Sau những đợt tuyết rơi dày đặc, những trận giá buốt cùng tiết trời khô ráo, quang đãng liền kéo dài. Ban ngày, khu rừng lấp lánh dưới những tia nắng, sông ngòi bị băng giá xiềng xích và đầm lầy trở nên cứng đọng; tiếp theo đó là những đêm thanh bình, cái lạnh tăng độ đến mức gỗ trong rừng nứt nẻ kêu răng rắc. Đám chim chóc kéo lại gần các khu nhà ở. Sói hoang làm các ngả đường trở nên hiểm trở, chúng tụ tập thành bầy và không chỉ tấn công người đi đơn độc mà còn cả các ngôi làng. Tuy nhiên, người dân vẫn vui vẻ quanh đống lửa trong những túp lều khói mịt mù của họ, họ dự đoán từ một mùa đông cực kỳ lạnh giá sẽ là một năm bội thu, và họ hân hoan chờ đợi những ngày lễ sắp tới. Trinh xá trong rừng vắng bóng người. Công nương cùng triều đình và linh mục Wyszoniek đã khởi hành đi Ciechanow. Zbyszko, dù đã khỏe hơn nhiều nhưng vẫn chưa đủ sức cưỡi ngựa, ở lại Trinh xá cùng với Sanderus, người hầu cận mang giáp người Bohemia và các gia nhân trong trang viên, những người chịu sự giám sát của một nữ quý nhân đảm nhận các công việc gia đình.
Nhưng chàng hiệp sĩ vô cùng nhớ nhung người vợ trẻ của mình. Quả thực, ý nghĩ rằng Danusia đã là của mình và không một thế lực trần gian nào có thể cướp nàng đi mang lại cho chàng sự an ủi lớn lao; nhưng mặt khác, chính ý nghĩ ấy lại làm nỗi khao khát trong lòng chàng thêm cồn cào. Suốt cả ngày, chàng mong mỏi khoảnh khắc được rời khỏi trinh xá, suy tính xem lúc đó mình nên làm gì, đi đâu, và làm thế nào để xoa dịu Jurand. Chàng cũng có những phút giây tồi tệ và bất an. Nhưng nhìn chung, tương lai hiện lên thật tươi vui trong mắt chàng. Yêu Danusia và giật những chiếc lông công trên mũ mão các hiệp sĩ — chàng sẽ sống một cuộc đời như thế. Đã bao lần chàng muốn thổ lộ điều đó với người hầu cận người Bohemia mà chàng vô cùng quý mến, nhưng rồi chàng ngẫm lại, vì gã người Bohemia này, theo chàng nghĩ, đã dành trọn tâm hồn cho Jagienka, nên việc nói với gã về Danusia là điều bất cẩn, hơn nữa, bản thân bị ràng buộc bởi bí mật, chàng không thể kể hết mọi chuyện đã xảy ra.
Dẫu vậy, sức khỏe của chàng vẫn hồi phục từng ngày. Một tuần trước lễ Vọng Giáng Sinh, lần đầu tiên chàng leo lên lưng ngựa, và dẫu cảm thấy mình chưa thể làm điều đó khi mặc giáp, chàng vẫn lấy lại được sự tự tin. Hơn nữa, chàng cũng không mong ngóng sớm phải khoác lên mình chiếc áo giáp lưới và mũ sắt. Tệ nhất thì chàng hy vọng chẳng mấy chốc mình cũng đủ sức làm điều đó. Ở trong nhà, để giết thời gian, chàng thử nhấc thanh kiếm lên, và chàng làm việc đó khá dễ dàng, nhưng việc vung chiếc rìu vẫn là một thử thách khó khăn đối với chàng. Dù vậy, chàng tin rằng nếu dùng cả hai tay nắm lấy cán rìu, chàng có thể vung nó một cách hiệu quả.
Cuối cùng, hai ngày trước lễ Vọng, chàng ra lệnh sửa sang xe ngựa, yên cương cho ngựa, và thông báo với người hầu người Bohemia rằng họ sẽ đi Ciechanow. Người hầu cận trung thành có đôi chút lo lắng, nhất là vì thời tiết giá buốt cắt da cắt thịt ở bên ngoài. Nhưng Zbyszko bảo hắn:
"Glowacz,[105] đó không phải chuyện đầu óc ngươi phải bận tâm, ở cái trinh xá này chúng ta chẳng còn gì để lưu luyến, và dù có ngẫu nhiên bị ốm đi chăng nữa, ta cũng không đời nào bỏ lỡ cơ hội gặp mặt vị lão gia ở Ciechanow. Hơn nữa, ta sẽ không cưỡi ngựa, mà ngồi xe trượt tuyết, vùi mình ngập đến cổ trong đám cỏ khô và dưới lớp áo lông thú, và chỉ khi đến sát Ciechanow ta mới cưỡi ngựa."
Và mọi chuyện diễn ra đúng như vậy. Gã người Bohemia hiểu rõ người chủ trẻ của mình và thừa biết rằng chống lại hắn chẳng có ích gì, và việc không tuân thủ nghiêm ngặt mệnh lệnh của hắn còn tồi tệ hơn thế. Thế là họ lên đường từ sớm tinh mơ. Lúc khởi hành, Zbyszko nhìn thấy Sanderus đang nhét mình cùng những chiếc hòm lên xe trượt, liền bảo hắn: "Sao ngươi cứ bám dính lấy ta như gai gừa bám vào lông cừu thế?... Ngươi từng bảo muốn đi Phổ cơ mà."
"Vâng, tôi có nói thế," Sanderus đáp. "Nhưng liệu tôi có thể đến đó một mình giữa những đống tuyết thế này không? Lũ sói sẽ nuốt chửng tôi trước khi ngôi sao đầu tiên kịp ló dạng, và ở lại đây thì tôi chẳng có việc gì làm. Tôi thích đến thị trấn hơn, để truyền bá lòng đạo đức cho dân chúng, ban phát những vật phẩm thánh thi cứu rỗi họ khỏi nanh vuốt quỷ dữ, như tôi từng thề trước cha chung của toàn thể tín đồ Thiên Chúa giáo ở Rô-ma. Hơn nữa, tôi vô cùng quyến luyến ngài, và sẽ không rời xa ngài trước khi trở lại Rô-ma, vì biết đâu có lúc tôi lại có thể giúp ích gì cho ngài."
"Lão ta lúc nào cũng nghĩ cho ngài đấy, thưa ngài! Lão sẵn sàng ăn và uống thay ngài cơ mà," gã người Bohemia chen vào. "Kiểu giúp đỡ đó thì lão khoái lắm, chứ còn nếu một bầy sói mà tấn công chúng ta ở khu rừng gần Przasnysz thì chính tôi sẽ lấy lão để bái sư cho lũ sói, vì lão chẳng tích sự gì hơn đâu."
"Tốt hơn là ngươi nên cẩn thận kẻo những lời tội lỗi đó đóng băng trên ria mép của ngươi đấy," Sanderus đáp lại, "vì những chiếc dọc thòng lòng kiểu đó chỉ có thể tan chảy trong lửa địa ngục mà thôi."
"Ôi chao!" Glowacz vừa đáp, vừa đưa găng tay sắt chạm vào bộ ria mép đangú nhú, "trước tiên ta sẽ thử hâm chút bia để giải khát, nhưng ta sẽ chẳng cho ngươi một ngụm nào đâu."
"Thế nhưng ở đó người ta cấm không được cho kẻ khát nước uống cơ mà — lại thêm một tội lỗi nữa đấy."
"Ta sẽ cho ngươi một gánh nước đầy, nhưng trong lúc chờ đợi thì cứ nhận lấy cái này trên tay ta đã!" Vừa nói, hắn vừa gom đầy một nắm tuyết trong cả hai chiếc găng tay sắt rồi ném thẳng vào bộ râu của Sanderus, nhưng lão ta lách người tránh sang một bên và nói:
"Ở Ciechanow chẳng có chỗ cho ngươi đâu, vì ở đó đã có sẵn một con gấu trưởng thành biết đùa giỡn với tuyết rồi."
Họ vẫn thường thích trêu chọc nhau như thế. Nhưng Zbyszko không cấm Sanderus đi cùng vì gã kỳ lạ ấy mang lại cho hắn sự giải trí, và đồng thời hắn cảm thấy con người này thực lòng gắn bó với mình.
Họ rời Trinh xá vào một buổi sáng rực rỡ. Giá buốt thấu xương đến mức họ phải phủ bạt cho đám ngựa. Cả phong cảnh chìm ngập dưới lớp tuyết trắng. Những mái tranh bị tuyết phủ kín đến mức hầu như chẳng thể nhìn thấy. Khói dường như bốc thẳng lên từ những ngọn đồi trắng xóa, vút bay lên tận bầu trời, ánh lên sắc đỏ vào buổi sáng, tản rộng trên mái nhà như chiếc chổi lông, trông giống hệt những chùm lông vũ trên mũ giáp.
Zbyszko ngồi trên xe trượt tuyết, thứ nhất là để dưỡng sức, thứ hai là vì cái lạnh cắt da cắt thịt, thứ mà người ta có thể dễ dàng phòng bị; hắn ra lệnh cho Glowacz ngồi bên cạnh để sẵn sàng giương nỏ đối phó với những cuộc tập kích của bầy sói, trong lúc đó hắn vui vẻ trò chuyện với gã.
"Ở Przasnysz, chúng ta sẽ chỉ cho ngựa ăn và sưởi ấm một chút rồi lập tức lên đường tiếp."
"Đi Ciechanow ư?"
"Trước tiên là đến Ciechanow, để bái yết triều đình và dự lễ tế."
"Rồi sau đó?" Glowacz hỏi.
Zbyszko mỉm cười đáp,
"Sau đó, ai mà biết được, có lẽ là đến Bogdaniec."
Gã người Bohemia nhìn hắn với vẻ kinh ngạc, ý nghĩ thoáng qua trong đầu gã: Có lẽ hắn đã cãi nhau với tiểu thư Jurandowna, và điều này đối với gã là dễ xảy ra nhất, bởi vì nàng đã bỏ đi. Gã người Bohemia cũng từng nghe ở Trinh xá rằng vị lãnh chúa xứ Spychow phản đối cuộc hôn nhân của vị hiệp sĩ trẻ, thế nên người hầu cận trung thành cảm thấy vui mừng dẫu cho hắn thầm yêu Jagienka, nhưng hắn chỉ coi nàng như một vì sao trên trời mà để đổi lấy hạnh phúc cho nàng, hắn sẵn sàng đổ cả máu xương. Vì thế hắn yêu mến Zbyszko, và từ tận đáy lòng, hắn khát khao được phục vụ cả hai người họ cho đến tận hơi thở cuối cùng.
"Vậy là ngài nhà ta định về định cư ở thái ấp ư," gã hào hứng cất lời.
"Làm sao ta có thể định cư ở thái ấp của mình được," Zbyszko đáp, "khi mà ta đã thách đấu với đám Hiệp sĩ Giáp Sắt đó, và thậm chí trước cả lúc ấy, ta đã thách đấu với Lichtenstein. De Lorche bảo rằng Đại suиg sẽ mời nhà vua đến thăm Torun. Ta sẽ gia nhập đoàn tùy tùng của nhà vua, và ta nghĩ rằng ở Torun, hoặc là ngài Zawisza xứ Garbow hoặc Powala xứ Taczew sẽ xin phép quân vương cho phép ta chiến đấu với đám tu sĩ mặc áo choàng trắng ấy. Chắc chắn chúng sẽ kéo đến chiến đấu cùng với đám hộ vệ; trong trường hợp đó ngươi cũng sẽ phải đối đầu với chúng đấy."
"Nếu phải hạ sát bất cứ kẻ nào, tôi chỉ muốn đó là một tên tu sĩ," gã người Bohemia nói.
Zbyszko hài lòng nhìn gã. "Được rồi, kẻ nào không may đụng phải lưỡi thép của ngươi sẽ chẳng có kết cục tốt đẹp đâu. Thượng đế đã ban cho ngươi sức mạnh lớn lao, nhưng ngươi sẽ hành động sai lầm nếu lạm dụng nó quá mức, bởi vì sự khiêm nhường mới là phẩm chất đáng quý của một người hầu cận."
Gã người Bohemia lắc đầu như một dấu hiệu cho thấy hắn sẽ không phung phí sức mạnh, nhưng cũng sẽ chẳng nương tay với bọn người Đức.
Zbyszko mỉm cười, không phải vì những gì người hầu cận vừa nói, mà vì chính những suy nghĩ của mình.
"Lão gia sẽ rất vui mừng khi chúng ta trở về, và ở Zgorzelice cũng sẽ tràn ngập niềm vui."
Hình ảnh Jagienka hiện lên trước mắt Zbyszko như thể nàng đang ngồi cạnh hắn trên chiếc xe trượt. Vẫn luôn là như vậy, bất cứ khi nào nghĩ đến nàng là hắn lại nhìn thấy nàng rất rõ ràng.
"Thôi nào," hắn tự nhủ, "nàng sẽ chẳng vui đâu, bởi vì khi ta trở về Bogdaniec thì đi cùng ta sẽ là Danusia. Cứ để nàng chọn người khác đi…." Đến đây, bóng dáng của Wills xứ Brzozowa và chàng trai trẻ Cztan xứ Rogow lướt qua tâm trí hắn, và đột nhiên một cảm giác khó chịu len lỏi trong lòng, bởi vì cô gái có thể lọt vào tay một trong số những kẻ đó, và hắn tự nhủ: "Ước gì ta tìm được một người đàn ông nào tốt hơn, vì đám đó chỉ giỏi nốc bia với sành ăn, trong khi cô gái lại là người đoan chính." Và hắn suy nghĩ miên man chuyện này chuyện nọ; về người chú của mình khi ngài ấy biết chuyện đã xảy ra, chắc chắn sẽ rắc rối to, dù kết cục có ra sao đi nữa; nhưng ngay lập tức hắn tự an ủi bằng ý nghĩ rằng đối với ông chú của hắn, vấn đề họ hàng và gia tài luôn là trên hết, và những điều đó có thể làm lợi cho dòng họ. Jagienka quả thực ở gần hơn, nhưng Jurand lại là một điền chủ lớn hơn cả Zych xứ Zgorzelice. Hơn nữa, vị lão gia kia có thể dễ dàng đoán trước rằng Maćko không thể phản đối một cuộc hôn nhân như vậy lâu được, nhất là khi ông nhìn thấy tình yêu của người cháu trai dành cho Danusia và sự đáp đỗi của nàng. Ông sẽ cằn nhằn một chút, rồi sẽ vui mừng và bắt đầu yêu thương Danusia như con đẻ của mình.
Bỗng nhiên trái tim hắn thổn thức niềm âu yếm và nỗi nhớ nhung hướng về người chú ấy — dẫu là một người nghiêm khắc, nhưng lại yêu thương hắn như con ngươi của mắt mình; người chú ấy quan tâm đến hắn trên chiến trường hơn cả bản thân mình, ông đi thu chiến lợi phẩm về cho hắn, và vì hắn mà bị đuổi khỏi thái ấp. Cả hai cô độc trên cõi đời này chẳng có họ hàng thân thích gần gũi, chỉ toàn những người họ hàng xa xôi như ngài viện phụ. Hơn nữa, khi thời điểm phải rời xa nhau đến, chẳng ai trong số họ biết phải làm gì, đặc biệt là người lớn tuổi hơn, kẻ đã chẳng còn màng điều gì cho riêng mình nữa.
"Chà! Ông ấy sẽ vui biết nhường nào, sẽ vui biết bao!" Zbyszko tự lẩm bẩm. "Chỉ có một điều ta mong muốn — đó là ông ấy tiếp đón Jurand và ta cũng nồng hậu như khi chỉ đón một mình ta vậy."
Rồi hắn cố tưởng tượng xem Jurand sẽ nói gì và làm gì khi hay tin về cuộc hôn nhân. Có chút lo lắng trong ý nghĩ đó, nhưng không quá mức, đơn giản vì đó là chuyện đã rồi. Jurand không thể thách đấu với hắn được, và dẫu Jurand có phản đối, Zbyszko vẫn có thể đáp lại rằng: "Xin ngài hãy nhẫn nhịn; quyền của ngài đối với Danusia chỉ là luật lệ trần gian, nhưng quyền của tôi là luật thiêng liêng; vì thế nàng không còn thuộc về ngài nữa, mà là của tôi." Hàng có lần nghe một vị giáo sĩ am hiểu Kinh thánh kể rằng người phụ nữ phải rời bỏ cha mẹ mình để đi theo chồng. Do đó hắn cảm thấy phần thắng lớn thuộc về mình; tuy nhiên hắn không mong đợi sự tranh chấp gay gắt và cơn thịnh nộ sẽ bùng nổ giữa Jurand và mình, bởi vì hắn đặt niềm tin vào lời cầu xin của Danusia mà chắc chắn sẽ được chấp thuận, và cũng đặt hy vọng không kém, nếu không muốn nói là nhiều hơn, vào sự can thiệp của vị vương công mà Jurand đang phục vụ cùng vị công nương mà Jurand yêu quý như đấng bảo bọc cho đứa con gái của ông.
Do giá rét căm căm, sói hoang xuất hiện thành những bầy lớn đến mức chúng dám tấn công cả những tốp người đi đường cùng nhau. Zbyszko được khuyên nên ở lại qua đêm tại Przasnysz, nhưng hắn chẳng màng tới, bởi tình cờ tại quán trọ, họ gặp một số hiệp sĩ xứ Masovia cùng đoàn tùy tùng cũng đang trên đường đi yết kiến vương công tại Ciechanow, và vài thương nhân có vũ trang từ chính nơi đó đang hộ tống những cỗ xe chở đầy hàng hóa từ Phổ tới. Đi cùng một đám đông lớn như vậy chẳng có gì nguy hiểm; thế nên họ khởi hành vào lúc chiều tà, mặc dù một cơn gió bất chợt nổi lên sau khi màn đêm buông xuống, xua đi những đám mây và tuyết bắt đầu rơi. Họ di chuyển bám sát nhau, nhưng tiến bước quá chậm chạp khiến Zbyszko lo rằng họ sẽ không đến kịp lễ Vọng. Họ buộc phải cuốc tuyết qua những đoạn trôi dạt mà ngựa không thể nào đi qua nổi. May thay, con đường trong rừng vẫn chưa bị xóa nhòa. Trời đã chập tối khi họ nhìn thấy Ciechanow.
Nếu không có ngọn lửa trên các ngọn đồi nơi tòa lâu đài mới tọa lạc, họ đã chẳng thể biết mình ở gần thị trấn đến thế, và sẽ còn lang thang lâu hơn nữa giữa trận bão tuyết mù mịt và những luồng gió giật. Họ không chắc liệu ngọn lửa đó được đốt lên để vinh danh các vị khách trong đêm Giáng Sinh, hay được thắp theo một phong tục cổ xưa nào đó. Nhưng chẳng ai trong số những người đồng hành của Zbyszko bận tâm đến điều đó, vì ai nấy đều nóng lòng tìm một nơi chốn trú ẩn trong thị trấn càng nhanh càng tốt.
Trong khi đó, bão tuyết mỗi lúc một dữ dội, ngọn gió buốt giá cuốn theo những đám mây tuyết khổng lồ; nó quật ngã cây cối, gào thét, cuồng nộ, xé toạc cả những đống tuyết trôi, hất bổng chúng lên cao, cuộn tròn, hất tung lên và gần như vùi lấp cả xe trượt lẫn ngựa, đồng thời quật thẳng vào mặt những người ngồi trên xe như những hạt sỏi sắc nhọn; nó làm nghẹt thở cả hơi thở và lời nói của họ. Tiếng lục lạc buộc trên các cột của xe trượt hoàn toàn bị nuốt chửng, thay vào đó, giữa tiếng gào thét và tiếng rít của cuồng phong, là những âm thanh thảm thiết tựa tiếng sói hú, tiếng ngựa hí vang từ xa, và đôi khi giống hệt tiếng con người trong cơn hoạn nạn tột cùng đang cất tiếng kêu cứu. Đám ngựa kiệt sức bắt đầu thở dốc và chậm dần bước chân.
"Chà! Bão tuyết gì thế này! Bão tuyết dữ dội thật!" Gã người Bohemia thốt lên bằng giọng nghẹn ngào. "May quá, thưa ngài, chúng ta đã ở gần thị trấn, và những ngọn lửa đằng kia đang cháy; nếu không có chúng thì tình hình của chúng ta đã tệ lắm rồi."
"Đó là cái chết dành cho những ai còn mắc kẹt ngoài đồng trống," Zbyszko đáp, "nhưng thậm chí ta chẳng còn thấy ngọn lửa nào đằng đó nữa. Bóng tối dày đặc đến mức ngọn lửa cũng biến mất; có lẽ củi và than đã bị gió thổi bay đi rồi."
Các thương nhân và hiệp sĩ trên những cỗ xe khác đang bàn tán rằng: nếu cơn bão tuyết cuốn đi bất kỳ ai khỏi ghế ngồi, kẻ đó sẽ chẳng bao giờ nghe thấy tiếng chuông nhà thờ buổi sáng nữa. Nhưng Zbyszko bỗng trở nên hoảng hốt và nói:
"Xin Chúa đừng để Jurand gặp bất trắc gì trên đường!"
Gã người Bohemia, dẫu đang mải miết nhìn về hướng ngọn lửa, khi nghe thấy lời của Zbyszko liền quay đầu lại và hỏi:
"Có phải ngài lãnh chúa xứ Spychow đang được mong đợi không?"
"Đúng vậy."
"Cùng tiểu thư sao?"
"Và ngọn lửa đã thực sự tắt rồi," Zbyszko đáp.
Và quả thực ngọn lửa đã tắt ngấm, nhưng thay vào đó, một vài kỵ sĩ đột nhiên xuất hiện ngay trước mặt đàn ngựa và xe trượt.
"Sao các ngươi lại bám theo phía sau?" Gã người Bohemia cảnh giác cất tiếng gọi, tay nắm chặt cây nỏ; "Các ngươi là ai?"
"Người của vương công, được phái đi hỗ trợ lữ khách."
"Ngợi khen Chúa Giê-su Ki-tô!"
"Đời đời muôn đời."
"Hãy dẫn đường chúng ta vào thị trấn," Zbyszko nói.
"Còn ai bỏ lại phía sau không?"
"Không có ai."
"Các ngươi từ đâu đến?"
"Từ Przasnysz."
"Các ngươi không gặp những lữ khách khác trên đường ư?"
"Chúng tôi không gặp ai cả, nhưng có thể họ đi trên những con đường khác."
"Mọi người đang lùng sục trên tất cả các ngả đường, hãy đi theo chúng tôi, các ngươi đã lệch đường rồi! Rẽ phải."
Họ quay đầu ngựa, và trong một lúc chẳng còn thấy gì ngoài những trận cuồng phong của bão táp.
"Trong lâu đài có đông khách không?" Zbyszko hỏi sau một lát.
Kỵ sĩ đi sát nhất, người không nghe rõ câu hỏi liền rướn người về phía hắn.
"Ngài vừa nói gì thế, thưa ngài?"
"Ta hỏi rằng ở chỗ vương công có đông khách không?"
"Như thường lệ: cũng đủ cả."
"Thế lãnh chúa xứ Spychow có ở đó không?"
"Ngài ấy chưa tới, nhưng người ta đang mong đợi. Mọi người cũng đã được phái đi đón ngài ấy rồi."
"Có mang theo đuốc không?"
"Nếu thời tiết cho phép."
Họ không thể tiếp tục cuộc trò chuyện, bởi trận bão tuyết dữ dội đang gầm thét tăng dần sức mạnh.
"Đúng là một đám cưới của quỷ sứ," gã người Bohemia lầm bầm. Tuy nhiên Zbyszko bảo gã im lặng, đừng có gọi cái tên ma quỷ ấy ra.
"Ngươi không biết rằng vào một Ngày Lễ Thánh thế này, quyền năng của quỷ dữ bị kìm hãm, và bọn quỷ phải trốn xuống những hố băng hay sao?" Hắn nói. "Có lần những ngư dân gần Sandomierz vào đêm Giáng Sinh đã bắt được nó trong lưới, nó ngậm một con cá pike trong miệng, nhưng khi tiếng chuông vang lên lọt vào tai, nó ngất lịm đi ngay lập tức; họ dùng gậy đập nó nhừ tử cho đến tận tối mòn. Cơn bão này quả thực dữ dội, nhưng đó là sự cho phép của Chúa Giê-su, Đấng muốn ngày mai trở nên vui tươi hơn."
"Ừ thì! Chúng ta đã ở ngay sát thị trấn rồi," Glowacz nói. "Nhưng nếu không có những con người này, có lẽ chúng ta đã lang thang đến tận nửa đêm, bởi vì chúng ta đã lệch khỏi con đường chính."
"Tại ngọn lửa đã bị dập tắt mà."
Trong khi đó họ đã đến thị trấn. Những đống tuyết trôi trên các con đường lớn đến mức ở một số nơi chúng che khuất cả khung cửa sổ, khiến người qua đường chẳng thể nhìn thấy ánh đèn hắt ra từ bên trong. Nhưng ở đây bão tuyết bớt dữ dội hơn. Đường phố vắng tanh vắng ngắt. Cư dân đã bắt đầu cử hành lễ hội Giáng Sinh. Trước một số ngôi nhà, dù có bão tuyết, những chú bé mang theo máng cỏ nhỏ và hình nộm dê vẫn đang hát thánh ca. Ngoài quảng trường lác đác vài bóng người quấn đầy rơm đậu đang giả làm gấu; ngoài ra các con đường hoàn toàn quạnh quẽ. Các thương nhân đi cùng Zbyszko và các nhà quý tộc trên đường đã ở lại thị trấn, nhưng họ tiếp tục hành trình hướng về dinh thự của vương công ở tòa lâu đài cổ, và vì những ô cửa sổ lâu đài làm bằng kính, nên dẫu có bão tuyết, ánh sáng rực rỡ vẫn hắt những tia sáng lên đoàn người đang tiến đến.
Chiếc cầu treo bắc qua hào nước đã được hạ xuống, bởi vì các cuộc raid của người Litva xưa kia đã suy giảm, và đám Hiệp sĩ Giáp Sắt — những kẻ từng gây chiến với Vua Ba Lan — giờ đây bản thân cũng đang tìm kiếm tình bằng hữu với Vương công xứ Mazowsze. Một người trong đoàn tùy tùng của vương công thổi tù và và ngay lập tức cổng thành mở tung. Trong cổng có vài tay cung thủ, nhưng trên tường thành và hàng rào cọc thì chẳng còn một bóng người sống khi vương công cho phép lính canh lui về. Lão Mrokota, người đã đến từ hai ngày trước, đi ra đón các vị khách, chào hỏi họ nhân danh vương công và đưa họ vào nhà để chuẩn bị tươm tất trước khi vào tiệc.
Zbyszko liền hỏi ngài ấy tin tức về Jurand xứ Spychow, nhưng lão đáp rằng ngài ấy chưa đến, nhưng đang được mong đợi vì đã hứa sẽ tới, và nếu ngài ấy bị ốm nặng thì sẽ gửi tin báo. Dẫu vậy, một số kỵ sĩ vẫn được phái đi đón ngài ấy, bởi vì ngay cả những người cao tuổi nhất cũng chẳng nhớ nổi trận bão tuyết nào tương tự.
"Vậy có lẽ chẳng bao lâu nữa ngài ấy sẽ tới đây."
"Ta tin là ngài ấy sẽ sớm đến thôi. Công nương đã cho chuẩn bị sẵn mâm cỗ cho họ gần bàn tiệc chung."
Nhưng Zbyszko, dẫu có đôi chút lo lắng về Jurand, trong thâm tâm vẫn cảm thấy vui mừng và tự nhủ: "Dù ta chưa biết phải làm gì, nhưng có một điều chắc chắn là vợ ta sắp đến, người phụ nữ của ta, Danusia vô cùng yêu dấu của ta." Khi lặp đi lặp lại những lời đó trong đầu, hắn hầu như chẳng thể tin nổi hạnh phúc của chính mình. Chà, hắn ngẫm nghĩ, rất có thể nàng đã thú nhận hết mọi chuyện với cha mình, nàng đã làm ông ấy động lòng và nài nỉ ông ban ơn gả nàng ngay lập tức. "Thực ra, ông ấy còn có thể làm gì khác được chứ? Jurand là một kẻ khôn ngoan, ông ấy biết rằng dẫu ông có giấu nàng khỏi tay ta, ta vẫn sẽ cướp nàng đi, bởi vì lẽ phải thuộc về ta."
Trong lúc đang thay trang phục, hắn trò chuyện với Mrokota, thăm hỏi về sức khỏe của vương công và đặc biệt là công nương — người mà hắn yêu quý như mẹ từ quãng thời gian hắn lưu lại Krakow. Hắn rất vui khi biết mọi người trong lâu đài đều khỏe mạnh và vui vẻ, dẫu cho công nương vô cùng nhớ nhung cô ca sĩ nhỏ yêu quý của mình. Jagienka giờ đây đang chơi đàn lu-líp cho công nương nghe và công nương rất quý nàng, nhưng không thể bằng cô ca sĩ nhỏ.
"Jagienka nào thế?" Zbyszko ngạc nhiên hỏi.
"Jagienka xứ Wielgolasu, cháu gái của vị lão lãnh chúa Wielgolasu. Nàng là một cô gái tuyệt vời. Gã Lotarynczyk[106] đã đem lòng yêu nàng đấy."
"Thế ngài de Lorche đang ở đây sao?"
"Chứ ngài ấy còn ở đâu được nữa? Ngài ấy ở đây kể từ khi rời Trinh xá, bởi vì ở đây thật tuyệt. Vương công của chúng ta chưa bao giờ thiếu vắng khách khứa."
"Ta sẽ rất vui khi gặp lại ngài ấy, đó là một hiệp sĩ không chê vào đâu được."
"Và ngài ấy cũng quý mến cậu đấy. Nào chúng ta đi thôi, Điện hạ chẳng mấy chốc sẽ ngự tiệc."
Họ bước vào phòng ăn nơi những ngọn lửa lớn đang bập bùng trong hai chiếc lò sưởi và các gia nhân đang chăm lo chu đáo.
Căn phòng đã chật kín khách khứa và triều thần. Vương công bước vào trước cùng vị Đại voivode và một số lính cận vệ. Zbyszko quỳ xuống hôn tay ngài.
Vương công đỡ lấy đầu Zbyszko, kéo hắn sang một bên và nói:
"Ta đã biết hết mọi chuyện rồi, thoạt đầu ta có hơi khó chịu, vì chuyện đó diễn ra mà không có sự cho phép của ta, nhưng lúc ấy chẳng có thời gian, bởi ta đang ở Warsaw để dự định đón các ngày lễ. Ai mà chẳng biết rằng, nếu một người phụ nữ muốn thứ gì thì việc phản đối là vô ích, và ngươi chẳng được tích sự gì từ việc đó cả. Công nương cầu chúc cho ngươi những điều tốt đẹp như một người mẹ, và ta luôn muốn làm hài lòng hơn là chống lại mong muốn của nàng, để bớt đi những phiền muộn và nước mắt cho nàng."
Zbyszko lại cúi rạp người trước đầu gối vương công.
"Xin Chúa ban ơn để con có thể đền đáp ân huệ vương quyền của ngài."
Hãy ca ngợi danh Ngài vì con đã khỏe mạnh trở lại. Hãy thưa với công nương cách ta đón tiếp con với những lời chúc tốt đẹp, để nàng ấy được vui lòng. Ta xin thưa trước Chúa, niềm vui của nàng ấy chính là niềm vui của ta! Ta cũng sẽ nói một lời tốt đẹp giúp con trước mặt Jurand, và ta nghĩ ngài ấy sẽ đồng ý, vì ngài ấy cũng yêu quý công nương."
"Dù ngài ấy có từ chối gả nàng cho con, thì lẽ phải vẫn thuộc về con."
"Lẽ phải của con thuộc về hàng đầu và phải được thừa nhận, nhưng con có thể bỏ lỡ ơn phước. Không ai có thể vũ lực cướp nàng khỏi tay con, nhưng thiếu đi lời chúc phúc của người cha thì ơn phước của Chúa cũng không trọn vẹn."
Zbyszko cảm thấy bất an khi nghe những lời đó, bởi trước nay hắn chưa từng nghĩ đến điều này; nhưng đúng lúc đó công nương bước vào, đi cùng Jagienka xứ Wielgolasu và các quý cô trong triều; hắn vội vã cúi mình trước nàng, nhưng nàng chào đón hắn còn ân cần hơn cả vương công, và ngay lập tức bắt đầu kể cho hắn nghe về sự mong ngóng Jurand tới. "Bao mâm bát đã được chuẩn bị sẵn cho họ kìa, và người ta đã phái người đi dẫn đường cho họ vượt qua những đống tuyết trôi. Chúng ta sẽ không đợi họ cho bữa tối Giáng Sinh nữa, vì vương công không đồng ý chuyện đó, nhưng họ sẽ đến trước khi bữa tối kết thúc."
"Còn về phần Jurand," công nương tiếp lời, "ngài ấy sẽ đến vào lúc Chúa muốn. Nhưng ta sẽ kể hết mọi chuyện cho ngài ấy nghe vào ngày hôm nay hoặc ngày mai sau buổi lễ canh thức (pasterce), và vương công cũng hứa sẽ nói một lời giúp con. Jurand rất bướng bỉnh nhưng không phải với những người ngài ấy yêu quý, hay những kẻ mà ngài ấy mang ơn phải tuân lệnh."
Rồi nàng bắt đầu dặn dò Zbyszko phải cư xử thế nào với cha vợ tương lai của mình, và rằng lạy Chúa chớ để hắn làm ông ấy nổi giận hay khơi gợi tính bướng bỉnh của ông. Dường như đó là những lời khuyên hữu ích, nhưng một ánh mắt tinh đời nhìn vào Zbyszko rồi nhìn sang nàng có thể nhận ra trong lời nói và ánh mắt ấy một nỗi bất an ngấm ngầm. Có lẽ vì lãnh chúa xứ Spychow không phải là kẻ dễ bề thỏa hiệp, và cũng có thể vì công nương có chút lo lắng trước sự chậm trễ của ngài ấy. Cơn bão mỗi lúc một dữ dội, và tất cả mọi người đều tuyên bố rằng nếu ai kẹt ngoài trời thì chắc chắn không giữ được mạng sống. Tuy nhiên, công nương suy đoán rằng Danusia đã thú nhận với cha mình chuyện kết hôn với Zbyszko, và ông vì phẫn nộ nên đã quyết định không đến Ciechanow nữa. Dù vậy, công nương không muốn thổ lộ suy nghĩ của mình cho Zbyszko; thậm chí chẳng có thời gian để làm điều đó, bởi các gia nhân đã bưng các món ăn lên và bày biện trên bàn. Dù thế Zbyszko vẫn cố gắng bám theo nàng để dò hỏi thêm.
"Và nếu họ đến, chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo, thưa phu nhân kính yêu? Mrokota bảo con rằng có những khu nhà riêng biệt được dành sẵn cho Jurand; sẽ có đủ cỏ khô làm ổ cho lũ ngựa lạnh cóng. Thế thì mọi việc sẽ ra sao?"
Công nương mỉm cười, khẽ gõ nhẹ chiếc găng tay lên mặt hắn và nói: "Im lặng nào, cậu có thấy ngài ấy kìa?"
Rồi nàng tiến về phía vương công và được đỡ ngồi vào ghế. Một trong những người hầu đặt trước mặt vương công một chiếc đĩa phẳng đựng những lát bánh mỏng và bánh xốp thánh thể, để ngài phát cho các khách khứa, triều thần và gia nhân. Một người hầu khác đứng trước vương công đỡ một cậu bé khôi ngô, con trai của quan cai ngục Sokhochova. Phía bên kia bàn là linh mục Wyszoniek, người sẽ cất lời ban phước cho bữa tối ngào ngạt hương thơm.
Đúng lúc này, một người đàn ông tuyết phủ đầy người bước vào và hét lớn: "Vương công Điện hạ tối cao!"
"Có chuyện gì thế?" vương công cất lời. "Thiếu phép tắc quá nhỉ; họ lại ngắt lời ngài trong các nghi lễ tôn giáo rồi."
"Có vài lữ khách bị mắc kẹt do bão tuyết trên con đường tới Radzanow, chúng ta cần người đến giúp đào họ ra."
Vừa nghe thấy vậy, tất cả mọi người đều chìm trong sợ hãi — vương công vô cùng hoảng hốt, quay sang quan cai ngục Sokhochova, ngài hạ lệnh:
"Ngựa và cuốc xẻng! Mau lên!"
Rồi ngài nói với kẻ vừa mang tin tới: "Có đông người bị vùi dưới tuyết không?"
"Tôi không thể nói được, gió thổi khủng khiếp quá; có khá nhiều ngựa và xe."
"Ngươi không biết họ là ai sao?"
"Mọi người bảo rằng đó là người của Jurand xứ Spychow."