin lời khuyên…. Ngài ấy cũng gửi lời thăm hỏi và những lời chúc tốt đẹp nhất.

– Đến Bogdaniec ư? Vậy thì tốt rồi. Nhưng bản thân ngài ấy đâu?

– Ngài ấy đã đi Malbork, và giờ đang ở giữa sào huyệt của bọn Hiệp sĩ Thập tự chinh.

Khuôn mặt Jagienka lại mang vẻ hoảng hốt.

– Sao cơ, chẳng lẽ ngài ấy chán sống rồi chắc?

– Thưa tiểu thư, ngài ấy đang đi tìm thứ mà ngài ấy sẽ chẳng thể tìm thấy đâu.

– Ta tin là nó sẽ chẳng tìm thấy đâu, – Maćko chen ngang. – Giống như người ta chẳng thể đóng một cái đinh mà không có búa, ý muốn của con người cũng chẳng thể thành nếu thiếu đi ý Chúa.

– Hai người đang nói gì thế hả? – Jagienka kêu lên. Nhưng Maćko đáp lại bằng một câu hỏi khác.

– Nó có nói với anh rằng Zbyszko đi vì tiểu thư Jurandowna không? Ta có cảm giác là nó có nói.

Ban đầu Jagienka không đáp, và chỉ một lát sau, khi đã lấy lại hơi thở, nàng mới trả lời:

– Có! Anh ấy có nói! Nhưng điều gì ngăn cản việc anh ấy kể cơ chứ?

– Ồ, thế thì giờ ta có thể nói chuyện thoải mái rồi.

Và lão bắt đầu kể cho con bé nghe tất cả những gì lão vừa nghe được từ người xứ Bohemia. Lão tự ngạc nhiên vì sao lời nói của mình cứ ngập ngừng và khó nhọc đến thế, nhưng vốn là một kẻ khôn ngoan, lão cố tránh bất kỳ từ ngữ nào có thể làm Jagienka tổn thương, đồng thời nhấn mạnh vào điều mà chính lão tin tưởng: rằng Zbyszko chưa từng thực sự là chồng của Danusia và nàng đã vĩnh viễn mất đi đối với cậu rồi.

Người xứ Bohemia thỉnh thoảng lại xác nhận lời của Maćko, lúc thì bằng cái gật đầu tán thành, lúc thì lặp lại rằng: "Thưa ơn trên, đúng thế, thề có Chúa tôi đang sống," hoặc: "Chuyện là thế, chẳng sai đi đâu được!" Tiểu thư trẻ lắng nghe với hàng lông mi rủ xuống chạm má; nàng không hỏi thêm câu nào nữa, và lặng thím đến mức sự im lặng đó khiến Maćkoâm ỉ lo lắng.

– Nào, con nói gì về chuyện đó? – lão hỏi khi đã kể xong.

Nhưng nàng chẳng đáp, chỉ có hai giọt nước mắt lấp lánh giữa hai hàng mi rồi lăn dài trên gò má.

Một lát sau, nàng bước lại gần Maćko, hôn tay lão và nói:

– Nguyện Chúa được ngợi khen.

– Đời đời kiếp kiếp, – Maćko đáp. – Con có thực sự cần phải về nhà ngay không? Ở lại với chúng ta đi thì hơn.

Nhưng nàng từ chối ở lại, viện lý do là mình chưa phân phát thức ăn cho bữa tối. Tuy Maćko biết rằng ở Zgorzelice có lão bà Sieciechowa hoàn toàn có thể thay Jagienka làm tròn những công việc đó, lão vẫn không nài ép con bé ở lại, bởi lão hiểu nỗi buồn chẳng màng đến ánh sáng chiếu vào những giọt nước mắt con người, và con người cũng giống như loài cá, khi cảm nhận được mũi lao cắm sâu vào da thịt, nó sẽ lặn sâu xuống đáy nước.

Thế là lão chỉ coi nàng như một thiếu nữ, rồi đưa nàng cùng người xứ Bohemia ra tới tận sân.

Nhưng người xứ Bohemia dắt ngựa từ chuồng ra, cày bừa yên cương và lên đường cùng vị tiểu thư trẻ.

Còn Maćko quay trở vào nhà, lắc đầu và lẩm bẩm:

– Đúng là một tên ngốc cái thằng Zbyszko này… Mà sao sự hiện diện của con bé lại có thể làm cả ngôi nhà ngập tràn hương thơm thế nhỉ?

Lão già tự than thở một mình. – "Giá như Zbyszko rước con bé ngay sau khi trở về, thì lúc này đã tràn ngập niềm vui và tiếng cười rồi! Nhưng giờ thì sao chứ? Nếu ai nhắc đến nó, mắt con bé sẽ ngấn lệ vì nhớ mong, còn thằng dở hơi đó thì đang lang thang khắp thế gian và rất có thể sẽ làm vỡ đầu một vài tên hiệp sĩ ở Malbork, với điều kiện chúng không đập vỡ đầu nó trước; và giờ thì ngôi nhà trống hoác, chỉ có mấy thứ vũ khí trên tường là lóe sáng. Làm kinh tế còn có chút ích lợi gì đó. Cứ chạy rông chẳng được tích sự gì, Spychow hay Bogdaniec cũng thế cả thôi. Chẳng mấy chốc mà chẳng còn lại ai để giao lại cơ ngơi nữa."

Đến đây Maćko nổi giận.

– Đợi đấy, cái đồ lang thang kia, – lão thốt lên, – ta sẽ không đi cùng ngươi đâu, ngươi muốn làm gì thì làm!

Nhưng ngay khoảnh khắc đó, lão lại bị cơn khao khát khôn nguôi cào xé hướng về phía Zbyszko.

– Chà! Chẳng lẽ ta lại không đi sao? – lão nghĩ bụng. – Chẳng lẽ ta cứ ì ra ở nhà mãi à? Chúa không cho phép thế đâu… Ta muốn gặp lại cái thằng ranh con đó một lần nữa. Phải thế chứ. Nó sẽ lại đánh nhau với một trong những tên khốn kiếp đó — và vơ vét chiến lợi phẩm. Người ta phải già đi mới được nhận đai hiệp sĩ, thế mà nó đã được công tu trao đai rồi… Mà như thế cũng đúng thôi. Có rất nhiều thanh niên dũng cảm trong tầng lớp quý tộc; nhưng chẳng tìm đâu ra kẻ thứ hai giống như nó.

Những cảm xúc dịu dàng hoàn toàn hạ gục lão. Đầu tiên lão bắt đầu nhìn ngắm những thứ vũ khí, kiếm và rìu đã bị khói bám đen sì, như thể đang cân nhắc nên mang theo món nào, bỏ lại món nào; rồi lão bước ra khỏi nhà; thứ nhất, bởi lão không thể chịu nổi cảnh ở lỳ trong đó; thứ hai, để ra lệnh chuẩn bị xe ngựa và cho ngựa ăn khẩu phần gấp đôi.

Ngoài sân, trời bắt đầu sẩm tối, lão sực nhớ đến Jagienka – người chỉ mới cách đây một thoáng còn ngồi trên lưng ngựa ở đây, và lão lại cảm thấy bất an.

– Ta phải đi thôi, – lão tự nhủ, – nhưng ai sẽ bảo vệ con bé đây trước Cztan và Wilk chứ. Sét đánh chết tươi tụi chúng đi.

Trong khi đó, Jagienka đang trên đường cùng đứa em trai nhỏ Jasko, vượt qua những khu rừng dẫn về Zgorzelice, còn người xứ Bohemia lặng lẽ đi bên cạnh họ với tình yêu thương và nỗi đau đớn tràn ngập trong tim. Chỉ một thoáng trước, anh vừa nhìn thấy những giọt nước mắt của nàng, giờ đây anh lại nhìn bóng dáng tối sẫm của nàng, ẩn hiện mờ ảo giữa màn đêm u tịch của rừng già, và anh đoán biết được nỗi buồn đau cùng cực của nàng. Anh cũng có cảm giác rằng bất cứ lúc nào, những bàn tay tham lam của Wilk hay Cztan cũng có thể lao ra từ lùm cây tối tăm để túm lấy nàng, và nghĩ đến đó, anh bị cơn giận dữ điên cuồng cuốn đi, khát khao được chiến đấu. Có những lúc ham muốn chém giết mãnh liệt đến mức anh chỉ muốn vung rìu hoặc kiếm để đốn hạ một cây thông ven đường. Anh cảm thấy một trận chiến ác liệt sẽ làm mình khuây khỏa. Cuối cùng, anh thậm chí sẽ vui mừng biết bao nếu có thể thả cho con ngựa phi nước đại. Nhưng anh không thể làm thế, họ cứ lặng lẽ cưỡi ngựa đi trước mặt anh, với tốc độ cực kỳ chậm chạp, từng bước một, và chú bé Jasko vốn tính hay nói, sau vài lần cố gắng bắt chuyện với chị gái nhưng thấy nàng chẳng muốn mở miệng, đành bỏ cuộc, rồi cũng chìm vào sự im lặng sâu thẳm.

Nhưng khi họ sắp đến Zgorzelice, nỗi buồn trong tim người xứ Bohemia chuyển thành sự phẫn nộ hướng về phía Cztan và Wilk: "Ta sẽ chẳng tiếc cả máu thịt của mình vì người," anh tự nhủ, "miễn là điều đó đem lại sự khuây khỏa cho tiểu thư. Nhưng kẻ bất tài như tôi thì làm được gì chứ? Tôi biết nói gì với tiểu thư đây? Trừ phi bảo rằng ngài ấy đã ra lệnh cho tôi phải quỳ gối trước người. Và Chúa ban ơn để điều đó mang lại chút an ủi nào cho người."

Nghĩ vậy, anh thúc ngựa tiến sát vào Jagienka.

– Thưa tiểu thư…

– Anh đang đi cùng chúng tôi đấy à? – Jagienka hỏi, như thể vừa bừng tỉnh sau giấc ngủ. – Anh nói gì cơ?

– Tôi quên chưa chuyển lời mà chủ nhân tôi dặn dò. Khi tôi chuẩn bị rời Spychow, ngài ấy gọi tôi lại và nói: "Ta xin cúi đầu sát gót tiểu thư Zgorzelice, bởi dù trong vận may hay hoạn nạn, ta sẽ chẳng bao giờ quên người; và những gì người đã làm cho chú ta và cho chính ta, xin Chúa hãy đền đáp và phù hộ cho người luôn mạnh khỏe."

– Nguyện xin Chúa cũng đền đáp những lời tốt đẹp của anh ấy, – Jagienka đáp.

Rồi nàng nói thêm bằng một giọng điệu kỳ diệu đến mức khiến trái tim người xứ Bohemia như tan chảy:

– Và cả anh nữa, Hlawa.

Cuộc trò chuyện dừng lại trong chốc lát. Nhưng vị giáp sĩ cảm thấy vô cùng mãn nguyện cho chính mình và vì những lời nói ấy. Bởi anh tự nhủ: "Ít nhất thì người ta cũng sẽ không bảo rằng tiểu thư đối xử với sự vô ơn." Anh lại bắt đầu vắt óc suy nghĩ xem còn điều gì tương tự như thế để kể cho nàng nghe không; và sau một thoáng, anh cất lời:

– Thưa tiểu thư.

– Gì thế?

– Chuyện này… coi như là… ý tôi muốn nói, giống như lão đại nhân ở Bogdaniec đã nói: "Rằng tiểu thư ở đằng kia đã mất tích vĩnh viễn rồi, và ngài ấy sẽ chẳng bao giờ tìm thấy nàng ấy đâu, ngay cả khi chính Đại sư lệnh có ra tay giúp đỡ."

– Thế ra nàng ấy là vợ anh ấy ư…

Người xứ Bohemia gật đầu.

– Vâng, nàng ấy là vợ ngài ấy.

Jagienka không đáp lại điều này, nhưng khi về đến nhà, sau bữa tối, lúc Jasko và đứa em trai nhỏ đã đi ngủ, nàng gọi một bình rượu mật. Rồi nàng quay sang người xứ Bohemia và hỏi:

– Có lẽ anh muốn đi nghỉ ngơi rồi nhỉ. Tôi thì vẫn muốn tiếp tục câu chuyện.

Người xứ Bohemia, dẫu đã mệt mỏi, vẫn sẵn sàng huyên thuyên đến tận sáng. Thế là họ bắt đầu trò chuyện, và anh lại một lần nữa kể tổng quát mọi chuyện đã xảy ra với Zbyszko, Jurand, Danusia và chính bản thân anh.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.