Hiệp Sĩ Dòng Thánh Giá: Tiểu Thuyết Lịch Sử Krzyzacy

Lượt đọc: 68 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3

❊ ❊ ❊

Vị lão đan sĩ chắp hai tay lại và bắt đầu ngâm lớn bài "Cầu siêu";[89] rồi ông ngồi phịch xuống một chiếc ghế dài, nhắm nghiền mắt một lúc như để thu gom tâm trí; cuối cùng ông cất tiếng:

"Wincenty xứ Szamotul đã đưa họ đến đây. Lúc đó ta mới tròn hai mươi tuổi, và vừa từ Cylia cùng người chú Petzoldt của ta tới. Bọn Krzyzak tấn công thị trấn và phóng hỏa đốt phá. Từ trên tường thành, chúng ta có thể thấy rõ ngay giữa quảng trường chợ, chúng chặt đầu đàn ông và đàn bà như thế nào, và ném những đứa trẻ thơ vào ngọn lửa ra sao. Chúng thậm chí còn sát hại cả các tu sĩ, bởi trong cơn cuồng nộ chúng chẳng tha một ai. Viện phụ Mikolaj, vốn sinh ra ở Elblong, có quen biết với Comthur Herman, kẻ cầm đầu quân đội chúng. Thế nên ngài đã cùng các vị cao tăng đi tìm viên hiệp sĩ đáng sợ ấy, rồi quỳ xuống trước mặt hắn, bằng tiếng Đức tha thiết cầu xin hắn rủ lòng thương xót trước dòng máu Cơ Đốc. Comthur Herman lạnh lùng đáp: 'Ta không hiểu,' và ra lệnh cho binh lính tiếp tục tàn sát dân lành. Chúng cũng thảm sát cả các tu sĩ, trong đó có người chú Petzoldt của ta; viện phụ Mikolaj bị buộc xác vào đuôi ngựa kéo lê. Sáng hôm sau, trong thị trấn này không còn một bóng người sống sót ngoại trừ bọn Krzyzak và ta. Ta đã trốn lên một thanh xà trên tháp chuông. Chúa đã trừng phạt chúng tại Plowce;[90] thế nhưng chúng vẫn muốn tiêu diệt vương quốc Cơ Đốc giáo này, và chẳng gì có thể ngăn cản chúng trừ khi cánh tay của Chúa giáng xuống nghiền nát chúng."

"Tại Plowce," Zbyszko lên tiếng, "hầu như toàn bộ đàn ông trong họ hàng của con đều tử trận; nhưng con chẳng lấy làm tiếc nuối, bởi Chúa đã ban một đại thắng cho nhà vua Lokietek,[91] và hai vạn tên Đức đã bị tiêu diệt."

"Ngươi sẽ còn chứng kiến một cuộc chiến lớn hơn thế và một chiến thắng vĩ đại hơn nữa," vị viện phụ nói.

"Amen!" Zbyszko đáp.

Rồi họ bắt đầu chuyện trò sang những vấn đề khác. Vị hiệp sĩ trẻ hỏi thăm về kẻ bán thánh tích dạo mà anh đã gặp dọc đường. Anh được biết rằng có rất nhiều kẻ bịp bợm tương tự đang lang thang khắp các nẻo đường để lừa gạt những người nhẹ dạ. Vị viện phụ cũng cho hay có những chiếu chỉ của Giáo hoàng ra lệnh cho các giám mục phải thẩm vấn những kẻ buôn thánh tích dạo như vậy và trừng phạt ngay lập tức những kẻ không có thư từ và ấn tín xác thực. Những giấy tờ giới thiệu của kẻ lạ mặt có vẻ là đồ giả mạo trong mắt vị viện phụ; thế nên ngài muốn giải hắn ra trước quyền phán quyết của giám mục. Nếu hắn chứng minh được bản thân thực sự do Giáo hoàng sai phái, thì sẽ chẳng có tổn hại gì xảy ra cho hắn cả. Tuy nhiên, hắn đã trốn thoát. Có lẽ hắn sợ chuyến đi của mình bị trì hoãn; nhưng chính vì hành động bỏ trốn này, hắn đã tự chuốc lấy sự nghi ngờ còn lớn hơn nữa.

Vị viện phụ mời Zbyszko ở lại qua đêm trong tu viện; nhưng anh từ chối, bởi anh muốn treo trước quán trọ một tấm bảng thách đấu gửi đến tất cả những hiệp sĩ nào phủ nhận rằng Panna Danuta Jurandowna là thiếu nữ xinh đẹp nhất và đức hạnh nhất vương quốc, mời họ giao đấu trên ngựa hoặc dưới bộ. Thật không phải phép nếu treo một lời thách thức như vậy ngay trên cổng tu viện. Khi đến quán trọ, anh liền hỏi tìm Sanderus.

"Vị viện phụ nghĩ ngươi là một tên vô lại," Zbyszko nói, "vì ngài bảo: 'Tại sao hắn phải sợ sự phán xét của giám mục, nếu hắn có những giấy tờ giới thiệu đàng hoàng?'"

"Tôi nào có sợ giám mục," Sanderus đáp; "tôi sợ mấy tay tu sĩ, những kẻ chẳng biết gì về ấn tín cả. Tôi muốn đi Krakow, nhưng lại chẳng có nổi một con ngựa; thế nên tôi buộc phải đợi cho đến khi có ai đó rủ lòng thương tặng cho mình một con. Trong lúc chờ đợi, tôi sẽ gửi một bức thư, và tự mình đóng ấn lên đó."

"Nếu ngươi chứng minh được mình biết chữ, điều đó sẽ chứng tỏ ngươi không phải kẻ phàm phu; nhưng ngươi định gửi thư bằng cách nào?"

"Nhờ mấy người hành hương, hoặc tu sĩ lang thang. Có rất nhiều người đang hành hương đến ngôi mộ của vương hậu."

"Ngươi có viết được cho ta một tấm thẻ không?"

"Thưa ngài, tôi viết được tuốt, kể cả trên một tấm ván, bất cứ điều gì ngài muốn."

"Ta nghĩ viết trên ván sẽ tốt hơn," Zbyszko bảo, "vì nó sẽ không bị rách và sau này ta có thể dùng lại."

Quả nhiên, chỉ một lát sau, đám gia nhân mang đến một tấm ván mới và Sanderus liền viết lên đó. Zbyszko chẳng thể đọc nổi những gì được viết trên tấm ván; nhưng anh ra lệnh dùng đinh đóng nó lên cửa quán trọ, bên dưới treo một chiếc khiên được mấy tên lính đánh thuê người Thổ Nhĩ Kỳ luân phiên canh gác. Bất cứ ai gõ vào khiên đồng nghĩa với việc tuyên bố muốn giao đấu. Thế nhưng cả ngày hôm đó lẫn ngày hôm sau, chiếc khiên vẫn lặng thinh không một tiếng động; và đến xế chiều, vị hiệp sĩ đau khổ đã sẵn sàng tiếp tục cuộc hành trình.

Tuy nhiên, trước khi đi, Sanderus đến gặp Zbyszko và thưa rằng:

"Thưa ngài, nếu ngài treo chiếc khiên của mình trên đất của các lãnh chúa Phổ, tôi đoan chắc rằng kẻ mang giáp cho ngài sẽ phải vất vả thắt dây áo giáp đấy."

"Ngươi nói gì thế! Chẳng lẽ ngươi không biết rằng một tên Krzyzak, vì là tu sĩ, nên không thể có phu nhân hay vướng vào chuyện tình ái, bởi điều đó bị cấm ngặt."

"Tôi nào biết tụi nó có bị cấm hay không; nhưng tôi biết chắc chúng vẫn có người yêu. Sự thật là một tên Krzyzak không thể đấu tay đôi mà không tự chuốc lấy điều tiếng, bởi hắn đã thề nguyện chỉ chiến đấu vì đức tin; nhưng ngoài các tu sĩ ra, còn có rất nhiều hiệp sĩ thế tục đến từ những xứ sở xa xôi để phò tá các lãnh chúa Phổ. Bọn họ đang lùng sục khắp nơi để tìm người tỷ thí, đặc biệt là các hiệp sĩ người Pháp."

"Chà! Ta từng giáp mặt họ ở Wilno, và nếu Chúa cho phép, ta sẽ gặp lại họ ở Marienburg. Ta cần những chiếc lông công trên mũ trụ của họ, bởi ta đã thề nguyện—ngươi hiểu chứ?"

"Thưa ngài, tôi sẽ bán cho ngài hai hoặc ba giọt mồ hôi mà Thánh George đã túa ra khi chiến đấu với con rồng. Chẳng có thánh tích nào hữu ích với một hiệp sĩ hơn thế đâu. Hãy đổi cho tôi con ngựa mà ngài vừa cho phép tôi cưỡi lấy nó; rồi tôi cũng sẽ ban cho ngài sự ân xá cho dòng máu Cơ Đốc mà ngài sắp đổ ra trong trận chiến."

"Tránh xa ta ra, kẻo ta nổi giận đấy. Ta sẽ chẳng mua món hàng nào của ngươi cho đến khi ta biết chắc chúng là đồ thật."

"Thưa ngài, ngài đang trên đường đến triều đình Mazowiecki, như chính ngài đã nói. Hãy hỏi ở đó xem bao nhiêu thánh tích đã được mua từ tay tôi, từ chính phu nhân công nương, các hiệp sĩ cho đến những thiếu nữ chuẩn bị cử hành hôn lễ mà tôi từng tham dự."

"Hôn lễ nào cơ chứ?" Zbyszko hỏi.

"Theo thói quen trước mùa Vọng, các hiệp sĩ tranh thủ kết hôn càng sớm càng tốt, bởi người ta đang đồn đoán sắp có một cuộc chiến nổ ra giữa vua Ba Lan và các lãnh chúa Phổ vì vùng đất Dobrzyn. Thế nên một số người mới bảo nhau: 'Trời mới biết liệu ta có còn mạng trở về hay không'."

Zbyszko rất nóng lòng muốn nghe tin tức về chiến tranh, nhưng anh còn khát khao nghe ngóng về những đám cưới mà Sanderus đang nhắc tới hơn bội phần; thế nên anh gặng hỏi:

"Những cô gái nào đã kết hôn ở đó thế?"

"Các nữ tì hầu cận công nương. Tôi không chắc có dù chỉ một người ở lại hay không, vì tôi nghe công nương phàn nàn rằng ngài sẽ phải tìm kiếm những người hầu khác."

Nghe vậy, Zbyszko im lặng giây lát; rồi anh hỏi với giọng đổi khác:

"Còn Panna Danuta Jurandowna, người có tên trên tấm bảng kia, liệu có kết hôn không?"

Sanderus chần chừ trước khi trả lời. Bản thân hắn cũng chẳng nắm rõ sự thật; rồi hắnnghĩ rằng nếu cứ để vị hiệp sĩ trong trạng thái lo lắng và hoang mang, hắn sẽ càng dễ bề thao túng anh hơn. Hắn muốn giữ vững tầm ảnh hưởng đối với vị hiệp sĩ này — một kẻ có tùy tùng đông đúc và chu cấp đủ đường.

Tuổi trẻ của Zbyszko khiến hắn phỏng đoán rằng anh sẽ là một chủ nhân hào phóng, chẳng màng tính toán và phóng khoáng với tiền bạc. Hắn đã sớm nhận ra bộ áo giáp đắt giá chế tác từ Milan và những con chiến mã to lớn mà không phải ai cũng có được; từ đó hắn tự nhủ rằng nếu được đồng hành cùng một hiệp sĩ như thế, hắn sẽ luôn được thết đãi chu đáo tại dinh thự của các quý tộc, lại có cơ hội tuyệt vời để buôn bán thánh tích; anh ta sẽ an toàn suốt dọc đường và có dư dả thức ăn thức uống — thứ mà hắn vô cùng quan tâm.

Thế nên, khi nghe câu hỏi của Zbyszko, hắn liền cau mày, ngước mắt lên như đang cố gắng hồi tưởng, rồi đáp:

"Panna Danuta Jurandowna ư? Nàng ta ở đâu tới?"

"Jurandowna Danuta gốc Spychow."

"Tôi đã gặp tất cả bọn họ, nhưng không thể nhớ nổi tên tuổi từng người."

"Nàng còn rất trẻ; biết gảy đàn lu-ta và thường ca hát để giải khuây cho công nương."

"Aha — trẻ tuổi — biết gảy đàn lu-ta — dạo ấy cũng có vài cô thiếu nữ kết hôn. Nàng ta có làn da ngăm ngăm như đá mã não chứ?"

Zbyszko thở phào nhẹ nhõm.

"Không, không phải nàng ấy! Danusia trắng tựa tuyết, nhưng đôi má lại ửng hồng."

Nghe vậy, Sanderus đáp lời:

"Có một cô nàng da ngăm như đá mã não vẫn ở lại bên công nương; còn những người khác hầu như đều đã lấy chồng."

"Ngươi nói 'hầu như tất cả,' nghĩa là không phải tất cả. Vì Chúa, nếu ngươi muốn nhận được gì từ ta, hãy cố gắng nhớ lại xem nào."

"Chỉ hai hay ba ngày nữa là tôi có thể nhớ ra; cách tốt nhất là ngài hãy tặng cho tôi một con ngựa, để tôi có thể chở theo những thánh tích thiêng liêng của mình."

"Ngươi sẽ có nó nếu chịu nói ra sự thật."

Ngay lúc đó, tay cận vệ người Séc nãy giờ vẫn im lặng lắng nghe câu chuyện bỗng mỉm cười nói:

"Sự thật ra sao thì đến triều đình Mazowiecki khắc rõ."

Sanderus nhìn gã một lúc rồi lạnh lùng đáp:

"Mày nghĩ tao sợ triều đình Mazowiecki chắc?"

"Tao không bảo mày sợ triều đình Mazowiecki; nhưng dù là bây giờ hay ba ngày sau đi nữa, mày cũng đừng hòng chuồn đi cùng con ngựa nào hết. Nếu lòi ra là mày dám bịp bợm, thì mày cũng chẳng còn chân mà bước đi nổi đâu, bởi chủ tao sẽ ra lệnh cho tao bẻ gãy chúng đấy."

"Cứ tin là thế đi!" Zbyszko bồi thêm.

Lúc này Sanderus chợt nhận ra cẩn trọng vẫn hơn, bèn lái lại:

"Nếu muốn dối trá, tôi đã phang ngay ra là cô ta lấy chồng hay chưa rồi; nhưng tôi đã nói: 'Tôi không nhớ.' Nếu ngài có chút thông tuệ, ngài phải nhận ra đức hạnh của tôi qua câu trả lời đó chứ."

"Cái sự thông tuệ của ta chẳng phải anh em gì với đức hạnh của ngươi cả, bởi đức hạnh của ngươi chẳng khác nào chị em với loài chó."

"Đức hạnh của tôi không sủa inh ỏi như cái sự thông tuệ của ngài; và kẻ nào còn sống mà sủa bậy, thì chết đi cũng chỉ có nước tru tréo mà thôi."

"Được lắm! Đức hạnh của ngươi chết đi chắc chắn chẳng thèm tru tréo đâu; nó sẽ nghiến răng ken két ấy chứ, miễn là lúc sống đừng để mất hết hàm răng trong lúc phục vụ ma quỷ!" Cứ thế họ lời qua tiếng lại; gã người Séc vốn lưỡi bén miệng nhọn, cứ mỗi câu của tên Đức là gã đáp trả lại hai câu. Zbyszko sau khi hỏi thăm con đường dẫn đến Lenczyca liền ra lệnh cho đoàn tùy tùng tiếp tục lên đường. Vượt qua Sieradz, họ bước vào những khu rừng rậm rạp bao phủ phần lớn vùng đất này; thế nhưng những con đường cái quan xuyên qua các khu rừng ấy đã được lát bằng những khúc gỗ súc và đào hào hai bên theo sắc lệnh của vua Kazimierz. Đương nhiên là sau băng hà của ngài, giữa những rối ren chiến do các phe phái Nalenczs và Grzymalits khơi mào, những con đường đã bị bỏ bê; nhưng dưới triều đại của Jadwiga, khi hòa bình được vãn hồi trên vương quốc, những chiếc xẻng lại một lần nữa hối hả nơi đầm lầy, tiếng rìu vang vọng chốn thâm sơn; chẳng mấy chốc mà thương nhân có thể dong xe chở đầy hàng hóa đi lại an toàn giữa các thành lớn. Mối hiểm nguy duy nhất đến từ thú dữ và cướp bốc; nhưng đối với thú dữ, họ đã có đèn lồng để soi đêm và nỏ chiến để tự vệ ban ngày; hơn nữa, cướp đường ở đây ít hơn hẳn so với những xứ sở khác, và bất cứ ai di chuyển cùng một đoàn tùy tùng vũ trang thì chẳng cần phải bận tâm lo sợ điều gì.

Zbyszko không sợ cướp bốc cũng chẳng ngán những hiệp sĩ vũ trang; anh thậm chí còn chẳng mảy may nghĩ đến chúng. Thế nhưng lòng anh lại ngập tràn nỗi âu lo tột cùng, và toàn tâm toàn ý khát khao sớm được đặt chân đến triều đình Mazowiecki. Liệu anh có còn tìm thấy Danusia trong vị thế nữ tì hầu cận công nương, hay nàng đã trở thành hiền thê của một hiệp sĩ xứ Masovia nào đó rồi? Thỉnh thoảng anh thấy thật khó lòng tin được rằng nàng lại có thể quên đi lời hẹn ước; nhưng đôi lúc anh lại nghĩ hay là Jurand đã từ Spychow đến triều đình và gả cô gái cho một người hàng xóm hay bằng hữu nào đó. Jurand từng bảo anh ở Krakow rằng ông không thể giao Danusia cho anh; thế nên hiển nhiên là ông đã hứa gả cô cho kẻ khác; rõ ràng ông bị ràng buộc bởi một lời thề, và giờ đây ông đã thực hiện trọn vẹn lời hứa ấy. Zbyszko gọi Sanderus lại và gặng hỏi thêm lần nữa; nhưng gã người Đức càng lúc càng quanh co lẩn tránh.

Cứ thế, Zbyszko phi ngựa đi trong tâm trạng buồn bã và não nề. Anh chẳng màng nghĩ đến Bogdaniec hay Zgorzelice, mà tâm trí chỉ quẩn quanh với câu hỏi phải hành xử thế nào đây. Trước tiên, điều tối quan trọng là phải xác thực cho bằng được sự thật tại triều đình Mazowiecki; thế nên anh giục ngựa phóng nhanh, chỉ dừng chân chốc lát tại dinh thự của các quý tộc, trong quán trọ hay các thành thị để cho ngựa nghỉ ngơi. Chưa bao giờ anh nguôi ngoai tình yêu dành cho Danusia; thế nhưng khi còn ở Bogdaniec và Zgorzelice, ngày ngày chuyện trò cùng Jagienka và ngắm nhìn nhan sắc của nàng, anh đã không thường xuyên nghĩ về Danusia nhiều đến thế. Giờ đây, hình ảnh nàng hiện diện khắc khoải trong tâm trí anh từng giây từng phút, ngày cũng như đêm. Ngay cả trong giấc ngủ, anh cũng thấy nàng đứng trước mặt, tay ôm đàn lu-ta và đầu đội vòng hoa. Nàng vươn những ngón tay về phía anh, nhưng Jurand lại kéo phắt nàng đi. Khi những giấc chiêm bao tan biến vào buổi sáng, nỗi khát khao lại càng cồn cào da diết, và anh yêu thiếu nữ ấy hơn bao giờ hết — ngay lúc anh đang bấp bênh không biết họ đã tước đoạt nàng khỏi tay mình hay chưa.

Có lúc anh sợ rằng họ đã ép gả nàng đi trái với ý nguyện; thế nên anh không hề giận nàng, bởi nàng dẫu sao cũng chỉ là một đứa trẻ và chẳng thể tự quyết định được số phận. Nhưng anh căm giận Jurand cùng công nương Januszowna. Anh thầm thề rằng sẽ không bao giờ thôi phò tá nàng; dẫu có tìm thấy nàng trong vòng tay kẻ khác, anh vẫn sẽ đến đặt những chiếc lông công rực rỡ dưới chân nàng.

Đôi khi, nỗi u hoài lại được xoa dịu đôi chút khi anh nghĩ về một cuộc chiến tranh lớn sắp tới. Anh cảm nhận rằng giữa khói lửa chiến trận, mọi ưu phiền sẽ trôi tuột vào quên lãng và anh sẽ thoát khỏi mọi nỗi đau thương đứt ruột. Cuộc đại chiến ấy dường như đang lơ lửng bủa vây bầu không khí. Chẳng ai biết nguồn tin phát xuất từ đâu, bởi giữa quốc vương và Dòng Hiệp sĩ vẫn đang duy trì hòa ước; thế nhưng mặc cho Zbyszko đặt chân đến đâu, người ta cũng chỉ bàn tán về điều đó. Lòng người đang mang máng dự cảm về một cuộc giao tranh hiển hiện, và vài kẻ mạnh dạn tuyên bố thẳng thừng: 'Chúng ta liên minh với Litwa để làm gì, nếu không phải để chống lại bầy sói ăn thịt người ấy — bọn Hiệp sĩ Thánh chiến? Thế nên chúng ta phải thanh toán sòng phẳng với chúng một lần cho dứt điểm, kẻo chúng sẽ hủy hoại chúng ta.' Kẻ khác lại buông lời: 'Mấy tên tu sĩ điên rồ! Chúng chẳng màng bài học tại Plowce! Thần chết đang lơ lửng trên đầu mà chúng vẫn còn dám tước đoạt vùng đất Dobrzyn.'

Khắp mọi ngóc ngách trong vương quốc, người ta đang âm thầm chuẩn bị một cách vô cùng nghiêm cẩn, chẳng mảy may khoác lác, hệt như lề thói cho một trận chiến một mất một còn; mang theo mối hận thù âm ỉ, chí mạng của một dân tộc hùng cường từng chịu đựng biết bao cay đắng uất nghẹn, để rồi giờ đây đã sẵn sàng giáng xuống một đòn trừng phạt khủng khiếp. Dừng chân tại bất kỳ dinh thự quý tộc nào, Zbyszko cũng bắt gặp những con người đinh ninh rằng chỉ khoảnh khắc kế tiếp thôi là họ phải lập tức phóng lên yên ngựa. Zbyszko khấp khởi vui mừng khi chứng kiến công tác chuẩn bị khẩn trương ấy hiển hiện ở mọi chặng đường. Đâu đâu những bận tâm thường nhật cũng phải nhường chỗ cho trăn trở về chiến mã và giáp trụ. Người ta đang nghiêm túc kiểm tra từng ngọn giáo, thanh gươm, chiếc rìu rìu, mũ trụ cho đến lao phóng với ánh mắt sắc lạnh. Thợ rèn làm việc cật lực ngày đêm, nện búa chan chát lên những tấm thép dày cộp để đúc nên những bộ giáp nặng trịch — thứ mà các hiệp sĩ phương Tây xa hoa khó lòng nhấc nổi, nhưng lại vừa vặn và vô cùng thuận tiện cho những tráng sĩ lực lưỡng xứ Wielkopolska và Malopolska. Các cụ già lôi từ đáy rương những chiếc túi mốc meo ních đầy những đồng grzywns[92] để tài trợ cho chuyến viễn chinh tòng quân của con cháu. Có đêm Zbyszko nghỉ lại tại tư dinh của một nhà quý tộc giàu có tên là Bartosz xứ Bielaw — người có tới hai mươi hai người con trai tráng kiện, sẵn sàng cầm cố toàn bộ điền trang bề thế của mình cho tu viện ở Lowicz chỉ để tậu đủ hai mươi hai bộ giáp trụ, số lượng tương đương mũ chiến và binh khí. Đến lúc này, Zbyszko mới thầm thấm thía rằng việc tiến đánh nước Phổ là điều tất yếu, và anh thầm tạ ơn Chúa vì bản thân đã được trang bị vô cùng chu đáo.

Nhiều người lầm tưởng anh là con trai của một vị wojewoda; và khi anh bộc bạch mình chỉ là một quý tộc nghèo, rằng những bộ giáp anh đang mang hoàn toàn có thể tậu được từ quân Đức bằng một búa rìu chí mạng, ánh mắt họ lại bừng lên ngọn lửa nhiệt huyết sục sôi hướng về trận chiến. Không ít hiệp sĩ khi tận mắt chiêm ngưỡng bộ giáp ấy và dấy lên khao khát sở hữu đã bám theo Zbyszko rồi gặng hỏi: 'Ngươi có dám đấu một trận vì nó không?'

Hơi khác một chút, xứ Masovia có vẻ ít bàn tán về chiến tranh hơn. Họ cũng tin rằng ngày ấy rồi sẽ đến, chỉ là chưa rõ thời điểm. Tại Warszawa, không khí vẫn vô cùng yên bình. Triều đình đang đóng đô ở Ciechanow — nơi hoàng tử Janusz đã cho trùng tu sau cuộc xâm lược của người Litwa; chẳng còn chút dấu tích nào của thị trấn cổ xưa ngoại trừ tòa lâu đài.

Tại thành phố Warszawa, Zbyszko được tiếp đón bởi Jasko Socha — quan cai quản lâu đài đồng thời là con trai của vị wojewoda Abraham từng tử trận tại Worskla. Jasko vốn quen biết Zbyszko từ chuyến đi Krakow cùng công nương; thế nên hắn nồng nhiệt đón tiếp anh với niềm hoan hỉ. Tuy nhiên, trước khi kịp chạm môi vào chén rượu hay miếng ăn, chàng trai trẻ đã sốt sắng gặng hỏi Jasko về tung tích của Danusia. Đáng tiếc là hắn chẳng hề hay biết gì, bởi cả hoàng tử lẫn công nương đã dời về Ciechanow kể từ mùa thu. Ở Warszawa lúc bấy giờ chỉ có vài tay cung thủ cùng bản thân hắn ở lại túc trực bảo vệ lâu đài. Hắn chỉ nghe phong phanh rằng có nhiều buổi yến tiệc và hôn lễ được tổ chức ở Ciechanow; nhưng cụ thể những cô gái nào đã lên xe hoa thì hắn hoàn toàn mù tịt.

"Nhưng ngài cứ yên tâm," hắn trấn an, "tôi nghĩ Jurandowna chưa lấy chồng đâu; những chuyện trọng đại thế này không thể thiếu mặt Jurand, mà tôi thì chưa hề nghe tin ông ấy đặt chân tới đây. Có hai tay tu sĩ dòng Hiệp sĩ, vốn là hai comthur, đang lưu lại cùng hoàng tử; một kẻ đến từ Jansbork và kẻ kia từ Szczytno, bên cạnh vài vị khách phương xa khác; vào những dịp như thế, Jurand chẳng bao giờ bén mảng đến triều đình, bởi chỉ cần nhìn thấy tấm áo choàng trắng là máu trong người ông lại sôi sục. Nếu không có Jurand thì chẳng thể có đám cưới nào ráo trọi! Nếu ngài muốn, tôi sẽ cắt cử một sứ giả phóng ngựa đi dò la rồi bắt hắn quay về báo tin tức thì; nhưng tôi đoan chắc ngài sẽ tìm lại được Jurandowna vẫn hãy còn là một thiếu nữ nguyên vẹn."

"Chính ngày mai ta sẽ tự mình phi ngựa đến đó; dẫu sao cũng tạ ơn Chúa vì lòng tốt của ngươi. Ngay khi đàn ngựa lấy lại sức, ta sẽ khởi hành, bởi ta sẽ chẳng tài nào nhắm nổi mắt cho đến khi tận mắt tường tận sự thật."

Tuy nhiên Socha vẫn chưa yên tâm, hắn bèn đi thăm dò khắp lượt giới quý tộc và binh lính xem có ai nghe ngóng được gì về đám cưới của Jurandowna không. Chẳng ai hay biết mảy may điều gì, dẫu trong số họ có không ít kẻ từng lưu lại Ciechanow.

Trong khi đó Zbyszko lui về phòng nghỉ trong trạng thái nhẹ nhõm hơn nhiều. Khi ngả lưng trên giường, anh thoáng định vứt quách cái gã Sanderus đi cho rảnh nợ; nhưng ngẫm lại, anh thấy tên tiểu nhân ấy ít ra vẫn còn chút hữu dụng nhờ khả năng thông thạo tiếng Đức. Sanderus hóa ra không hề nói dối anh; và dẫu cho việc nuôi dưỡng gã tốn kém chẳng khác nào bốn cái miệng ăn trong các quán trọ do cái thói phàm ăn tục uống, nhưng bù lại gã rất việc việc và tỏ ra khá gắn bó với chủ. Hơn nữa gã lại có tài viết lách, điều đó giúp gã vượt trội hơn hẳn gã mang giáp người Séc và thậm chí cả Zbyszko. Cứ thế, Zbyszko lại cho phép gã tiếp tục theo chân đoàn tùy tùng tiến về Ciechanow. Sanderus mừng ra mặt, bởi hắn nhận ra rằng khi được kề cận những nhân vật danh giá, hắn sẽ dễ dàng lấy được lòng tin và tìm kiếm được nhiều khách hàng mua thánh tích hơn. Sau một đêm dừng chân tại Nasielsk, với tốc độ vừa phải không nhanh không chậm, vào một buổi chiều tối ngày hôm sau, họ đã nhìn thấy những bức tường thành của lâu đài Ciechanow sừng sững hiện ra. Zbyszko dừng chân tại một quán trọ để khoác lên mình bộ giáp trụ, nhằm đường hoàng tiến vào lâu đài theo đúng nghi thức hiệp sĩ — đầu đội mũ trụ và tay lăm lăm ngọn giáo; rồi anh phóng lên lưng con chiến mã to lớn, vẽ một thánh giá vạch ngang bầu trời và phóng vút đi. Chẳng bao lâu sau, gã người Séc phi ngựa bám sát phía sau liền áp sát thưa rằng:

"Thưa đại nhân, có mấy gã hiệp sĩ đang bám theo sau chúng ta; chắc chắn là tụi Krzyzak rồi."

Zbyszko quay đầu lại và đập vào mắt anh là một đoàn tùy tùng lộng lẫy cách đó chừng nửa dặm, dẫn đầu là hai hiệp sĩ ngự trên những con chiến mã vùng Pomerania tuyệt đẹp, toàn thân mang giáp trụ kín mít, khoác áo choàng trắng thêu cây thánh giá đen và đội những chiếc mũ trụ gắn chùm lông công cao vút.

"Lạy Chúa, bọn Krzyzak!" Zbyszko thốt lên.

Theo phản xạ tự nhiên, anh chồm người về phía trước, hạ thấp ngọn giáo nhắm thẳng phía trước; thấy vậy gã cận vệ người Séc liền rút phắt rìu chiến. Đám gia nhân còn lại vốn dặn dày kinh nghiệm chiến trận cũng vào trạng thái sẵn sàng — không phải để hỗn chiến, bởi gia nhân không được phép tham gia vào những cuộc tỷ thí đơn đấu, mà để đo đạc khoảng cách giao đấu trên ngựa hoặc san phẳng mặt bằng cho cuộc đấu dưới bộ. Chỉ riêng gã người Séc, với thân phận quý tộc, là sẵn sàng lâm trận; nhưng hắn đinh ninh Zbyszko sẽ phải hô vang lời thách đấu trước khi lao vào tấn công, thế nên hắn vô cùng kinh ngạc khi thấy chủ nhân hạ giáo từ trước.

Nhưng may mắn là Zbyszko đã kịp thời hồi tỉnh. Anh nhớ lại bài học cay đắng khi đụng độ Lichtenstein gần Krakow cùng bao hệ lụy khôn lường kéo theo sau đó; thế nên anh vội vã nhấc cao ngọn giáo rồi trao lại cho gã người Séc. Không rút gươm, anh thúc ngựa phi thẳng về phía những tên Krzyzak. Khi áp sát, anh nhận ra có cả một hiệp sĩ thứ ba cũng đội mũ lông công y hệt, cùng một kẻ thứ tư không mặc giáp nhưng để tóc dài thượt, trông giống hệt một tráng sĩ xứ Mazuria. Thoạt nhìn, anh đoán ngay họ chắc chắn là những sứ giả đến yết kiến hoàng tử Mazowiecki; thế nên anh cất cao giọng:

"Nguyện Chúa Giê-su Ki-tô được tôn vinh!"

"Đời đời kiếp kiếp!" tráng sĩ tóc dài đáp lại.

"Nguyện Chúa phù hộ ngài!"

"Cả ngài nữa, thưa hiệp sĩ!"

"Ngợi ca Thánh George!"

"Ngài là vị thánh hộ mệnh của chúng ta. Chào mừng ngài đến."

Họ bắt đầu cúi đầu chào hỏi lẫn nhau; Zbyszko xưng tên tuổi, gốc gác, gia huy, tiếng hò reo xung trận của mình và đích đến là triều đình Mazowiecki. Vị hiệp sĩ tóc dài tự giới thiệu tên là Jendrek xứ Kropiwnica, đang lãnh trách nhiệm hộ tống một số vị khách quý đến diện kiến hoàng tử; đó là Huynh đệ Godfried, Huynh đệ Rotgier, cùng ngài Sir Fulko de Lorche gốc Lotaringen — những người đang tá túc bên phe Hiệp sĩ Thánh chiến nhưng lại có nguyện vọng diện kiến hoàng tử, đặc biệt là công nương — ái nữ của vị anh hùng "Kiejstut" lẫy lừng.

Trong lúc họ chuyện trò, các vị hiệp sĩ ngoại quốc vẫn giữ tư thế uy nghi trên yên ngựa, thỉnh thoảng lại cúi đầu chào với những chiếc mũ sắt lấp lánh chùm lông công rực rỡ. Thoạt nhìn bộ giáp lộng lẫy của Zbyszko, họ đinh ninh rằng hoàng tử đã cử một nhân vật tầm cỡ nào đó, thậm chí là hoàng tử con, ra tận nơi đón tiếp. Jendrek xứ Kropiwnica tiếp lời:

"Vị comthur, hay theo cách gọi của chúng ta là quan cai quản từ Jansbork đang lưu lại lâu đài của hoàng tử; chính ngài ấy đã tâu với hoàng tử về những vị hiệp sĩ này, rằng họ mong mỏi được yết kiến nhưng lại mang tâm lý dè dặt, nhất là vị hiệp sĩ đến từ Lotaringen kia — vốn xuất thân từ một xứ sở xa xôi, ngài ấy cứ đinh ninh rằng bọn Saracen sinh sống ngay sát biên giới của Dòng Hiệp sĩ và những cuộc chiến liên miên với chúng vẫn đang tiếp diễn. Hoàng tử liền phái ngay ta ra tận biên giới để đón họ về lâu đài an toàn."

"Chẳng lẽ họ không thể tự thân di chuyển mà không cần sự trợ giúp của ngươi sao?"

"Dân chúng xứ ta đang căm phẫn tột độ trước sự lật lọng tráo trở của bọn Krzyzak; một tên Krzyzak có thể ôm hôn thắm thiết nhưng sẵn sàng đâm lén ngươi một nhát dao sau lưng ngay khoảnh khắc tiếp theo; lối hành xử tiểu nhân đó khiến người dân Masuria chúng ta vô cùng ghê tởm. Mặc dù vậy, bất cứ ai cũng sẵn sàng mở cửa đón tiếp ngay cả một kẻ người Đức dưới mái nhà mình và không bao giờ làm tổn hại đến khách khứa; chỉ là họ sẽ chặn đường thăm dò mà thôi. Có không ít kẻ làm vậy để trả thù, hoặc để phô trương danh dự."

"Trong số các ngươi, ai là kẻ nổi danh nhất?"

"Có một người mà bất kỳ gã Đức nào cũng phải run sợ mỗi khi giáp mặt; đó chính là Jurand xứ Spychow."

Trái tim chàng hiệp sĩ trẻ đập loạn nhịp khi nghe cái tên ấy vang lên; anh ngay lập tức hạ quyết tâm gặng hỏi Jendrek xứ Kropiwnica cho raẽ.

"Ta biết chứ!" anh lên tiếng; "ta từng nghe qua về ông ấy; con gái ngài ấy là Danusia từng là nữ tì hầu cận công nương; sau đó nàng đã kết hôn."

Vừa thốt xong, anh liền đăm đăm nhìn sâu vào mắt vị hiệp sĩ xứ Mazovia, và nhận lại cái nhìn đầy kinh ngạc:

"Ai nói với ngài điều đó vậy? Nàng ấy vẫn còn trẻ măng cơ mà. Quả thật thỉnh thoảng vẫn có những trường hợp thiếu nữ kết hôn từ khi còn rất sớm, nhưng Jurandowna hoàn toàn chưa chồng. Ta rời Ciechanow mới sáu ngày trước và tận mắt trông thấy nàng ở bên công nương. Làm thế nào mà nàng lại có thể lấy chồng ngay trong mùa Vọng cơ chứ?"

Nghe đến đây, Zbyszko chỉ chực chồm lên tóm cổ vị hiệp sĩ kia mà hét lớn: "Nguyện Chúa ban phước cho tin tức của ngươi!", nhưng anh đã kịp kìm chế lại, rồi đáp:

"Ta nghe nói chính Jurand đã gả nàng cho ai đó cơ mà."

"Ấy là ý muốn của công nương, nhưng ngài không thể ép buộc nếu trái với ý nguyện của Jurand. Công nương muốn gả nàng cho một hiệp sĩ ở Krakow — kẻ từng thề nguyện với thiếu nữ ấy và cũng là người được nàng đem lòng thương yêu."

"Nàng ấy yêu hắn sao?" Zbyszko thốt lên kinh ngạc.

Nghe vậy, Jendrek liếc xéo anh đầy ẩn ý, mỉm cười nói:

"Sao nào, xem ra ngài tỏ ra vô cùng tò mò về cô gái ấy nhỉ."

"Ta đang hỏi thăm về người bạn hữu mà ta sắp đến diện kiến."

Khuôn mặt Zbyszko bị che khuất gần hết dưới chiếc mũ trụ; nhưng phần mũi và gò má anh đỏ bừng lên khiến gã người Masuria vốn thích trêu chọc liền cười hề hề:

"Ta e rằng cái lạnh cắt da cắt thịt đang làm mặt ngài đỏ lựng lên rồi đấy!"

Chàng trai trẻ càng thêm lúng túng, bèn chống chế:

"Chắc là thế rồi."

Họ thúc ngựa tiến lên và giữ bầu không khí lặng thinh suốt một quãng; nhưng chốc sau Jendrek xứ Kropiwnica lại cất tiếng hỏi:

"Họ gọi ngài là gì nhỉ? Nãy giờ ta nghe không rõ lắm?"

"Zbyszko xứ Bogdaniec."

"Lạy Chúa nhân từ! Vị hiệp sĩ từng thề nguyện trước Jurandowna hóa ra mang cái tên y hệt."

"Chẳng lẽ ngươi nghĩ ta sẽ chối bỏ việc mình chính là hắn sao?" Zbyszko ngạo nghễ đáp.

"Chẳng có lý do gì phải chối cả. Ôi lạy Chúa nhân từ, hóa ra ngài chính là Zbyszko — người từng được thiếu nữ lấy khăn trùm đầu che chở ấy ư! Kể từ khi đoàn tùy tùng từ Krakow trở về, các phu nhân trong triều chẳng bàn tán gì ngoài câu chuyện đó, và không ít người đã rơi lệ khi lắng nghe. Hóa ra ngài chính là hắn! Chà! Họ sẽ mừng rỡ biết bao khi gặp lại ngài ở triều đình; ngay cả công nương cũng dành cho ngài sự quý mến đặc biệt."

"Nguyện Chúa ban phước cho người, và cả ngươi nữa vì tin tức tuyệt vời này. Ta đã đau đớn khôn xiết khi đinh ninh rằng Danusia đã lấy chồng."

"Nàng chưa chồng! Dẫu cho sau này nàng sẽ thừa kế gia sản Spychow, lại vây quanh bởi biết bao thiếu niên khôi ngô tuấn tú chốn triều đình, nhưng chẳng một ai dám đưa mắt nhìn nàng, bởi tất cả đều tôn trọng lời thề của ngài; hơn nữa công nương cũng không bao giờ cho phép điều đó. Chà! Sẽ có một màn đoàn tụ vỡ òa cho mà xem. Đôi khi họ hay trêu chọc cô bé! Có kẻ cố tình ghé tai nàng: 'Hiệp sĩ của mi sẽ chẳng bao giờ quay về đâu!' Thế là nàng lại quả quyết: 'Huynh ấy sẽ về! Huynh ấy nhất định sẽ về!' Lại có lần họ gạt nàng rằng ngài đã cưới vợ khác, thế là nàng khóc ngất."

Những lời ấy chạm đến cõi lòng mềm yếu nhất của Zbyszko; đồng thời cơn giận dữ cũng dâng lên khi nghĩ đến cảnh Danusia bị trêu chọc; thế nên anh tuyên bố:

"Ta sẽ thách đấu tất cả những kẻ nào dám thốt ra những lời lẽ như thế!"

Jendrek xứ Kropiwnica phì cười đoạn bảo:

"Đó chỉ là trò đùa cợt của đám phụ nữ! Chẳng lẽ ngài định thách đấu với đàn bà chắc? Ngài không thể dùng gươm giáo để so tài với cái xa quay sợi được đâu."

Zbyszko cảm thấy vô cùng dễ chịu khi gặp được một người bạn đồng hành cởi mở và phóng khoáng nhường này; anh tiếp tục dồn dập hỏi Jendrek về Danusia, về lề thói sinh hoạt nơi triều đình Mazowiecki, về hoàng tử Janusz cũng như công nương. Cuối cùng, anh thuật lại những gì bản thân tai nghe mắt thấy dọc đường về bầu không khí chiến tranh đang sục sôi, cách người dân ráo riết chuẩn bị và thấp thỏm ngóng chờ từng ngày. Anh muốn biết liệu thần dân tại các công quốc Masuria có linh cảm ngày đó sắp kề cận hay chưa.

Người thừa kế xứ Kropiwnica không cho rằng chiến tranh đã cận kề. Mọi người đều truyền tai nhau rằng xung đột là điều không thể tránh khỏi; nhưng bản thân anh từng nghe chính hoàng tử nói với Mikolaj xứ Dlugolas rằng phe Hiệp sĩ Thánh chiến hiện tại đang vô cùng ôn hòa, và chỉ cần quốc vương kiên quyết, chúng sẵn sàng trả lại vùng đất Dobrzyn cho Ba Lan; hoặc chúng sẽ tìm mọi mưu mô trì hoãn toàn bộ sự việc cho đến khi hoàn tất công tác chuẩn bị.

"Hoàng tử vừa có chuyến viếng thăm Malborg cách đây không lâu," anh kể tiếp, "nơi mà trong lúc vắng bóng đại sư phụ, đại nguyên soái đã tiếp đón và thết đãi ngài vô cùng thịnh soạn; hiện tại có vài comthur đang lưu lại đây, và sắp tới sẽ còn nhiều vị khách khác ghé thăm."

Dừng lại giây lát, anh nói thêm:

"Người ta đồn rằng mục đích chuyến đi của đám Krzyzak này là để vòng qua Plock — yết kiến triều đình Hoàng tử Ziemowit. Chúng muốn các vị hoàng tử ký kết hiệp ước cam kết không đem quân tiếp viện cho quốc vương mà phải đứng về phe chúng; hoặc giả nếu không chịu hợp tác với Krzyzak, thì ít nhất cũng phải giữ thái độ trung lập; nhưng ngắc ngoải thay, các hoàng tử sẽ chẳng đời nào chấp thuận điều đó."

"Chúa sẽ chẳng đời nào cho phép chuyện đó xảy ra. Chẳng lẽ các ngươi lại chịu ngồi yên một chỗ sao? Các hoàng tử của các ngươi thuộc về vương quốc Ba Lan cơ mà!"

"Không, chúng ta sẽ không bao giờ ngồi yên," Jendrek xứ Kropiwnica quả quyết đáp.

Zbyszko lại liếc sang những vị hiệp sĩ ngoại quốc cùng chùm lông công trên mũ trụ của họ, rồi cất tiếng hỏi:

"Phải chăng mấy vị hiệp sĩ kia cũng đang cất bước vì mục đích đó?"

"Họ là huynh đệ thuộc Dòng Hiệp sĩ và biết đâu đó chính là dụng ý của chúng. Nào ai có thể thấu tâm can tụi nó?"

"Còn kẻ thứ ba kia thì sao?"

"Hắn đi theo chỉ vì tính tò mò."

"Chắc hẳn hắn phải là một hiệp sĩ lừng danh nào đó."

"Chà! Có tận ba chiếc xe ngựa chất đầy hành lý lỉnh kỉnh theo sau hắn, và tòng sự bên cạnh là chín tên lính hộ tống. Ta rất muốn được một lần tỷ thí với kẻ như thế!"

"Chẳng lẽ ngươi không thể làm thế sao?"

"Đương nhiên là không rồi! Hoàng tử đã nghiêm lệnh bắt ta phải bảo vệ họ an toàn. Sẽ chẳng có một sợi tóc nào trên đầu họ bị tổn hại cho đến khi đặt chân đến Ciechanow."

"Thế nếu ta thách đấu họ thì sao? Biết đâu họ lại khao khát được tỷ thí với ta thì sao?"

"Đến lúc đó ngài sẽ buộc phải qua mặt ta trước đã, bởi ta sẽ không đời nào cho phép ngài đụng đến họ chừng nào ta còn sống."

Zbyszko nhìn vị quý tộc trẻ với ánh mắt đầy thiện cảm, đoạn bảo:

"Ngươi thấu hiểu tường tận thế nào là danh dự hiệp sĩ. Ta sẽ không giao đấu với ngươi, bởi chúng ta là bằng hữu; nhưng khi đến Ciechanow, Chúa sẽ giúp ta tìm ra một cái cớ hoàn hảo để thách thức bọn người Đức."

"Đến Ciechanow rồi ngài muốn làm gì tùy thích. Ta chắc chắn ở đó sẽ tổ chức những cỗ thi đấu; khi ấy ngài có thể thỏa sức tỷ thí, miễn là được sự cho phép của hoàng tử và các comthur."

"Ta đang mang theo một tấm ván khắc lời thách đấu gửi tới bất kỳ kẻ nào dám phủ nhận Panna Danuta Jurandowna là thiếu nữ đức hạnh nhất và xinh đẹp nhất trần gian; thế nhưng đi đến đâu người ta cũng nhún vai cười cợt."

"Bởi đó là phong tục ngoại lai; nói thẳng ra thì nó ngớ ngẩn và chẳng hề có chỗ đứng ở xứ ta, ngoại trừ khu vực giáp ranh biên giới. Hắn cái gã người Lotaringer kia từng cố tình gây sự với vài vị quý tộc, nằng nặc đòi họ phải ca ngợi một bóng hồng nào đó của hắn; nhưng chẳng ai hiểu hắn đang sủa cái gì, và ta đã ngăn cản không cho họ đánh nhau."

"Sao cơ? Hắn muốn ca ngợi người tình của mình ư? Lạy Chúa!"

Anh trân trân nhìn vị hiệp sĩ ngoại quốc, nhận ra gương mặt trẻ tuổi ấy phảng phất nét buồn man mác, và càng kinh ngạc hơn khi phát hiện quanh cổ hắn quấn một sợi dây thừng bện bằng tóc.

"Tại sao hắn lại đeo thứ dây thừng ấy quanh cổ vậy?" Zbyszko tò mò hỏi.

"Ta không tài nào dò ra nguyên nhân, bởi họ chẳng hiểu nổi ngôn ngữ của chúng ta. Huynh đệ Rotgier có thể bập bẹ vài câu, nhưng cũng chẳng sõi cho lắm. Ta đoán chừng vị hiệp sĩ trẻ tuổi này đã thề nguyện sẽ đeo sợi dây thừng đó cho đến khi lập được một chiến công hiển hách nào đó. Ban ngày hắn khoác nó phô bày bên ngoài áo giáp, còn ban đêm thì siết chặt trực tiếp trên da thịt."

"Sanderus!" Zbyszko bất ngờ cất giọng gọi.

"Dạ, ngài cứ sai bảo," gã người Đức cúi rạp người tiến lại gần.

"Hãy hỏi vị hiệp sĩ kia xem ai mới là thiếu nữ đức hạnh nhất và xinh đẹp nhất trần gian."

Sanderus lập tức dịch lại câu hỏi bằng tiếng Đức.

"Ulryka von Elner!" Fulko de Lorche ngẩng cao đầu dõng dạc đáp.

Rồi hắn ngước mắt lên trời và buông những tiếng thở dài sườn sượt. Nghe xong câu trả lời, Zbyszko nổi giận đùng đùng, giật mạnh cương dừng phắt chiến mã lại; nhưng trước khi anh kịp đáp trả, Jendrek xứ Kropiwnica đã phóng ngựa chen ngang giữa anh và gã ngoại quốc, lớn tiếng can thiệp:

"Cấm hai người gây gổ ở đây!"

Zbyszko quay sang Sanderus ra lệnh:

"Bảo hắn rằng ta tuyên bố hắn đang yêu một con cú mèo!"

"Thưa hiệp sĩ cao quý, đại nhân của tôi bảo rằng ngài đang vướng vào mối tình với một con cú mèo!" Sanderus nhại lại y hệt như một cái máy phóng thanh.

Nghe đến đây, ngài de Lorche buông thõng dây cương, rút chiếc găng tay sắt bên tay phải ra rồi ném thẳng xuống đám tuyết trước mặt Zbyszko — người lập tức ra hiệu cho gã cận vệ người Séc dùng mũi giáo nhặt lên.

Jendrek xứ Kropiwnica trừng mắt quay sang Zbyszko đe dọa:

"Ngài đừng có hồng gây sự; ta không cho phép bất kỳ ai trong hai người ra tay đâu."

"Ta có thèm thách đấu hắn đâu, chính hắn khiêu khích ta trước chứ bộ."

"Nhưng ngài đã dám lăng mạ người tình của hắn là con cú mèo. Thế là đủ lắm rồi! Ta cũng thừa sức sử dụng gươm kiếm đấy."

"Nhưng ta đâu có muốn tỷ thí với ngươi."

"Ngài sẽ buộc phải đấu thôi, bởi ta đã thề sẽ bảo vệ vị hiệp sĩ bên kia."

"Thế bây giờ ta phải làm sao?" Zbyszko bối rối hỏi.

"Hãy kiên nhẫn đợi; chúng ta đã sát vách Ciechanow rồi."

"Nhưng gã người Đức kia sẽ nghĩ thế nào chứ?"

"Gia nhân của ngài phải giải thích cho hắn hiểu rằng không thể thượng đài tại đây; rằng trước tiên ngài phải xin phép hoàng tử, còn hắn phải xin phép comthur."

"Chà! Lỡ họ không chuẩn y thì sao."

"Đến lúc đó khắc hai người sẽ tự tìm được cách giải quyết. Chấm dứt bàn cãi ở đây."

Nhận thấy chẳng còn cách nào khác bởi Jendrek xứ Kropiwnica cương quyết ngăn cản việc phân định thắng thua tại chỗ, Zbyszko đành gọi Sanderus tới, sai gã truyền đạt cho hiệp sĩ người Lotaringen rằng họ chỉ có thể phân cao thấp khi tới được Ciechanow. Nghe xong, de Lorche gật đầu ra hiệu đã thấu hiểu; đoạn hắn vươn tay về phía Zbyszko, siết chặt bàn tay ba lần — theo nghi thức hiệp sĩ, điều này đồng nghĩa với lời thề hẹn quyết đấu đến cùng bất chấp không gian và thời gian. Rối họ lại tiếp tục sải bước tiến về lâu đài Ciechanow trong bầu không khí ra chiều hòa hoãn, nơi những ngọn tháp đang hắt bóng rực hồng lên vòm trời buổi chiều tà.

Trời đã rạng sáng khi họ cập bến; nhưng mãi cho đến khi hô danh trước cổng, màn đêm buông xuống thì cây cầu treo mới được hạ xuống. Họ được đón tiếp bởi người quen cũ của Zbyszko — Mikolaj xứ Dlugolas, người đang chỉ huy đội phòng vệ bao gồm vài hiệp sĩ và ba trăm cung thủ lừng danh xứ Kurpie.[94] Đón nhận tin sét đánh ngang tai, Zbyszko hay tin triều đình hiện không có mặt tại lâu đài. Muốn bày tỏ lòng hiếu khách với hai vị comthur xứ Szczytno và Jansbork, hoàng tử đã tổ chức một chuyến săn bắn lớn trong vùng rừng hoang Krupiecka; công nương cùng các nữ tì hầu cận cũng tòng mệnh tham gia để làm tăng thêm phần long trọng. Ofka — góa phụ của Krzych[95] xứ Jarzombkow, người giữ chìa khóa kho kiêm nữ nhân duy nhất trong lâu đài mà Zbyszko quen biết — tỏ ra vô cùng mừng rỡ khi hội ngộ anh. Kể từ chuyến trở về từ Krakow, bà vẫn thường say sưa kể cho mọi người nghe về mối tình của Zbyszko dành cho Danusia cùng sự kiện đụng độ Lichtenstein. Những câu chuyện đó đã giúp bà chiếm trọn cảm tình của lớp thiếu nữ và cung nhân trẻ tuổi trong triều; thế nên bà dành cho Zbyszko một sự quý mến đặc biệt. Bà liền tìm lời an ủi chàng trai trẻ trước nỗi buồn man mác vì sự vắng mặt của Danusia.

"Ngài sẽ chẳng thể nhận ra con bé nữa đâu," bà thổ lộ. "Nó lớn phổng lên rồi, chẳng còn là một cô bé con nữa đâu; và cách nó yêu ngài cũng sâu sắc hơn xưa. Ngươi bảo người chú vẫn khương kiện chứ? Cớ sao ông ấy không cùng tòng hành với ngươi?"

"Ta sẽ để bầy ngựa nghỉ ngơi đôi lát rồi sẽ lập tức lên đường tìm Danusia. Ta sẽ đi ngay trong đêm nay," Zbyszko quả quyết đáp.

"Cứ làm theo ý ngài muốn đi, nhưng nhớ dắt theo một hướng dẫn viên trong lâu đài, kẻo sẽ lạc lối vĩnh viễn trong khu rừng hoang đó."

Quả nhiên, ngay sau bữa tối thị soạn do Mikolaj xứ Dlugolas khoản đãi khách khứa, Zbyszko bày tỏ nguyện vọng muốn truy đuổi theo hướng đoàn hoàng tử và ngỏ lời xin một người dẫn đường. Đám huynh đệ dòng Hiệp sĩ vì quá mệt mỏi sau chặng đường dài đã quây quần bên những lò sưởi khổng lồ đang bập bùng cháy những khúc thông nguyên cây, tuyên bố sẽ khởi hành vào ngày hôm sau. Riêng de Lorche bày tỏ mong muốn được tòng hành cùng Zbyszko, bởi ngài sợ bỏ lỡ cuộc săn và bản thân cũng vô cùng khao khát được diện kiến họ. Đoạn hắn tiến lại gần Zbyszko, đưa tay ra và siết chặt các ngón tay ba lần thêm một lần nữa.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.