Hiệp Sĩ Dòng Thánh Giá: Tiểu Thuyết Lịch Sử Krzyzacy

Lượt đọc: 68 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3

❊ ❊ ❊

Hôm sau, Jurand hoàn toàn không tránh mặt Zbyszko; ông cũng không ngăn cản chàng làm cho Đan-nhi-su những công việc mà với tư cách là hiệp sĩ của nàng, chàng buộc phải thực hiện trong suốt cuộc hành trình. Ngược lại, Zbyszko nhận thấy vị lãnh chúa ủ dột ở Spychow nhìn mình đầy thiện cảm, như thể ông đang tiếc nuối vì buộc phải từ chối thỉnh cầu của chàng. Chàng thiếu niên quý tộc đã thử bắt chuyện với ông vài lần. Sau khi khởi hành từ Kraków, có vô số cơ hội trong suốt chuyến đi, bởi cả hai đều cùng công chúa cưỡi ngựa đi bên cạnh; nhưng ngay khi Zbyszko cố gắng tìm hiểu đôi điều về những rắc rối bí mật ngăn cách chàng với Đan-nhi-su, câu chuyện liền bị cắt đứt đột ngột.

Khuôn mặt Jurand trở nên tối sầm, và ông nhìn Zbyszko đầy ái ngại như thể sợ rằng mình sẽ lỡ lời.

Zbyszko nghĩ rằng có lẽ công chúa biết rõ chướng ngại vật đó là gì; thế nên nhân cơ hội được nói chuyện riêng với nàng, chàng liền gặng hỏi; nhưng nàng chẳng thể tiết lộ điều gì cho chàng biết.

Nàng bảo: "Chắc chắn có điều bí mật nào đó. Chính Jurand đã nói với tôi điều đó; nhưng ông ấy nài nỉ tôi đừng gặng hỏi thêm nữa, bởi vì ông ấy không những không muốn nói đó là gì, mà còn không thể nói được. Chắc hẳn ông ấy đã bị ràng buộc bởi một lời thề nào đó, điều thường hay xảy ra giữa các hiệp sĩ. Nhưng Chúa sẽ giúp chúng ta và mọi chuyện rồi sẽ ổn thỏa thôi."

Zbyszko đáp: "Không có Đan-nhi-su, tôi sẽ bất hạnh chẳng khác nào con chó bị xiềng xích hay con gấu trong hố sâu. Sẽ chẳng có niềm vui hay sự hân hoan nào cả, chỉ toàn nỗi buồn và những tiếng thở dài; tôi sẽ tòng quân đánh người Tartar cùng Thân vương Witold và cầu mong họ giết quách tôi ở trển. Nhưng trước tiên tôi phải đưa người chú về Bogdaniec, rồi sau đó giật lấy những chùm lông công trên đầu lũ người Đức như tôi đã hứa. Biết đâu người Đức sẽ kết liễu đời tôi; và tôi thà chọn cái chết ấy còn hơn phải sống mà nhìn kẻ khác cướp đi Đan-nhi-su."

Công chúa nhìn chàng bằng đôi mắt xanh hiền từ, và hỏi với một vẻ ngạc nhiên nhất định:

"Thế anh lại cho phép điều đó xảy ra ư?"

"Tôi á? Chừng nào tôi còn thở, chuyện đó sẽ không đời nào xảy ra, trừ khi tay tôi bị tê liệt và không thể cầm nổi chiếc rìu!"

"Thế thì anh thấy đấy!"

"Hừ! Nhưng làm sao tôi có thể bắt cóc nàng đi ngược lại ý muốn của cha nàng chứ?"

Trước câu hỏi này, công chúa lẩm bẩm như nói một mình:

"Chẳng phải đôi khi mọi chuyện vẫn diễn ra như thế sao?"

Rồi nàng quay sang Zbyszko:

"Ý Chúa mạnh mẽ hơn ý cha. Jurand đã nói gì với anh?"

Hắn nói với tôi rằng: 'Nếu đó là ý Chúa, thì cậu ta sẽ lấy được con bé.'"

Zbyszko thốt lên: "Chính ngài ấy cũng đã nói với tôi câu đó!"

"Anh không thấy thế sao?"

"Đó là niềm an ủi duy nhất của tôi, thưa điện hạ."

"Tôi sẽ giúp anh, và anh có thể tin chắc vào sự chung thủy của Đan-nhi-su. Mới hôm qua thôi, tôi đã bảo con bé rằng: 'Đan-nhi-su, con sẽ mãi yêu Zbyszko chứ?' Và nó đã đáp: 'Con sẽ là của Zbyszko chứ không của ai khác.' Con bé vẫn còn là một trái non xanh, nhưng khi đã hứa điều gì, nó giữ lời điều đó, bởi nó là con gái của một hiệp sĩ. Mẹ nó cũng y như vậy."

Zbyszko nói: "Tạ ơn Chúa!"

"Chỉ xin hãy nhớ cũng phải chung thủy với con bé; đàn ông vốn dễ thay lòng; hứa yêu người này thật lòng, rồi sau đó lại hứa với người khác."

Zbyszko quả quyết thốt lên: "Nguyện xin Chúa Giê-su trừng phạt nếu tôi biến thành kẻ như thế!"

"Được rồi, hãy nhớ lấy nhé. Và sau khi đưa người chú về Bogdaniec, hãy đến cung điện của chúng tôi; khi đó sẽ có cơ hội để anh lập chiến công; rồi chúng ta sẽ xem phải làm gì. Trong lúc đó Đan-nhi-su sẽ trưởng thành, và con bé sẽ cảm nhận được ý Chúa; mặc dù ngay lúc này nó đã yêu anh rất nhiều, nhưng đó chưa phải là thứ tình yêu sâu sắc mà một người phụ nữ cảm nhận. Biết đâu Jurand sẽ ưng thuận, bởi tôi thấy ông ấy rất quý mến anh. Anh có thể đến Spychow và từ đó cùng Jurand tòng quân đánh người Đức; biết đâu anh sẽ lập được công lớn với ông ấy và nhờ thế mà chiếm được thiện cảm."

"Kính thưa công chúa, tôi cũng suy nghĩ y như vậy; nhưng có được sự chấp thuận của ngài thì mọi việc sẽ dễ dàng hơn."

Cuộc trò chuyện này đã vực dậy tinh thần cho Zbyszko. Trong khi đó, tại trạm dừng chân đầu tiên, bệnh tình của lão Maćko trở nặng hơn, và họ buộc phải ở lại cho đến khi lão khá hơn. Nàng công chúa nhân hậu Anna Danuta đã để lại cho lão tất cả số thuốc mang theo; nhưng nàng buộc phải tiếp tục hành trình; vì vậy cả hai chàng quý tộc trẻ ở Bogdaniec đành nói lời từ biệt với đoàn hầu cận của triều đình Mazovia. Zbyszko phủ phục dưới chân công chúa, rồi đến chân Đan-nhi-su; chàng hứa với nàng một lần nữa sẽ giữ lòng chung thủy và sớm gặp lại nàng ở Ciechanow hoặc Warszawa; cuối cùng chàng ôm chầm lấy nàng vào đôi tay vắn vỏi lực lưỡng, nhấc bổng nàng lên và lặp lại với giọng ngập tràn cảm xúc:

"Hãy nhớ đến anh, đóa hoa ngọt ngào nhất của anh! Hãy nhớ đến anh, chú cá vàng nhỏ bé của anh!"

Đan-nhi-su ôm lấy chàng như thể chàng là một người anh trai thân thiết, áp má vào mặt chàng và khóc nức nở.

"Em không muốn đến Ciechanow mà không có Zbyszko; em không muốn đến Ciechanow!"

Jurand chứng kiến nỗi đau buồn của con gái nhưng không hề tức giận. Ngược lại, ông ân cần từ biệt chàng thanh niên; và sau khi lên yên ngựa, ông quay lại nhìn chàng lần nữa và nói:

"Chúa phù hộ cho cậu; đừng mang lòng oán giận ta."

Zbyszko niềm nở đáp: "Làm sao tôi có thể oán giận ngài được chứ; ngài chính là cha của Đan-nhi-su mà!" Rồi chàng cúi người sát chiếc bàn đạp, lão già bắt tay chàng và nói:

"Nguyện xin Chúa giúp đỡ cậu trong mọi việc! Cậu hiểu chứ?"

Rồi ông phi ngựa rời đi. Nhưng Zbyszko hiểu rằng qua những lời cuối cùng ấy, ông đang chúc cho mình gặp nhiều may mắn; và khi quay trở lại chiếc xe ngựa nơi Maćko đang nằm, chàng nói:

"Ngài có biết không, con tin là ông ấy đã thuận tình rồi đấy; nhưng có điều gì đó đang ngăn trở ông ấy không dám trao lời ưng thuận. Chú đã từng ở Spychow và là người từng trải, hãy thử đoán xem đó là gì đi."

Nhưng Maćko đã quá mệt. Cơn sốt tăng nặng đến mức về chiều thì lão bắt đầu mê sảng. Thế nên thay vì trả lời Zbyszko, lão nhìn chàng với vẻ ngạc nhiên rồi hỏi:

"Sao người ta lại giông chuông thế kia?"

Zbyszko hoảng sợ. Chàng sợ rằng nếu người bệnh nghe thấy tiếng chuông, đó là điềm báo tử thần sắp đến. Chàng cũng sợ rằng ông chú có thể qua đời mà không có linh mục xưng tội, và do đó sẽ rơi xuống địa ngục, hoặc ít nhất cũng phải chịu cảnh luyện ngục suốt bao thế kỷ; vì vậy chàng quyết định lên đường tiếp tục hành trình, nhằm đến được một giáo xứ nào đó càng sớm càng tốt để Maćko có thể lãnh nhận các Bí tích cuối cùng.

Họ bèn khởi hành và di chuyển suốt đêm. Zbyszko ngồi trên đống cỏ khô trong xe ngựa, bên cạnh người bệnh và túc trực chăm sóc ông đến tận rạng sáng. Thỉnh thoảng chàng lại cho ông uống rượu. Maćko uống ngấu nghiến, bởi nó giúp lão thấy dễ chịu hơn rất nhiều. Sau chén thứ hai, lão đã tỉnh lại sau cơn mê sảng; và sau chén thứ ba, lão chìm vào giấc ngủ; lão ngủ say đến mức Zbyszko phải cúi người kiểm tra xem ông còn sống hay không hết lần này đến lần khác.

Cho đến tận thời điểm bị giam cầm ở Kraków, chàng mới nhận ra mình yêu quý người chú – người thay thế cả cha lẫn mẹ cho chàng – đến nhường nào. Nhưng giờ đây chàng đã thấu hiểu điều đó sâu sắc; và chàng cảm thấy rằng sau khi chú qua đời, cuộc sống của mình sẽ vô cùng cô độc, một thân một mình chẳng họ hàng, ngoại trừ vị viện phụ đang cầm cố đất Bogdaniec, chẳng bạn bè và chẳng có lấy một ai giúp đỡ. Ý nghĩ lóe lên trong đầu chàng rằng nếu Maćko chết đi, đó sẽ là thêm một lý do để trả thù lũ người Đức – những kẻ suýt cướp đi cái mạng của chàng, những kẻ đã sát hại toàn bộ tổ tiên chàng, cùng mẹ của Đan-nhi-su và vô số người vô tội khác mà chàng từng quen biết hoặc từng nghe kể qua những người quen – và chàng bắt đầu tự nhủ:

"Khắp vương quốc này, chẳng có lấy một người đàn ông nào chưa từng chịu đựng sự bất công từ lũ chúng, và không muốn trả thù cho những bất công đó." Đến đây chàng nhớ lại những tên lính Đức mà mình từng chiến đấu cùng ở Vilnius, và chàng biết rằng ngay cả người Tartar cũng ít tàn ác hơn chúng.

Ánh bình minh ló dạng cắt ngang dòng suy nghĩ của chàng. Trời sáng rõ nhưng lạnh lẽo. Rõ ràng Maćko cảm thấy khỏe hơn, bởi nhịp thở của ông đã đều đặn và êm ái hơn. Ông không thức dậy cho đến khi mặt trời đã tỏa ấm; lúc bấy giờ ông mới mở mắt ra và nói:

"Ta thấy đỡ hơn rồi. Chúng ta đang ở đâu thế này?"

"Chúng ta đang đến gần Olkusk. Chú biết đấy, nơi người ta đào bạc ấy."

Maćko đáp: "Nếu người ta có thể lấy được thứ nằm trong lòng đất kia, thì người ta có thể gầy dựng lại Bogdaniec!"

Zbyszko cười lớn đáp: "Con thấy chú khỏe hơn rồi đấy! Hê! Số bạc đó đủ để xây cả một lâu đài đá ấy chứ! Chúng ta sẽ đến nhà thờ giáo xứ, vì ở đó các linh mục sẽ tiếp đãi chúng ta và chú sẽ có thể xưng tội. Mọi sự đều nằm trong tay Chúa; nhưng có một lương tâm thanh thản vẫn hơn."

Maćko đáp: "Ta là kẻ tội lỗi và sẽ sẵn sàng ăn năn sám hối. Đêm qua ta mơ thấy lũ quỷ đang lột da ta. Chúng nói tiếng Đức. Tạ ơn Chúa vì ta đã khỏe hơn. Con đã ngủ chút nào chưa?"

"Làm sao con ngủ được khi còn phải canh chừng cho chú?"

"Thế thì nằm nghỉ một lát đi. Khi nào đến nơi, ta sẽ gọi con dậy."

"Con không ngủ được!"

"Cái gì ngăn cản con thế?"

Zbyszko nhìn người chú và nói:

"Còn gì khác ngoài tình yêu nữa chứ? Lòng con đau quặn thắt; nhưng con sẽ cưỡi ngựa một lát, việc đó sẽ giúp con khá hơn."

Chàng bước xuống xe ngựa, trèo lên con ngựa mà tên gia nhân dắt tới; trong khi đó, Maćko đưa tay chạm vào phần sườn bị thương; nhưng rõ ràng ông đang bận suy nghĩ về điều gì khác chứ không phải bệnh tình của mình, bởi ông lắc đầu, chép miệng và cuối cùng nói:

"Ta cứ thắc mắc mãi, thắc mắc đến lạ lùng, sao con lại tha thiết vì chuyện yêu đương đến thế, bởi cha con không phải người như vậy, và ta cũng thế."

Nhưng Zbyszko thay vì trả lời, lại rướn người trên yên ngựa, chống hai tay lên hông, hất đầu và cất tiếng hát:

Ta khóc suốt đêm thâu, khóc tới tận rạng ngày,

Hỡi người con gái ngọt ngào, người thương của ta, nàng đã ở đâu?

Sẽ chẳng ích gì khi ta thương nhớ nàng,

Bởi ta biết chắc rằng nàng sẽ chẳng còn gặp lại ta.

"Hê!"

Tiếng "hê" vang vọng giữa khu rừng, dội ngược vào những thân cây, để rồi cuối cùng lẩn khuất nơi xa xăm và tan biến vào những lùm cây rậm rạp.

Maćko lại sờ vào mạn sườn – nơi mũi giáo của tên lính Đức vẫn còn găm lại – và khẽ rên rỉ nói:

"Ngày trước con người khôn ngoan hơn!"

Rồi ông trầm ngâm, như thể đang hồi tưởng lại những ngày tháng cũ, và nói thêm:

"Dù rằng ngay cả khi ấy, một số người trong số họ vẫn ngu ngốc."

Nhưng trong lúc đó, họ đã ra khỏi khu rừng, và ngay phía sau nó, họ nhìn thấy những lán trại của thợ mỏ, xa hơn nữa là những bức tường thành do vua Kazimierz xây dựng, cùng tháp chuông của nhà thờ do Władysław Łokietek dựng lên.

Vị kinh sĩ của giáo xứ đã nghe Maćko xưng tội và mời họ ở lại trọ; họ nghỉ lại qua đêm ở đó và khởi hành vào sáng hôm sau. Quá Olkusk, họ rẽ về hướng Śląsk, và từ biên giới nơi đó, họ dự định sẽ cưỡi ngựa hướng về Wielkopolska. Con đường cắt ngang một khu rừng lớn, nơi người ta có thể nghe thấy tiếng rống của bò rừng bizon và bò tót vào lúc hoàng hôn, và khi màn đêm buông xuống, người ta thấy những đốm mắt sói lóe lên sau những lùm phỉ rậm rạp. Tuy nhiên, hiểm họa lớn nhất đe dọa lữ khách trên con đường này đến từ các hiệp sĩ người Đức và đã bị German hóa ở Śląsk, những kẻ có lâu đài mọc lên rải rác gần các vùng biên giới. Quả thực, do cuộc chiến với Opolczyk – kẻ mà người Silesia đang hậu thuẫn chống lại vua Władysław – phần lớn các lâu đài này đã bị bàn tay người Ba Lan phá hủy; dẫu vậy, vẫn cần phải cảnh giác, đặc biệt là sau khi mặt trời lặn, và luôn sẵn sàng vũ khí trên tay.

Tuy nhiên, họ di chuyển vô cùng lặng lẽ đến mức Zbyszko cảm thấy chuyến đi thật tẻ nhạt; khi chỉ còn cách Bogdaniec chừng một ngày đường, họ nghe thấy tiếng khịt mũi và tiếng móng ngựa nện thình thịch phía sau.

"Có kẻ đang bám theo chúng ta," Zbyszko nói.

Maćko – người đã thức giấc – nhìn những vì sao và đáp lại như một lữ khách dày dặn kinh nghiệm:

"Trời sắp sáng rồi. Bọn cướp không tấn công vào cuối đêm đâu."

Zbyszko dừng xe ngựa lại; tuy nhiên, chàng bố trí đám gia nhân xếp thành hàng ngang chắn ngang đường, đối mặt với tốp kỵ mã đang tiến đến, rồi đứng chờ.

Quả thực, một lúc sau, chàng nhận ra bóng dáng vài kỵ mã trong chạng vạng tối. Một người đang cưỡi ngựa đi đầu, và rõ ràng hắn chẳng hề muốn giấu giếm bởi hắn đang cất tiếng hát. Zbyszko không nghe rõ lời bài hát; nhưng âm điệu vui tươi "hoc! hoc!" mà người lạ mặt dùng để kết thúc mỗi đoạn điệp khúc đã lọt vào tai chàng.

"Người của chúng ta!" chàng tự nhủ.

Tuy nhiên, một lát sau chàng lớn tiếng quát:

"Dừng lại!"

Một giọng nói vui vẻ đáp lại: "Còn các người thì ngồi xuống đi!"

"Ngươi là ai?"

"Thế còn các người?"

"Sao lại bám theo chúng ta?"

"Thế sao các người lại chắn ngang đường?"

"Trả lời mau, nỏ của chúng ta đã lên dây rồi đấy."

"Còn của chúng ta ư – đã giương ra – và nhắm thẳng rồi đấy!"

"Trả lời cho đàng hoàng, bằng không thì khốn thân các ngươi!"

Đáp lại lời Zbyszko là một khúc ca vui nhộn:

Khổ sở này cặp với khổ sở khác

Chúng đang nhảy múa trên ngã tư đường.

Học! Học! Học!

Nhảy múa thì có ích gì chứ?

Dù sao thì đó cũng là một việc hay.

Học! Học! Học!

Zbyszko kinh ngạc khi nghe câu trả lời đó; trong khi đó, bài hát dừng lại và chính giọng nói ấy cất lên hỏi:

"Thế lão Maćko ra sao rồi? Lão còn thở không đấy?"

Maćko ngồim dậy trên xe ngựa và nói:

"Lạy Chúa, đích thị là người của chúng ta rồi!"

Zbyszko lao vút lên trước.

"Ai đang hỏi thăm Maćko thế?"

"Là hàng xóm đây. Zych ở Zgorzelice. Ta đã tìm các người suốt một tuần nay và dò la tung tích khắp dọc đường."

"Trời ơi! Chú ơi! Zych ở Zgorzelice đây mà!" Zbyszko hét lớn.

Họ bắt đầu chào hỏi nhau đầy mừng rỡ bởi Zych thực sự là người láng giềng của họ, đồng thời cũng là một người tốt bụng được tất cả mọi người yêu mến bởi tính cách vui vẻ.

Lão vừa bắt tay Maćko vừa hỏi: "Thế nào, khỏe không? Còn 'hoc' nữa không hay hết 'hoc' nổi rồi?"

Maćko đáp: "Hê, hết 'hoc' nổi nữa rồi! Nhưng gặp được chú tôi mừng lắm. Lạy Chúa nhân từ, cứ như thể tôi đã về đến Bogdaniec rồi ấy."

"Có chuyện gì thế hả? Ta nghe nói tụi người Đức đã thương chú à?"

"Đúng thế, lũ chó chết! Một mũi giáo cắm chặt vào giữa những chiếc xương sườn của ta."

Zbyszko tiếp lời: "Chú thấy chưa, ai cũng khuyên dùng mỡ gấu cả. Ngay khi về đến Bogdaniec, con sẽ mang rìu ra hốc cây lấy mỡ."

Maćko hỏi lại: "Biết đâu Jagienka lại có sẵn thì sao?"

"Jagienka nào cơ? Vợ chú tên là Małgochna mà," Maćko nói.

"Ồ! Małgochna không còn nữa! Sắp tròn ba năm kể từ ngày lễ Tổng lãnh thiên thần Michael từ khi Małgochna được chôn cất ở cánh đồng của nhà thờ rồi. Bà ấy là một người phụ nữ lực lưỡng; nguyện xin Chúa chiếu dọi ánh thánh nhan Ngài lên linh hồn bà! Jagienka y hệt như mẹ nó, chỉ là trẻ hơn thôi."

Sau khe núi có một ngọn đồi,

Mẹ nào con nấy chẳng sai chút nào.

Học! Học!

"Ta từng bảo Małgochna đừng có trèo lên cây thông vì tuổi bà ấy đã không còn trẻ nữa. Nhưng khuyên thế nào bà ấy cũng trèo. Cành cây gãy; bà ngã xuống và bị thương nặng; chỉ trong ba ngày là qua đời."

Maćko nói: "Nguyện xin Chúa chiếu dọi ánh thánh nhan Ngài lên linh hồn bà ấy! Ta nhớ chứ, ta nhớ chứ! Mỗi lần bà ấy nổi giận, lũ trai trốn việc trong nông trại lại chui tót vào đống cỏ khô để trốn. Nhưng bà ấy là một người sắc sảo. Thế mà lại ngã từ cây thông xuống đấy!"

"Ngã cắm đầu xuống đất y như quả thông vậy. Các người biết không, sau đám tang ta đau buồn đến ngẩn ngơ, suốt ba ngày liền chẳng ai lay ta tỉnh nổi. Tụi nó cứ tưởng ta chết rồi cơ chứ. Sau đó ta đã khóc suốt một thời gian dài. Nhưng Jagienka cũng lanh lẹ lắm. Con bé lo toan chu toàn mọi việc trong nhà."

"Ta hầu như chẳng còn nhớ con bé trông thế nào nữa. Nó còn chưa cao bằng cán rìu lúc ta rời đi. Nó có thể chui lọt qua bụng ngựa mà chẳng chạm vào người con vật. Chà! Đã lâu lắm rồi đấy, chắc bây giờ con bé đã lớn phổng lên rồi."

"Nó tròn mười lăm tuổi vào ngày lễ thánh Agnes; nhưng đã hơn một năm nay ta chưa gặp lại nó."

"Sao chú lại không gặp nó? Chú đã đi đâu thế?"

"Đi đánh trận chứ đi đâu. Ta chẳng cần phải ở nhà; Jagienka tự lo liệu hết mọi thứ rồi."

Maćko, dẫu đang bệnh nặng, vẫn bắt đầu chăm chú lắng nghe khi chiến tranh được nhắc tới, và gặng hỏi:

"Có lẽ chú đã tòng quân cùng Thân vương Witold ở Vorskla phải không?"

Zych ở Zgorzelice vui vẻ đáp: "Đúng thế, ta có ở đó. Chà, Chúa Trời đã chẳng ban cho ngài ấy vận may; chúng ta đã bị Edyga đánh cho thảm bại. Trước tiên chúng giết sạch ngựa của ta. Người Tartar không bao giờ tấn công trực diện như một hiệp sĩ Cơ Đốc giáo, mà bắn tên từ đằng xa. Bạn xông lên thì hắn bỏ chạy, rồi hắn lại quay lại vãi tên. Các người có thể làm gì với một kẻ như thế chứ? Trong quân đội của chúng ta, các hiệp sĩ cứ lớn tiếng khoác lác rằng: 'Chúng ta chẳng cần phải hạ giáo, cũng chẳng cần tuốt gươm; chúng ta sẽ giày xéo lũ sâu bọ này dưới móng ngựa cho bõ tức.' Họ cứ khoác lác như thế; nhưng khi những mũi tên bắt đầu rít lên, dày đặc đến mức che khuất cả bầu trời, và trận chiến nhanh chóng ngã ngũ. Sợ rằng mười người may ra sống sót nổi một. Các người có tin không? Hơn một nửa quân đội đã bị tàn sát; bảy mươi vương tử Litva và Nga nằm chết trên chiến trường; và người ta chẳng tài nào đếm xuể trong suốt hai tuần lễ số lượng các bồi thần cùng những kẻ hầu cận được gọi là otrok đã tử trận."

Maćko cắt lời: "Ta đã nghe người ta bàn tán về chuyện đó. Rất nhiều hiệp sĩ của chúng ta cũng đã bỏ mạng."

"Chà! Thậm chí mười Hiệp sĩ Dòng Đền cũng đã tử trận, bởi họ buộc phải phục vụ trong quân đội của Witold. Rất nhiều người của chúng ta đã ngã xuống, bởi các bạn biết đấy, họ không bao giờ chịu bỏ chạy. Thân vương Witold đặt trọn niềm tin tưởng nơi các hiệp sĩ của chúng ta và muốn có một đội cận vệ toàn là người Ba Lan vây quanh ngài trong trận chiến. Ái chà! Tàn phá lớn biết bao đã giáng xuống đầu họ; nhưng ngài ấy thì chẳng hề hấn gì! Ngài Spytko xứ Mielsztyn đã tử trận, rồi cả quan mang gươm Bernat, Thẩm phán Mikołaj, Prokop, Przecław, Dobrogost, Jaško xứ Łazewice, Pilik Mazur, Warsz xứ Michow, Voivode Socha, Jaško xứ Dąbrowa, Pietrko xứ Miłoszław, Szczepiecki, Oderski và Tomko Łagoda. Ai mà kể cho hết tên tuổi họ cơ chứ! Vài người trong số họ trúng nhiều mũi tên đến nỗi sau khi chết trông họ chẳng khác gì những con nhím; trông thật kinh hoàng làm sao!"

Đến đây hắn cười vang như thể đang kể một câu chuyện vô cùng thú vị, và lập tức cất giọng hát:

Ngươi đã nếm mùi người Tartar đấy,

Khi chúng đánh ngươi rồi chuồn thẳng xa!

"Thế rồi sao nữa?" Zbyszko hỏi.

"Thế rồi Đại công tước đã trốn thoát; nhưng ngài vẫn dũng cảm như thường lệ. Càng ép ngài bao nhiêu, ngài càng nhảy xa bấy nhiêu, hệt như một cành cây phỉ vậy. Chúng ta lao đến bến cạn Tavan để bảo vệ những kẻ đang vượt sông. Đi cùng chúng ta có một vài hiệp sĩ đến từ Ba Lan. Ngày hôm sau, Edyga kéo đến với một bầy đàn đông đảo người Tartar; nhưng hắn chẳng làm gì nổi chúng ta. Hê! Khi hắn muốn vượt qua bến cạn, chúng ta đã đánh hắn tơi bời khiến hắn chẳng thể qua nổi. Chúng ta đã tiêu diệt và bắt sống rất nhiều kẻ địch. Bản thân ta đã bắt sống được năm tên người Tartar, và ta đã gửi chúng về Zgorzelice. Các người sẽ thấy đầu tụi nó trông giống đầu chó thế nào."

"Ở Kraków, người ta bảo rằng chiến tranh có thể sẽ lan đến cả Ba Lan."

"Họ tưởng Edyga là thằng ngu chắc! Hắn biết rõ chúng ta là loại hiệp sĩ nào; và hắn cũng biết rằng những hiệp sĩ vĩ đại nhất đều ở lại nhà, bởi vương hậu chẳng hề vui vẻ gì khi Witold tự ý phát động chiến tranh. Hừ, lão Edyga đó xảo quyệt lắm! Hắn đã hiểu ra ở Tavania rằng quân số của thân vương đã tăng lên và tiến sâu vượt qua vùng đất thứ mười rồi!"

"Nhưng chú đã quay về chứ?"

"Ừ, ta quay về. Chẳng còn việc gì để làm ở trển nữa. Ở Kraków ta nghe tin về các người, và biết rằng các người đã khởi hành trước ta một chút."

Đến đây hắn quay sang Zbyszko:

"Hê! Thiếu gia, lần cuối cùng ta gặp cậu, cậu hãy còn là một chú nhóc tì; và giờ đây, dẫu chẳng có ánh sáng, ta đoán cậu đã cao lớn lực lưỡng như một con bò rừng rồi. Lại còn kè kè nỏ sẵn sàng trên tay nữa chứ! Xem ra cậu đã từng trải qua chiến trận rồi đấy."

"Chiến tranh đã tôi luyện tôi từ thuở nhỏ. Cứ để chú tôi kể cho chú nghe xem tôi có thiếu kinh nghiệm hay không."

"Chẳng cần chú cậu phải kể gì sất; ở Kraków, ta đã gặp vị lãnh chúa xứ Taczew và ông ấy đã kể hết mọi chuyện về cậu cho ta nghe rồi."

Hắn nói tiếp: "Nhưng ta hiểu rằng tay quý tộc xứ Masovia không muốn gả con gái cho cậu. Ta chẳng có xích mích gì với cậu cả; trái lại ta rất quý cậu. Cậu sẽ quên bén đi bóng hình côả ấy ngay khi tận mắt nhìn thấy con bé Jagienka của ta. Nó là một kỳ quan đấy!"

"Tôi sẽ không quên đâu, dẫu cho có gặp mười đứa giống như con Jagna của chú đi nữa."

"Nó sẽ được thừa hưởng điền trang Moczydoły làm của hồi môn đấy. Sẽ có khối kẻ đến hỏi cưới Jagna cho mà xem, đừng có lo!"

Zbyszko định đáp: "Nhưng tôi thì không!" Thế nhưng Zych ở Zgorzelice lại cất giọng hát:

Ta sẽ quỳ gối trước nàng

Và để đổi lấy, nàng sẽ ban ta thiếu nữ,

Ban ta thiếu nữ!

Maćko bảo: "Chú lúc nào cũng vui vẻ và ca hát suốt ngày nhỉ."

"Thế mấy vị thánh trên thiên đàng thì làm gì nào."

"Họ ca hát chứ gì."

"Thế thì rõ rồi! Còn lũ người bị đày đọa xuống địa ngục thì khóc lóc. Ta thà nhập bọn với những kẻ ca hát còn hơn lũ hay khóc lóc; và thánh Phê-rô sẽ phán thế này: 'Chúng ta phải để hắn vào thiên đường; bằng không hắn sẽ cất giọng hát ở địa ngục mất, và điều đó thì chẳng đúng đắn chút nào.' Nhìn kìa, trời sắp sáng rồi!"

Quả thực, ánh ban mai đang dần hé lộ. Chẳng mấy chốc họ đã đến một bãi cỏ trống lớn. Bên cạnh hồ nước chiếm phần lớn khu rừng thưa, vài người đang đánh bắt cá; nhưng khi nhìn thấy đám người có vũ khí, họ liền bỏ lưới, ngay lập tức vồ lấy cuốc xẻng cùng gậy gộc và đứng vào tư thế sẵn sàng chiến đấu.

"Họ tưởng chúng ta là cướp," Zych cười lớn nói. "Hê, mấy bác đánh cá kia! Các bác thuộc quyền quản của ai thế?"

Họ đứng lặng người một lúc, nhìn với vẻ đầy hoài nghi; nhưng cuối cùng một người trong số họ nhận ra đó là các hiệp sĩ liền đáp:

"Thuộc về cha cố, viện phụ xứ Tulcza."

Maćko nói: "Họ hàng của chúng ta đây rồi, chính là người đang cầm cố đất Bogdaniec. Chắc đây là khu rừng của ngài ấy; nhưng có lẽ ngài ấy vừa mới mua nó cách đây chưa lâu."

Zych đáp: "Ngài ấy có mua đâu. Ngài ấy đã tranh chấp nó với Wilk xứ Brzozowa và có vẻ như vị viện phụ đã đánh bại Wilk. Một năm trước, họ định đọ sức trên lưng ngựa bằng giáo và kiếm dài vì phần rừng này; nhưng ta không rõ kết cục ra sao vì ta đã đi vắng."

Maćko nói: "Thôi nào, chúng ta là họ hàng cơ mà, ngài ấy sẽ chẳng gây sự với chúng ta đâu."

"Biết đâu đấy; ngài là một vị viện phụ thượng võ biết cách đội mũ trụ; nhưng ngài cũng rất sùng đạo và hát thánh lễ hay tuyệt cú mèo. Các người không nhớ sao? Mỗi lần ngài cất giọng hào hùng trong thánh lễ, lũ chim nhạn làm tổ dưới trần nhà đều rớt khỏi tổ. Nhờ thế mà vinh quang của Chúa được tăng thêm đấy."

"Chính xác là tôi nhớ chứ! Cự ly chục bước chân là ngài có thể thổi bay những ngọn nến trên bàn thờ rồi. Ngài ấy đã đến Bogdaniec chưa?"

"Rồi, ngài ấy từng ở đó. Ngài đã đưa năm hộ nông dân đến khai khẩn đất đai. Ngài cũng từng ghé nhà ta ở Zgorzelice, bởi như các người đã biết, chính ngài là người đã rửa tội cho Jagienka, và ngài rất quý con bé, toàn gọi nó là con gái nhỏ."

Maćko nói: "Chúa sẽ phù hộ cho ngài ấy nếu ngài chịu để lại cho tôi mấy hộ nông dân."

"Ôi dào! Năm hộ nông dân thì thấm tháp vào đâu! Thế rồi Jagienka sẽ xin ngài và ngài sẽ chẳng nỡ từ chối con bé đâu."

Đến đây cuộc trò chuyện tạm dừng một lát, bởi phía trên khu rừng sẫm màu và từ tầng mây hồng rực, mặt trời chói lọi đã nhô lên chiếu sáng khắp chốn gian nan. Các hiệp sĩ chào đón nó bằng câu nói quen thuộc: "Nguyện xin Chúa ban phước!" rồi làm dấu thánh và bắt đầu đọc kinh buổi sáng.

Zych đọc xong trước và bảo với những người đồng hành:

"Ta hy vọng sẽ sớm gặp lại các người với sức khỏe dồi dào. Hê! Cả hai người đều đã đổi khác rồi đấy. Này Maćko, chú phải lấy lại sức khỏe mau chóng lên. Jagienka sẽ chăm sóc cho chú, bởi trong nhà chú chẳng có bóng hồng nào cả. Nhìn là biết chú đang dính một khúc sắt giữa xương sườn rồi đấy."

Đến đây hắn quay sang Zbyszko:

"Cậu cũng ra đây cho ta ngắm chút xem nào. Ôi, lạy Chúa toàn năng! Ta nhớ lúc cậu còn bé tí toàn túm lấy đuôi mâý con ngựa tơ để trèo lên; còn bây giờ, trông ngai ngái một hiệp sĩ thật rồi! Gương mặt thì giống một vị tiểu vương, nhưng vóc dáng thì lực lưỡng chẳng khác nào một tráng sĩ. Thể hình này đủ sức vật lộn cả với gấu ấy chứ."

Maćko nói: "Gấu gủng gì đối với nó chứ! Nó còn trẻ chán so với hôm nay, thế mà khi tên người Frisia nọ gọi nó là một thằng nhãi chưa mọc râu; sẵn cơn tức giận, nó lập tức giật phăng bộ râu mép của tên người Frisia đó luôn."

Zych ngắt lời: "Ta biết chứ, và sau đó các người đã đánh nhau, rồi bắt sống cả đoàn tùy tùng của chúng. Lãnh chúa xứ Taczew đã kể hết mọi chuyện cho ta nghe rồi:"

Bọn Đức cao ngạo hung hăng,

Vùi thây với cái mõm bầm máu me;

Học! Học!

Zbyszko ngạc nhiên khi nhìn vóc dáng cao gầy của Zych, khuôn mặt gầy gò với chiếc mũi khổng lồ cùng đôi mắt tròn trịa luôn ánh lên nụ cười.

Chàng nói: "Ồ, có một người hàng xóm như thế này thì sẽ chẳng bao giờ phải buồn rầu, miễn là Chúa ban cho chú tôi lại sức."

Zych đáp: "Có một người hàng xóm vui vẻ là điều tuyệt vời, bởi ở bên một kẻ khảnh khang vui tính thì chẳng bao giờ có chuyện cãi vã. Giờ thì hãy lắng nghe những gì ta bảo đây. Các người đã rời nhà đi vãng lai đã lâu, và về đến Bogdaniec các người sẽ chẳng tìm thấy mấy sự thoải mái đâu. Ta không nói đến chuyện làm ruộng, bởi vị viện phụ đã lo liệu hết rồi; ngài đã phát quang một khoảng rừng lớn và đưa nông dân mới đến định cư. Nhưng vì ngài đến đó rất thường xuyên, các người sẽ thấy cái chạn bếp trống hoác; ngay cả trong nhà cũng chẳng có lấy một chiếc ghế băng hay một bó rơm tử tế để nằm; trong khi người bệnh thì rất cần sự chăm sóc chu đáo. Tốt hơn là các người hãy theo ta về Zgorzelice. Ta sẽ rất vui lòng nếu các người ở lại đó một hoặc hai tháng. Trong khoảng thời gian đó, Jagienka sẽ lo liệu thay cho Bogdaniec. Cứ tin tưởng ở con bé và đừng bận tâm điều gì cả. Zbyszko có thể thỉnh thoảng ghé qua đó để thanh tra việc đồng áng; ta sẽ rước vị viện phụ đến Zgorzelice, và các người có thể giải quyết dứt điểm chuyện sổ sách với ngài ấy. Con bé sẽ chăm sóc chú tận tình như cha đẻ, mà trong lúc ốm đau, sự chăm sóc của phụ nữ là tuyệt vời nhất. Nào mấy người bạn thân mến, các người sẽ làm theo ý ta chứ?"

Maćko xúc động đáp: "Chúng tôi biết ngài là người tốt và trước giờ vẫn luôn thế; nhưng ngài thấy đấy, nếu tôi phải chết vì vết thương này, tôi thà chết tại chính ngôi nhà của mình còn hơn. Hơn nữa, khi ở nhà, dù có già cả, người ta vẫn có thể hỏi han mọi chuyện, có thể kiểm tra và làm biết bao việc khác. Nếu Chúa định bắt tôi sang thế giới bên kia, chà, khi đó tôi đành chịu! Trốn thế nào được dù có được chăm sóc tốt đến đâu đi nữa. Còn về sự bất tiện, chúng tôi đã quen với nó trong chiến tranh rồi. Ngay cả một bó rơm cũng vô cùng dễ chịu đối với kẻ đã ngủ trên nền đất trống suốt mấy năm trời. Nhưng tôi vô cùng cảm tạ tấm lòng nhân hậu của ngài, và nếu tôi không có cơ hội đền đáp ơn nghĩa, Chúa sẽ cho phép Zbyszko làm thay tôi điều đó."

Zych ở Zgorzelice vốn nổi tiếng vì tấm lòng nhân hậu và hay giúp đỡ người khác, bắt đầu nài nỉ thêm; nhưng Maćko vẫn một mực kiên định: "Nếu ta phải chết, chết tại chính sân nhà mình vẫn tốt hơn!"

Ông đã ao ước được nhìn thấy Bogdaniec suốt mấy năm trời, thế nên giờ đây, khi đã ở khoảng cách gần nhường này, ông nhất định phải về cho bằng được, dẫu đó có là đêm cuối cùng trong đời đi chăng nữa. Chúa thật xót thương khi cho phép một kẻ bệnh nặng nhường ấy đi đến được chốn này.

Lão dùng tay gạt đi những giọt nước mắt đọng lại dưới mí mắt, đảo mắt nhìn xung quanh và nói:

"Nếu đây là những cánh rừng của Wilk xứ Brzozowa thì chiều nay chúng ta sẽ về đến nhà."

Zych nói: "Chúng không còn thuộc về Wilk xứ Brzozowa nữa; mà thuộc về vị viện phụ rồi."

Maćko mỉm cười và một lúc sau liền nói:

"Nếu chúng thuộc về vị viện phụ, thì thế nào có ngày chúng cũng thuộc về chúng ta."

Zych vui vẻ trêu: "Chà! Lúc nãy cậu còn đang bàn chuyện chết chóc cơ mà, thế mà giờ lại muốn sống lâu hơn cả vị viện phụ cơ à."

"Không, tôi sẽ chẳng sống thọ hơn ngài ấy đâu; nhưng Zbyszko thì có thể."

Cuộc trò chuyện tiếp theo bị cắt đứt bởi tiếng tù và vang lên trong khu rừng.

Zych dừng ngựa lại và bắt đầu lắng nghe.

Hắn bảo: "Ai đó đang đi săn kìa. Chờ chút."

"Biết đâu lại là vị viện phụ. Được gặp ngài ấy ở đây thì thú vị biết mấy."

"Giữ trật tự!"

Đoạn hắn quay sang toán tùy tùng:

"Dừng lại!"

Họ khựng lại. Tiếng tù và vang lên gần hơn, và chẳng mấy chốc sau tiếng chó sủa rân trời đã lọt vào tai.

"Dừng lại!" Zych lặp lại. "Chúng đang tiến về phía chúng ta."

Zbyszko nhảy xuống ngựa và lớn tiếng hô:

"Đưa nỏ đây mau! Con quái vật có thể tấn công chúng ta! Nhanh lên! Nhanh lên!"

Chộp lấy cây nỏ từ tay tên gia nhân, chàng tì nó xuống đất, ấn mạnh vào bụng, rướn người cong lưng lại hệt như một chiếc cung, rồi dùng ngón tay của cả hai bàn tay bấu chặt lấy dây cung kéo ngược lên chiếc móc sắt; sau đó đặt mũi tên vào lẫy và lao vút vào trong rừng.

Zych ngạc nhiên thì thầm: "Hắn kéo dây mà chẳng cần đến cần trục kìa!"

Maćko tự hào đáp: "Hừ, nó là một thằng nhóc khỏe mạnh cơ mà!"

Trong khi đó, tiếng tù và và tiếng chó sủa ngày càng tiến lại gần; bỗng nhiên, ở phía bên phải khu rừng vang lên tiếng giẫm đạp nặng nề kèm theo tiếng cành cây và bụi rậm gãy rắc – rồi từ trong bụi rậm lao vụt ra một con bò rừng đực già cỗi râu ria xồm xoàm, với cái đầu khổng lồ cúi thấp, đôi mắt đỏ ngầu và chiếc lưỡi thở hồng hộc, đứt hơi trông vô cùng đáng sợ. Khi đến một khe núi nhỏ, nó phóng qua nhưng ngã khuỵu xuống hai chân trước; thế nhưng nó lập tức chồm dậy và chỉ vài giây nữa là đã biến mất vào lùm cây ở phía bên kia con đường, thì dây nỏ vang lên đanh thép, tiếng gió rít của mũi tên xé không gian, con thú lồng lên, quay ngoắt lại, rống lên những tiếng rùng rợn rồi ngã vật xuống đất như thể bị sét đánh trúng.

Zbyszko lao ra từ sau gốc cây, một lần nữa lên dây nỏ, rồi tiến lại gần con bò đực đang dùng hai chân sau cào cấu mặt đất.

Nhưng sau khi liếc nhìn nó, chàng bình thản quay lại hướng về phía đoàn tùy tùng và cất giọng hô lớn từ đằng xa:

"Tôi bắn trúng nó hiểm lắm, nó bị thương nặng rồi!"

Zych vừa phi ngựa tiến lại gần vừa nói: "Cậu đúng là một thằng nhóc khỏe mạnh, chỉ với một mũi tên duy nhất!"

"Chà, cự ly gần và tốc độ quá lớn mà. Lại đây mà xem này; không chỉ phần sắt, mà ngay cả thân mũi tên cũng đã ngập sâu biến mất dưới xương bả vai bên trái rồi."

"Lũ thợ săn hẳn đang ở gần đây thôi; chúng sẽ đòi con vật này đấy."

Zbyszko đáp: "Tôi chẳng đời nào nhường nó cho chúng đâu! Nó bị giết trên đường đi, mà đường đi thì chẳng phải tài sản tư nhân."

"Nhưng nhỡ nó thuộc về vị viện phụ thì sao?"

"À, vậy thì ngài ấy cứ việc lấy nó."

Trong khi đó, vài con chó săn từ trong rừng chạy túa ra. Nhìn thấy con vật, chúng liền lao bổ vào nó.

Zych nói: "Chẳng mấy chốc thợ săn sẽ xuất hiện thôi. Nhìn kìa! Họ ở đằng kia kìa, nhưng họ vẫn chưa thấy con vật. Dừng lại! Dừng lại! Ở đây, ở đây này! Bị hạ rồi! Bị hạ rồi!"

Rồi hắn im bặt, dùng một tay che mắt nhìn; một lát sau, hắn thốt lên:

"Lạy Chúa! Có chuyện gì thế này? Ta bị mù hay mắt ta có vấn đề rồi đây?"

Zbyszko nói: "Có ai đó đang cưỡi con ngựa khoang đi ở phía trước kìa."

Zych liền hét lên ngay lập tức:

"Lạy Chúa nhân từ! Chắc chắn là Jagienka rồi!"

Và hắn hối hả lao lên trước; nhưng trước khi hắn kịp thúc ngựa phi nước đại, Zbyszko đã chứng kiến một cảnh tượng vô cùng kỳ diệu; chàng nhìn thấy một thiếu nữ đang cưỡi ngựa theo kiểu đàn ông trên lưng một con ngựa khoang phi nước đại lao về phía họ; tay nàng cầm một cây nỏ và trên vai vác một ngọn giáo săn heo rừng. Mái tóc buông xõa bay phấp phới đầy những cụm hoa bia; khuôn mặt nàng rạng ngời như ánh bình minh. Chiếc áo sơ-mi phanh ngực và nàng khoác một chiếc áo da cừu serdak. Khi đến nơi, nàng giật cương dừng ngựa lại; trong khoảnh khắc, biểu cảm trên khuôn mặt nàng hiện lên sự ngạc nhiên, ngập ngừng, vui sướng; cuối cùng, hầu như không thể tin vào mắt mình, nàng cất giọng trẻ thơ vang lên:

"Tato ơi, cha yêu dấu của con ơi!"

Chỉ trong chớp mắt, nàng đã nhảy phóc xuống ngựa và Zych cũng xuống ngựa để chào đón con gái; nàng ôm chầm lấy cổ cha. Suốt một hồi lâu, Zbyszko chỉ nghe thấy những âm thanh của những nụ hôn và hai từ: "Tatulo! Jagula! Tatulo! Jagula!" được thốt lên trong niềm hạnh phúc vỡ oà.

Lúc này hai đoàn tùy tùng đã tiến lại gần, Maćko cũng tới nơi; họ tiếp tục lặp lại: "Tatulo! Jagula!" và vẫn ôm hôn nhau thắm thiết. Cuối cùng Jagienka cất tiếng hỏi:

"Thế là cha quyết định từ bỏ chiến trường để về ư? Cha khỏe chứ?"

"Từ chiến trường về đấy. Sao ta lại không khỏe được chứ? Còn con? Thế mấy đứa nhóc ở nhà thế nào? Chúng vẫn khỏe chứ? Ừ, nếu không thì con đã chẳng chạy nhảy trong rừng thế này. Nhưng này con gái, con đang làm gì ở đây thế?"

Jagienka cười lớn đáp: "Cha không thấy là con đang đi săn hay sao?"

"Trong rừng của người khác á?"

"Vị viện phụ đã cho phép con đấy. Ngài thậm chí còn cử cả thợ săn có kinh nghiệm lẫn một bầy chó săn cho con nữa."

Nàng quay sang đám gia nhân ra lệnh: "Đuổi lũ chó ra chỗ khác, chúng sẽ làm rách bộ da mất!"

Rồi quay sang Zych: "Ôi, con mừng biết bao khi được gặp lại cha!" Và họ lại ôm hôn nhau thắm thiết. Khi đã xong xuôi, Jagna mới nói:

"Chúng ta ở nhà cách đây khá xa; chúng con bám theo con thú. Con chắc chắn nó phải chạy xa hơn mười dặm; lũ ngựa kiệt sức cả rồi. Con bò rừng to ghê ta! Cha có để ý không? Trên người nó thế nào cũng phải dính ít nhất ba mũi tên của con; mũi cuối cùng đã kết liễu nó đấy."

"Nó bị hạ bởi mũi cuối cùng thật, nhưng không phải của con đâu; vị hiệp sĩ này mới là người bắn chết nó."

Jagienka hất mái tóc ra sau và đăm đăm nhìn Zbyszko với ánh mắt sắc sảo nhưng không mấy thiện cảm.

Zych hỏi: "Cậu có biết đây là ai không?"

"Con không biết."

"Thảo nào con không nhận ra, vì cậu ta đã lớn phổng lên rồi. Thế con có nhận ra lão Maćko ở Bogdaniec không?"

Jagienka thốt lên: "Lạy Chúa! Đó chính là Maćko xứ Bogdaniec sao?"

Nàng bước lại gần chiếc xe ngựa và cúi xuống hôn tay Maćko.

"Là bác đấy ư?"

"Ừ, là ta đây; nhưng ta buộc phải ngồi xe ngựa, bởi lũ người Đức đã hạ thương ta."

"Người Đức nào cơ ạ? Chẳng phải chiến tranh diễn ra với người Tartar sao?"

"Đúng là có chiến tranh với người Tartar, nhưng chúng ta không tham gia trận chiến đó; Zbyszko và ta đã chiến đấu trong chiến dịch ở Litva."

"Thế Zbyszko đang ở đâu?"

Maćko mỉm cười nói: "Thế con không nhận ra Zbyszko sao?"

Cô thiếu nữ nhìn chăm chú vào chàng hiệp sĩ trẻ một lần nữa rồi thốt lên: "Đó chính là Zbyszko á?"

"Ừ, chính là cậu ta."

Zych vui vẻ giục: "Con phải trao cho cậu ấy một nụ hôn chứ, bởi cậu ta là người quen cũ của con mà."

Jagienka vui vẻ quay người về phía Zbyszko; nhưng đột nhiên nàng thụt lùi lại, đưa tay che mặt và nói:

"Con thấy ngượng lắm."

Zbyszko bảo: "Nhưng chúng ta đã quen biết nhau từ hồi còn bé xíu cơ mà."

"Aha! Chúng ta quen nhau rõ lắm ấy chứ. Em còn nhớ khi anh đến thăm chúng em cùng bác Maćko cách đây khoảng tám năm trước, và mẹ em đã đãi chúng ta bánh mì phết mật ong; anh là anh lớn mà lại dám nện em một cú đấm rồi ăn sạch số hạt dẻ của em."

Maćko nói: "Bây giờ nó không còn cư xử như thế nữa đâu! Nó đã tòng quân dưới quyền Thân vương Witold, lại còn lui tới cung điện ở Kraków, nên đã học được phong thái tao nhã của triều đình rồi."

Nhưng lúc này Jagienka lại đang bận tâm đến chuyện khác; nàng quay sang Zbyszko và hỏi:

"Thế chính anh là người bắn chết con bò rừng á?"

"Đúng vậy."

"Chúng ta phải xem mũi tên găm ở chỗ nào mới được."

"Em không thấy được đâu; nó đã ngập sâu biến mất dưới xương bả vai rồi."

Zych chen ngang: "Thôi đừng cãi nhau nữa. Tất cả chúng ta đều tận mắt thấy cậu ta bắn hạ con bò rừng, và chúng ta còn chứng kiến một cảnh tượng tuyệt vời hơn thế nữa cơ; cậu ta lên dây nỏ mà chẳng cần dùng đến cần trục."

Jagienka nhìn Zbyszko lần thứ ba, nhưng lần này với vẻ đầy kinh ngạc.

"Cậu tự lên dây nỏ mà không cần cần trục á?"

Zbyszko nhận thấy chút hoài nghi trong giọng nói của nàng, liền chống cây nỏ xuống đất và giương căng nó lên chỉ trong nháy mắt; rồi muốn cho thấy mình rất am hiểu phép tắc lịch sự của hiệp sĩ, chàng quỳ một chân xuống và trao chiếc nỏ cho Jagienka. Nhưng cô thiếu nữ, thay vì đón lấy nó từ tay chàng, lại bỗng dưng đỏ bừng mặt – chính nàng cũng chẳng hiểu vì sao – và lóng ngóng cài lại chiếc áo sơ-mi vì trong lúc phi ngựa nhanh đã bị phanh ngực ra.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.