Vị công tước là người đầu tiên phát biểu tại buổi hội ý và lên tiếng như sau:
– Thật tệ là chúng ta không có văn thư hay bằng chứng nào chống lại đám bá tước. Dẫu những nghi ngờ của chúng ta có xác thực, và bản thân trẫm cũng nghĩ rằng chính bọn chúng chứ không phải ai khác đã bắt cóc con gái của Jurand, thì đã sao nào? Chúng sẽ chối bay chối biến. Và nếu đại sư yêu cầu bằng chứng, trẫm biết trưng ra cái gì đây? Chà! Thậm chí bức thư của Jurand còn đang nói đỡ cho chúng nữa kìa.
Đến đây, ngài quay sang Zbyszko:
– Ngươi nói rằng bọn chúng đã dùng đe dọa để ép lão viết bức thư đó. Điều ấy hoàn toàn có thể xảy ra, và chắc chắn là như vậy, bởi nếu công lý đứng về phía chúng, Chúa đã chẳng giúp ngươi đánh bại Rotgier. Nhưng một khi chúng đã tống tiền được một bức, thì hai bức cũng chẳng khó khăn gì. Và rất có thể chúng còn có cả lời khai của Jurand rằng bọn chúng vô can trong vụ bắt cóc cô gái bất hạnh này. Nếu vậy, chúng sẽ đưa ra trước mặt đại sư, và chuyện gì sẽ xảy ra khi ấy?
– Thưa điện hạ nhân từ, chính chúng đã thừa nhận rằng chúng đã giật lại cô ấy từ tay bọn cướp và hiện cô ấy đang ở chỗ chúng.
– Trẫm biết điều đó. Nhưng giờ đây chúng lại bảo rằng chúng nhầm lẫn, rằng đây là một cô gái khác, và bằng chứng rõ ràng nhất là chính Jurand đã từ bỏ huyết thống của mình.
– Lão từ bỏ vì chúng đã trưng ra một cô gái khác trước mặt lão, và chính điều đó đã làm lão phẫn nộ.
– Chắc chắn là thế, nhưng chúng hoàn toàn có thể viện dẫn rằng đó chỉ là những suy đoán của chúng ta.
– Những lời dối trá của bọn chúng, – Mikolaj xứ Dlugolas lên tiếng, – giống như một khu rừng thông vậy. Nhìn từ bìa rừng thì còn thấy đôi chút, nhưng càng đi sâu vào trong thì càng um tùm rậm rạp, khiến kẻ tha phương lạc lối hoàn toàn chẳng còn tìm được đường ra.
Rồi ông lặp lại lời mình bằng tiếng Đức cho de Lorche nghe, và hiệp sĩ này liền đáp:
– Bản thân đại sư còn đàng hoàng hơn bọn chúng, cả người anh em của ngài ấy nữa, dù hắn mang một tâm hồn táo bạo, nhưng vẫn biết giữ gìn danh dự hiệp sĩ.
– Phải, – Mikolaj đáp. – Ngài đại sư là một người nhân đạo. Ngài ấy không thể kìm chế nổi đám bá tước hay hội đồng, và việc mọi thứ trong Dòng tu đều dựa trên những bất công đối với con người không phải lỗi của ngài ấy, nhưng ngài ấy cũng đành chịu lực bất tòng tâm. Hãy đi đi, thưa ngài de Lorche, hãy đến kể lại cho ngài ấy nghe những gì đã xảy ra ở đây. Bọn chúng còn biết hổ thẹn trước mặt người ngoài hơn là trước mặt chúng ta, cốt sao để tụi chúng không bị bóc mẽ về những thói bạo ngược và hành vi vô liêm sỉ tại các triều đình nước ngoài. Và nếu đại sư đòi hỏi bằng chứng, hãy nói với ngài ấy thế này: "Thấu hiểu sự thật là đặc ân của thần linh, đi tìm sự thật là bổn phận của con người; bởi vậy, thưa ngài, nếu ngài muốn có bằng chứng, xin hãy tự mình đi tìm." Hãy ra lệnh triệu tập các lâu đài và tra vấn người dân, hãy cho phép chúng tôi lùng sục, vì việc bịa đặt rằng đứa trẻ mồ côi này bị bọn cướp rừng bắt cóc là một điều ngu ngốc và gian dối.
– Vừa ngu ngốc vừa gian dối! – de Lorche lặp lại.
– Bởi vì bọn cướp sẽ không đời nào dám tấn công triều đình công tước, hay đứa con của Jurand. Và dẫu chúng có bắt đi chăng nữa, thì cũng chỉ vì tiền chuộc, và chính chúng sẽ là kẻ thông báo cho chúng ta biết rằng chúng đang giữ con bé.
– Ta sẽ thuật lại tất cả những điều đó, – nhà quý tộc xứ Lotharingen nói, – đồng thời ta cũng sẽ tìm von Bergow. Chúng ta cùng quê hương, và mặc dù ta không quen biết hắn, người ta đồn rằng hắn có họ hàng với Công tước Geldryi. Hắn đã có mặt ở Szczytno và hẳn phải biết rõ những gì hắn đã thấy để kể lại cho đại sư.
Zbyszko chỉ hiểu được vài từ trong số đó, còn những gì không rõ thì Mikolaj đã giảng giải lại cho chàng; đoạn chàng ôm chầm lấy de Lorche chặt đến mức vị hiệp sĩ suýt rên lên.
Vị công tước lại quay sang Zbyszko:
– Thế còn ngươi, ngươi cũng đã quyết tâm đi bằng được chứ?
– Nhất định thế, thưa điện hạ nhân từ. Con còn biết làm gì khác hơn? Con đã thề sẽ chiếm cho bằng được Szczytno, dẫu có phải dùng răng cắn nát những bức tường thành đi nữa, nhưng con làm sao có thể tuyên chiến mà không có sự cho phép chứ?
– Kẻ nào tự ý châm ngòi chiến tranh mà không được phép, kẻ đó sẽ phải đền tội dưới lưỡi gươm đao phủ, – vị công tước nói.
– Đó quả thực là luật pháp của mọi thứ luật pháp, – Zbyszko đáp. – Chà! Khi ấy con chỉ muốn thách đấu tất cả những kẻ có mặt ở Szczytno, nhưng người ta bảo Jurand đã tàn sát bọn chúng như tàn sát súc vật, và con thì chẳng biết ai còn sống ai đã chết... Bởi vì, xin Chúa và Thánh Giá phù hộ cho con, con sẽ không đời nào bỏ rơi Jurand cho đến phút cuối cùng!
– Ngươi nói những lời thật cao thượng và đáng mặt nam nhi, – Mikolaj xứ Dlugolas lên tiếng. – Và điều đó chứng tỏ ngươi rất khôn ngoan khi không một thân một mình xông đến Szczytno, bởi ngay cả một kẻ ngốc cũng thừa hiểu rằng chúng sẽ chẳng đời nào giữ Jurand hay con gái lão ở đó đâu, mà chắc chắn sẽ mang họ đi giấu ở một lâu đài nào khác rồi. Chúa đã ban thưởng cho sự hiện diện của ngươi ở đây bằng cái chết của Rotgier.
– Và giờ thì! – vị công tước tiếp lời, – như chúng ta đã nghe từ miệng Rotgier, trong số bốn tên đó nay chỉ còn mỗi lão Zygfried là sống sót, còn những kẻ khác đã bị Chúa trừng phạt, hoặc dưới tay ngươi, hoặc dưới tay Jurand. Riêng về phần Zygfried, hắn ít côn đồ hơn những kẻ khác, nhưng có lẽ lại là một kẻ bạo ngược tàn nhẫn hơn. Thật tồi tệ khi Jurand và Danusia đang nằm trong quyền kiểm soát của hắn, và chúng ta phải nhanh chóng giải cứu họ. Để không có tai rủi nào xảy ra cho ngươi, ta sẽ cấp cho ngươi một bức thư gửi đại sư. Hãy lắng nghe và lĩnh hội cho kỹ, rằng ngươi không tới đó với tư cách là một sứ giả, mà là một đại diện, và hãy viết cho đại sư thế này: Vì chúng từng có hành vi mưu hại thân thể trẫm qua việc bắt cóc một hậu duệ của những vị ân nhân của chúng, nên rất có thể giờ đây chúng cũng đã bắt cóc con gái của Jurand, nhất là khi chúng vốn mang sẵn mối thù ghen ghét với lão. Do đó, trẫm yêu cầu đại sư ra lệnh tiến hành một cuộc điều tra cẩn triệt, và nếu ngài ấy tha thiết muốn có được tình hữu nghị của trẫm, hãy lập tức trao trả cô ấy về tay ngươi.
Nghe đến đây, Zbyszko liền sụp xuống dưới chân vị công tước, ôm lấy đôi chân ngài và nghẹn ngào:
– Nhưng còn Jurand, thưa điện hạ nhân từ, còn Jurand thì sao? Ngài có dủ lòng thương can thiệp cho lão nữa không? Nếu lão mang những vết thương chí tử, xin hãy để lão ít ra được chết tại mái nhà của chính mình và bên cạnh những người thân.
– Trong thư cũng có nhắc đến Jurand chứ, – vị công tước ôn tồn đáp. – Lão sẽ chỉ định hai thẩm phán và trẫm cũng sẽ cử hai người để điều tra về hành vi của đám bá tước lẫn Jurand, theo đúng các quy tắc của danh dự hiệp sĩ. Rồi bốn vị ấy sẽ chọn ra người thứ năm làm chủ tọa, và mọi chuyện sẽ được định đoạt theo phán quyết của họ.
Cuộc họp kết thúc sau đó, rồi Zbyszko đến cáo từ vị công tước, bởi họ sắp sửa lên đường. Nhưng trước lúc khởi hành, Mikolaj xứ Dlugolas, người vốn từng trải và hiểu rõ bản chất bọn Teuton, đã kéo riêng Zbyszko ra một góc và dò hỏi:
– Thế ngươi có mang theo gã người Bohemia đó đi cùng bọn Đức không?
– Chắc chắn rồi, hắn sẽ không rời bỏ con đâu. Nhưng có chuyện gì thế ạ?
– Vì ta thấy thương cho hắn. Hắn là một chàng trai tốt, nhưng hãy nghe lời ta dặn đây: ngươi sẽ từ Malborg trở về bình an vô sự, trừ khi ngươi chạm trán một đối thủ cao tay hơn trên võ đài, chứ còn số phận của hắn thì cầm chắc cái chết.
– Nhưng tại sao cơ chứ?
– Vì lũ khuyển mã đó đã vu cáo hắn tội đâm chết de Fourcy. Hắn hẳn đã báo tin về cái chết của gã đó cho đại sư, và không nghi ngờ gì nữa, chúng sẽ khai rằng chính gã người Bohemia đã nhúng tay vào vũng máu. Bọn chúng sẽ không bao giờ dung tha cho chuyện đó ở Malborg đâu. Một phiên tòa và sự trả thù đang chờ đợi hắn, bởi làm sao có thể chứng minh được sự vô tội của hắn trước mặt đại sư đây? Hơn nữa, hắn lại chính là kẻ đã bẻ gãy cánh tay của Danveld, một người họ hàng của đại sư. Ta ái ngại cho hắn, ta nhắc lại lần nữa, nếu hắn đi theo thì chỉ có đường chịu chết.
– Hắn sẽ không phải chịu chết đâu, vì con sẽ để hắn lại Spychow.
Nhưng sự việc lại diễn ra theo một hướng khác, bởi những lý do đột xuất khiến gã người Bohemia cuối cùng đã không ở lại Spychow. Sáng hôm sau, Zbyszko và de Lorche cùng tùy tùng chính thức lên đường. De Lorche, người vừa được linh mục Wyszoniek tuyên bố hủy bỏ cuộc hôn nhân với Ulryka von Elner, ra đi với tâm trạng phơi phới, lòng ngập tràn hình ảnh kiều diễm của nàng Jagienka xứ Dlugolas nên cứ mãi lặng thinh. Zbyszko, do không thể trò chuyện cùng chàng hiệp sĩ người nước ngoài về Danusia – bởi ngôn ngữ bất đồng khiến họ khó lòng thấu hiểu hết ý nhau – bèn quay sang trò chuyện với Hlawa, người cho đến lúc đó vẫn chưa hề hay biết gì về chuyến viễn chinh dự định tiến vào vùng đất của người Teuton.
– Ta sắp sửa đến Malborg, – chàng bảo, – nhưng Chúa mới biết bao giờ ta mới trở về... Có lẽ sớm thôi, vào mùa xuân, hoặc một năm sau, hay cũng có khi chẳng bao giờ trở lại nữa, ngươi có hiểu không?
– Tôn chủ nói gì tôi đều hiểu cả. Thưa ngài, hẳn ngài cũng định đến đó để thách đấu với các hiệp sĩ bên ấy.
– Và xin Chúa ban cho mỗi vị hiệp sĩ ở trỏng đều có một kẻ mang khiên bên cạnh!
– Không, – Zbyszko đáp. – Ta đến đó không phải với mục đích khiêu chiến, trừ phi sự việc tự đưa đẩy; nhưng ngươi sẽ không đi cùng ta miếng nào hết, mà hãy ở lại giữ nhà ở Spychow.
Nghe vậy, gã người Bohemia thoạt đầu tỏ ra bực bội, bắt đầu cằn nhằn buồn bã, rồi nài nỉ vị chủ nhân trẻ đừng bỏ rơi mình.
– Tôi đã thề là sẽ không rời xa ngài. Tôi đã thề trước cây thánh giá và danh dự của mình rồi. Và nhỡ tôn chủ gặp tai nạn bất trắc gì, làm sao tôi dám tạ diện trước vị tiểu thư ở Zgorzelice đây! Thưa ngài, tôi đã thề với nàng ấy rồi cơ mà! Xin ngài hãy rủ lòng thương, đừng hạ nhục tôi trước mặt nàng.
– Thế ngươi không thề với nàng là phải vâng lời ta sao? – Zbyszko hỏi.
– Chắc chắn là có chứ! Vâng lời trong mọi chuyện, nhưng không phải là chuyện phải rời xa ngài. Nếu tôn chủ xua đuổi, tôi sẽ đi trước dọn đường, để có mặt ngay khi cần thiết.
– Ta chẳng xua đuổi, và cũng sẽ không bao giờ đuổi ngươi cả, – Zbyszko đáp; – nhưng sẽ là một sự gông cùm đối với ta nếu ta không thể sai phái ngươi đi bất cứ đâu, dù chỉ là một việc cỏn con, hay thậm chí không thể rời xa ngươi dù chỉ một ngày. Ngươi cứ kè kè đứng canh trên đầu ta chẳng khác nào đao phủ canh một linh hồn thiện lương! Còn về chuyện giao chiến, ngươi giúp được gì cho ta nào? Ta không nói đến chuyện chiến tranh, vì đám người đó toàn đánh trận bằng cả một đạo quân, còn trong những trận đấu tay đôi, chắc chắn ngươi sẽ chẳng thể xuống tay thay ta đâu. Nếu Rotgier mạnh hơn ta, thì bộ giáp của hắn đã chẳng nằm trên xe của ta, mà bộ giáp của ta đã nằm trên người hắn mất rồi. Hơn nữa, ngươi phải biết rằng sự hiện diện của ngươi sẽ chỉ khiến ta gặp thêm muôn vàn trắc trở ở trỏng, và ngươi có thể đẩy ta vào những hiểm nguy.
– Sao lại thế được, thưa tôn chủ?
Bấy giờ Zbyszko mới bắt đầu kể lại cho hắn nghe những điều đã nghe từ Mikolaj xứ Dlugolas rằng đám bá tước, vốn không tài nào giải thích nổi cái chết của de Fourcy, sẽ quy trách nhiệm lên đầu hắn và truy cứu bằng những thủ đoạn trả thù độc ác.
– Và nếu chúng bắt được ngươi, – chàng kết luận, – thì ta chắc chắn không thể bỏ mặc ngươi trong cái hàm chó của chúng được, và khi ấy có khi ta lại mất cả cái đầu của mình nữa.
Gã người Bohemia đâm ra ủ rũ khi nghe những lời ấy, bởi hắn thừa hiểu sự thật trong đó; dẫu vậy hắn vẫn tìm mọi cách để thuyết phục thay đổi ý định theo ý mình.
– Nhưng những kẻ tận mắt thấy tôi nào còn sống sót đâu, vì nghe nói một số đã bị vị lão gia chủ sát hại, số khác thì chính ngài đã tiễn Rotgier về chầu Diêm Vương rồi còn gì.
– Bọn bộ binh theo hầu đằng xa đã nhìn thấy ngươi, và lão người Teuton già vẫn còn sống, hiện chắc chắn đang có mặt ở Malborg; nếu lão chưa tới đó thì rồi cũng sẽ tới thôi, bởi với sự cho phép của Chúa, đại sư sẽ triệu tập lão ra đối chất.
Hắn chẳng thể cãi lại được gì nữa, thế là cả bọn tiếp tục im lặng giục ngựa lên đường về Spychow. Tại đây, họ tìm thấy mọi thứ đã được chuẩn bị sẵn sàng cho chiến tranh, bởi lão Tolima đinh ninh rằng hoặc người Teuton sẽ bất ngờ tấn công pháo đài nhỏ bé này, hoặc khi trở về Zbyszko sẽ dẫn họ đi giải cứu vị lão gia chủ. Lính canh được bố trí gác gôn khắp mọi nơi, từ những lối mòn băng qua đầm lầy cho đến tận trong lâu đài. Nông dân đều được trang bị vũ khí, và vì chiến tranh vốn chẳng phải là điều gì mới mẻ với họ, họ vô cùng sốt sắng ngóng chờ đám người Đức, thầm mong vớ được những món chiến lợi phẩm béo bở.
Linh mục Kaleb tiếp đón Zbyszko và de Lorche ngay tại lâu đài, và ngay sau bữa tối, ngài cho họ xem bức da cừu có đóng ấn triện của Jurand, trên đó chính tay lão đã viết di chúc cuối cùng của vị hiệp sĩ xứ Spychow.
– Lão đã đọc cho tôi chép, – ngài nói, – vào đêm lão lên đường đi Szczytno. Và... lão vốn chẳng hề mong ngày trở về.
– Nhưng sao ngài lại không hé răng nửa lời?
– Tôi không nói, bởi lão đã thổ lộ những dự định của mình dưới ấn triện của bí tích xưng tội.
– Xin Chúa ban cho lão sự bình an vĩnh hằng, và xin ánh sáng vinh quang chiếu rọi lên linh hồn lão...
– Xin đừng cầu kinh cho lão ấy. Lão vẫn còn sống. Tôi biết điều đó từ tên Teuton Rotgier, kẻ mà tôi đã giao chiến tại triều đình công tước. Giữa chúng tôi đã có sự phán quyết của Chúa và tôi đã giết chết hắn.
– Thế thì chắc chắn Jurand sẽ không thể trở về... trừ phi có sự giúp đỡ của Chúa!...
– Tôi đi cùng vị hiệp sĩ này là để giật lấy lão từ tay bọn chúng.
– Xem ra ngài vẫn chưa thực sự thấu hiểu những đôi bàn tay của người Teuton rồi, còn tôi thì biết rõ lắm, bởi trước khi Jurand đưa tôi về Spychow, tôi từng làm linh mục suốt mười lăm năm trong xứ sở của chúng. Chỉ có Chúa mới cứu được Jurand mà thôi.
– Và Ngài cũng có thể giúp cả chúng ta nữa.
– A-men!
Đoạn ngài trải văn bản ra và bắt đầu đọc. Jurand để lại toàn bộ thái ấp cùng tài sản cho Danusia và hậu duệ của nàng, nhưng trong trường hợp nàng qua đời mà không có con nối dõi, thì quyền thừa kế sẽ thuộc về Zbyszko xứ Bogdaniec, chồng nàng. Cuối cùng, lão gửi gắm bức di chúc này vào sự bảo bọc của vị công tước; để nếu trong đó có điều gì trái luật, ơn huệ của công tước sẽ chuẩn y cho hợp pháp. Điều khoản này được thêm vào là vì linh mục Kaleb chỉ thông thuộc giáo luật, còn bản thân Jurand, suốt đời chỉ biết đao kiếm trận mạc, thì chỉ rành luật hiệp sĩ. Sau khi đọc xong văn bản cho Zbyszko nghe, vị linh mục lại đọc cho các sĩ quan thuộc đội quân đồn trú Spychow nghe, và họ ngay lập tức công nhận vị hiệp sĩ trẻ là chủ nhân mới của mình, đồng thời tuyên thệ trung thành.
Họ cũng đinh ninh rằng Zbyszko sẽ sớm dẫn dắt họ đi cứu viện cho vị lão gia chủ, và ai nấy đều vô cùng hoan hỉ, bởi máu hiệp sĩ trong họ vốn sục sôi, đang khát khao chiến trận và vô cùng gắn bó với Jurand. Thế nhưng, họ không khỏi hụt hẫng khi nghe tin mình sẽ phải ở lại nhà, còn vị chủ nhân chỉ mang theo một nhúm tùy tùng nhỏ bé đến Malborg không phải để chiến đấu, mà là để đâm đơn khiếu kiện.
Gã cận vệ Glowacz cũng chia sẻ nỗi buồn với họ, dẫu ở một góc độ khác, hắn lại mừng thầm trước khối tài sản kếch xù mà Zbyszko vừa được thừa hưởng.
– Chà! Có kẻ phải mừng đến phát điên lên được ấy chứ, – hắn lẩm bẩm, – nếu không phải là lão gia chủ của Bogdaniec thì còn ai vào đây nữa! Và ngài ấy có thể cai quản cả một cơ ngơ lớn thế này! Bogdaniec thấm tháp vào đâu nếu đem ra so với sản nghiệp nhường này cơ chứ!
Nhưng Zbyszko bỗng nhiên bị nỗi nhớ người chú dằn vặt khôn nguôi, hệt như những lúc chàng rơi vào tình cảnh ngặt nghèo và khó khăn nhất trong cuộc đời; thế là xoay người lại phía viên chiến binh, chàng bộc phát nói:
– Sao ngươi cứ ngồi ì ra đây mãi thế! Hãy đi Bogdaniec đi, ngươi sẽ thay ta mang một bức thư về trỏng.
– Nếu tôi không được phép đi theo tôn chủ, thà tôi về trỏng còn hơn! – gã cận vệ hớn hở đáp.
– Hãy gọi linh mục Kaleb đến để ghi chép lại cho cẩn thận mọi chuyện đã xảy ra ở đây, và bức thư sẽ được đọc cho chú ta nghe bởi linh mục xứ Krzesnia, hoặc bởi vị viện phụ, nếu ngài ấy đang ở Zgorzelice.
Nhưng vừa nói đến đó, chàng bỗng đưa tay vuốt chòm ria mép rồi lẩm bẩm như nói một mình:
– Chà! Vị viện phụ...!
Và ngay lập tức, hình bóng Jagienka hiện ra trước mắt chàng, đôi mắt xanh thẳm, mái tóc đen tuyền, cao ráo và kiều diễm, với những giọt nước mắt còn đọng trên hàng mi! Chàng đâm ra bối rối, đưa tay vò trán một hồi rồi mới cất lời:
– Nàng sẽ buồn lắm đây, cô gái ạ, nhưng chắc cũng chẳng đau khổ hơn ta là bao.
Lúc ấy linh mục Kaleb đã bước vào và lập tức ngồi xuống cầm bút. Zbyszko tường thuật rành mạch cho ngài nghe toàn bộ sự việc kể từ khoảnh khắc chàng đặt chân đến Tòa án Rừng. Chàng không giấu giếm bất cứ điều gì, bởi thừa biết lão Macko, một khi đã nhìn thấu suốt ngọn nguồn sự việc, cuối cùng cũng sẽ hoan hỉ mà thôi. Bogdaniec hoàn toàn chẳng thể đem ra so sánh với Spychow, một thái ấp vừa rộng lớn lại vừa trù phú, và Zbyszko biết rõ lão Macko vốn rất coi trọng những của cải như thế.
Nhưng khi bức thư, sau bao mệt nhọc, đã được viết xong xuôi và đóng ấn miềng cẩn thận, Zbyszko lại gọi gã cận vệ đến, trao thư vào tay hắn và dặn dò:
– Rất có thể ngươi sẽ cùng chú ta trở lại đây, điều đó sẽ làm ta vui mừng khôn xiết.
Song gã người Bohemia có vẻ ngập ngừng; hắn tần ngần chần chừ, đứng chân nọ đá chân kia mãi chẳng chịu đi, cho đến khi vị hiệp sĩ trẻ phải lên tiếng:
– Ngươi còn điều gì muốn tâu nữa phải không, cứ nói đi.
– Thưa tôn chủ... – gã người Bohemia ngập ngừng, – tôi... tôi muốn hỏi xem mình nên nói lại với dân làng thế nào ạ?
– Dân nào cơ chứ?
– Không phải mấy người ở Bogdaniec đâu, mà là dân cư vùng quanh vùng... Bởi vì thế nào họ cũng sẽ tò mò muốn biết cho bằng được!
Nghe vậy, Zbyszko – kẻ từ đầu đã quyết định chẳng giấu giếm gì sất – liền ném cho hắn một cái nhìn sắc bén rồi bảo:
– Ngươi nào có bận tâm đến thiên hạ, mà là đang lo cho con bé Jagienka xứ Zgorzelice chứ gì.
Gã người Bohemia thoạt đỏ bừng mặt, rồi bỗng chuyển sang tái mét và cứng cỏi đáp lời:
– Thưa ngài, đúng là vì nàng!
– Và làm sao ngươi biết chắc là nàng ấy chưa gả cho Cztan xứ Rogow, hay cho Wilk xứ Brzozowa rồi?
– Tiểu thư nhà tôi vẫn chưa kết hôn với ai hết, – viên chiến binh quả quyết đáp.
– Biết đâu vị viện phụ đã ép buộc nàng thì sao.
– Vị viện phụ phải tuân theo ý tiểu thư, chứ làm gì có chuyện ngược lại.
– Thế ngươi còn muốn gì nữa? Cứ nói sự thật cho nàng ấy biết, và cho cả thiên hạ nữa.
Gã người Bohemia cúi đầu chào rồi hậm hực bước ra ngoài.
– Xin Chúa phò hộ, – hắn thầm nghĩ khi nhắc đến Zbyszko, – mong sao nàng quênừ được ngài. Mong sao Chúa ban cho nàng một đấng lang quân tốt hơn ngài vạn lần. Nhưng nếu nàng vẫn chưa quên ngài, thì tôi sẽ thuật cho nàng hay rằng ngài đã có vợ, nhưng lại là một bà vợ không mền gối, và rằng ngài có thể sẽ thành kẻ góa vợ ngay trước khi kịp đặt chân lên giường cưới.
Dẫu vậy, viên chiến binh vẫn vô cùng gắn bó với Zbyszko và thương xót cho Danusia, dẫu trong lòng hắn tôn sùng Jagienka hơn bất cứ thứ gì trên cõi đời này, và kể từ dạo trước trận chiến cuối cùng ở Ciechanow, khi nghe tin Zbyszko đã kết hôn, trong lòng hắn vẫn luôn mang theo một nỗi cay đắng ngập tràn.
– Mong sao ngài thành kẻ góa vợ trước tiên! – hắn lặp lại ý nghĩ đó trong đầu.
Nhưng rồi những suy nghĩ khác, có phần dịu dàng hơn, bắt đầu len lỏi vào tâm trí hắn, bởi khi vừa bước xuống dạo bước bên bầy ngựa, hắn lại tự nhủ:
– Nguyện ơn Chúa độ trì để ít ra tôi còn được quỳ xuống ôm lấy đôi chân nàng!
Trong khi đó, Zbyszko nôn nóng đến phát cuồng lên được để được lên đường, bởi cơn sốt ruột đang gặm nhấm tâm can chàng – và những mối bận tâm bề bộn cứ bủa vây lấy chàng lại càng làm nỗi thống khổ tăng lên gấp bội, khiến tâm trí chàng lúc nào cũng chỉ quẩn quanh hình bóng Danusia và Jurand. Tuy nhiên, họ vẫn buộc phải nán lại Spychow ít nhất là một đêm vì de Lorche, cũng như để chuẩn bị chu đáo cho một chuyến đi dài ngày. Cuối cùng, chàng hoàn toàn kiệt sức sau những trận giao tranh, canh gác, đường giậm trường chinh, những đêm trắng không ngủ và biết bao lo âu chồng chất. Thế nên vào lúc tối muộn, chàng ngả lưng xuống chiếc giường cứng nhắc của Jurand, với hi vọng chợp mắt được dẫu chỉ chốc lát. Nhưng trước khi chìm vào giấc ngủ, Sanderus đã gõ cửa bước vào, cúi đầu cung kính thưa:
– Thưa ngài, ngài đã cứu mạng tôi khỏi cõi chết, và ở cạnh ngài là khoảng thời gian sung sướng nhất đời tôi. Chúa nay đã ban cho ngài một thái ấp lớn, khiến ngài còn giàu có hơn trước, hơn nữa kho báu của Spychow đâu phải đã trống không. Xin ngài hãy ban cho tôi một chiếc túi đựng tiền nào đó, tôi sẽ sang tận đất Phổ, đi từ lâu đài này sang lâu đài khác, dẫu ở đó chẳng mấy an toàn, biết đâu tôi vẫn có thể làm được chút ít việc nghĩa cho ngài.
Zbyszko – kẻ thoạt đầu chỉ muốn tống cổ gã ra khỏi phòng – bỗng suy nghĩ lại trước những lời đó, rồi chốc lát sau, chàng với tay lấy chiếc túi da du lịch đặt cạnh giường, ném phắt cho gã và bảo:
– Cầm lấy mà đi! Nếu ngươi là một tên bịp bợm thì hãy đi lừa lọc, còn nếu là người lương thiện – hãy phục vụ cho đàng hoàng.
– Tôi sẽ lừa lọc với tư cách là một tên bịp, thưa ngài, – Sanderus đáp, – nhưng tuyệt đối không lừa ngài, và tôi sẽ trung thành phục vụ ngài.
Zygfried von Löve đang sửa soạn lên đường đi Malborg thì bất ngờ có người đưa thư mang tới cho hắn một bức thư từ Rotgier kèm theo tin tức từ triều đình Mazovia. Tin tức này đã chạm đến tận cùng tâm can vị lão Hiệp sĩ Thánh chiến. Trước hết, đọc qua bức thư có thể thấy rõ Rotgier đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đại diện cho vụ việc của Jurand cực kỳ hoàn hảo trước mặt Công tước Janusz. Zygfried mỉm cười khi thấy đoạn Rotgier còn cả gan yêu cầu vị công tước phải trao trả Spychow cho Dòng tu như một khoản bồi thường cho những tổn thất đã gây ra. Nhưng phần sau của bức thư lại mang đến những tin tức bất ngờ và kém phần thuận lợi hơn. Rotgier thông báo rằng để chứng minh tường tận sự vô can của Dòng tu trong vụ bắt cóc người nhà Jurand, hắn đã ném găng thách đấu các hiệp sĩ Mazovia, thách thức bất cứ kẻ nào hoài nghi ra trước phán quyết của Chúa, nghĩa là chiến đấu tay đôi trước sự chứng kiến của toàn thể triều đình. "Không một ai dám nhặt lấy găng," Rotgier viết tiếp, "bởi tất cả đều thấy rõ chính trong bức thư của mình, Jurand đã làm chứng cho sự trong sạch của chúng ta, hơn nữa họ cũng sợ hãi trước phán quyết của Chúa, nhưng một gã thanh niên trẻ tuổi, chính là kẻ chúng ta từng thấy trong tòa án rừng, đã bước ra và nhặt lấy chiếc găng ấy. Xin ngài đừng ngạc nhiên, thưa người anh em đạo đức và thông thái, đó chính là nguyên nhân khiến tôi bị trì hoãn ngày về. Đã thách đấu thì tôi buộc phải ra trận. Và vì tôi làm điều đó cốt vì vinh quang của Dòng tu, tôi tin rằng cả đại sư lẫn ngài – người mà tôi hết lòng kính yêu bằng cả tình cảm của một người con – sẽ không trách cứ gì tôi. Đối thủ chỉ là một tên nhắt ranh, và như ngài đã biết, tôi đâu phải tay mơ trên chiến trường, nên việc đổ máu hắn để làm rạng danh Dòng tu đối với tôi là một chuyện vô cùng dễ dàng, nhất là khi có sự trợ giúp của Chúa Kitô – Đấng luôn bận tâm đến những kẻ mang cây thánh giá của Ngài nhiều hơn là một lão Jurand nào đó hay nỗi oan ức của một cô gái xứ Mazovia!" Zygfried vô cùng kinh ngạc trước tin con gái Jurand hóa ra đã có chồng. Ý nghĩ rằng có khả năng một kẻ thù mới đầy đe dọa và mang tâm địa trả thù sẽ đến định cư tại Spychow đã khơi gợi nỗi hoang mang ngay cả trong lòng vị bá tước già. "Hiển nhiên rồi," hắn tự nhủ, "hắn sẽ không đời nào bỏ qua cơ hội trả thù đâu, và càng chắc chắn hơn khi hắn đón được vợ về và nghe nàng kể lại rằng chính chúng ta đã bắt cóc nàng từ tòa án rừng! Phải, khi ấy người ta sẽ thấy rõ mười mươi rằng chúng ta đã đưa Jurand đến đây nhằm mục đích trừ khử lão, và chẳng hề có chuyện muốn trả lại con gái cho lão cả." Nghĩ đến đây, Zygfried chợt nhận ra rằng do những bức thư của vị công tước, đại sư rất có thể sẽ tiến hành một cuộc điều tra ở Szczytno cốt để tự gột rửa bản thân trước mặt vị công tước, bởi việc giữ được lòng tin của công tước xứ Mazovia là vô cùng quan trọng đối với đại sư và hội đồng trong bối cảnh sắp có chiến tranh với vị vua hùng mạnh nước Ba Lan. Coi thường sức mạnh của vị công tước giữa lúc lực lượng quý tộc Mazovia đang đông như kiến cỏ là một việc không thể mạo hiểm làm bừa. Giữ được hòa khí với họ chính là cách bảo đảm kiên cố nhất cho biên giới của Dòng tu và cho phép họ tập trung lực lượng tốt hơn. Họ đã từng bàn tán rất nhiều về điều đó trước mặt Zygfried ở Malborg, và từng nuôi dưỡng niềm hy vọng rằng sau khi đã khuất phục được nhà vua, họ sẽ tìm được cớ để ra tay với người Mazovia, khi ấy chẳng thế lực nào có thể tước đoạt vùng đất đó khỏi tay họ nữa. Đó là một sự tính toán lớn lao và chắc chắn. Do đó, chắc chắn lúc này vị đại sư sẽ làm mọi cách để tránh gây phật ý Công tước Janusz, bởi vị công tước vốn kết hôn với con gái của Kiejstut này khó bề xoa dịu hơn nhiều so với Ziemowit xứ Plock – kẻ có người vợ vì lý do nào đó lại một lòng một dạ tôn sùng Dòng tu.
Đối mặt với những suy nghĩ ấy, lão Zygfried – con người sẵn sàng dấn thân vào mọi thứ tội ác, phản trắc và tàn nhẫn chỉ vì danh tiếng của Dòng tu – bắt đầu tính toán một cách đầy tỉnh táo:
– Chẳng lẽ không tốt hơn nếu để cho Jurand và con gái lão được tự do sao? Tội ác và sự nhơ nhuốc đang đè nặng lên cái tên Danveld, mà hắn thì đã chết; dẫu đại sư có trừng phạt nghiêm khắc ta và Rotgier đi nữa vì chúng ta là đồng phạm trong những việc làm của Danveld, thì chẳng phải điều đó vẫn tốt hơn cho Dòng tu hay sao?
Nhưng đến đây, trái tim đầy thù hận và tàn độc của hắn lại bắt đầu nổi loạn khi nghĩ đến Jurand.
Để lão ta đi sao? Kẻ áp bức và đao phủ giáng họa lên biết bao thành viên của Dòng tu, vị chiến thắng trong ngần ấy trận giao tranh, nguyên nhân của ngấy nỗi ô nhục, tai ương và thất bại, rồi kẻ đã sát hại Danveld, đánh bại von Bergow, hạ sát Meineger, Godfried và Hugue, kẻ thậm chí ngay tại Szczytno này đã đổ nhiều máu người Đức hơn cả một trận chiến khốc liệt trên sa trường. "Không, ta không thể! Ta không thể!" Zygfried cuồng nộ lặp đi lặp lại, và nghĩ đến đó, những ngón tay tham lam của hắn bấu chặt vào nhau, lồng ngực gầy gò già nua phập phồng dữ dội. Dù vậy, nếu tất cả là vì lợi ích to lớn và vinh quang của Dòng tu thì sao? Nếu hình phạt khi đó giáng xuống những kẻ chủ mưu vẫn đang còn sống, thì Công tước Janusz lẽ ra lúc này nên được xoa dịu bằng sự hòa hoãn với kẻ thù và giải quyết vướng mắc bằng một thỏa thuận, thậm chí là một liên minh. "Bọn chúng đang tức lộn ruột lên rồi," vị bá tước già lại ngẫm nghĩ; "nhưng ngài ấy lẽ ra nên tỏ ra tử tế với chúng đôi chút, việc quên đi một mối oán thù nào có khó gì. Chính vị công tước trong lãnh thổ của mình cũng từng là kẻ đi cướp vợ cơ mà; chưa kể còn phải dè chừng sự trả thù..."
Rồi hắn bắt đầu sải bước đi lại trong sảnh đường với tâm trí rối bời, đoạn dừng chân trước bức tượng Chịu Nạn treo đối diện lối ra vào, chiếm gần hết chiều cao của bức tường giữa hai khung cửa sổ, và quỳ rạp xuống dưới chân tượng, cất tiếng khấn:
– Xin Chúa hãy soi sáng cho con, xin dạy dỗ con, bởi con thực sự chẳng biết phải làm sao! Nếu con thả Jurand và con gái lão ra, thì mọi hành vi của chúng ta sẽ bị phơi bày ra ánh sáng đích thực, và thiên hạ sẽ chẳng đời nào bảo rằng Danveld hay Zygfried đã làm thế, mà họ sẽ đổ hết tội lên đầu các Hiệp sĩ Thánh chiến, tiếng nhơ sẽ giáng xuống toàn thể Dòng tu, và sự căm phúng của vị công tước đó sẽ còn lớn hơn bao giờ hết. Nếu con không thả họ ra mà cứ giam giữ hoặc ém nhẹm sự việc đi, thì Dòng tu sẽ bị hoài nghi và con buộc phải làm nhơ bẩn miệng lưỡi mình bằng những lời dối trá trước mặt đại sư. Đâu mới là con đường tốt hơn, hỡi Chúa? Xin hãy chỉ dạy và soi đường cho con. Nếu con phải gánh chịu sự trả thù, xin cứ định đoạt theo công lý của Ngài; nhưng giờ đây xin hãy dạy con, hãy soi sáng cho con, bởi tôn giáo của Ngài đang bị đem ra cân nhắc, và bất cứ điều gì Ngài truyền phán, con cũng sẽ tuân theo, dẫu cho kết cục có là ngục tù đày ải hay con có phải chờ đợi cái chết trong xiềng xích đi chăng nữa.
Và tì vầng trán lên cây thánh giá bằng gỗ, hắn cầu nguyện suốt một hồi lâu; trong đầu hắn lúc đó chưa từng một mảy may lóe lên suy nghĩ rằng đó là một lời cầu nguyện méo mó và phạm thượng. Đoạn hắn đứng dậy, tâm trạng đã bình tĩnh lại, đinh ninh rằng ân huệ từ cây thánh giá gỗ đã ban cho hắn một ý nghĩ minh triết và đúng đắn, và rằng một tiếng vang từ cõi cao xanh đang thì thầm với hắn rằng: "Hãy đứng dậy và chờ đợi sự trở lại của Rotgier." "Đúng thế! Ta phải chờ. Rotgier chắc chắn sẽ giết chết gã thanh niên kia; khi đó chúng ta sẽ phải giấu Jurand và con gái lão đi, hoặc đem trả họ. Ở trường hợp thứ nhất, quả thật vị công tước sẽ không đời nào quên được, nhưng vì không chắc chắn kẻ nào đã bắt cóc cô gái, ngài sẽ cho người lùng sục, gửi thư chất vấn đại sư chứ không quy tội trực tiếp, và vụ việc sẽ bị kéo dài đằng đẵng. Ở trường hợp thứ hai, niềm vui khi con gái Jurand trở về sẽ lớn hơn khao khát trả thù cho vụ bắt cóc nàng. Chắc chắn chúng ta luôn có thể bịa ra rằng chúng ta đã tìm thấy nàng sau vụ quấy phá của Jurand." Ý nghĩ cuối cùng ấy đã hoàn toàn trấn an được tâm trí Zygfried. Riêng về phần bản thân Jurand thì chẳng có gì phải lo ngại; bởi hắn và Rotgier từ lâu đã đạt được thỏa thuận rằng nếu Jurand được trả tự do, lão sẽ chẳng đời nào có thể tự tay trả thù hay gây hại gì cho họ được nữa. Zygfried thấy lòng dạ tàn độc của mình khẽ hoan hỉ. Hắn cũng hả hê khi nghĩ đến phán quyết của Chúa sắp diễn ra tại lâu đài ở Ciechanow. Còn về kết quả của trận chiến tử sinh, hắn chẳng mảy may lo lắng chút nào. Hắn nhớ lại một giải đấu nọ ở Königsberg, khi Rotgier đè bẹp hai vị hiệp sĩ hùng mạnh vốn lừng lẫy ở xứ Andecave như những chiến binh bất khả chiến bại. Hắn cũng nhớ tới trận chiến gần Wilno với một hiệp sĩ người Ba Lan nào đó, cận thần Spytko xứ Melsztyn, kẻ đã bị Rotgier tước đoạt sinh mạng. Và khuôn mặt hắn bỗng bừng sáng, lồng ngực hân hoan tột độ, bởi khi Rotgier buổi đầu còn là một hiệp sĩ chưa mấy tên tuổi, chính tay hắn là người đã dẫn đầu chuyến viễn chinh sang Litva và truyền thụ cho gã cách thức tốt nhất để chiến đấu với bộ tộc ấy; chính vì thế hắn thương yêu Rotgier như con đẻ, với một thứ tình cảm sâu sắc mà chỉ những kẻ chôn giấu những tình cảm mãnh liệt tận sâu đáy lòng mới có thể làm được. Giờ đây "đứa con trai" ấy sẽ lại một lần nữa đổ máu của lũ người Ba Lan đáng ghét và trở về trong vinh quang ngập tràn. Chà, đó chính là phán quyết của Chúa, và Dòng tu đồng thời cũng sẽ được gột rửa khỏi mọi mối nghi ngờ. "Phán quyết của Chúa..." Chỉ trong chớp mắt, một cảm giác tựa như hoảng loạn bỗng bóp nghẹt trái tim già nua của hắn. Kìa kìa, Rotgier buộc phải bước vào trận chiến tử sinh để bảo vệ sự trong sạch của Dòng tu Hiệp sĩ Thánh chiến. Thế nhưng, bọn chúng rõ ràng là có tội; vậy ra hắn sẽ chiến đấu vì một lời dối trá đó sao...? Thế lỡ tai họa ập đến thì sao? Nhưng rồi ngay khoảnh khắc tiếp theo, ý nghĩ ấy lại bị gạt phắt đi khi hắn tự nhủ điều đó là bất khả thi. Phải! Rotgier đã viết rất đúng: "Rằng với sự trợ giúp của Chúa Kitô – Đấng luôn bận tâm đến những kẻ mang cây thánh giá của Ngài nhiều hơn là một lão Jurand nào đó hay nỗi oan ức của một cô gái xứ Mazovia." Phải, Rotgier sẽ trở về sau ba ngày nữa, trở về với tư cách là một kẻ chiến thắng.
Thế là lão Hiệp sĩ Thánh chiến tự trấn an bản thân như thế, nhưng đồng thời hắn cũng tự hỏi liệu có nên tống khứ Danusia đến một xó xỉnh xa xôi hẻo lánh nào đó, nơi mà mọi mưu mô thủ đoạn của người Mazovia chẳng đời nào có thể với tới để giải cứu nàng. Tuy nhiên, sau một thoáng lưỡng lự, hắn đã gạt bỏ ý định đó. Hành động công khai và đứng đơn kiện cáo Dòng tu, chỉ có chồng của con gái Jurand mới đủ sức làm điều đó. Nhưng hắn ta sẽ phải phơi thây dưới tay Rotgier. Sau đó, sẽ chỉ còn lại những cuộc điều tra, thẩm vấn, thư từ qua lại và những lời cáo buộc từ vị công tước. Mà chính những thủ tục rườm rà đó sẽ làm chậm trễ tiến trình vụ việc, khiến nó trở nên rối rắm, mờ mịt và hiển nhiên là sẽ bị trì hoãn vô thời hạn. "Trước khi mọi chuyện ngã ngũ," Zygfried tự nhủ, "ta đã chết mất rồi, và rất có thể con gái Jurand cũng sẽ già đi trong ngục thất của các Hiệp sĩ Thánh chiến. Dù sao đi nữa, ta vẫn sẽ ra lệnh chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ trong lâu đài cho tình huống phòng thủ, đồng thời lên đường hành quân, bởi ta không chắc chắn lắm về kết quả cuộc chạm trán với Rotgier: Thế nên ta cứ chờ xem sao."
Trong khi đó, hai trong số ba ngày mà Rotgier hẹn sẽ quay về đã trôi qua; rồi ba ngày, bốn ngày trượt dài, vậy mà chẳng bóng dáng tùy tùng nào xuất hiện trước cổng thành Szczytno. Mãi cho đến ngày thứ năm, khi trời đã chập tối, tiếng tù và mới vang lên gầm rú phía trước pháo đài gần cánh cổng thành. Zygfried, lúc ấy vừa dứt khỏi buổi cầu kinh chiều, liền lập tức phái một tên tiểu đồng ra xem ai vừa tới.
Chẳng mấy chốc tên tiểu đồng quay trở lại với gương mặt hốt hoảng. Zygfried đã không nhận ra điều đó vì bóng tối bao trùm, bởi đống lửa trong lò sưởi nằm quá sâu về phía trong nên chẳng thể thắp sáng gian phòng cho đủ.
– Bọn chúng đã về rồi chứ? – lão Hiệp sĩ Thánh chiến cất tiếng hỏi.
– Thưa rồi ạ! – tên tiểu đồng đáp.
Nhưng có cái gì đó trong giọng nói của hắn đã làm lão hiệp sĩ hoảng sợ, và hắn liền gặng hỏi:
– Thế còn Hiệp sĩ đoàn viên Rotgier?
– Người ta đã đưa Hiệp sĩ đoàn viên Rotgier về rồi ạ.
Zygfried chồm dậy, đứng bấu chặt vào tay ghế một hồi lâu để khỏi ngã quỵ, rồi bằng một giọng nghẹn đắng, hắn thều thào:
– Lấy cho ta tấm áo choàng.
Tên tiểu đồng khoác tấm áo lên đôi vai hắn. Hắn dường như đã lấy lại được sức lực, bởi hắn tự mình trùm chiếc mũ trùm đầu lên mà không cần ai giúp đỡ, rồi bước ra ngoài.
Chỉ trong chốc lát, hắn đã đặt chân xuống khoảng sân lâu đài lúc này trời đã tối như mực; hắn lê bước chậm chạp trên lớp tuyết kêu lạo xạo để tiến về phía đoàn tùy tùng đang lếch thếch qua cổng thành. Hắn dừng lại ở đó, nơi một đám đông đã tụ tập từ bao giờ, và ánh sáng từ mấy ngọn đuốc mà lính canh mang ra đang rọi sáng cả một góc. Thoáng thấy bóng lão hiệp sĩ, đám gia nhân liền dạt ra nhường lối. Trong ánh đuốcập chờn, người ta có thể nhìn thấy những gương mặt tái mét vì sợ hãi và nghe thấy tiếng xì xào bàn tán của đám đông ẩn mình trong bóng tối sau lưng:
– Hiệp sĩ đoàn viên Rotgier...
– Hiệp sĩ đoàn viên Rotgier đã bị giết rồi...
Zygfried tiến lại gần cỗ xe trượt tuyết, nơi thi thể đang nằm dài trên lớp rơm rạ và phủ một tấm áo choàng; hắn giật phăng một góc áo lên.
– Mang đuốc lại đây, – hắn ra lệnh vừa lúc kéo dịch chiếc mũ trùm đầu ra.
Một tên gia nhân giơ cao ngọn đuốc rọi thẳng vào thi hài, và dưới thứ ánh sáng bập bùng ấy, lão hiệp sĩ đờ đẫn nhìn khuôn mặt của Rotgier; nét mặt trắng bệch như thể đã bị đông cứng và được quấn chặt bằng một chiếc khăn màu đen buộc thắt dưới cằm, rõ ràng là cốt để giữ cho miệng không bị há ra. Toàn bộ gương mặt co rút lại và biến dạng đến mức người ta có thể lầm tưởng đó là gương mặt của bất cứ kẻ nào khác. Đôi mắt nhắm nghiền, quanh khóe mắt và hai bên thái dương hằn lên những vết bầm tím tái, còn đôi gò má thì bám đầy tuyết giá lạnh ngắt. Lão hiệp sĩ trân trân ngắm nhìn bức tranh ấy suốt một hồi lâu giữa bầu không khí tĩnh mịch tuyệt đối. Những kẻ khác lặng lẽ nhìn hắn, bởi ai nấy đều biết hắn coi Rotgier như con đẻ và hết mực yêu thương gã. Nhưng hắn thậm chí chẳng rơi lấy một giọt nước mắt, chỉ có nét mặt trở nên khắc khổ hơn thường lệ, phảng phất một thứ bình thản đờ đẫn đến lạnh người.
– Bọn chúng đã trả hắn về như thế này đây! – cuối cùng hắn cất lời.
Nhưng rồi hắn lập tức quay sang tên quản gia của lâu đài và hạ lệnh:
– Hãy chuẩn bị một chiếc quan tài trước nửa đêm, và đặt thi hài vào nhà nguyện.
– Vẫn còn thừa một chiếc quan tài từng được đóng sẵn cho những kẻ bị Jurand tàn sát; chỉ cần bọc bên ngoài một lớp vải nữa là xong, con sẽ cho người làm ngay đây ạ.
– Và hãy phủ lên người hắn một tấm áo choàng, – Zygfried vừa nói vừa kéo che kín mặt Rotgier lại, – không phải loại áo như thế này, mà là áo choàng của Dòng tu.
Chốc lát sau hắn bổ sung thêm:
– Đừng vội đóng nắp quan tài.
Đám đông túm tụm lại gần cỗ xe trượt. Zygfried kéo sụp chiếc mũ trùm che kín đầu, nhưng chợt nhớ ra điều gì trước khi bước đi, hắn quay lại hỏi:
– Còn van Krist đâu?
– Hắn cũng bỏ mạng rồi, – một tên gia nhân đáp, – nhưng bọn họ buộc phải chôn cất hắn ở Ciechanow vì thi thể đã bắt đầu phân hủy.
– Được rồi.
Rồi hắn lê bước chậm chạp rời đi, trở vào phòng và ngồi phịch xuống chính chiếc ghế mà hắn từng ngồi khi hay tin dữ; khuôn mặt hắn cứng đờ như đá, cứ ngồi bất động như thế suốt một khoảng thời gian dài đến nỗi tên tiểu đồng đâm ra lo sợ, thỉnh thoảng lại thò nửa đầu qua cánh cửa ngó vào. Từng giờ từng phút trôi qua. Những tiếng động sinh hoạt thường nhật trong lâu đài đã dứt hẳn, nhưng từ phía nhà nguyện vọng lại tiếng búa nện đục ngầu, rời rạc; rồi chẳng còn gì phá vỡ sự tĩnh mịch ấy ngoài tiếng cất giọng của lính canh.
Đã xấp xỉ nửa đêm khi lão hiệp sĩ sực tỉnh giấc như thể vừa chìm vào một giấc ngủ mê mệt, rồi gọi tên gia nhân lại.
– Hiệp sĩ đoàn viên Rotgier đâu rồi? – hắn hỏi.
Nhưng tên gia nhân, vốn đang hoảng loạn thần hồn nát thần tính trước sự tĩnh lặng, những biến cố kinh hoàng và chuỗi ngày mất ngủ, dường như chẳng hiểu hắn nói gì, cứ trân trân nhìn hắn bằng ánh mắt sợ hãi rồi lắp bắp đáp:
– Con... con không biết ạ, thưa ngài...
Lão già bỗng phì cười khan một tiếng rồi ôn tồn bảo:
– Đứa trẻ ngốc này, ta hỏi là hắn đã được đưa vào nhà nguyện chưa cơ mà.
– Thưa rồi ạ, thưa ngài.
– Thế thì tốt rồi. Bảo Diedrich mang theo một chiếc đèn lồng đến đây và chờ ta quay lại; hắn cũng phải mang theo một cái lò sưởi nhỏ đựng than nữa. Trong nhà nguyện đã thắp đèn sáng chưa?
– Có những ngọn nến đang cháy xung quanh quan tài ạ.
Zygfried khoác áo choàng lên và bước ra ngoài.
Khi đặt chân vào nhà nguyện, hắn đảo mắt rà soát xung quanh để chắc chắn không còn ai khác có mặt ở đây; đoạn hắn cẩn thận khép chặt cửa lại, tiến sát đến chiếc quan tài, dời hai trong số sáu ngọn nến đang cháy bập bùng trên những chân đèn bằng đồng thau lớn ở phía trước sang một bên, rồi quỳ rạp xuống trước linh cữu.
Đôi môi hắn không hề mấp máy, chứng tỏ hắn không hề cầu nguyện. Suốt một lúc lâu, hắn chỉ trân trân ngắm nhìn gương mặt dẫu đã co rút nhưng vẫn rất đỗi khôi ngô của Rotgier như thể đang cố dò tìm trên đó chút dấu vết của sự sống.
Rồi giữa bầu không gian tĩnh mịch chết chóc trong nhà nguyện, hắn bắt đầu thì thầm bằng một giọng khàn đục, nghẹn ngào:
– Đứa con trai bé bỏng của ta! Con trai bé bỏng của ta ơi!
Rồi hắn im bặt; trông hắn cứ như đang ngóng chờ một lời đáp trả.
Đoạn hắn vươn tay ra, luồn những ngón tay gầy guộc khô đét như móng vuốt của mình vào dưới tấm áo choàng, vén ngực áo của Rotgier lên và bắt đầu rà soát khắp lượt, dò dẫm khắp vùng ngực, hai bên sườn bên dưới xương sườn và dọc theo bả vai: cuối cùng ngón tay hắn chạm vào vết rách trên vải kéo dài từ đỉnh vai phải xuống tận nách, hắn ấn mạnh ngón tay vào để cảm nhận dọc theo toàn bộ chiều dài vết thương, rồi bỗng cất cao giọng kêu lên tựa như một tiếng oán thán xé lòng:
– Ôi!... Cái thứ tàn độc nào đã gây ra nông nỗi này cơ chứ!... Ấy thế mà con đã bảo gã đó chỉ là một tên nhắt ranh cơ mà!... Cả cánh tay! Cả cánh tay sao? Biết bao nhiêu lần con đã giơ nó lên chống lại bọn Ngoại giáo để bảo vệ Dòng tu... Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Con đã chiến đấu bằng sự gian dối, nên mới ngã gục trong một chính nghĩa sai lầm; hãy được tha thứ và cầu mong linh hồn con...
Những lời đó bỗng nghẹn đắng lại trên đôi môi đang run bần bật của hắn và một sự tĩnh mịch sâu thẳm lại một lần nữa bao trùm khắp nhà nguyện.
– Đứa con trai bé bỏng của ta! Con trai bé bỏng của ta ơi!
Lần này trong giọng nói của Zygfried phảng phất một âm hưởng như đang van nài, đồng thời hắn hạ thấp giọng xuống như thể lời van xin ấy đang mang theo một bí mật trọng đại và kinh hoàng nào đó.
– Hỡi Chúa Kitô từ bi!... Nếu Ngài chưa kết án nó, xin hãy ban một dấu hiệu, cử động bàn tay, hoặc nhúc nhích mí mắt một cái thôi, bởi trái tim già nua của ta đang quằn quại rên rỉ trong lồng ngực rồi đây... Hãy ban một dấu hiệu đi, ta đã yêu thương con biết bao, hãy thốt lên một lời thôi!... Vả chăng...
Và dùng hai tay tì mạnh lên thành quan tài, hắn dán chặt đôi mắt cú vọ của mình vào đôi mi đang nhắm nghiền của Rotgier và kiên nhẫn chờ đợi.
– Chà! Sao con có thể cất lời được chứ? – cuối cùng hắn lẩm bẩm, – khi mà cái lạnh giá và thứ mùi tử khí đang tỏa ra từ da thịt con kìa. Nhưng vì con đã lặng câm, vậy thì ta sẽ kể cho con nghe một chuyện, và hãy để linh hồn con, đang bay lượn lửng lơ đâu đây giữa những ngọn nến lung linh này, mà lắng nghe cho kỹ nhé!
Đoạn hắn cúi rạp người xuống sát khuôn mặt của cái xác.
– Con có nhớ dạo lão tuyên úy không đời nào cho phép chúng ta thủ tiêu Jurand và cách chúng ta đã cùng nhau thề thốt không? Này nhé, ta sẽ giữ trọn lời thề đó, nhưng ta sẽ khiến con phải vui mừng dẫu con đang ở bất cứ chốn nào, và dẫu có phải đánh đổi bằng chính sự đọa đày của đời ta đi nữa.
Rồi hắn lùi lại khỏi quan tài, đặt trả những chân đèn về chỗ cũ, phủ lại tấm áo choàng lên thi thể rồi lững thững bước ra khỏi nhà nguyện.
Ngay trước ngưỡng cửa phòng, tên gia nhân vì quá kiệt sức nên đã ngủ thiếp đi từ lúc nào, còn Diedrich thì đã đứng chờ sẵn bên trong theo đúng lệnh của Zygfried. Hắn là một kẻ thấp lùn, vai u thịt bắp, chân vòng kiềng và có khuôn mặt vuông vức bị che khuất một phần bởi chiếc mũ trùm đầu màu sẫm thả thõng xuống tận vai. Hắn khoác một chiếc áo da trâu chưa thuộc, thắt lưng da trâu vắt ngang hông lủng lẳng một chùm chìa khóa và một con dao găm ngắn. Tay phải hắn cầm một chiếc đèn lồng bọc màng da; tay kia cầm một chiếc lò nhỏ và một ngọn đuốc.
– Ngươi đã chuẩn bị xong chưa? – Zygfried cất tiếng hỏi.
Diedrich trầm mặc cúi đầu.
– Ta đã dặn ngươi mang theo một cái lò than hồng cơ mà.
Gã lùn vẫn im thin thít; hắn chỉ tay về phía đống củi đang bén lửa cháy hồng trong lò sưởi, với lấy cái xẻng sắt đặt bên cạnh rồi múc đầy một lò than hồng rực, đoạn chắp tay cầm đèn lồng và đứng chờ lệnh.
– Giờ thì nghe đây, đồ khuyển mã, – Zygfried lạnh lùng lên tiếng; – ngươi chưa từng hé răng nửa lời về những gì Bá tước Danveld từng ra lệnh cho ngươi làm; lão bá tước cũng đồng thời ra lệnh cắt đứt lưỡi ngươi. Nhưng ngươi vẫn có thể dùng ngón tay để ra hiệu cho lão tuyên úy đấy thôi. Thế nên ta xin cảnh báo trước, nếu ngươi chỉ cần dùng dù chỉ một cử động nhỏ nhất của bàn tay để ra hiệu cho hắn thấy những gì ngươi sắp phải làm theo lệnh ta ngay bây giờ, ta sẽ ra lệnh treo cổ ngươi lên đấy.
Diedrich lại cúi đầu im lặng, nhưng gương mặt hắn bỗng co rút lại bởi một ký ức kinh hoàng, gớm ghiếc; bởi chiếc lưỡi của hắn bị cắt đứt vốn vì một lý do hoàn toàn khác chứ chẳng giống như những gì Zygfried vừa bịa ra.
– Giờ thì đi trước đi, dẫn ta xuống căn hầm ngầm giam giữ Jurand.
Tên đao phủ dùng bàn tay to bè như cái quạt vồ của mình túm lấy quai chiếc lò than, nhấc bổng chiếc đèn lồng lên rồi bước đi. Khi đi ngang qua cửa, họ lướt qua tên lính gác đang ngáy ngủ, bước xuống cầu thang, rẽ ngoặt không phải về phía lối vào chính, mà hướng thẳng tới một hành lang nhỏ nằm khuất ở phía sau cầu thang, kéo dài suốt chiều rộng của tòa nhà và kết thúc bằng một cánh cửa sắt nặng nề được giấu kín trong một hốc tường. Diedrich đẩy mở cánh cửa ấy ra và họ lại thấy mình bước ra khoảng không gian ngoài trời trong một khoảng sân nhỏ bốn bề bao quanh bởi những kho lúa tường cao vút dùng để dự trữ lương thảo đề phòng khi pháo đài bị vây hãm. Ngay bên dưới một trong số những nhà kho phía bên phải ấy chính là một ngục thất ngầm dưới lòng đất. Chẳng có lấy một tên lính gác nào đứng canh gác ở đó cả, bởi dẫu cho một tù nhân có may mắn phá ngục trốn thoát được khỏi hầm ngầm đi chăng nữa, hắn cũng chỉ có thể lọt ra cái khoảng sân chỉ có độc một lối thoát duy nhất qua cánh cửa trong hốc tường kia mà thôi.
– Chờ đã, – Zygfried ra lệnh rồi tựa lưng vào tường nghỉ mệt, bởi hắn cảm thấy có điều gì đó không ổn đang diễn ra trong cơ thể mình; hắn hụt hơi, lồng ngực thắt lại nghẹt thở như thể đang bị bó chặt trong bộ áo giáp cứng nhắc. Nói thẳng ra, trải qua những chuyện vừa rồi, tuổi già đã thực sự bủa vây lấy hắn, và vầng trán dưới lớp mũ trùm đầu lúc này đầm đìa những giọt mồ hôi; thế nên hắn phải khựng lại chốc lát để điều hòa lại nhịp thở.
Đêm tiếp nối ngày u ám bỗng trở nên quang mây đến lạ thường, khoảng sân nhỏ ngập tràn ánh trăng chiếu rọi khiến lớp tuyết phản chiếu một thứ ánh sáng vàng vợt. Zygfried hít hà bầu không khí mát lạnh sảng khoái vào lứa phổi một cách khoan khoái, nhưng hắn đã quên mất rằng trong một đêm trăng sáng tương tự thế này, Rotgier từng lên đường đi Ciechanow để rồi chẳng bao giờ trở về sống sót nữa.
– Còn giờ thì mày đang nằm trong nhà nguyện kia rồi, – hắn lẩm bẩm một mình.
Diedrich tưởng lão bá tước đang nói chuyện với mình; thế là hắn liền giơ cao chiếc đèn lồng rọi thẳng ánh sáng vào gương mặt hắn – một gương mặt trông vô cùng gớm ghiếc, tiều tụy như xác chết nhưng đồng thời lại hao hao hình hài của một con kền kền già.
– Dẫn đường đi, – Zygfried ra lệnh.
Diedrich hạ thấp đèn lồng xuống, ném một vòng tròn ánh sáng vàng úa xuống lớp tuyết và cả hai tiếp tục cất bước. Trong bức tường dày cộp của nhà kho có một hốc tường trổ mấy bậc cấp dẫn xuống một cánh cửa sắt lớn. Diedrich mở toang nó ra và bước xuống cầu thang chìm trong bóng tối dày đặc, giơ cao đèn lồng để soi đường cho lão bá tước. Tận cuối chân cầu thang là một hành lang dài hai bên trổ chi chít những cánh cửa thấp tè dẫn vào các xà lim giam giữ tội nhân.
– Đến chỗ Jurand! – Zygfried ra lệnh.
Chỉ trong chớp mắt, những thanh sắt kẹt lên cọt kẹt và họ bước vào trong, nhưng bao trùm xà lim là một màn đêm đen kịt. Nhận thấy ánh sáng lờ mờ từ đèn lồng không đủ để nhìn rõ mọi vật, Zygfried bèn ra lệnh thắp đuốc lên, và chẳng mấy chốc ánh sáng rực rỡ từ ngọn đuốc đã rọi sáng rõ mồn một hình bóng Jurand đang nằm vật vã trên đống rơm. Cổ chân người tù bị cùm chặt trong xiềng xích, nhưng những đoạn xích ở tay thì được thả lỏng hơn đôi chút cốt để lão có thể tự đưa thức ăn lên miệng. Trên người lão vẫn là chiếc áo bố thô ráp từng mặc ngày bị lôi ra trước tòa án xét xử, nhưng lúc này nó đã bết dính những vết máu sẫm màu, bởi chính vào cái ngày trận giao tranh kết thúc, trong lúc cơn đau cuồng nộ tột cùng khiến vị hiệp sĩ phát điên vướng vào mạng lưới, đám binh lính đã tìm cách hạ sát lão, nện những cú giáo mác chí mạng và khoét trên người lão vô số vết thương. Nhờ vị tuyên úy can thiệp nên Jurand mới không bị thủ tiêu ngay tại chỗ, nhưng lão đã mất quá nhiều máu đến mức người ta phải khiêng một kẻ nửa sống nửa chết vứt vào ngục tối. Trong lâu đài, ai nấy đều đinh ninh rằng lão sẽ chết bất cứ lúc nào. Nhưng nhờ thể chất phi thường vượt trội, lão đã vượt qua tử thần dẫu chẳng có ai màng tới việc băng bó vết thương cho lão, và thế là lão bị tống xuống căn ngục ngầm rùng rợn này – nơi ban ngày hễ trời hửng nắng là nước từ mái hắt lại nhỏ giọt tí tách, còn hễ trời rét buốt là vách tường lại đóng băng dày đặc những tuyết với băng giá.
Nằm bẹp dí trên đống rơm dưới đất là một kẻ thân tàn ma dại xiềng xích quấn thân, nhưng trông lão cứ sừng sững như một khối đá lửa đẽo gọt thành hình người. Zygfried ra lệnh cho Diedrich rọi thẳng ngọn đuốc vào mặt Jurand, đoạn hắn đứng lặng trân trân ngắm nhìn một hồi lâu. Sau đó hắn quay sang Diedrich và bảo:
– Nhìn xem, hắn chỉ còn một con mắt thôi – hãy phá hủy nó đi.
Có cái gì đó tựa như sự bệnh hoạn và tàn tạ toát lên từ giọng nói ấy, và chính vì thế, mệnh lệnh rợn người kia lại càng trở nên ám ảnh hơn, khiến ngọn đuốc trên tay tên đao phủ bỗng run bắn lên bần bật. Dẫu vậy hắn vẫn cúi sát ngọn đuốc xuống gương mặt Jurand, và chỉ chốc lát sau, những giọt hắc ín nóng bỏng bắt đầu rỏ xuống con mắt của Jurand, che kín hoàn toàn từ vầng trán lan xuống gò má nhô cao.
Khuôn mặt Jurand co giật, bộ ria mép xám xịt rung lên, nhưng lão không thốt ra dù chỉ một lời than vãn. Dù là vì đã kiệt sức hay do sự gan góc phi thường của bản chất thép nơi lão, Jurand thậm chí chẳng rên lên một tiếng.
Zygfried lên tiếng:
– Người ta đã hứa sẽ trả lại tự do cho ngươi, và ngươi sẽ được toại nguyện, nhưng ngươi sẽ không bao giờ có thể mở miệng tố cáo Dòng tu được nữa, bởi chiếc lưỡi mà ngươi có thể dùng để chống lại bọn ta sẽ bị cắt đứt.
Đoạn hắn lại ra hiệu cho tên đao phủ. Diedrich phát ra một âm thanh khò khè kỳ lạ trong cổ họng và ra hiệu bằng tay rằng việc này đòi hỏi hắn phải dùng cả hai tay, do đó hắn cần lão bá tước cầm hộ ngọn đuốc.
Lão bá tước liền cầm lấy ngọn đuốc, giơ ra bằng cánh tay đang run rẩy của mình, nhưng khi Diedrich dùng đầu gối đè mạnh lên ngực Jurand, Zygfried liền quay mặt đi và đờ đẫn nhìn bức tường phủ đầy sương giá.
Chỉ trong chốc lát, tiếng xiềng xích va vào nhau lanh lảnh vang lên, nối tiếp đó là tiếng thở dốc nghẹn ngào từ lồng ngực một con người vang lên tựa như một tiếng rên đục ngầu, sâu thẳm – rồi tất cả chìm vào tĩnh lặng.
Cuối cùng Zygfried cất tiếng:
– Jurand, những hình phạt ngươi phải gánh chịu là điều ngươi đáng phải nhận; nhưng ta đã hứa với Hiệp sĩ đoàn viên Rotgier – kẻ mà con rể ngươi đã sát hại – sẽ mang bàn tay phải của ngươi đặt vào quan tài của hắn.
Diedrich, kẻ vừa đứng dậy sau hành động tàn độc vừa rồi, lại cúi gập người xuống thi thể đang bất động của Jurand khi nghe thấy những lời của Zygfried.
Chốc lát sau, lão bá tước và Diedrich lại thấy mình bước ra khoảng sân ngập tràn ánh trăng vằng vặc. Khi họ quay trở lại hành lang, Zygfried cầm lấy chiếc đèn lồng từ tay Diedrich, mang theo cả một vật thể sẫm màu được gói bọc trong một mảnh giẻ rách, rồi tự lẩm bẩm lớn tiếng:
– Giờ thì vào nhà nguyện rồi lên tháp chuông.
Diedrich đăm đăm nhìn lão bá tước, nhưng hắn ra lệnh cho tên đao phủ đi ngủ; hắn trùm kín áo choàng, treo chiếc đèn lồng gần ô cửa sổ đang thắp sáng của nhà nguyện rồi cất bước đi. Trên đường đi, hắn chìm đắm trong những suy ngẫm về những gì vừa diễn ra. Hắn gần như chắc chắn rằng tận số của chính mình cũng đã cận kề và đây là những việc làm cuối cùng của hắn trên cõi đời này, và rồi hắn sẽ phải tường trình tất cả trước mặt Chúa. Nhưng tâm hồn hắn – linh hồn của một "Hiệp sĩ Thánh chiến", dẫu vốn dĩ tàn ác hơn là gian trá – qua bao năm tháng bị dòng xoáy nghiệt ngã của bổn phận tha hóa, đã quen với việc che đậy những hành vi lừa đảo, ám sát và bưng bít những tội ác đẫm máu của Dòng tu, nên lúc này hắn lại vô thức tìm cách rũ bỏ sự nhơ nhuốc và trách nhiệm đối với những cực hình của Jurand, gạt nó ra khỏi cả bản thân lẫn Dòng tu. Diedrich vốn bị cắt lưỡi nên câm lặng và chẳng thể đi xưng tội với ai, và dẫu hắn có cách giao tiếp với lão tuyên úy, hắn cũng chẳng dám làm thế. Thế thì sao nào? Sẽ chẳng một ai hay biết. Jurand hoàn toàn có thể đã hứng trọn mọi vết thương trong lúc giao tranh. Lão hoàn toàn có thể mất đi chiếc lưỡi do một nhũ kích đâm thấu qua kẽ răng. Một nhát rìu hoặc đường kiếm cũng có thể dễ dàng chém đứt bàn tay phải của lão. Lão chỉ còn độc một con mắt; vậy thì có gì là lạ lùng khi con mắt còn lại bị mất đi trong hỗn chiến, bởi lão đã điên cuồng lao vào tấn công toàn bộ quân đồn trú ở Szczytno cơ mà. Hỡi ôi, Jurand! Niềm vui cuối cùng trong cuộc đời bỗng chốc lay động trong tim lão Hiệp sĩ Thánh chiến. Thế đấy, nếu Jurand còn sống sót, lẽ ra lão nên được trả tự do. Nghĩ đến đây, Zygfried chợt nhớ lại một cuộc trò chuyện từng có với Rotgier về vấn đề này, khi vị hiệp sĩ trẻ tuổi nọ từng cười cợt bảo rằng: "Thế thì cứ thả hắn đi đến bất cứ nơi nào đôi chân đưa đẩy, và nếu ngẫu nhiên hắn không lết về được Spychow, cứ để hắn tự đi mà dò la đường đi nước bước trên đường." Bởi vì những gì vừa xảy ra chính là một phần trong kế hoạch được vạch sẵn giữa bọn chúng. Nhưng giờ đây Zygfried quay trở lại nhà nguyện và, quỳ rạp xuống trước quan tài, hắn đặt bàn tay đẫm máu của Jurand xuống dưới chân Rotgier; niềm vui cuối cùng bất chợt lóe lên ấy chỉ thoáng qua trong chốc lát rồi vụt tắt, phai nhạt đi lần cuối cùng trên gương mặt hắn.
– Ngươi thấy đấy, – hắn thì thầm, – ta đã làm nhiều hơn cả những gì chúng ta đã thỏa thuận. Vua John xứ Luxemburg, dẫu ngài có mù lòa, vẫn tiếp tục chiến đấu và ngã xuống trong vinh quang. Còn Jurand thì chẳng thể gượng dậy được nữa và sẽ chết như một con chó hoang đằng sau hàng rào.
Đến đây hắn lại cảm thấy cơn hụt hơi từng bóp nghẹt hắn trên đường đến chỗ Jurand ập tới, kèm theo đó là sức nặng đè lên đỉnh đầu như thể đang đội một chiếc mũ sắt bằng sắt nặng trịch, nhưng cảm giác đó chỉ kéo dài vỏn vẹn một giây. Rồi hắn hít một hơi thật sâu và lẩm bẩm:
– Hừm! Thời của ta cũng đã đến rồi. Ngươi là người duy nhất ta có; nhưng giờ thì ta chẳng còn ai nữa. Nếu ta được sống lâu hơn, ta thề với con, hỡi đứa con trai bé bỏng, ta sẽ mang cả bàn tay đã tước đoạt mạng sống của con đặt lên mồ, hoặc tự ta sẽ bỏ mạng. Kẻ sát nhân cướp đi sinh mạng con vẫn còn đang sống...
Đến đây hàm răng hắn nghiến chặt vào nhau và một cơn co giật dữ dội đến mức hắn không tài nào thốt nên lời suốt một hồi lâu. Rồi hắn tiếp tục, nhưng bằng một giọng đứt quãng:
– Phải, kẻ giết con vẫn đang nhởn nhơ sống, nhưng ta sẽ băm vằm hắn thành trăm mảnh... và cả những kẻ khác cùng với hắn, ta sẽ giáng lên đầu chúng những cực hình còn tồi tệ hơn cái chết gấp vạn lần...
Rồi hắn im bặt.
Chốc lát sau hắn đứng dậy, tiến lại gần quan tài và bắt đầu cất tiếng thì thầm:
– Giờ thì ta xin tạm biệt con... và nhìn vào gương mặt con lần cuối cùng; biết đâu ta có thể nhận ra liệu con có hài lòng với những lời hứa của ta hay không... Lần cuối cùng nhé.
Đoạn hắn vén tấm vải phủ mặt Rotgier lên, nhưng bất chợt lùi phắt lại.
– Con đang mỉm cười... – hắn thốt lên, – nhưng nụ cười đó sao mà đáng sợ quá...
Thực ra, thi thể đã đông cứng được phủ dưới tấm áo choàng lúc này đã tan băng. Có lẽ do hơi ấm từ những ngọn nến đang cháy, nó đã bắt đầu phân hủy với một tốc độ kinh hoàng, và gương mặt của vị bá tước trẻ lúc này quả thực trông vô cùng gớm ghiếc. Phần miệng sưng phồng tấy đỏ và tái ngắt trông thật quái dị, đôi môi sưng mọng bầm tím cong cớn hiện lên hình thù của một nụ cười nham nhở.
Zygfried vội vã phủ tấm vải che kín cái mặt nạ kinh hoàng ấy lại nhanh nhất có thể.
Rồi hắn cầm lấy chiếc đèn lồng và bước ra khỏi nhà nguyện. Lại một lần nữa, lần thứ ba, hắn cảm thấy cơn hụt hơi ập đến; hắn lết về phòng, ngả người lên chiếc tu viện sàng cứng nhắc và nằm bất động suốt một hồi lâu. Hắn ngỡ mình sẽ chìm vào giấc ngủ, thì đột nhiên một cảm giác kỳ lạ bủa vây lấy tâm trí hắn; hắn có cảm giác như mình sẽ chẳng bao giờ có thể ngủ được nữa, và nếu cứ tiếp tục ở lại căn phòng này, cái chết sẽ sớm tìm đến.
Zygfried, trong cơn kiệt quệ cùng cực và chẳng mảy quan tâm đến giấc ngủ, vốn không hề sợ chết; trái lại, hắn coi đó như một sự giải thoát vô cùng lớn lao. Nhưng hắn không muốn đầu hàng số phận vào tối hôm ấy. Thế là hắn chồm người ngồi dậy trên giường và cất tiếng:
– Xin hãy cho ta thêm thời gian đến ngày mai.
Đoạn hắn nghe rõ mồn một một giọng nói thì thầm bên tai:
– Hãy rời khỏi căn nhà này. Ngày mai sẽ là quá muộn và ngươi sẽ chẳng thể hoàn thành lời hứa của mình đâu. Rời khỏi căn nhà này ngay!
Lão bá tước nhọc nhằn đứng dậy và bước ra ngoài. Đám lính gác đang cất tiếng hô hào gọi nhau từ những tháp canh dọc theo hàng rào lũy. Ánh sáng phát ra từ những ô cửa nhà nguyện rọi rực một góc tuyết phía trước bằng một thứ ánh sáng vàng vợt. Giữa khoảng sân, gần bức tường đá có hai con chó màu đen đang nô đùa, cắn xé một mảnh giẻ rách đen đúa. Ngoài ra khoảng sân vắng tanh vắng ngắt và tĩnh mịch.
– Vẫn cần phải làm ngay trong đêm nay! – Zygfried lẩm bẩm. – Ta đã quá mệt mỏi rồi, nhưng ta buộc phải đi... Mọi người đều đã ngủ say. Jurand, quỵ ngã vì tra tấn, chắc cũng đang ngủ. Chỉ có mình ta là không tài nào chợp mắt nổi. Ta sẽ đi. Ta sẽ đi, bởi tử thần đang chực chờ bên trong, và ta đã hứa với con rồi... Hãy để cái chết đến sau; giấc ngủ sẽ chẳng tới đâu. Con đang mỉm cười ở đằng kia kìa, nhưng sức lực của ta đã cạn kiệt rồi. Con đang mỉm cười, hẳn là con đang vui sướng lắm. Nhưng con thấy đấy, những ngón tay ta đã tê cóng, đôi tay ta đã mất hết sức lực, và ta không thể tự mình hoàn thành nó được nữa... tên gia nhân ngủ chung với ả sẽ thay ta làm nốt...
Rồi hắn lê những bước nặng nhọc hướng về phía tòa tháp nằm gần cổng thành. Trong khi đó, lũ chó đang đùa nghịch gần bức tường đá bỗng chồm lên chạy sà tới quấn quýt lấy hắn. Trong một con, Zygfried nhận ra con chó ngao vốn vô cùng quấn quýt với Diedrich đến mức người ta đồn trong lâu đài rằng nó thường được hắn dùng làm gối ôm đầu mỗi khi đêm về.
Con chó chào mừng lão bá tước, sủa khẽ một hai tiếng; rồi quay đầu hướng về phía cổng thành hành động hệt như thể nó đã thấu hiểu được suy nghĩ của hắn.
Chốc lát sau, Zygfried đã đứng trước cánh cửa nhỏ hẹp của tòa tháp, vốn thường được chốt chặn từ bên ngoài vào ban đêm. Gạt chốt cửa ra, hắn dùng chân quờ quạng tìm tay vịn cầu thang nằm ngay sát cửa và bắt đầu bước lên. Trong cơn lẩn thẩn, hắn đã quên mất chiếc đèn lồng; thế nên hắn cứ mò mẫm bước lên trong bóng tối, cẩn thận dò dẫm từng bước chân một.
Được dăm ba bậc, hắn đột nhiên khựng lại khi nghe thấy tiếng thở dốc của một con người hoặc con thú vang lên ngay gần sát bên dưới chân mình.
– Ai ở đó? – hắn cất tiếng hỏi.
Nhưng không một lời đáp lại, chỉ có tiếng thở dốc bỗng dồn dập hơn.
Zygfried vốn chẳng phải là kẻ nhát gan; hắn không hề sợ chết. Nhưng đêm kinh hoàng vừa qua đã vắt kiệt hoàn toàn lòng dũng cảm và sự tự chủ trong hắn. Trong đầu hắn chợt lóe lên ý nghĩ rằng Rotgier hoặc một ác quỷ nào đó đang chặn ngang đường đi, khiến tóc gáy hắn dựng đứng cả lên và trán đầm đìa mồ hôi lạnh.
Hắn lùi phắt lại sát tận ngưỡng cửa.
– Ai ở đó? – hắn gặng hỏi bằng một giọng nghẹn đắng.
Nhưng đúng lúc ấy, một vật gì đó giáng một cú trời giáng vào ngực hắn, mạnh đến mức lão già ngã ngửa ra sau qua cánh cửa và bất tỉnh nhân sự. Hắn thậm chí chẳng kịp rên lên một tiếng.
Sự tĩnh lặng lại bao trùm, rồi từ trong bóng tối, một bóng đen lén lút xuất hiện từ lối cầu thang rảo bước hướng về phía khu chuồng ngựa nằm phía bên trái khoảng sân gần kho vũ khí. Con chó ngao to lớn của Diedrich lầm lũi bước theo cái bóng ấy không một tiếng động. Con chó còn lại cũng lúp xúp chạy theo sau và biến mất trong bóng râm của bức tường, nhưng chỉ lát sau đã xuất hiện trở lại với cái mõm dán sát xuống mặt đất, hít hà như thể đang đánh hơi vết chân của con chó trước. Cứ thế, con chó tiến đến gần cái xác bất động không còn sự sống của Zygfried, nó cẩn thận hít hà, rồi chồm ngồi xuống sát phần đầu của lão và cất tiếng tru lên rợn ngợp.
Tiếng tru kéo dài hồi lâu, lấp đầy bầu không khí của đêm đen u ám bằng một thứ âm hưởng thê lương và kinh hoàng chưa từng thấy. Cuối cùng, cánh cửa nhỏ ẩn mình giữa cổng thành kẹt lên một tiếng và một tên lính gác tay cầm giáo mác xuất hiện ngoài sân.
– Tiên sư con chó này, – hắn cằn nhằn, – để tao dạy cho mày bài học vì tội tru tréo giữa đêm hôm khuya khoắt nhé.
Và hắn nhắm chuẩn phần đầu nhọn của ngọn giáo định đâm thẳng vào con vật, nhưng đúng lúc ấy, hắn bỗng nhận ra có một vật gì đó đang nằm sát bên cánh cửa nhỏ đang mở toang của pháo đài.
– Chúa tôi ơi! Cái gì thế này?...
Hắn cúi rạp người xuống để nhìn rõ khuôn mặt của kẻ đang nằm bất động, rồi bỗng buột miệng hét toáng lên:
– Cứu với! Cứu với! Cứu với!
Rồi hắn lao phắt về phía cổng thành, dùng hết sức bình sinh giật mạnh lấy sợi dây chuông.