Hiệp Sĩ Dòng Thánh Giá: Tiểu Thuyết Lịch Sử Krzyzacy

Lượt đọc: 68 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4

❊ ❊ ❊

Sau một đêm vừa dịu vừa sương mù, một ngày trời lộng gió và âm u lại đến. Có lúc bầu trời bừng sáng, có lúc lại bị che khuất bởi những đám mây tơi tả bị gió thổi bay đi như những bầy cừu. Mát-cô ra lệnh cho đoàn người nhổ trại từ rạng sáng. Người thợ đốt than, được thuê làm dẫn đường đi Bu-đa, khẳng định rằng ngựa có thể qua lại ở mọi nơi, nhưng còn xe cộ, lương thực và hành lý thì ở một số nơi sẽ phải tháo rời ra và khiêng đi từng phần, mà việc đó thì không thể làm mà không tốn nhiều công sức. Thế nhưng những con người đã quen với lao động nặng nhọc lại thích sự gian khổ hơn là ngồi ì trong quán trọ hoang vắng. Vì vậy, họ vui vẻ lên đường. Ngay cả Vít rụt rè cũng không hề sợ hãi trước những lời nói và vẻ ngoài của người thợ đốt than.

Họ rời quán trọ và lập tức bước vào giữa những hàng cây rừng thân cao, không có bụi rậm ở tầng dưới. Họ dắt theo ngựa và có thể đi qua mà không cần phải tháo rời xe. Thỉnh thoảng một cơn bão nổi lên, và có lúc nó mạnh đến mức bất thường, quất vào cành của những cây thông đang oằn mình như những chiếc cánh khổng lồ, uốn cong, vặn vẹo, rung chuyển và bẻ gãy chúng như thể bằng cánh quạt của một chiếc cối xay gió. Rừng cây oằn mình dưới sức mạnh của tự nhiên đang lồng lộn. Ngay cả trong những khoảng lặng giữa các đợt gió giật, nó vẫn không ngừng gầm rú và sấm sét, như thể đang tức giận vì sự nghỉ ngơi của họ ở quán trọ và cuộc hành quân ép buộc mà họ đã dâng thân thực hiện. Lại có lúc mây đen che khuất hoàn toàn ánh sáng ban ngày. Mưa như trút nước hòa lẫn với mưa đá đổ xuống ào ào, và trời tối sầm lại như lúc chạng vạng. Vít thở hổn hển, hét lên rằng “ác ma đang chực chờ làm điều ác và đang thực hiện nó rồi.” Nhưng chẳng ai thèm để ý đến lời cậu ta, thậm chí ngay cả A-nún-ca rụt rè cũng không để lời đó trong lòng, bởi vì chàng trai người Bô-hê-mi-a ở quá gần, đến mức bàn đạp ngựa của cô chạm vào bàn đạp của chàng, và chàng nhìn về phía trước với một vẻ mặt can đảm đến mức có lẽ chàng muốn thách thức cả ma quỷ.

Phía sau những rặng thông cao, nơi bụi rậm bắt đầu xuất hiện, các lùm cây trở nên không thể vượt qua. Ở đó, họ buộc phải tháo rời các cỗ xe ra từng phần; họ làm việc đó một cách khéo léo và nhanh chóng. Những người hầu lực lưỡng đã khiêng các bánh xe, trục xe, phần trước của xe, các kiện hàng và kho dự trữ trên vai. Con đường tồi tệ đó kéo dài khoảng ba dặm Anh. Tuy nhiên, họ cũng đến được Bu-đa vào lúc chạng vạng; ở đó, người thợ đốt than tiếp đón họ như khách quý, và được ông ta bảo đảm rằng dọc theo Thung lũng Quỷ, nói cho đúng hơn, họ có thể đến được thị trấn. Những con người này, cư dân của khu rừng không có lối mòn, hiếm khi thấy bánh mì hay bột mì, thế nhưng họ không hề bị đói. Bởi vì họ có dư dả đủ loại thịt xông khói, đặc biệt là lươn, loài vật có rất nhiều trong tất cả các đầm lầy và hũng bùn. Họ tiếp đãi đoàn người rất hào phóng, và đổi lại, họ chìa những bàn tay thèm thuồng ra để nhận bánh quy. Trong số họ có cả phụ nữ và trẻ em, tất cả đều đen nhẻm vì khói. Ở đó còn có một lão nông dân đã hơn một trăm tuổi, người còn nhớ rõ cuộc thảm sát Lê-en-xi-ca xảy ra vào năm 1331, và vụ thị trấn bị tàn phá hoàn toàn bởi “Các Hiệp sĩ Thánh Giá”. Mặc dù Mát-cô, chàng trai người Bô-hê-mi-a và hai thiếu nữ đã nghe câu chuyện từ vị bề trên tu viện Xi-ê-rát, nhưng họ vẫn chăm chú lắng nghe câu chuyện của cụ già đang ngồi bên đống lửa cời tro. Có vẻ như cụ tìm thấy trong đống tro tàn ấy những sự kiện của thời tuổi trẻ. Ở Lê-en-xi-ca cũng như ở Xi-ê-rát, chúng không tha cả nhà thờ lẫn giáo sĩ, và những con dao của kẻ chinh bão đã đẫm máu của người già, phụ nữ và trẻ em. Vẫn luôn là Các Hiệp sĩ Thánh Giá, những Hiệp sĩ Thánh Giá muôn đời! Tâm trí của Mát-cô và Gia-gi-en-ka cứ hướng hoài về Zi-bít-xô, người đang sống ngay trong hang hùm miệng sói, giữa một tập đoàn tàn nhẫn không biết đến sự thương xót hay luật lệ hiếu khách. Si-ê-ci-ê-kha cảm thấy chùng lòng, bởi vì cô sợ rằng cuộc săn lùng vị viện phụ của họ có thể dẫn họ vào giữa những Hiệp sĩ Thánh Giá khủng khiếp đó.

Nhưng cụ già, để chống lại ấn tượng bất lợi mà những câu chuyện gây ra cho phụ nữ, đã kể cho họ nghe về trận chiến gần Pơ-lôv-xê, trận chiến đã chấm dứt những cuộc cướp phá của Các Hiệp sĩ Thánh Giá, và trong đó cụ đã tham gia như một người lính trong lực lượng bộ binh do nông dân lập nên, được trang bị bằng một chiếc cày sắt. Trong trận chiến đó, gần như toàn bộ dòng tộc Gra-đy đã diệt vong; Mát-cô biết rõ mọi chi tiết về điều đó, tuy nhiên giờ đây ông vẫn lắng nghe như thể đó là lời kể về một thảm họa khủng khiếp mới do người Đức gây ra, khi mà giống như những cánh đồng lúa trước cơn bão, họ bị gặt phăng bởi gươm trong tay các hiệp sĩ Ba Lan và các lực lượng của Vua Lô-ki-ê-tek...

“Hà! Ta chợt nhớ ra,” cụ già nói, “khi chúng xâm lược xứ này, chúng đã thiêu rụi thị trấn và các lâu đài. Phải, chúng thậm chí còn tàn sát cả trẻ sơ sinh trong nôi, nhưng rồi cái kết khủng khiếp của chúng cũng đã đến. Này! Đó là một trận chiến tuyệt đẹp. Ta vẫn có thể nhìn thấy trận chiến đó ngay cả khi nhắm mắt lại...”

Cụ nhắm mắt lại và im lặng, nhẹ nhàng khua đống tro tàn cho đến khi

Gia-gi-en-ka, người không thể chờ đợi thêm được nữa, hỏi:

“Mọi chuyện thế nào ạ?”

“Thế nào ư?...” cụ già lặp lại. “Ta nhớ chiến trường ấy, có cảm giác như ta đang nhìn ngắm nó lúc này đây; có những bụi cây, và những khoảng gốc rạ ở bên phải. Nhưng sau trận chiến, chẳng thấy gì ngoài gươm, rìu, giáo mác và áo giáp đẹp đẽ nằm chồng lên nhau, như thể cả mảnh đất thiêng liêng này đều bị che phủ bởi chúng... Ta chưa từng thấy nhiều kẻ ngã xuống trong một đống như vậy, và nhiều máu người đổ đến thế...”

Trái tim Mát-cô được củng cố trở lại nhờ hồi ức về những sự kiện ấy, rồi ông nói:

“Đúng vậy. Chúa Giê-su nhân từ! Lúc bấy giờ chúng đã vây lấy vương quốc như một đám cháy lớn hay một trận dịch hứa. Không chỉ Xi-ê-rát và Lê-en-xi-ca, mà chúng còn phá hủy nhiều thị trấn khác. Thế còn bây giờ thì sao? Người của chúng ta há chẳng phải là hùng mạnh và bất khuất đó sao? Và mặc dù những tên anh em khốn kiếp đó, Các Hiệp sĩ Thánh Giá, đã bị trừng phạt đích đáng, nhưng nếu các ngươi không thể nghiền nát chúng thì chúng sẽ tấn công các ngươi và bẻ gãy răng các ngươi... Hãy nhìn xem, Vua Ca-zi-mi-ê-tô đã xây dựng lại Xi-ê-rát và Lê-en-xi-ca để giờ đây chúng còn tốt hơn bao giờ hết, thế nhưng các cuộc xâm lược vẫn diễn ra ở đó như xưa, và Các Hiệp sĩ Thánh Giá vẫn ngã gục và thối rữa ở đó hệt như tại trận chiến Pơ-lôv-xê. Nguyện Chúa luôn ban cho chúng một cái kết như vậy!”

Khi lão nông dân nghe những lời này, cụ gật đầu đồng tình; cuối cùng cụ nói:

“Có lẽ chúng không nằm đó mà thối rữa đâu. Bọn ta, những lính bộ binh, đã được nhà vua ra lệnh sau khi trận chiến kết thúc là phải đào hào; những người nông dân từ vùng lân cận đã đến giúp chúng ta làm việc đó. Chúng ta làm việc siêng năng đến nỗi những chiếc xẻng kêu cóng két. Sau đó, chúng ta đặt những tên Đức xuống hào và lấp đất lại cho cẩn thận, để tránh bệnh dịch. Nhưng chúng không ở yên trong đó.”

“Chuyện gì đã xảy ra? Tại sao chúng không ở yên trong đó?”

“Ta không tận mắt thấy, nhưng người ta kể lại rằng sau trận chiến, có một cơn bão dữ dội kéo dài khoảng mười hai tuần, nhưng chỉ xảy ra vào ban đêm. Mặt trời chiếu sáng vào ban ngày, nhưng ban đêm gió mạnh đến mức suýt thổi bay cả tóc trên đầu. Lũ quỷ, dày đặc như mây đen, kéo đến rất nhiều, cuồn cuộn như một trận cuồng phong; mỗi tên đều cầm một cái chĩa, và ngay khi chạm tới mặt đất, chúng liền cắm chĩa xuống đất và khiêng một tên Hiệp sĩ Thánh Giá xuống địa ngục. Tại Pơ-lôv-xê, người ta nghe thấy một thứ âm thanh hỗn độn của những tiếng người giống như tiếng hú của cả bầy chó, nhưng họ không hiểu tất cả những điều đó có nghĩa là gì, đó là tiếng kêu của lũ Đức đang hú lên vì kinh hoàng và đau đớn, hay là tiếng kêu sung sướng của lũ quỷ. Điều đó cứ tiếp diễn cho đến khi các chiến hào được linh mục làm phép, và mặt đất đông cứng lại, sao cho chẳng cần đến chĩa nữa.”

Sự im lặng bao trùm trong chốc lát, rồi cụ già nói thêm:

“Nhưng nguyện Chúa ban cho chúng, thưa Ngài Hiệp sĩ, một cái kết đúng như lời ngài nói, và mặc dù ta sẽ không sống để nhìn thấy ngày đó, nhưng những thiếu nữ trẻ tuổi như thế này sẽ được sống, song họ cũng sẽ chẳng thấy được những gì mắt ta đã từng chứng kiến.”

Rồi cụ quay đầu lại, lúc nhìn Gia-gi-en-ka, lúc nhìn Si-ê-ci-ê-kha, ngạc nhiên trước những gương mặt tuyệt trần của họ và lắc đầu.

“Giống như hoa anh túc giữa đồng lúa,” cụ nói. “Những gương mặt xinh đẹp nhường ấy ta chưa từng thấy bao giờ.”

Cứ thế, họ tán gẫu qua một khoảng thời gian trong đêm. Sau đó, họ đi ngủ trong những túp lều, nằm trên lớp rêu mềm như lông vũ và đắp những tấm áo choàng lông ấm áp; rồi sau một giấc ngủ sảng khoái, họ thức dậy vào sáng sớm và tiếp tục cuộc hành trình. Con đường dọc theo thung lũng không phải là một lối đi dễ dàng, nhưng đó không phải là một con đường quá tồi tệ. Nhờ vậy mà trước khi mặt trời lặn, họ đã nhìn thấy lâu đài Lê-en-xi-ca. Thành phố đã vươn lên từ tro tàn, nó đã được xây dựng lại; một phần được xây bằng gạch và một phần bằng đá, tường thành cao, các tháp canh được trang bị vũ khí. Các nhà thờ thậm chí còn lớn hơn cả những nhà thờ ở Xi-ê-rát. Ở đó, họ không gặp khó khăn gì trong việc thu thập thông tin từ các tu sĩ dòng Đa-minh về vị viện phụ. Ngài đang ở đó, ngài nói rằng ngài cảm thấy khỏe hơn và hy vọng sẽ hồi phục hoàn toàn sức khỏe; và mới chỉ vài ngày trước, ngài đã khởi hành đi tiếp. Mát-cô không có ý định đuổi theo ngài trên đường, nên ông đã chuẩn bị sẵn phương tiện di chuyển cho hai thiếu nữ đến Pờ-lúc, nơi mà chính vị viện phụ sẽ đưa họ tới. Nhưng Mát-cô rất lo lắng về Zi-bít-xô, và những tin tức khác làm ông thêm phiền muộn. Các con sông đã dâng nước sau sự khởi hành của vị viện phụ, và việc tiếp tục hành trình là bất khả thi. Thấy vị hiệp sĩ đi cùng một tùy tùng đông đảo và đang tiến về triều đình của Hoàng tử Zi-ê-mô-vít, các tu sĩ Đa-minh đã ngỏ ý mời ông ở lại trọ; họ thậm chí còn chuẩn bị cho ông một tấm bảng bằng gỗ ô-liu trên đó có khắc một lời cầu nguyện bằng tiếng Latinh gửi thiên thần Ra-pha-en, vị thánh bổn mạng của những người lữ hành.

Thời gian lưu lại bắt buộc của họ ở Lê-en-xi-ca kéo dài nửa tháng, trong khoảng thời gian đó, một người hầu của lâu đài đã phát hiện ra rằng hai tiểu đồng trẻ tuổi đi theo vị hiệp sĩ thực chất là phụ nữ giả trang, và ngay lập tức đem lòng yêu sâu sắc Gia-gi-en-ka. Chàng trai người Bô-hê-mi-a định khiêu chiến với kẻ đó ngay lập tức, nhưng vì sự việc xảy ra vào đêm trước ngày họ khởi hành nên Mát-cô đã cản cậu ta lại không thực hiện bước đi đó.

Khi họ tiến về phía Pờ-lúc, gió đã làm khô bớt con đường, và mặc dù trời vẫn mưa thường xuyên, nhưng lượng mưa, như thường lệ vào mùa xuân, gồm những hạt lớn nhưng ấm áp và kéo dài trong thời gian ngắn. Những luống cày trên đồng lấp lánh nước. Mùi hương ẩm ướt, ngọt ngào từ những cánh đồng canh tác được làn gió mạnh thổi bay đi. Các đầm lầy được phủ đầy hoa cúc dại và hoa vio-lét nở rộ trong rừng, những chú cào cào rộn rã kêu râm ran giữa các cành cây. Trái tim của những lữ khách cũng tràn ngập hy vọng và khát khao mới, nhất là khi giờ đây họ đang tiến triển thuận lợi. Sau mười sáu ngày di chuyển, họ đã đến cổng thành Pờ-lúc.

Nhưng họ đến vào ban đêm, khi các cổng thành đã đóng. Họ buộc phải qua đêm tại nhà một thợ dệt bên ngoài tường thành.

Các thiếu nữ đi ngủ muộn, và sau sự mệt mỏi của chặng đường dài, họ chìm vào giấc ngủ say, nhưng Mát-cô, người không bị sự mệt mỏi làm phiền, đã thức dậy sớm; ông không muốn đánh thức họ và tự mình bước vào thị trấn khi các cổng thành vừa mở. Ông tìm thấy nhà thờ lớn và dinh thự của giám mục mà không gặp khó khăn gì. Ở đó, ông được thông báo rằng vị viện phụ đã qua đời cách đây một tuần, nhưng theo phong tục thịnh hành, họ đã cử hành thánh lễ trước cỗ quan tài từ ngày thứ sáu, và lễ tang sẽ diễn ra vào đúng ngày Mát-cô đến, sau đó sẽ là nghi lễ cầu hồn và vinh danh cuối cùng để tưởng nhớ người quá cố.

Do nỗi buồn quá lớn, Mát-cô thậm chí còn không thèm ngó ngàng xung quanh thị trấn, nhưng ông đã biết đôi chút từ hồi qua thành phố này với bức thư của công nương A-léc-xan-đra gửi Đại Thư ký. Ông quay trở lại nhà người thợ dệt nhanh nhất có thể, và trên đường về nhà, ông tự nhủ:

“Hà! Ông ấy đã chết. Nguyện cho linh hồn ông được bình yên vĩnh hằng. Chẳng có gì trên thế gian này có thể cứu vãn được. Nhưng bây giờ ta phải làm gì với mấy cô gái đây?”

Rồi ông suy nghĩ xem có tốt hơn không nếu để họ lại với công nương A-léc-xan-đra, hay với công nương An-na Đa-nu-ta, hoặc đưa họ đến Xpai-kốp. Ông chợt nghĩ không chỉ một lần rằng, nếu Đa-nút-ska đã chết, thì việc để Gia-gi-en-ka ở gần Zi-bít-xô tại Xpai-kốp là điều nên làm, vì Zi-bít-xô, kẻ yêu Đa-nút-ska hơn mọi thứ trên đời, sẽ vô cùng đau buồn trước sự ra đi của người mình yêu. Ông cũng chắc chắn rằng sự hiện diện của Gia-gi-en-ka bên cạnh Zi-bít-xô sẽ mang lại hiệu quả mong muốn. Ông cũng nhớ ra rằng Zi-bít-xô thời niên thiếu, mặc dù trái tim hướng về những khu rừng ở Ma-zốp-xê, vẫn luôn khao khát Gia-gi-en-ka. Vì những lý do này, và hoàn toàn tin rằng Đa-nút-xô đã mất tích, ông thường nghĩ rằng trong trường hợp vị viện phụ qua đời, ông sẽ không gửi Gia-gi-en-ka đi bất cứ nơi nào khác; nhưng vì ông rất ham muốn tậu ruộng đất tài sản, nên ông lại lo lắng về tài sản của vị viện phụ. Chắc chắn là vị viện phụ đã không hài lòng với họ và từng hứa không để lại gì cho họ; nhưng sau đó hẳn ngài đã cảm thấy hối hận và trước khi chết đã để lại chút gì đó cho Gia-gi-en-ka. Ông chắc chắn rằng vị viện phụ đã để lại cho cô thứ gì đó, bởi vì ngài thường xuyên nhắc đến điều đó tại Zgô-rơ-lê-li-xê, và ngài sẽ không bỏ qua Zi-bít-xô vì lợi ích của Gia-gi-en-ka. Mát-cô cũng nghĩ đến việc ở lại Pờ-lúc một thời gian để điều tra về di chúc và giải quyết vấn đề, nhưng những ý nghĩ khác lại xẹt qua tâm trí ông, và ông tự nhủ: “Lẽ nào ta lại tiếp tục ở đây lo chuyện tài sản, trong khi đứa con trai của ta ngoài kia đang giơ tay chờ đợi sự giúp đỡ của ta từ một ngục tối của Hiệp sĩ Thánh Giá nào đó?”

Thực ra, chỉ có một con đường duy nhất, đó là: để Gia-gi-en-ka dưới sự chăm sóc của công nương và giám mục, đồng thời cầu xin họ trông nom quyền lợi cho cô. Nhưng kế hoạch đó không làm Mát-cô hài lòng. Cô gái đã có sẵn một gia tài kha khá cho riêng mình, và khi điền trang của cô được gia tăng bởi những gì vị viện phụ để lại, thì chắc như đinh đóng cột là sẽ có một tên người Ma-zơ nào đó hốt mất cô, bởi vì cô không thể chống cự lâu hơn được nữa. Zích, người cha quá cố của cô, từng nói về cô rằng ngay từ lúc ấy cô đã gặp nguy hiểm[112] rồi. Trong trường hợp đó, lão hiệp sĩ nghĩ rằng cả Đa-nút-xô lẫn Gia-gi-en-ka đều có thể rời bỏ Zi-bít-xô. Điều đó tất nhiên là không thể chấp nhận được.

Ông sẽ lấy một trong hai người, tùy theo sự định đoạt của Chúa. Cuối cùng, kế hoạch giải cứu Zi-bít-xô được ông ưu tiên hơn những kế hoạch khác; và đối với Gia-gi-en-ka, ông quyết định hoặc sẽ để cô dưới sự chăm sóc của Công nương Đa-nu-ta, hoặc tại Xpai-kốp, chứ nhất định không để ở triều đình Pờ-lúc nơi có quá nhiều sự xa hoa lộng lẫy và đầy rẫy những hiệp sĩ bảnh bao.

Chịu đựng sức nặng của những suy nghĩ này, ông bước nhanh về chỗ ở của người thợ dệt để thông báo cho Gia-gi-en-ka về cái chết của vị viện phụ. Ông quyết định không báo tin dữ cho cô một cách đường đột, vì điều đó có thể gây nguy hiểm lớn cho sức khỏe của cô. Khi ông về đến nơi, cả hai tiểu thư đều đã ăn mặc chỉnh tề và trông vui tươi như những chú chim; ông ngồi xuống và ra lệnh cho người hầu mang cho mình một vại bia nâu; sau đó ông ra vẻ ủ rũ và nói:

“Các cô có nghe tiếng chuông nhà thờ đổ trong thị trấn không? Hãy đoán xem tại sao người ta lại gióng chuông, vì hôm nay đâu phải Chủ Nhật, và các cô đã ngủ quên trong giờ kinh sáng. Các cô có muốn gặp vị viện phụ không?”

“Chắc chắn rồi! Hỏi câu gì lạ vậy?” Gia-gi-en-ka đáp.

“Ừm, các cô sẽ được gặp ngài giống như nhà vua thấy Cvi-êk vậy.”[113]

“Ngài rời thành phố rồi ạ?”

“Rời đi rồi, nhưng các cô không nghe tiếng chuông đang đổ đó sao?”

“Ngài mất rồi ư?” Gia-gi-en-ka thốt lên.

“Đúng thế! Hãy nói ‘Xin Chúa thương xót linh hồn ngài’ đi...”

Cả hai thiếu nữ liền quỳ xuống và cất tiếng hát vang: “Xin Chúa thương xót linh hồn ngài,” bằng chất giọng trong trẻo như chuông. Rồi những giọt nước mắt tuôn rơi trên má Gia-gi-en-ka, bởi vì cô rất quý mến vị viện phụ, dù ngài có tính khí bạo ngược nhưng chưa từng làm hại ai mà chỉ làm nhiều việc tốt; ngài đặc biệt yêu thương Gia-gi-en-ka, vì ngài là cha đỡ đầu của cô, ngài thương cô như con ruột của mình. Mát-cô nhớ ra rằng vị viện phụ có họ hàng với ông và Zi-bít-xô; ông cũng vô cùng xúc động đến rơi nước mắt và thậm chí còn khóc. Sau khi nỗi buồn vơi đi đôi chút, ông dẫn các thiếu nữ cùng chàng trai người Bô-hê-mi-a đi theo mình đến dự lễ tang trong nhà thờ.

Đó là một đám tang vô cùng tráng lệ. Chính đức giám mục, Gia-cốp xứ Kua-đvê-nô, là người chủ trì. Tất cả các linh mục và tu sĩ của giáo phận Pờ-lúc đều có mặt, tất cả chuông đều đổ ngân nga, và những lời cầu nguyện được vang lên mà không ai khác ngoài hàng giáo sĩ hiểu được, bởi vì chúng được đọc bằng tiếng Latinh. Sau đó, giáo sĩ và giáo dân cùng tiến về cung điện của giám mục để dự tiệc.

Mát-cô và hai cô gái của ông (giả trang thành con trai) cũng đến dự tiệc; với tư cách là họ hàng của người quá cố và là người được giám mục quen biết, ông hoàn toàn có tư cách để hiện diện. Vị giám mục cũng sẵn sàng tiếp đón ông với tư cách đó, nhưng ngay sau lời mời, ngài nói với Mát-cô:

“Ở đây có di tặng về một số khu rừng cho dòng tộc Gra-đy xứ Bô-gơ-da-ni-e-tê. Phần còn lại ngài không để lại cho tu viện và nhà dòng, mà dành cho con gái đỡ đầu của ngài, một thiếu nữ tên là Gia-gi-en-ka xứ Zgô-rơ-lê-li-xê.”

Mát-cô, vốn không mong đợi nhiều, cảm thấy vô cùng vui mừng vì những mảnh rừng đó. Vị giám mục không để ý rằng một trong số các thanh niên đi theo lão hiệp sĩ, khi nghe nhắc đến tên Gia-gi-en-ka xứ Zgô-rơ-lê-li-xê, đã ngước đôi mắt đẫm lệ lên và nói:

“Xin Chúa ban phước cho ngài ấy, nhưng tôi ước gì ngài ấy còn sống.”

Mát-cô quay lại và giận dữ quát:

“Câm miệng ngay, bằng không ngươi sẽ tự làm nhục chính mình đấy.”

Nhưng ông bỗng khựng lại, đôi mắt ánh lên vẻ kinh ngạc, rồi khuôn mặt ông trở nên dữ tợn như loài sói khi ở đằng xa, đối diện với cánh cửa mà công nương A-léc-xan-đra vừa bước qua, ông nhìn thấy bóng dáng của Cu-nô xứ Lin-chen-xta-in trong bộ y phục triều đình – chính là kẻ mà Zi-bít-xô suýt mất mạng dưới tay tại Cra-cốp.

Gia-gi-en-ka chưa từng thấy Mát-cô trong trạng thái như thế. Gương mặt ông co rút lại như hàm của một con chó dữ, đôi hàm răng nhe ra dưới bộ ria mép, và chỉ trong khoảnh khắc, ông siết chặt dây nịt rồi lao về phía tên Hiệp sĩ Thánh Giá đáng ghét.

Nhưng khi đi đến khoảng giữa đường, ông chợt khựng lại và đưa những bàn tay thô ráp vuốt mái tóc mình; ông kịp thời suy nghĩ rằng Lin-chen-xta-in có thể chỉ là khách quý tại triều đình Pờ-lúc, hoặc là một sứ thần, do đó nếu ông tấn công hắn mà không có lý do rõ ràng, thì điều từng xảy ra với Zi-bít-xô trên đường từ Ti-ni-e đến Cra-cốp rất có thể sẽ lặp lại ở đây.

Vì vậy, với sự lý trí hơn Zi-bít-xô, ông kìm chế bản thân, chỉnh lại thắt lưng về vị trí cũ, thả lỏng các cơ mặt và chờ đợi; và khi công nương, sau khi chào hỏi Lin-chen-xta-in, bắt đầu trò chuyện với giám mục, Mát-cô liền tiến lại gần và cúi đầu thật sâu. Ông nhắc cho bà nhớ mình là ai và rằng ông từng có thời gian phục vụ vị ân nhân của mình với tư cách là người đưa thư.

Công nương thoạt đầu không nhận ra ông, nhưng bà nhớ đến những bức thư và toàn bộ câu chuyện. Bà cũng biết rõ những sự kiện diễn ra ở triều đình Ma-zô-vía lân cận. Bà từng nghe nói về Giu-ran, về việc con gái ông bị bắt cóc, về cuộc hôn nhân của Zi-bít-xô, và về trận chiến sinh tử của chàng với Rôt-gi-ê. Những điều này thu hút sự quan tâm lớn của bà, đến mức bà cảm thấy nó giống như một trong những câu chuyện hiệp sĩ giang hồ hay một trong những khúc ca của các minh-xtơ-ren ở Đức, và những lời ca của các ri-ban-tờ ở Ma-zô-vê. Quả thực, Các Hiệp sĩ Thánh Giá không hề thù địch với bà như đối với công nương An-na Đa-nu-ta, vợ của Hoàng tử Da-nu-sê, nhất là vì họ muốn lôi kéo bà về phe mình, họ thi nhau tỏ lòng tôn kính, nịnh bợ bà và ngập tràn những món quà hậu hhĩnh; nhưng trong trường hợp này, trái tim bà đập vì người sủng thần của mình, người mà bà sẵn sàng giúp đỡ; trên hết, bà vui mừng vì trước mặt mình có một người có thể cung cấp cho bà một bản tường thuật chính xác về các sự kiện.

Nhưng Mát-cô, người đã hạ quyết tâm dùng mọi biện pháp có thể để có được sự bảo trợ và ảnh hưởng vương giả, thấy bà đang chăm chú lắng nghe, liền kể cho bà nghe về vận rủi của Zi-bít-xô và Đa-nút-xô. Câu chuyện làm dâng trào những giọt nước mắt trong đôi mắt công nương, đặc biệt khi bà cảm nhận sâu sắc hơn bất cứ ai nỗi bất hạnh của người cháu gái, và bằng cả tâm hồn, bà vô cùng thương xót cho cô.

“Ta chưa từng nghe câu chuyện nào bi thảm hơn,” công nương cuối cùng lên tiếng, “điều khiến ta đau lòng nhất là chúng đã thành hôn, rằng cô ấy đã là vợ của chàng, vậy mà chàng chẳng hề biết đến hạnh phúc. Tuy nhiên, ngươi có chắc là chàng đã thực sự biết đến cô ấy không?”

“Hỡi Chúa toàn năng!” Mát-cô thốt lên. “Nếu nói là biết, thì ngài ấy đang nằm liệt giường khi làm lễ cưới vào buổi tối, và sáng hôm sau cô ấy đã bị bắt đi mất.”

“Và ngươi có nghĩ rằng Các Hiệp sĩ Thánh Giá đã làm việc đó không? Người ta đồn ở đây rằng những kẻ thực hiện thực ra là bọn cướp, và Các Hiệp sĩ Thánh Giá đã giải cứu cô ấy, nhưng hóa ra đó lại là một cô gái khác. Họ cũng bàn tán về một bức thư do Giu-ran viết...”

“Công lý con người không phán quyết điều đó, mà là công lý của Chúa. Đó là một sự kiện lớn lao, khi hiệp sĩ Rôt-gi-ê kẻ chiến thắng những người mạnh nhất lại phải ngã gục dưới tay của một đứa trẻ gần như chưa trưởng thành.”

“Chà, một đứa trẻ xuất sắc nhỉ,” công nương mỉm cười nói, “sự dũng cảm của chàng chính là lá chắn bảo vệ trong những chuyến hành trình. Thật là một nỗi bất công, phải, những lời phàn nàn của ngươi là chính đáng, nhưng ba trong số bốn đối thủ đó đã chết, và kẻ già cả còn lại theo thông tin ta nhận được cũng suýt mất mạng.”

“Còn Đa-nút-ska thì sao? Còn Giu-ran thì sao?” Mát-cô đáp. “Họ đang ở đâu? Chỉ Chúa mới biết liệu có điều gì tồi tệ xảy ra với Zi-bít-xô, kẻ đang trên đường đến Mác-bôc hay không.”

“Ta biết, nhưng Các Hiệp sĩ Thánh Giá không phải là loại chó má cùng đường như ngươi nghĩ đâu. Ở Mác-bôc sẽ không có tai họa nào giáng xuống cháu ngươi, khi mà cậu ấy ở bên cạnh Đại Thư ký và người anh trai U-rích, một hiệp sĩ đáng kính. Cháu ngươi chắc chắn được trang bị những bức thư từ Hoàng tử Da-nu-sê. Trừ phi khi ở đó cậu ấy thách đấu một hiệp sĩ nào đó và bị hạ gục. Tại Mác-bôc lúc nào cũng có rất nhiều hiệp sĩ dũng mãnh nhất từ khắp nơi trên thế giới.”

“Ôi! Cháu tôi không sợ bọn chúng lắm đâu,” lão hiệp sĩ nói. “Chỉ cần chúng không ném nó vào ngục tối hay sát hại nó một cách ti tiện, miễn là trong tay nó còn một thứ vũ khí bằng sắt thì nó chẳng sợ đứa nào. Chỉ có một lần nó đối mặt với một kẻ mạnh hơn mình, nhưng nó đã đánh gục kẻ đó ngay trên võ đài, và đó chính là Hoàng tử Hên-rích người Ma-zô-vía, cựu giám mục ở đây, kẻ đem lòng say đắm nàng Rin-ga-la xinh đẹp. Nhưng khi đó Zi-bít-xô vẫn chỉ là một thiếu niên. Vì lý do này, chắc chắn như lời Amen trong lời cầu nguyện, nó sẽ là kẻ duy nhất thách đấu tên này – kẻ mà ta cũng đã thề sẽ thách đấu và đang có mặt ở đây.”

Nói xong, ôngếc nhìn về hướng Lin-chen-xta-in, kẻ đang trò chuyện với tổng trấn (Va-vót) của Pờ-lúc.

Nhưng công nương cau mày và nói bằng giọng nghiêm khắc, lạnh lùng, như bà vẫn thường làm mỗi khi nổi giận:

“Dù ngươi có thề thốt thế nào đi nữa, ngươi cũng phải nhớ rằng hắn là khách của chúng ta, và bất cứ ai muốn làm khách của chúng ta thì đều phải giữ phép tắc.”

“Tôi biết, thưa ngài công nương vô cùng nhân từ,” Mát-cô đáp. “Chính vì thế nên khi tôi chỉnh lại thắt lưng và tiến đến gặp hắn, tôi đã kìm chế bản thân và nghĩ đến sự vâng lời.”

“Hắn sẽ tuân theo. Hắn có trọng lượng trong hàng ngũ của mình, ngay cả Đại Thư ký cũng dựa vào lời khuyên của hắn và chẳng có gì bị từ chối hắn cả. Nguyện Chúa phù hộ để cháu ngươi không chạm trán hắn ở Mác-bôc, nhất là khi Lin-chen-xta-in là kẻ kiên quyết và vô cùng thù hằn.”

“Hắn không dễ gì nhận ra tôi vì hắn đâu có gặp tôi nhiều. Chúng tôi đều đội mũ sắt khi ở Ti-ni-e, sau đó tôi chỉ đến gặp hắn đúng một lần vì vụ việc của Zi-bít-xô và đó là vào buổi tối. Vừa rồi tôi thấy hắn nhìn mình, nhưng khi thấy tôi đang bận trò chuyện dài dòng với Điện Hạ, hắn liền quay mắt đi hướng khác. Hắn có thể nhận ra Zi-bít-xô, nhưng hắn chỉ nhìn tôi và rất có thể hắn chưa nghe gì về lời thề của tôi, và hắn còn phải bận tâm đến những lời thách đấu quan trọng hơn.”

“Là sao?”

“Bởi vì rất có thể có những hiệp sĩ quyền lực khác đã thách đấu hắn, chẳng hạn như Za-vi-sxa xứ Gar-bôv, Pô-va-la xứ Ta-chêv, Ma-r-xin xứ Vrô-chi-mô-vi-ce, Pa-chê-kô Zlô-dzi-ê, và Lis xứ Tar-gô-vi-xô-kô. Bất kỳ ai trong số đó, thưa ngài công nương, và mười kẻ giống như vậy nữa. Càng như thế thì càng nguy hiểm cho hắn. Thà không sinh ra trên đời còn hơn là để một trong những thanh kiếm đó treo lơ lửng trên đầu. Tôi không chỉ cố gắng quên đi lời thách đấu, mà còn quyết định tìm cách đi cùng hắn.”

“Tại sao?”

Khuôn mặt Mát-cô hiện lên một vẻ gian xảo như loài cáo.

“Để hắn có thể cấp cho tôi giấy thông hành đi qua vùng đất thuộc quyền sở hữu của Các Hiệp sĩ Thánh Giá, điều đó sẽ giúp tôi có thể ra tay cứu giúp Zi-bít-xô trong trường hợp cần thiết.”

“Hành động như vậy mà cũng đáng được ca ngợi sao?” công nương mỉm cười hỏi.

“Có chứ! Rất đáng đấy chứ,” Mát-cô đáp. “Ví dụ, nếu vào thời chiến mà tôi tấn công hắn từ phía sau mà không báo trước để hắn đối mặt với tôi thì tôi sẽ tự chuốc lấy ô nhục; nhưng vào thời bình, nếu người ta treo cổ kẻ thù lên móc thì chẳng hiệp sĩ nào phải chịu điều tiếng vì hành động đó cả.”

“Vậy ta sẽ giới thiệu ngươi,” công nương đáp. Bà ra hiệu gọi

Lin-chen-xta-in đến và giới thiệu Mát-cô; bà cho rằng ngay cả khi

Lin-chen-xta-in có nhận ra Mát-cô thì cũng chẳng có chuyện gì nghiêm trọng xảy ra.

Nhưng Lin-chen-xta-in đã không nhận ra ông, bởi vì khi hắn nhìn thấy ông ở

Ti-ni-e thì ông đang đội mũ sắt, và sau đó hắn chỉ nói chuyện với Mát-cô đúng

một lần vào buổi tối, khi Mát-cô nài nỉ hắn tha thứ cho

Zi-bít-xô.

Tuy nhiên hắn vẫn cúi đầu kiêu ngạo, nhất là khi nhìn thấy hai

thiếu niên ăn vận vô cùng tinh tế, hắn nghĩ rằng họ không phải người của Mát-cô, nét mặt hắn sáng lên một chút và hắn mang cái vẻ bề trên hống hách như mọi khi vẫn thế khi nói chuyện với những kẻ hạ phong.

Rồi công nương chỉ vào Mát-cô và nói: “Vị hiệp sĩ này đang trên đường đến Mác-bôc. Ta đã viết thư giới thiệu ông ấy với Đại Thư ký, nhưng ông ấy nghe nói về tầm ảnh hưởng to lớn của ngài trong Dòng tu; ông ấy cũng muốn có một vài dòng từ ngài.”

Nói xong, bà đi về phía giám mục, trong khi Lin-chen-xta-in dán đôi mắt lạnh lẽo như thép vào Mát-cô và hỏi:

“Động lực nào đưa ngài, thưa ngài, đến thăm thủ đô sùng đạo và trang nghiêm của chúng tôi?”

“Một động lực ngay thẳng và thành kính,” Mát-cô đáp, nhìn thẳng vào Lin-chen-xta-in. “Nếu không phải vậy thì đức công nương nhân từ đã chẳng bảo lãnh cho tôi. Nhưng ngoài những lời thề nguyện tôn sùng, tôi cũng muốn diện kiến Đại Thư ký của các ngài, người mang lại hòa bình cho đất nước và là hiệp sĩ nổi tiếng nhất thế giới.”

“Những ai được công nương nhân từ và phúc đức của ngài giới thiệu sẽ không phải phàn nàn về sự hiếu khách nghèo nàn của chúng tôi. Dù vậy, xét về mong muốn diện kiến Đại Thư ký của ngài thì đó không phải là chuyện dễ dàng. Khoảng một tháng trước, ngài đã rời đi Đan-zích, từ đó ngài sẽ đi Cơn-ni-xơ-bớc, và từ nơi đó tiến thẳng ra biên giới, nơi mà mặc dù là một người yêu chuộng hòa bình, ngài vẫn buộc phải bảo vệ tài sản của Dòng tu trước sự hung hăng của kẻ phản trắc Vi-tôn.”

Nghe vậy, Mát-cô tỏ vẻ vô cùng đau buồn, khiến Lin-chen-xta-in nhận thấy và liền nói:

“Ta thấy ngài khao khát gặp Đại Thư ký chẳng kém gì việc thực hiện các lời thề tôn giáo của mình nhỉ.”

“Phải! Tôi rất muốn, rất muốn,” Mát-cô đáp. “Cuộc chiến chống lại Vi-tôn là chuyện chắc chắn rồi chứ?”

“Chính hắn là kẻ khơi mào; hắn đã thề sẽ giúp đỡ đám phiến quân.”

Sự im lặng bao trùm trong chốc lát.

“Hà! Nguyện Chúa phù hộ cho Dòng tu theo đúng những gì họ xứng đáng!” Mát-cô nói. “Xem ra tôi không thể diện kiến Đại Thư ký được rồi; vậy xin cho tôi ít ra được hoàn thành tâm nguyện thề nguyền của mình.”

Nhưng bất chấp những lời đó, ông vẫn không biết phải làm gì, và với nỗi buồn sâu sắc, ông tự hỏi:

“Ta phải tìm Zi-bít-xô ở đâu, và tìm cậu ấy nơi nào đây?”

Thật dễ đoán trước rằng nếu Đại Thư ký đã rời Mác-bôc và đi đánh trận thì việc tìm kiếm Zi-bít-xô ở đó là vô ích. Dù thế nào đi nữa, điều cần thiết là phải thu thập được thông tin chính xác nhất về nơi ở của chàng. Lão Mát-cô vô cùng lo lắng về điều đó, nhưng ông là một người tháo vát, và ông quyết định không lãng phí thời gian, sẽ tiếp tục hành trình vào sáng hôm sau. Nhờ có bức thư của Lin-chen-xta-in với sự hỗ trợ của Công nương A-léc-xan-đra – người mà quan cai quản vô cùng tin tưởng – việc có được điều đó không phải là một nhiệm vụ khó khăn. Do đó, ông đã nhận được giấy giới thiệu gửi tới quan Tổng trấn Brô-đơ-nít, và tới Đại Bệnh viện trưởng của Mác-bôc, để đổi lại ông đã tặng Lin-chen-xta-in một chiếc cốc bạc – một báu vật kiếm được ở Brê-xla-vê, giống như thứ mà các hiệp sĩ thường đặt cạnh giường ngủ của họ, bên trong chứa đầy rượu vang để trong trường hợp mất ngủ họ có thể có sẵn một liều thuốc ngủ đồng thời mang lại sự sảng khoái. Hành động hào phóng này của Mát-cô có phần làm ngạc nhiên chàng trai người Bô-hê-mi-a, kẻ thừa biết lão hiệp sĩ không hề thích vung tay ban phát quà cáp cho bất kỳ ai, nhất là cho người Đức, nhưng Mát-cô đã nói:

“Ta làm vậy vì ta đã thề, và phải chiến đấu với hắn, nhưng ta không đời nào lại hành xử như thế với kẻ đã làm ơn cho mình. Lấy oán báo ân không phải là phong tục của chúng ta.”

“Nhưng một chiếc cốc lộng lẫy nhường ấy! Thật là tiếc,” chàng trai người Bô-hê-mi-a đáp, có vẻ bực bội.

“Đừng sợ. Ta chẳng làm gì mà không tính toán trước cả,” Mát-cô nói; “vì nếu Chúa phù hộ cho ta đánh gục (tiêu diệt) được tên Đức đó, ta không chỉ lấy lại được chiếc cốc, mà còn thu về vô số thứ tốt đẹp khác cùng với nó.”

Sau đó, họ, bao gồm cả Gia-gi-en-ka, bắt đầu bàn bạc với nhau về bước đi tiếp theo. Mát-cô nghĩ đến việc để Gia-gi-en-ka và Si-ê-ci-ê-kha lại với Công nương A-léc-xan-đra ở Pờ-lúc, do di chúc của vị viện phụ đang nằm trong tay giám mục. Nhưng Gia-gi-en-ka kịch liệt phản đối điều đó; cô thậm chí còn quyết tâm tự mình đi tiếp; chẳng có lý do gì phải cần một căn phòng riêng để ngủ đêm, chẳng cần phải giữ phép lịch sự hay sự an toàn, cùng nhiều lý do khác nữa. “Chắc chắn là tôi không rời Zgô-rơ-lê-li-xê để đến Pờ-lúc làm bù nhìn. Bản di chúc đang ở chỗ giám mục và không thể bị thất lạc, còn về phần họ, khi thấy cần phải ở lại trên đường đi, thì việc ở lại dưới sự chăm sóc của Công nương An-na sẽ có lợi hơn nhiều so với Công nương A-léc-xan-đra, bởi vì ở triều đình của vị trước, Các Hiệp sĩ Thánh Giá không phải là những vị khách thường xuyên lui tới, và Zi-bít-xô được trân trọng hơn ở đó.” Về điểm này, Mát-cô thực lòng nhận xét rằng phụ nữ vốn không có lý trí, và một cô gái thì không thích hợp để “ra lệnh” như thể mình khôn ngoan lắm vậy. Dù vậy, ông vẫn không kiên quyết phản đối nữa và hoàn toàn dịu giọng khi Gia-gi-en-ka kéo ông ra một góc và đẫm lệ nói:

“Ngài biết mà!... Chúa thấu tỏ lòng con, rằng mỗi sáng tối con đều cầu nguyện cho vị tiểu thư đó, chị Đa-nút-ska, và cho sự bình an của Zi-bít-xô. Chúa trên trời là Đấng tường tận nhất. Nhưng ngài và Hla-va đã nói rằng chị ấy đã thiệt mạng rồi, rằng chị ấy sẽ không bao giờ thoát khỏi tay Các Hiệp sĩ Thánh Giá mà còn sống. Thế nên nếu mọi chuyện đã là như vậy, thì con...”

Đến đây cô có chút ngập ngừng, nước mắt tuôn rơi trên má và cô nghẹn ngào im bặt.

“Thì con muốn được ở gần Zi-bít-xô...”

Mát-cô vô cùng xúc động trước những giọt nước mắt và lời nói đó, nhưng ông vẫn đáp:

“Nếu Đa-nút-xô đã mất tích, Zi-bít-xô sẽ đau khổ đến mức chẳng còn tâm trí đâu mà quan tâm đến ai khác nữa.”

“Con không cần ngài ấy quan tâm đến con, con chỉ muốn được ở gần ngài ấy thôi.”

“Cô biết thừa là bản thân tôi cũng muốn ở cạnh nó chẳng kém gì cô. Nhưng trước hết nó sẽ chẳng mảy may để ý đến cô đâu.”

“Cứ để ngài ấy không để ý đi. Nhưng ngài ấy sẽ nhận ra thôi,” cô mỉm cười đáp, “vì ngài ấy sẽ không biết đó là con đâu.”

“Nó sẽ nhận ra cô đấy.”

“Ngài ấy không nhận ra con đâu. Ngài còn chẳng nhận ra con cơ mà. Ngài sẽ nói với ngài ấy rằng đó không phải là con mà là Gia-xơ, và Gia-xơ thì y hệt như con. Ngài sẽ nói với ngài ấy rằng con đã lớn và ngài ấy sẽ chẳng bao giờ ngờ được đó lại là ai khác ngoài Gia-xơ...”

Rồi lão hiệp sĩ nhớ đến hình ảnh ai đó quỳ gối trước mặt mình và kẻ quỳ đó trông y như một thiếu niên; khi đó thì chẳng có hại gì cả, nhất là khi Gia-xơ thực sự có gương mặt y hệt như thế, và mái tóc sau lần cắt cuối cùng nay đã mọc dài trở lại, được cô búi trong một chiếc lưới y như những nam thanh niên quý tộc khác. Vì lý do này mà Mát-cô đành nhượng bộ, và cuộc trò chuyện chuyển sang những vấn đề liên quan đến hành trình. Họ sẽ xuất phát vào ngày hôm sau. Mát-cô quyết định tiến vào vùng đất của Các Hiệp sĩ Thánh Giá, đến gần Brô-đơ-nít để thu thập thông tin ở đó, và nếu Đại Thư ký vẫn còn ở Mác-bôc – bất chấp quan điểm của Lin-chen-xta-in – thì sẽ tiến thẳng tới đó, còn nếu không có ở đó thì sẽ tiếp tục bám theo các vùng biên giới của đất đai Các Hiệp sĩ Thánh Giá theo hướng Xpai-kốp, dò hỏi dọc đường về vị hiệp sĩ người Ba Lan và đoàn tùy tùng của chàng. Lão hiệp sĩ thậm chí còn hy vọng rằng ông sẽ dễ dàng thu thập được nhiều tin tức hơn về Zi-bít-xô tại Xpai-kốp hoặc tại triều đình của Hoàng tử Da-nu-sê xứ Va-xô-vi-a hơn là ở bất kỳ nơi nào khác.

Theo đó, họ lên đường vào ngày hôm sau. Mùa xuân đã đến hoàn toàn, khiến cho dòng nước lũ của sông Sơ-rơ-vy và Đơ-rơ-ven-xê cản trở lối đi, đến mức họ mất tới mười ngày để di chuyển từ Pờ-lúc đến Brô-đơ-nít. Thị trấn nhỏ ngăn nắp và sạch sẽ. Nhưng người ta có thể nhận ra ngay sự dã man của người Đức qua chiếc giá treo cổ được dựng lên một cách khổng lồ[114] bên ngoài thị trấn trên đường đi Gô-rơ-chê-ni-xê, nơi đang treo lủng lẳng những cái xác của những kẻ tử tù, trong đó có cả thi thể của một người phụ nữ. Trên tháp canh và trên lâu đài tung bay lá cờ in hình bàn tay đỏ trên nền trắng. Những vị lữ khách không gặp được vị bá tước ở nhà, bởi vì ông ta đang đứng đầu lực lượng đồn trú được trưng binh từ các nhà quý tộc lân cận tại Mác-bôc. Thông tin đó được Mát-cô thu nhận từ một lão Hiệp sĩ Thánh Giá mù lòa, cựu bá tước của Brô-đơ-nít, nhưng sau đó gắn bó cuộc đời mình với vùng đất và lâu đài này, đồng thời là người cuối cùng trong dòng họ của ông ta. Khi vị tuyên úy của địa phương đọc bức thư của Lin-chen-xta-in gửi bá tước, ông đã mời Mát-cô làm khách; vị tuyên úy rất thành thạo tiếng Ba Lan vì sinh sống giữa cộng đồng dân cư nói tiếng Ba Lan, và họ dễ dàng trò chuyện với nhau bằng thứ ngôn ngữ đó. Trong cuộc trò chuyện, Mát-cô được biết rằng vị bá tước đã lên đường tới Mác-bôc từ sáu tuần trước, bị triệu tập với tư cách là một hiệp sĩ giàu kinh nghiệm để tham gia hội đồng chiến tranh. Hơn nữa, vị này cũng biết rõ những gì xảy ra tại thủ đô. Khi được hỏi về vị hiệp sĩ trẻ người Ba Lan, ông ta nói rằng mình từng nghe đến một người như thế, lúc đầu gây được sự kinh ngạc bởi vì dù diện mạo còn trẻ trung nhưng chàng đã ra dáng một hiệp sĩ được đeo đai kiếm. Sau đó, chàng đã chiến thắng trong một giải đấu mà theo phong tục, Đại Thư ký tổ chức cho các vị khách nước ngoài trước khi lên đường ra trận. Dần dần, ông ta thậm chí còn nhớ ra rằng người anh em dũng mãnh, cao quý nhưng vô cùng nung nấu sự giận dữ của Đại Thư ký – U-rích phông Giun-gin-gân – đã đem lòng quý mến vị hiệp sĩ trẻ tuổi và nhận chàng dưới sự bảo trợ của mình, cung cấp cho chàng những “bức thư sắt,” sau đó vị hiệp sĩ trẻ đã lên đường hướng về phía đông. Mát-cô vô cùng sung sướng trước tin tức đó, bởi vì ông không mảy may nghi ngờ rằng vị hiệp sĩ trẻ chính là Zi-bít-xô. Do đó, việc đến Mác-bôc là vô ích, bởi vì mặc dù Đại Thư ký, cũng như các quan chức khác của Dòng tu và các hiệp sĩ ở lại Mác-bôc có thể cung cấp thông tin chính xác hơn, nhưng họ tuyệt đối không thể biết Zi-bít-xô thực sự đang ở đâu. Ngược lại, chính Mát-cô mới là người hiểu rõ hơn nơi có thể tìm thấy Zi-bít-xô, và không khó để đoán rằng vào lúc đó chàng đang có mặt ở đâu đó trong vùng lân cận Xchi-chi-nô; hoặc trong trường hợp chưa tìm thấy Đa-nút-xô ở đó, chàng đang lùng sục tại các lâu đài và trang ấp xa xôi ở phía đông.

Không lãng phí thêm thời gian nào nữa, họ cũng tiến về phía đông và Xchi-chi-nô. Họ di chuyển thuận lợi trên đường, các thị trấn và làng mạc được nối liền bởi những con đường lớn mà Các Hiệp sĩ Thánh Giá, hay đúng hơn là các thương gia trong các thị trấn, duy trì rất tốt, tốt chẳng kém gì những con đường của Ba Lan dưới sự chăm sóc của vị vua tiết kiệm và năng nổ Ca-zi-mi-ê-tô. Thời tiết tuyệt vời, ban đêm trời quang mây tạnh, ban ngày sáng sủa, và vào khoảng trưa có những cơn gió tây nam khô ấm thổi qua, làm căng đầy lồng ngực con người thứ không khí tràn trề sức sống. Những cánh đồng lúa trổ màu xanh ngắt, các đồng cỏ phủ đầy hoa trái, và những khu rừng thông bắt đầu tỏa hương nhựa thơm. Suốt dọc hành trình đến Lít-bác, rồi từ đó đến Gi-al-đô-va, và tiến xa hơn tới Ni-ê-d-bô-rê, họ không hề nhìn thấy một đám mây nào. Nhưng tại Ni-ê-d-bô-rê, họ gặp một trận dông bão vào ban đêm, đó là cơn dông đầu tiên của mùa xuân, nhưng nó chỉ kéo dài trong chốc lát, và đến sáng thì trời quang mây tạnh, chân trời bừng sáng với những sắc màu vàng hồng rực rỡ. Khung cảnh sáng chói đến mức vùng đất, tầm mắt vươn tới đâu, trông giống như một tấm thảm được thêu dệt bằng đá quý. Có cảm giác như toàn bộ xứ sở đang mỉm cười với bầu trời và vui mừng trước sự sống tràn trề.

Trong buổi sáng dễ chịu đó, họ tiếp tục hành trình từ Ni-ê-d-bô-rê hướng về Xchi-chi-nô. Nơi đó không cách xa biên giới Ma-zô-vía là bao. Việc quay trở lại Xpai-kốp là điều vô cùng dễ dàng. Đã có lúc Mát-cô muốn làm thế, nhưng cân nhắc toàn cục, ông vẫn muốn tiến sâu hơn vào cái ổ quỷ dữ của Các Hiệp sĩ Thánh Giá – nơi mà tung tích của Zi-bít-xô đang bị canh giữ vô cùng nghiêm ngặt. Ông bèn thuê một người dẫn đường và ra lệnh cho hắn dẫn họ đi thẳng đến Xchi-chi-nô; mặc dù thực ra chẳng cần đến người dẫn đường, bởi vì con đường từ Ni-ê-d-bô-rê là một con đường thẳng, được đánh dấu bằng những cột mốc trắng.

Người dẫn đường đi trước vài bước. Theo sau hắn là Mát-cô và Gia-gi-en-ka cưỡi ngựa; cách họ một khoảng là chàng trai người Bô-hê-mi-a và Si-ê-ci-ê-kha, và tụt phía sau cùng là những cỗ xe được bao bọc bởi đội quân vũ trang. Đó là một buổi sáng tuyệt đẹp. Ánh hồng rực vẫn chưa phai nhạt trên chân trời, dẫu mặt trời đã mọc và biến những hạt sương trên cây cỏ thành những viên ngọc ô-pan.

“Cô không sợ khi đến Xchi-chi-nô chứ?” Mát-cô hỏi.

“Con không sợ,” Gia-gi-en-ka đáp, “Chúa ở cùng con, bởi vì con là một kẻ mồ côi.”

“Ở đó chẳng có lòng tin nào đâu. Tên ác ôn tệ hại nhất là Đan-vên-đô mà Giu-ran đã tiêu diệt cùng với Gốt-frít... Chàng trai người Bô-hê-mi-a đã kể cho tôi nghe vậy. Kẻ thứ hai sau Đan-vên-đô là Rôt-gi-ê, kẻ đã ngã gục dưới rìu của Zi-bít-xô, nhưng lão già kia mới là một tên bạo chúa tàn nhẫn, đã bán linh hồn cho quỷ dữ... Chúng không biết đến lòng tốt đâu. Tuy nhiên, tôi cho rằng nếu Đa-nút-ska đã thiệt mạng thì đó là do chính tay hắn gây ra. Người ta cũng đồn rằng có chuyện gì đó xảy ra với cô ấy. Nhưng công nương đã nói ở Pờ-lúc rằng cô ấy đã tự thoát thân. Chính với hắn ta chúng ta sẽ phải đối phó ở Xchi-chi-nô... Thật may là chúng ta có bức thư của Lin-chen-xta-in, và có vẻ như bọn chúng, những tên anh em khốn kiếp đó, còn sợ hắn hơn cả sợ chính Đại Thư ký... Người ta nói rằng hắn có quyền lực rất lớn, đặc biệt nghiêm khắc và rất thù dai, chưa từng tha thứ dù chỉ là một lỗi lầm nhỏ nhất... Nếu không có tờ giấy thông hành này thì tôi đã chẳng thể thản nhiên đi đến Xchi-chi-nô như vậy đâu...”

“Hắn tên là gì?”

“Zích-g-rít phông Lơ-vơ.”

“Nguyện Chúa ban cho chúng ta trị được cả hắn.”

“Nguyện Chúa ban ơn!”

Mát-cô mỉm cười trong chốc lát rồi nói:

“Công nương cũng từng nói với ta ở Pờ-lúc rằng: ‘Các ngươi cứ than khóc và phàn nàn như những con chiên trước bầy sói, nhưng trong trường hợp này thì ba con sói đã chết, bởi vì những con chiên vô tội đã bóp cổ chúng.’ Bà ấy nói đúng; thực tế là như vậy đấy.”

“Còn chuyện của Đa-nút-ska và cha cô ấy thì sao?”

“Ta cũng đã thưa với công nương y hệt như vậy. Nhưng ta thực sự thấy mừng, vì điều đó chứng minh rằng làm hại chúng ta là không an toàn. Bản thân chúng ta đã biết cách cầm cán rìu và chiến đấu với nó rồi. Còn về phần Đa-nút-ska và Giu-ran, quả thực ta nghĩ rằng, và chàng trai người Bô-hê-mi-a cũng nghĩ vậy, họ không còn ở trên cõi đời này nữa, nhưng thực tế thì chẳng ai nói trước được điều gì. Ta rất thương Giu-ran, bởi vì ông ấy vô cùng đau khổ vì con gái mình, và nếu ông ấy đã thiệt mạng thì đó là một cái chết cay đắng.”

“Mỗi khi có ai nhắc đến chuyện đó trước mặt con,” Gia-gi-en-ka nói, “con lại nghĩ đến tía, người cũng không còn nữa.”

Rồi cô ngước mắt lên, Mát-cô gật đầu và nói:

“Ông ấy đang an nghỉ cùng Chúa trong cõi phúc vĩnh hằng, vì chẳng có người đàn ông nào tốt hơn ông ấy trong toàn bộ vương quốc của chúng ta...”

“Ồ, chẳng có ai sánh bằng tía, không một ai!” Gia-gi-en-ka thở dài.

Cuộc trò chuyện bị cắt ngang bởi người dẫn đường, kẻ bỗng khựng con chiến mã lại, quay đầu phi nước đại về phía Mát-cô và hét lên bằng một giọng kỳ lạ đầy sợ hãi:

“Lạy Chúa! Nhìn kìa, thưa ngài Hiệp sĩ; kẻ nào đang đi tới phía sườn đồi thế kia?”

“Ai? Ở đâu?” Mát-cô hỏi.

“Nhìn kìa! Một tên khổng lồ hay thứ gì đại loại thế...”

Mát-cô và Gia-gi-en-ka kìm ngựa lại, nhìn theo hướng người dẫn đường chỉ, và họ thực sự nhìn thấy, lưng chừng sườn đồi, một bóng người có kích thước to lớn vượt quá tầm vóc con người.

“Nói thật thì kẻ đó trông có vẻ khổng lồ thật,” Mát-cô lầm bầm.

Rồi ông cau mày, đột nhiên nhổ nước bọt và nói:

“Nguyện bùa chú độc ác trúng vào đầu tên khốn đó.”

“Sao ngài lại niệm chú?” Gia-gi-en-ka hỏi.

“Bởi vì ta nhớ ra rằng cũng vào một buổi sáng đẹp trời như thế này, khi Zi-bít-xô và ta đang trên đường từ Ti-ni-e đến Cra-cốp, chúng ta đã nhìn thấy một tên khổng lồ như vậy. Hồi đó người ta bảo đó là Van-gi-ê Vda-li. Chà! Hóa ra sau đó đó chỉ là lãnh chúa xứ Ta-chêv. Dù sao thì chẳng có điều gì tốt đẹp xảy ra từ chuyện đó cả. Nguyện bùa chú độc ác trúng vào đầu tên khốn đó.”

“Kẻ này không phải là hiệp sĩ, bởi vì hắn không cưỡi ngựa,” Gia-gi-en-ka nheo mắt nhìn. “Con thậm chí còn thấy hắn không mang vũ khí, mà cầm một cây gậy ở tay trái...”

“Và hắn đang khua khoắng dò đường phía trước, cứ như thể trời tối vậy.”

“Và hầu như không thể di chuyển nổi; chắc là hắn bị mù phải không ngài?”

“Chắc chắn như tôi đang sống, hắn mù rồi – mù thật rồi!”

Họ thúc ngựa tiến lên, và chỉ một lát sau đã dừng lại trước mặt gã ăn mày đang chậm chạp bước xuống đồi, dùng gậy dò dẫm từng bước. Quả thực hắn là một ông già to lớn khủng khiếp, và ngay cả khi đứng gần, họ vẫn thấy hắn như một người khổng lồ. Họ tin chắc rằng hắn mù lòa hoàn toàn. Thay vì đôi mắt, hắn chỉ có hai hốc thịt đỏ hoe. Bàn tay phải của hắn đã cụt mất; thay vào đó là một miếng băng bằng những mảnh giẻ rách bẩn thỉu. Mái tóc hắn bạc trắng xõa xuống vai, và bộ râu dài chấm thắt lưng.

“Hắn chẳng có thức ăn, chẳng có người đồng hành, thậm chí chẳng có lấy một con chó, mà phải tự dò dẫm tìm đường,” Gia-gi-en-ka thốt lên. “Lạy Chúa, chúng ta không thể bỏ mặc hắn ở đây mà không giúp đỡ. Con không biết hắn có hiểu mình không, nhưng con sẽ thử nói chuyện với hắn bằng tiếng Ba Lan.”

Nói đoạn, cô nhảy xuống ngựa, tiến lại gần gã ăn mày và bắt đầu tìm kiếm chút tiền lẻ trong chiếc túi da đeo bên hông.

Gã ăn mày, khi nghe thấy tiếng động và tiếng móng ngựa giậm, liền giơ cao cây gậy về phía trước và ngước đầu lên theo bản năng của những người mù.

“Nguyện danh Chúa Giê-su Ki-tô được ca tụng,” cô gái nói. “Ông cụ có hiểu tiếng theo kiểu người Ki-tô giáo không ạ?”

Nhưng khi nghe thấy giọng nói trẻ trung, ngọt ngào của cô, hắn toàn thân run rẩy; một nét ửng đỏ kỳ lạ xuất hiện trên khuôn mặt như thể do xúc động mạnh; hắn lấy lông mày che đi những hốc mắt trống rỗng, rồi bất ngờ quăng gậy xuống đất, quỳ sụp xuống với đôi tay dang rộng trước mặt cô.

“Đứng lên đi! Tôi sẽ giúp ông. Ông bị làm sao thế?” Gia-gi-en-ka ngạc nhiên hỏi.

Nhưng hắn không trả lời, chỉ có những giọt nước mắt lăn dài trên má, và hắn rên rỉ:

“A!—a!—a!...”

“Vì tình yêu của Chúa – Ông không nói được câu nào sao?”

“A!—a!”

Rồi hắn giơ tay lên, làm dấu thánh trước, sau đó đưa bàn tay trái quẹt qua miệng.

Gia-gi-en-ka không hiểu gì cả, liền nhìn sang Mát-cô, người bấy giờ mới nói:

“Hắn hình như muốn ra hiệu rằng lưỡi hắn đã bị cắt đứt rồi.”

“Lưỡi của ông bị cắt đứt rồi ư?” cô gái hỏi.

“A! a! a! a!” gã ăn mày lặp lại mấy lần, gật đầu xác nhận.

Rồi hắn dùng ngón tay chỉ vào mắt mình; sau đó di chuyển bàn tay trái sang cánh tay phải bị tàn phế, cho thấy nó đã bị chặt đứt.

Lúc bấy giờ cả hai người mới hiểu ra.

“Ai đã làm chuyện này?” Gia-gi-en-ka hỏi.

Gã ăn mày lại làm dấu thánh liên hồi trong không trung.

“Bọn Hiệp sĩ Thánh Giá,” Mát-cô quát lên.

Như một dấu hiệu khẳng định, cụ già cúi gục đầu ngực xuống.

Sự im lặng bao trùm trong chốc lát. Mát-cô và Gia-gi-en-ka nhìn nhau đầy hoảng hốt, bởi vì giờ đây họ đang tận mắt chứng kiến bằng chứng xác thực về sự tàn ác và việc không có phương tiện để trừng trị những kẻ tự xưng là “Hiệp sĩ Thánh Giá” đó.

“Công lý tàn nhẫn thật!” Mát-cô cuối cùng cũng lên tiếng. “Chúng đã trừng phạt hắn quá nặng nề, và chỉ Chúa mới biết có đáng đời hay không. Nếu ta biết hắn thuộc về chốn nào, ta sẽ đưa hắn về đó, vì chắc chắn hắn phải là người ở vùng này. Hắn hiểu ngôn ngữ của chúng ta, bởi vì dân thường ở đây cũng giống như ở Ma-zô-vía.”

“Ông có hiểu những gì chúng tôi nói không?” Gia-gi-en-ka hỏi.

Gã ăn mày gật đầu.

“Ông là người vùng này phải không?”

“Không!” Cụ già lắc đầu.

“Có lẽ ông đến từ Ma-zô-vía?”

“Phải!” cụ gật đầu.

“Dưới quyền Hoàng tử Da-nu-sê?”

“Phải!”

“Nhưng tại sao ông lại rơi vào tay Bọn Hiệp sĩ Thánh Giá?”

Cụ già không thể trả lời, nhưng khuôn mặt cụ hiện lên vẻ đau đớn tột cùng, đến mức trái tim Gia-gi-en-ka đập mạnh hơn vì đồng cảm. Thậm chí Mát-cô, người vốn không dễ xúc động, cũng phải nói:

“Ta chắc chắn bọn chó má đó đã đối xử tệ bạc với hắn. Biết đâu hắn vô tội.”

Trong khi đó, Gia-gi-en-ka nhét vài đồng tiền lẻ vào tay gã ăn mày.

“Nghe này,” cô nói, “chúng tôi sẽ không bỏ rơi ông đâu. Hãy đi cùng chúng tôi về Ma-zô-vía, và ở mỗi ngôi làng chúng tôi sẽ hỏi xem đó có phải quê hương của ông không. Biết đâu chúng ta sẽ tìm ra. Tạm thời, hãy đứng dậy đi, vì chúng tôi chẳng phải thánh thần gì đâu.”

Nhưng cụ không đứng dậy, thậm chí còn cúi thấp hơn nữa, ôm lấy đôi chân cô như để phó mặc bản thân dưới sự bảo bọc của cô và bày tỏ lòng biết ơn. Tuy nhiên, trên gương mặt cụ thoáng hiện vẻ kinh ngạc, thậm chí là hụt hẫng. Có thể qua giọng nói, cụ nghĩ rằng mình đang đứng trước một thiếu nữ; nhưng bàn tay cụ lại vô tình chạm vào chiếc ủng bằng da bò mà các hiệp sĩ và người hầu giáp thường mang.

Nhưng cô nói:

“Cứ thế đi; các cỗ xe của chúng tôi sắp tới rồi, khi đó ông sẽ được nghỉ ngơi và bồi bổ. Nhưng chúng tôi chưa thể đưa ông về Ma-zô-vía ngay đâu, vì chúng tôi phải ghé qua Xchi-chi-nô trước.”

Khi cụ già nghe thấy điều này, cụ chồm dậy thẳng người, sự kinh hoàng và sửng sốt hằn rõ trên nét mặt. Cụ dang rộng hai tay như thể muốn cản đường họ, và những âm thanh kỳ lạ, hoang dại phát ra từ cổ họng cụ, tràn ngập nỗi khiếp sợ và bàng hoàng.

“Ông bị làm sao thế?” Gia-gi-en-ka hoảng hốt thốt lên.

Nhưng chàng trai người Bô-hê-mi-a, người vừa đến cùng Si-ê-ci-ê-kha và từ nãy đến giờ dán chặt mắt vào gã ăn mày tội nghiệp, bỗng quay sang Mát-cô, với khuôn mặt biến sắc và bằng một giọng kỳ lạ, nói:

“Lạy Chúa, xin ngài hãy cho phép tôi nói chuyện với ông ấy, vì ngài không biết ông ấy có thể là ai đâu.”

Nói xong, cậu chẳng đợi xin phép thêm lần nào nữa mà lao thẳng về phía cụ già, đặt hai tay lên vai cụ và hỏi:

“Ông có đến từ Xchi-chi-nô không?”

Cụ già dường như bị chấn động bởi âm thanh giọng nói đó, bèn dịu lại và gật đầu xác nhận.

“Ông đã tìm đứa con của mình ở đó phải không?...”

Một tiếng rên rỉ nghẹn ngào là câu trả lời duy nhất cho câu hỏi đó.

Lúc bấy giờ, gương mặt chàng trai người Bô-hê-mi-a tái đi đôi chút, cậu chăm chú nhìn nét mặt cụ già trong chốc lát rồi chậm rãi, điềm tĩnh cất lời:

“Thế thì ông chính là Giu-ran xứ Xpai-kốp.”

“Giu-ran!” Mát-cô thốt lên.

Nhưng Giu-ran đã kiệt sức vào khoảnh khắc đó và ngất lịm đi. Những cực hình kéo dài, thiếu thốn dinh dưỡng, sự mệt mỏi dọc đường đã đánh gục hoàn toàn đôi chân cụ. Đã mười ngày trôi qua kể từ khi cụ rời đi, dò dẫm từng bước, lạc lối và quờ quạng tấm thân với cây gậy trong tay, đói khát, mệt mỏi và chẳng biết mình đang đi đâu, không thể hỏi đường, ban ngày thì hướng về những tia nắng ấm áp, ban đêm nằm ngủ trong những mương nước bên đường. Khi lỡ đi ngang qua một ngôi làng, một xóm nhỏ, hay tình cờ gặp gỡ mọi người trên đường, cụ chỉ biết chìa tay và cất tiếng xin ăn, nhưng hiếm khi có một bàn tay rủ lòng thương giúp đỡ, bởi vì theo quy tắc, cụ thường bị coi là một tên tội phạm bị pháp luật và công lý trừng trị. Suốt hai ngày trời cụ chỉ sống bằng vỏ cây và lá cây; cụ đã dường như từ bỏ mọi hy vọng về tới Ma-zô-vía, thì đột nhiên những giọng nói đầy lòng trắc ẩn và những trái tim của chính đồng bào mình vây quanh lấy cụ; một người trong số họ gợi nhắc cho cụ nhớ về giọng nói ngọt ngào của chính cô con gái; và khi cái tên của chính cụ được thốt lên lần cuối, cụ vô cùng chấn động và không thể chịu đựng thêm được nữa; trái tim cụ như vỡ vụn. Tâm trí cụ quay cuồng; và nếu không có đôi tay vạm vỡ của chàng trai người Bô-hê-mi-a kịp thời đỡ lấy, cụ chắc đã ngã úp mặt xuống lớp bụi đường rồi.

Mát-cô xuống ngựa, rồi cả hai người cùng xốc lấy cụ, khiêng lên các cỗ xe và đặt nằm trên đống cỏ khô mềm mại. Ở đó, Gia-gi-en-ka và Si-ê-ci-ê-kha chăm sóc cho cụ. Gia-gi-en-ka thấy cụ không thể tự cầm chén rượu bằng môi nên đã đút cho cụ uống. Ngay sau đó, cụ chìm vào một giấc ngủ sâu, mãi đến ngày thứ ba mới tỉnh dậy.

Trong khi đó, họ ngồi xuống để bàn bạc.

“Nói ngắn gọn thế này,” Gia-gi-en-ka nói, “chúng ta phải đến Xpai-kốp thay vì Xchi-chi-nô, để bằng mọi giá đưa ông ấy về an toàn giữa những người của mình.”

“Xem nào, việc đó thực hiện thế nào đây,” Mát-cô đáp. “Đúng là chúng ta phải đưa ông ấy về Xpai-kốp, nhưng không nhất thiết tất cả chúng ta phải hộ tống, chỉ cần một cỗ xe là đủ để đưa ông ấy về rồi.”

“Con không ra lệnh đâu, con chỉ nghĩ thế thôi, bởi vì ở đó chúng ta có thể khai thác được nhiều thông tin từ ông ấy về Zi-bít-xô và Đa-nút-ska.”

“Nhưng làm sao con có thể moi thông tin từ một kẻ không có lưỡi?”

“Nhưng chính cái thông tin việc ông ấy không có lưỡi, chúng ta cũng tự lấy được từ ông ấy đấy thôi. Ngài không thấy là ngay cả khi không có ngôn từ, chúng ta vẫn thu thập được tất cả những thông tin cần thiết đó sao? Huống chi khi chúng ta giao tiếp với ông ấy bằng những cử chỉ của đầu và tay? Cứ hỏi ông ấy, ví dụ như, Zi-bít-xô đã từ Mác-bôc quay lại Xchi-chi-nô chưa. Ngài sẽ thấy ông ấy hoặc gật đầu, hoặc lắc đầu phủ nhận ngay.”

“Đúng là thế thật,” chàng trai người Bô-hê-mi-a nói.

“Ta cũng chẳng tranh cãi điều đó,” Mát-cô nói. “Chính ta cũng biết thừa, nhưng ta có thói quen suy nghĩ kỹ trước rồi mới nói.”

Rồi ông ra lệnh cho đoàn người quay đầu trở về hướng biên giới Ma-zô-vía. Trên đường đi, Gia-gi-en-ka thỉnh thoảng lại ghé thăm cỗ xe nơi Giu-ran đang ngủ, vì sợ rằng cái chết có thể xảy đến bất cứ lúc nào.

“Ta đã không nhận ra ông ấy,” Mát-cô nói, “nhưng cũng chẳng có gì lạ. Hắn từng lực lưỡng như một con bò rừng mộng! Người ta đồn rằng hắn là một trong số những kẻ có thể đọ sức với Za-vi-sxa, thế mà giờ đây lại suy kiệt thành một bộ xương thế này.”

“Chúng ta đã quen nghe đủ thứ chuyện trên đời,” chàng trai người Bô-hê-mi-a nói, “nhưng chẳng ai tin nổi nếu người ta kể rằng những kẻ tự nhận là Ki-tô hữu lại đối xử với một vị hiệp sĩ được đeo đai kiếm – người có vị thánh bổn mạng cũng chính là Thánh Giê-rô-ni-mô – theo cách tàn nhẫn như vậy.”

“Nguyện Chúa sẽ trừng phạt chúng,” Mát-cô nói. “Giờ thì hãy nhìn xem sự khác biệt giữa chúng và chúng ta là gì. Đúng là ba trong số bốn tên chó má đó đã chết, nhưng chúng chết trong chiến trận, và chẳng có tên nào bị móc lưỡi hay móc mắt trong cảnh giam cầm cả.”

“Chúa sẽ trừng phạt chúng,” Gia-gi-en-ka nói.

Nhưng Mát-cô quay sang chàng trai người Bô-hê-mi-a và hỏi:

“Làm sao mà cậu nhận ra được ông ấy hay vậy?”

“Thoạt đầu tôi không nhận ra, mặc dù tôi gặp ông ấy muộn hơn ngài. Nhưng tôi cứ thấy cấn cá, và càng nhìn thì càng thấy quen... Mặc dù lúc tôi mới gặp ông ấy, ông ấy chẳng có râu hay tóc bạc gì cả; hồi đó ông ấy là một lãnh chúa vô cùng quyền lực. Làm sao tôi có thể nhận ra ông ấy trong lốt một lão ăn mày già nua được chứ. Nhưng khi cô chủ nhỏ nói rằng chúng ta sắp đi Xchi-chi-nô, và ông ấy bắt đầu tru tréo lên thì mắt tôi mới sáng ra.”

Mát-cô chìm đắm trong suy tư, rồi nói:

“Từ Xpai-kốp, cần phải đưa ông ấy đến diện kiến hoàng tử, ngài sẽ không bỏ qua tội ác gây ra cho một nhân vật quan trọng như thế này mà không trừng phạt đâu.”

“Bọn chúng sẽ tìm cách ngụy biện thôi. Bọn chúng đã bắt cóc con gái ông ấy một cách ti tiện và tự biện hộ cho hành động đó. Còn về phần lãnh chúa xứ Xpai-kốp, chúng sẽ nói rằng ông ấy bị mất lưỡi, mất mắt và cụt tay trong trận chiến.”

“Cậu nói đúng,” Mát-cô nói. “Bọn chúng từng bắt cóc cả hoàng tử cơ mà. Ngài không thể đánh lại chúng, bởi vì ngài không phải đối thủ của chúng; có lẽ quốc vương của chúng ta sẽ giúp ông ấy. Dân tình cứ bàn tán hoài về một cuộc chiến tranh lớn, nhưng ở đây thậm chí chúng ta còn chẳng có lấy một cuộc chiến nhỏ.”

“Ông ấy đang ở bên Hoàng tử Vi-tôn.”

“Tạ ơn Chúa, ít ra ngài ấy cũng nghĩ rằng bọn chúng chẳng ra gì. Này! Hoàng tử Vi-tôn mới chính là hoàng tử của ta! Về mưu mẹo thì ngài ấy chẳng ngán ai. Ngài ấy còn ranh ma hơn tất cả bọn chúng cộng lại. Bọn chó má đó từng dồn ngài ấy vào chân tường, lưỡi kiếm đã kề trên đầu và ngài ấy suýt chết, nhưng giống như một con rắn, ngài ấy đã trườn qua kẽ tay chúng và quay lại cắn cho chúng một vố... Hãy cẩn trọng khi ngài ấy ra đòn, nhưng phải cực kỳ đề phòng khi ngài ấy đang vỗ về ngươi đấy.”

“Ngài ấy đối xử với ai cũng thế sao?”

“Ngài ấy chỉ thế với Các Hiệp sĩ Thánh Giá thôi, chứ với những người khác thì ngài ấy là một vị hoàng tử nhân hậu và hào phóng.”

Nói đoạn, Mát-cô trầm ngâm, như thể đang cố gắng gợi nhớ lại hình ảnh Hoàng tử

Vi-tôn.

“Ngài ấy hoàn toàn khác biệt với vị hoàng tử ở đây,” ông đột ngột nói. “Zi-bít-xô đáng lẽ nên gia nhập phe ngài ấy, bởi vì dưới quyền và thông qua ngài ấy, người ta có thể đạt được nhiều điều nhất để chống lại Các Hiệp sĩ Thánh Giá.”

Rồi ông nói thêm:

“Cả hai chúng ta đều có thể có mặt ở đó. Ai mà biết được chứ? Bởi vì đó mới là nơi chúng ta có thể trả thù một cách thích đáng nhất.”

Sau đó, họ bàn tán về Giu-ran, về những bất hạnh của ông và về những tổn thương chưa từng thấy giáng xuống đầu ông bởi Các Hiệp sĩ Thánh Giá – những kẻ thoạt đầu, vô cớ sát hại người vợ yêu quý của ông, rồi để trả thù cho sự trả thù, chúng bắt cóc con đứa con gái của ông, rồi lại tra tấn ông theo một cách thức tàn nhẫn đến mức ngay cả người Ta-ta cũng không thể nghĩ ra nổi một cực hình nào tệ hơn thế. Mát-cô và chàng trai người Bô-hê-mi-a nghiến răng ken két khi nghĩ rằng ngay cả khi thả ông ra, chúng cũng mang theo dụng ý hiểm độc là gây thêm những nỗi đau đớn tột cùng nhằm làm nhụt chí lão hiệp sĩ, kẻ chắc hẳn từng tự hứa với lòng rằng khi được tự do, ông sẽ tiến hành một cuộc điều tra thích đáng để thu thập thông tin về toàn bộ vụ việc, rồi sau đó tính sổ với chúng kèm theo cả vốn lẫn lãi.

Trên hành trình về Xpai-kốp, họ trải qua thời gian bằng những cuộc đối thoại và suy tư như thế. Ngày đẹp trời, trong sáng được tiếp nối bằng một đêm trăng sao tĩnh lặng; vì vậy họ không dừng chân nghỉ đêm mà chỉ dừng lại ba lần để cho ngựa ăn. Trời vẫn còn tối khi họ vượt qua biên giới, và vào buổi sáng, dưới sự dẫn đường của người thuê mướn, họ đã đặt chân lên vùng đất Xpai-kốp.

Ở đó, Tô-li-ma dường như nắm giữ mọi thứ bằng bàn tay sắt, bởi vì ngay khi họ vừa bước vào khu rừng Xpai-kốp, hai gã vũ trang đã lao ra chặn đường. Những kẻ này, khi thấy những người mới đến không phải lính tráng mà chỉ là một đoàn tùy tùng bình thường, không những để họ qua mà không chất vấn gì, mà còn tự nguyện đi lên trước dẫn đường – một lối đi vốn không thể tiếp cận đối với những ai không quen thuộc với hệ thống hào sâu và đầm lầy.

Tô-li-ma và linh mục Ka-lêp đã tiếp đón những vị khách khi họ đến thị trấn. Tin tức vị lãnh chúa đã về và được những người đạo đức đưa trở lại lan đi nhanh như chớp trong toàn bộ lực lượng đồn trú. Nhưng khi họ chứng kiến tình trạng của ông giống như lúc ông vừa bước ra từ chỗ Các Hiệp sĩ Thánh Giá, một sự bùng nổ giận dữ cuồng loạn và những lời đe dọa tột độ đã trào dâng, đến mức nếu lúc đó trong ngục tối của Xpai-kốp vẫn còn giam giữ bất kỳ tên Hiệp sĩ Thánh Giá nào, thì không một sức mạnh loài người nào có thể cứu chúng khỏi một cái chết kinh hoàng.

Các tùy tùng muốn nhảy lên yên ngựa ngay lập tức để xuất phát ra biên giới bắt sống bất kỳ tên Đức nào, cắt đầu chúng vứt dưới chân Đại Thư ký. Nhưng Mát-cô đã cản họ lại bởi vì ông biết rằng người Đức sống ở các thành thị và phố xá, trong khi người dân trong vùng cũng chung dòng máu, nhưng bất đắc dĩ phải sống dưới ách cai trị của ngoại bang. Tuy nhiên, cả tiếng ồn ào huyên náo hay tiếng cọt kẹt của cần cẩu giếng nước cũng chẳng thể đánh thức được Giu-ran, người đã được khiêng trên một tấm da gấu đưa vào chính ngôi nhà của mình và đặt lên giường. Cha Ka-lêp là người bạn tâm giao thân thiết của Giu-ran; họ lớn lên cùng nhau và yêu thương nhau như ruột thịt; ngài ở lại bên cạnh ông, cầu nguyện Đấng Cứu Thế của nhân loại có thể ban lại cho bất hạnh Giu-ran đôi mắt, chiếc lưỡi và bàn tay của ông.

Những vị lữ khách mệt mỏi cũng đi nằm. Mát-cô thức dậy vào khoảng trưa, liền ra lệnh gọi Tô-li-ma đến gặp.

Ông biết từ chàng trai người Bô-hê-mi-a rằng trước khi lên đường, Giu-ran đã ra lệnh cho tất cả gia nhân phải vâng lời vị chủ nhân trẻ tuổi của họ là Zi-bít-xô, và vị linh mục đã thông báo cho ông về quyền sở hữu Xpai-kốp. Do đó, Mát-cô nói chuyện với lão già bằng giọng điệu của một bề trên:

“Ta là chú của vị chủ nhân trẻ tuổi của các người, và chừng nào nó vắng mặt, ta chính là người chỉ huy ở đây.”

Tô-li-ma cúi đầu bạc phếch mang nét gì đó dữ tợn như loài sói, đưa tay áp vào tai và hỏi:

“Thế ra ngài là vị hiệp sĩ quý tộc đến từ Bô-gơ-da-ni-e-tê phải không ạ?”

“Đúng vậy!” Mát-cô đáp. “Sao ngươi biết?”

“Bởi vì vị chủ nhân trẻ tuổi Zi-bít-xô đã từng mong chờ và dò hỏi về ngài ở đây.”

Nghe vậy, Mát-cô đứng thẳng người lên, quên mất tác phong đường bệ của mình, và thốt lên:

“Cái gì, Zi-bít-xô ở Xpai-kốp á?”

“Vâng, cậu ấy đã ở đây, thưa ngài; mới chỉ hai ngày kể từ khi cậu ấy rời đi thôi.”

“Lạy Chúa! Nó từ đâu đến và đi đâu?”

“Cậu ấy đến từ Mác-bôc, và trên đường đi có ghé qua Xchi-chi-nô. Cậu ấy không nói rõ mình sẽ đi đâu.”

“Nó không nói à?”

“Có lẽ cậu ấy đã nói với linh mục Ka-lêp.”

“Hỡi Chúa toàn năng, thế là chúng ta đã lướt qua nhau trên đường rồi,” ông nói, chống hai tay lên hông.

Nhưng Tô-li-ma lại đưa tay lên tai bên kia:

“Ngài vừa nói gì cơ, thưa ngài?”

“Cha Ka-lêp đâu?”

“Ngài ấy đang túc trực bên giường của lão chủ nhân.”

“Gọi ngài ấy ra đây, nhưng khoan đã... Ta sẽ tự mình đi gặp ngài ấy.”

“Tôi sẽ đi gọi,” Tô-li-ma nói rồi bỏ đi. Nhưng trước khi ông ta dẫn vị linh mục tới, Gia-gi-en-ka đã bước vào.

“Lại đây,” Mát-cô nói. “Cô có biết tin gì không? Zi-bít-xô vừa ở đây mới cách đây hai ngày.”

Khuôn mặt cô biến sắc ngay lập tức và suýt ngã quỵ.

“Cậu ấy đã ở đây và đã đi rồi ư?” cô hỏi với trái tim đập thình thịch. “Đi đâu vậy ạ?”

“Mới chỉ hai ngày từ lúc nó đi, nhưng đi đâu thì ta không rõ. Có lẽ vị linh mục biết.”

“Chúng ta phải đuổi theo cậu ấy thôi,” cô nói dứt khoát.

Chỉ một lát sau, cha Ka-lêp bước vào. Nghĩ rằng Mát-cô gọi mình để hỏi thông tin liên quan đến Giu-ran, ngài liền nói trước để đáp lời:

“Ngài ấy vẫn đang ngủ.”

“Tôi nghe nói Zi-bít-xô đã ở đây phải không?” Mát-cô hỏi.

“Cậu ấy đã ở đây, nhưng rời đi từ hai ngày trước rồi.”

“Đi đâu thế ạ?”

“Chính cậu ấy cũng không rõ... Cậu ấy đi tìm kiếm... Cậu ấy khởi hành ra biên giới Xmu-da, nơi đang có chiến tranh.”

“Lạy Chúa, xin hãy nói cho chúng tôi biết, thưa cha, những gì cha biết về nó đi!”

“Tôi chỉ biết những gì nghe chính miệng cậu ấy kể. Cậu ấy đã đến Mác-bôc. Có lẽ cậu ấy đã xin được sự bảo hộ ở đó. Bởi vì dưới chiếu lệnh của người em trai Đại Thư ký – người đứng đầu trong các hiệp sĩ – Zi-bít-xô có thể lục soát ở tất cả các lâu đài.”

“Để tìm Giu-ran và Đa-nút-ska ư?”

“Vâng; nhưng cậu ấy không đi tìm Giu-ran, bởi vì người ta đã bảo với cậu ấy rằng ông ấy đã chết.”

“Xin hãy kể cho chúng tôi nghe từ đầu đi ạ.”

“Được chứ, nhưng xin hãy để tôi lấy lại hơi thở và sự tĩnh tâm trước đã, bởi vì tôi vừa bước ra từ một thế giới khác.”

“Là sao thế cha?”

“Từ cái thế giới mà người ta không thể đến bằng ngựa, mà chỉ bằng lời cầu nguyện... Tôi đã cầu nguyện dưới chân Chúa Giê-su để Ngài thương xót Giu-ran.”

“Cha đang xin một phép màu đấy. Cha có quyền năng đó sao?” Mát-cô tò mò hỏi.

“Tôi chẳng có quyền năng nào cả, nhưng tôi có một Đấng Cứu Thế, nếu Ngài muốn, Ngài có thể ban lại cho Giu-ran đôi mắt, cái lưỡi và bàn tay...”

“Nếu Ngài ấy muốn thì Ngài ấy có thể làm được,” Mát-cô đáp. “Dù sao thì cha cũng đang đòi hỏi một điều bất khả thi.”

Cha Ka-lêp không trả lời; có lẽ vì ngài không nghe thấy; đôi mắt ngài vẫn nhắm nghiền như đang thất thần, và thực tế là rõ ràng ngài đang chìm đắm trong lời cầu nguyện của mình.

Rồi ngài lấy tay che mắt và cứ giữ nguyên tư thế đó trong im lặng một lúc lâu. Cuối cùng, ngài giật mình thoát khỏi trạng thái đó, lấy tay dụi mắt và nói:

“Bây giờ, hãy hỏi đi.”

“Zi-bít-xô đã gây chuyện với Quan tòa Xam-bin-xê thế nào vậy?”

“Hắn không còn là Quan tòa Xam-bin-xê nữa...”

“Mặc kệ hắn đi... Cha hiểu tôi đang hỏi gì mà; hãy kể cho tôi những gì cha biết về chuyện đó.”

“Cậu ấy đã chiến đấu trong một giải đấu. U-rích rất thích giao đấu trên võ đài. Có rất nhiều hiệp sĩ là khách mời tại Mác-bôc, và Đại Thư ký đã tổ chức các trò chơi công khai. Trong khi U-rích đang cưỡi ngựa thì dây cương yên ngựa bị đứt, và Zi-bít-xô hoàn toàn có thể dễ dàng đánh ngã ngài ta xuống ngựa; nhưng cậu ấy đã hạ ngọn giáo xuống đất và thậm chí còn giúp đỡ ngài ta.”

“Này! Cha thấy chưa!” Mát-cô thốt lên, quay sang Gia-gi-en-ka. “Có phải vì thế mà U-rích quý mến nó không?”

“Đó chính là lý do khiến ngài ấy đem lòng quý mến Zi-bít-xô. Ngài ấy từ chối đấu thương sắc nhọn với cậu ấy, cả giáo lẫn mác, và đã sinh lòng thiện cảm. Zi-bít-xô đã kể cho ngài ấy nghe nỗi bất hạnh của mình, và ngài ấy, vốn là kẻ coi trọng danh dự hiệp sĩ, đã vô cùng tức giận và dẫn Zi-bít-xô đến gặp người anh trai là Đại Thư ký để đâm đơn khiếu nại. Nguyện Chúa ban phước lành cho hành động này của ngài ấy, bởi vì trong số bọn chúng chẳng có mấy kẻ ưa chuộng công lý đâu. Zi-bít-xô cũng kể cho tôi nghe rằng de Lô-r-sê, nhờ vào địa vị và sự giàu có của mình, đã giúp đỡ cậu ấy rất nhiều và làm chứng cho cậu ấy trong mọi chuyện.”

“Kết quả của lời làm chứng đó là gì?”

“Nó dẫn đến một mệnh lệnh vô cùng nghiêm khắc của Đại Thư ký gửi quan cai quản ở Xchi-chi-nô, yêu cầu lập tức gửi tới Mác-bôc tất cả những tù nhân đang bị giam giữ tại Xchi-chi-nô, bao gồm cả Giu-ran. Về phần Giu-ran, quan cai quản đáp lại rằng ông ấy đã chết vì vết thương và được chôn cất ở nghĩa trang nhà thờ. Hắn ta đã gửi những tù nhân khác đến, trong đó có cả một cô gái vắt sữa, nhưng nàng Đa-nút-ska của chúng ta không có trong số đó.”

“Tôi biết từ tên người hầu giáp Hla-va,” Mát-cô nói, “rằng Rôt-gi-ê, kẻ bị Zi-bít-xô tiêu diệt khi ở triều đình Hoàng tử Da-nu-sê, cũng từng nói điều tương tự về một cô gái vắt sữa nào đó mà chúng bắt được và coi là con gái của Giu-ran, nhưng khi công nương hỏi: ‘Làm sao chúng có thể nhầm lẫn Đa-nút-ska với một cô gái bình thường, khi mà chúng biết và từng tận mắt nhìn thấy người thật là Đa-nút-ska cơ chứ?’ Hắn ta đáp: ‘Ngài nói đúng, nhưng ta tưởng chúng đã quên mất Đa-nút-ska thật rồi.’ Chính quan cai quản cũng từng viết thư cho Đại Thư ký rằng cô gái đó không phải là tù nhân mà được chúng bảo bọc, rằng thoạt đầu chúng đã giải cứu cô khỏi bọn cướp – những kẻ thề thốt rằng cô là con gái của Giu-ran, nhưng đã bị đánh tráo.”

“Đại Thư ký có tin điều đó không?”

“Ngài ấy không biết nên tin hay không, nhưng U-rích còn nổi giận hơn trước và thúc giục anh trai mình cử một quan chức của Dòng tu đi cùng Zi-bít-xô đến Xchi-chi-nô, và việc đó đã được thực hiện. Khi họ đến Xchi-chi-nô, họ không tìm thấy lão quan cai quản, bởi vì hắn đã đi đến các cứ điểm phía đông để chiến đấu chống lại Vi-tôn; nhưng có một thuộc cấp đã được quan tòa ra lệnh mở tất cả các nhà tù và ngục tối ngầm. Họ lùng sục khắp nơi nhưng chẳng tìm thấy gì. Thậm chí họ còn giam giữ người dân để tra hỏi thông tin. Một trong số đó nói với Zi-bít-xô rằng cậu có thể tìm hiểu thêm thông tin từ vị tuyên úy, bởi vì vị tuyên úy là người duy nhất hiểu được tên đao phủ bị câm. Nhưng lão quan cai quản đã mang theo tên đao phủ đi cùng, còn vị tuyên úy thì đã đến Cơn-ni-xơ-bớc để tham dự một buổi họp mặt tôn giáo... Bọn chúng thường tụ họp ở đó để đâm đơn khiếu nại Các Hiệp sĩ Thánh Giá lên giáo hoàng, bởi vì ngay cả những linh mục nghèo khổ cũng bị chúng áp bức...”

“Tôi chỉ ngạc nhiên là tại sao họ lại không tìm thấy Giu-ran,” Mát-cô nhận xét.

“Rõ ràng là lão quan cai quản đã thả ông ấy đi. Hành động đó còn độc ác hơn nhiều so với việc cắt cổ ông ấy. Chúng muốn ông ấy phải chịu đựng nỗi đau đớn tột cùng mà một người ở địa vị như ông không thể nào chịu đựng nổi – Mù lòa, câm nín và tàn phế... Lạy Chúa!... Ông ấy không thể tìm nổi nhà mình, chẳng tìm được lối đi, thậm chí chẳng thể xin lấy một miếng bánh... Chúng nghĩ rằng ông ấy sẽ chết gục ở đâu đó sau một hàng rào vì đói khát, hoặc chết đuối ở một con sông nào đó... Chúng để lại cho ông cái gì chứ? Chẳng có gì ngoài những phương tiện để nhận thức các mức độ khốn khổ khác nhau. Và điều đó có nghĩa là tra tấn chồng chất tra tấn... Có thể ông ấy đã ngồi đâu đó gần nhà thờ, hoặc dọc theo con đường, và Zi-bít-xô đã đi ngang qua mà không nhận ra ông. Biết đâu cậu ấy còn nghe thấy cả tiếng của Zi-bít-xô, nhưng lại chẳng thể gọi với theo... Này!... Tôi không sao kìm được nước mắt!... Chúa đã làm một phép lạ, và đó là lý do tại sao tôi tin rằng Ngài sẽ còn làm nhiều điều lớn lao hơn nữa, mặc dù lời cầu nguyện này thốt ra từ đôi môi tội lỗi của tôi.”

“Zi-bít-xô còn nói gì nữa không? Nó đi đâu rồi?” Mát-cô hỏi.

“Cậu ấy nói: ‘Tôi biết Đa-nút-ska từng ở Xchi-chi-nô, nhưng bọn chúng đã bắt cóc hoặc bỏ đói cô ấy rồi. Lão phông Lơ-vơ đã làm điều đó, và xin Chúa chứng giám, tôi sẽ không nghỉ ngơi cho đến khi tóm được cổ hắn.’”

“Nó nói thế thật ư? Vậy thì chắc chắn là quan cai quản đã rời đi hướng đông, nhưng hiện tại đang có chiến tranh cơ mà.”

“Cậu ấy biết có chiến tranh, và đó là lý do tại sao cậu ấy lên đường đến trại của Hoàng tử Vi-tôn.”

“Cậu ấy còn nói rằng cậu ấy sẽ thành công trong việc trừng trị Các Hiệp sĩ Thánh Giá thông qua ngài ấy nhanh hơn là thông qua nhà vua.”

“Ra vậy, đi tìm Hoàng tử Vi-tôn!” Mát-cô thốt lên.

Rồi ông quay sang Gia-gi-en-ka.

“Ta đã bảo cô y hệt như thế còn gì. Ta thề là ta đã nói: ‘rằng chúng ta cũng sẽ phải đi tìm Vi-tôn thôi’...”

“Zi-bít-xô hy vọng rằng,” cha Ka-lêp nói tiếp, “Hoàng tử Vi-tôn sẽ tiến đánh Phổ và chiếm lấy một vài lâu đài ở đó.”

“Nếu cho ngài ấy thời gian, ngài ấy sẽ chẳng chần chừ đâu,” Mát-cô đáp. “Tạ ơn Chúa, bây giờ ít ra chúng ta cũng biết phải tìm Zi-bít-xô ở đâu rồi.”

“Chúng ta phải lên đường ngay lập tức,” Gia-gi-en-ka nói.

“Im lặng nào!” Mát-cô quát. “Con trai thì không được phép cắt ngang lời hội đồng.”

Rồi ông trừng mắt nhìn cô, như muốn nhắc nhở rằng cô đang đóng giả con trai; cô sực nhớ ra và im bặt.

Mát-cô trầm ngâm suy nghĩ một lát rồi nói:

“Bây giờ chúng ta chắc chắn sẽ tìm thấy Zi-bít-xô, bởi vì nó không đi lang thang vô định; nó đang ở bên cạnh Hoàng tử Vi-tôn. Nhưng cần phải biết liệu nó có còn đang tìm kiếm điều gì khác trên cõi đời này nữa không, ngoài những cái đầu của Các Hiệp sĩ Thánh Giá mà nó đã thề sẽ lấy cho bằng được.”

“Làm sao để xác định được điều đó?” cha Ka-lêp hỏi.

“Nếu chúng ta biết rằng vị linh mục ở Xchi-chi-nô đã trở về sau hội nghị đồng tâm. Tôi rất muốn gặp ông ta,” Mát-cô nói. “Tôi có thư giới thiệu từ Lin-chen-xta-in gửi tới Xchi-chi-nô và tôi có thể đến đó mà không phải sợ hãi gì cả.”

“Đó không phải là hội nghị giáo hội, mà là một đại hội,” cha Ka-lêp đáp, “và vị tuyên úy hẳn đã trở về từ lâu rồi.”

“Rất tốt. Mọi việc đều đè nặng lên vai ta cả. Ta sẽ mang theo Hla-va và hai người hầu, cùng những con ngựa thích hợp và lên đường.”

“Vậy là đi tìm Zi-bít-xô ư?” Gia-gi-en-ka hỏi.

“Thì đi tìm Zi-bít-xô chứ sao,” Mát-cô đáp. “Nhưng cô phải ở đây đợi tôi cho đến khi tôi quay về. Tôi cũng nghĩ rằng mình sẽ không bị giữ lại ở đó quá ba hay bốn ngày đâu. Tôi đã quen với muỗi mòng và sự mệt mỏi rồi. Vì vậy, tôi xin nhờ cha Ka-lêp viết cho tôi một bức thư gửi vị tuyên úy ở Xchi-chi-nô. Ông ấy sẽ tin tưởng tôi mà không chút do dự nếu tôi đưa ra bức thư của cha, bởi vì giữa hàng giáo sĩ luôn có sự tin tưởng lớn lao dành cho nhau.”

“Mọi người vẫn ca ngợi vị linh mục đó,” cha Ka-lêp nói, “và nếu có ai biết điều gì, thì đó chính là ông ấy.”

Ngài chuẩn bị một bức thư ngay trong buổi tối, và vào sáng hôm sau, trước lúc bình minh, lão Mát-cô đã rời khỏi Xpai-kốp.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.