Hiệp Sĩ Dòng Thánh Giá: Tiểu Thuyết Lịch Sử Krzyzacy

Lượt đọc: 68 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

❊ ❊ ❊

Zbyszko rời Bogdaniec với một nỗi lòng vô cùng nặng trĩu. Trước hết, cậu cảm thấy bơ vơ khi không có người chú bên cạnh — người mà cậu chưa từng xa cách bao giờ và đã quen gắn bó đến mức chẳng biết mình sẽ xoay sở thế nào thiếu ông trên cả chặng đường dài lẫn chặng đường binh nghiệp sắp tới. Kế đến, cậu thấy luyến tiếc Jagienka. Dù đang trên đường tìm đến Danusia, người mà cậu hết mực yêu thương, nhưng quãng thời gian ở bên Jagienka vừa qua thật thoải mái và hạnh phúc biết bao, để rồi giờ đây, sự vắng bóng của nàng khiến lòng cậu chùng xuống nỗi buồn bã. Chính cậu cũng cảm thấy ngạc nhiên trước nỗi buồn của mình, thậm chí còn có phần hoang mang lo lắng. Cậu sẽ chẳng màng gì nếu bản thân chỉ nhớ nhung Jagienka theo kiểu tình anh em ruột thịt; nhưng ngặt nỗi, cậu nhận ra mình khao khát được ôm nàng vào lòng, được bế nàng lên yên ngựa, được cõng nàng qua những con suối, vắt nước khỏi mái tóc nàng, lang thang cùng nàng trong chốn thâm sơn cùng cốc, ngắm nhìn nàng và trò chuyện với nàng. Cậu đã quá quen với những việc ấy và chúng mang lại niềm vui lớn lao đến độ, khi bắt đầu ngẫm nghĩ về chúng, cậu quên mất rằng mình đang thực hiện một chuyến đi dài ngày đến vùng Mazury. Thay vào đó, tâm trí cậu hiện về khoảnh khắc Jagienka giúp đỡ cậu trong khu rừng nọ, khi cậu đang vật lộn với con gấu dữ. Cậu có cảm giác mọi chuyện vừa mới xảy ra ngày hôm qua; hệt như việc họ cùng nhau đến hồ Odstajny săn hải ly cũng chỉ mới diễn ra hôm qua vậy. Rồi cậu nhớ lại dáng vẻ lộng lẫy xiết bao của nàng khi đi dự lễ nhà thờ ở Krzesnia, và cậu đã ngạc nhiên biết mấy khi một cô thôn nữ bình dị lại trông chẳng khác nào con gái của một vị lãnh chúa quyền uy. Tất cả những suy nghĩ ấy cứ đong đầy trong tim cậu, vừa mang lại nỗi bồn chồn khó tả, vừa ngọt ngào mà cũng thật đượm buồn.

"Giá như khi nãy mình kịp chào tạm biệt nàng," cậu thầm nghĩ, "có lẽ giờ đây lòng mình đã thanh thản hơn rồi."

Cuối cùng, cậu đâm ra sợ hãi những hồi tưởng đó và liền rũ bỏ chúng khỏi tâm trí hệt như cách người ta phủi lớp tuyết khô bám trên áo choàng.

"Ta đang trên đường đến với Danusia, người ta yêu dấu nhất," cậu tự nhủ.

Cậu nhận ra đây mới là một tình yêu thiêng liêng hơn. Dần dần, đôi bàn chân cậu trong bàn đạp bắt đầu lạnh buốt, và ngọn gió đông giá làm dịu đi dòng máu nóng trong người. Mọi suy nghĩ của cậu lúc này đều hướng về Danusia Jurandowna. Cậu thuộc về nàng là điều không mảy may nghi ngờ; nếu không vì nàng, đầu cậu đã rơi xuống bệ trảm trường ở quảng trường Krakow. Khi nàng dõng dạc tuyên bố trước mặt các hiệp sĩ và thị dân rằng: "Chàng ấy là của ta!", nàng đã giật lại cậu khỏi tay những kẻ đao phủ. Kể từ khoảnh khắc đó, cậu thuộc về nàng, tựa như một kẻ nô lệ thuộc về người chủ nhân của mình. Sự phản đối của Jurand hoàn toàn vô nghĩa. Chỉ có một mình nàng mới có quyền xua đuổi cậu; và ngay cả khi ấy, cậu cũng chẳng thể đi được bao xa, bởi lời thề nguyền đã trói buộc chân cậu. Dẫu vậy, cậu vẫn tưởng tượng rằng nàng sẽ chẳng nỡ đuổi mình đi đâu, mà trái lại, nàng sẽ theo chân cậu rời khỏi triều đình Mazowiecki, đi đến tận cùng góc bể chân trời. Rồi cậu bắt đầu tựa hồ ca tụng nàng để hạ thấp Jagienka xuống, cứ như thể đó là lỗi tại Jagienka vì đã khiến cậu vướng vào những sự cám dỗ và phân tâm tình cảm. Giờ đây, cậu quên bẵng đi ơn cứu mạng của Jagienka dành cho cụ Macko già; cậu quên mất rằng nếu không có sự trợ giúp của nàng, con gấu dữ đã xé xác cậu thành trăm mảnh; và cậu đâm ra giận dỗi nàng, với hy vọng làm thế sẽ vừa lòng Danusia đồng thời tự biện minh cho chính bản thân mình.

Đúng lúc ấy, tên lính đánh thuê người Czech tên là Hlawa do Jagienka phái đến liền xuất hiện, dắt theo một con ngựa.

"Xin chúc phúc cho ngài!" hắn cất lời cùng một cái cúi đầu thật thấp.

Zbyszko từng gặp hắn một hoặc hai lần ở Zgorzelice, nhưng lúc này cậu chẳng tài nào nhận ra; thế nên cậu liền hỏi:

"Nguyện xin Chúa chúc phúc cho ngươi đời đời kiếp kiếp! Ngươi là ai thế?"

"Là tôi tớ của ngài, thưa vị lãnh chúa lừng danh."

"Ngươi nói gì thế? Đây mới là những người hầu của ta chứ," Zbyszko vừa nói vừa chỉ tay về phía hai tên người Thổ do Sulimczyk Zawisza tặng, cùng hai tráng đinh đang ngồi trên lưng ngựa dắt theo những con chiến mã của hiệp sĩ; "bọn chúng mới là người của ta; ai sai ngươi đến đây?"

"Tiểu thư Jagienka Zychowna ở Zgorzelice ạ."

"Tiểu thư Jagienka á?"

Chỉ mới cách đây lát, Zbyszko hãy còn đang bực dọc nàng và trong lòng vẫn âm ỉ cơn giận, nên cậu lạnh lùng đáp:

"Hãy quay về đi và gửi lời cảm ơn của ta đến tiểu thư vì nhã ý đó; ta không cần ngươi."

Thế nhưng tên người Czech liền lắc đầu nguây nguẩy.

"Tôi không thể quay về được. Người ta đã giao phó tôi cho ngài; vả lại, tôi đã thề sẽ phụng sự ngài cho đến lúc chết."

"Nếu họ đã giao ngươi cho ta, vậy ngươi đích thực là người hầu của ta rồi."

"Đúng vậy, thưa ngài."

"Vậy thì ta ra lệnh cho ngươi quay về ngay."

"Tôi đã thề danh dự; dẫu tôi chỉ là một tù binh đến từ Boleslawiec và là một gã trai nghèo hèn, nhưng tôi vẫn là một wlodyczka."[87]

Zbyszko nổi trận lôi đình:

"Cút ngay! Gì chứ, ngươi định ép ta nhận sự phục vụ trái với ý muốn của ta sao? Biến đi trước khi ta ra lệnh cho đám gia nhân giương nỏ bắn chết ngươi bây giờ."

Nhưng tên người Czech vẫn bình tĩnh cởi chiếc áo choàng bằng vải dạ lót lông sói ra, đưa cho Zbyszko và cất lời:

"Tiểu thư Jagienka cũng gửi tặng ngài thứ này nữa, thưa ngài."

"Ngươi muốn ta đánh gãy xương cốt ra đấy à?" Zbyszko vừa quát vừa với lấy ngọn giáo từ tay một người tùy tùng.

"Đây còn là một túi tiền để ngài tùy nghi chi dụng nữa ạ," tên người Czech điềm tĩnh đáp.

Zbyszko suýt nữa đã vung giáo đâm hắn, nhưng chợt nhớ ra rằng tên trai trẻ này, dẫu đang mang thân phận tù binh, nhưng xuất thân lại là một quý tộc bậc thấp (wlodyka) từng ở lại chỗ Zych chỉ vì không có nổi tiền chuộc thân; thế là Zbyszko đành hạ ngọn giáo xuống.

Lúc bấy giờ, tên người Czech cúi rạp người sát bàn đạp ngựa và thỉnh cầu:

"Xin ngài đừng nổi giận. Nếu ngài không muốn tôi đi sát bên cạnh, tôi sẽ theo sau ngài ở khoảng cách tầm một hai dặm; nhưng tôi buộc phải đi theo, bởi tôi đã lấy sự cứu rỗi của linh hồn mình ra để thề nguyền rồi."

"Nếu ta ra lệnh cho thuộc hạ giết ngươi hoặc trói ngươi lại thì sao?"

"Nếu ngài bảo họ giết tôi, thì tội lỗi đó không thuộc về tôi; còn nếu ngài bắt trói tôi lại, thì tôi cứ đứng yên ở đó cho đến khi có người tốt bụng đến cởi trói giùm, hoặc cho đến khi bày sói đến ăn thịt tôi vậy."

Zbyszko chẳng nói chẳng rằng, quất ngựa phi thẳng lên phía trước trong khi đoàn tùy tùng rầm rập theo sau. Tên người Czech vác trên vai chiếc nỏ cùng cây rìu chiến, lầm lũi bám theo phía sau, dùng một tấm da bò rừng xù xì để che chắn giá rét, bởi những đợt gió căm căm cuốn theo từng trận tuyết buốt bắt đầu thổi thốc tháo. Cơn bão tuyết mỗi lúc một hoành hành dữ dội hơn. Đám người Thổ, dẫu đã khoác trên mình những chiếc áo lông cừu dày, vẫn bị cái lạnh thấu xương hành hạ; bản thân Zbyszko, vốn không ăn mặc quá ấm áp, cũng phải liếc nhìn chiếc áo choàng lót lông sói mà Hlawa vừa mang đến vài bận; chẳng mấy chốc, cậu đành bảo một tên người Thổ đưa lại chiếc áo cho mình.

Sau khi cẩn thận quấn kín chiếc áo quanh người, cậu cảm thấy một luồng hơi ấm lan tỏa khắp toàn thân. Cậu trùm kín phần mũ áo qua đầu, che đi đôi mắt cùng phần lớn gương mặt để cơn gió dữ không còn làm phiền được nữa. Rồi bỗng nhiên, một cách vô thức, cậu lại nghĩ đến việc Jagienka đã đối xử tốt với mình biết bao. Cậu liền kìm cương ngựa, gọi tên người Czech lại và gặng hỏi hắn về nàng, cùng mọi chuyện đã xảy ra ở Zgorzelice.

"Zych có biết việc tiểu thư sai ngươi đến tìm ta không?" cậu hỏi.

"Lão gia có biết chứ ạ," Hlawa đáp.

"Ông ấy không phản đối sao?"

"Có chứ ạ."

"Thế thì hãy kể hết mọi chuyện cho ta nghe coi."

"Lão gia cứ đi qua đi lại trong phòng còn tiểu thư thì lẽo đẽo bước theo sau. Ông ấy quát tháo ầm ĩ nhưng tiểu thư chẳng nói nửa lời; đến khi lão quay phắt lại hướng về phía nàng, tiểu thư liền quỳụp xuống đất nhưng vẫn giữ im lặng tuyệt đối. Cuối cùng lão gia bèn cáu kỉnh bảo: 'Bộ mày điếc rồi hay sao mà không chịu trả lời câu hỏi của ta? Nói mau xem nào; may ra ta còn suy nghĩ lại.' Lúc bấy giờ tiểu thư mới hiểu rằng mình có thể làm theo ý muốn bèn cất lời cảm ơn. Lão gia trách mắng vì nàng đã dùng lời lẽ thuyết phục mình, rồi cằn nhằn rằng ông lúc nào cũng phải chiều theo ý nàng; để rồi cuối cùng ông tuyên bố: 'Hãy hứa với ta là con sẽ không lén lút đi gặp hắn để chào tạm biệt nữa; thì ta sẽ đồng ý, bằng không thì đừng hòng.' Nghe thế tiểu thư vô cùng buồn rầu, nhưng nàng vẫn gật đầu hứa; lão gia lúc bấy giờ mới bằng lòng, bởi cả vị viện phụ lẫn ông đều nơm nớp lo sợ nàng sẽ tìm gặp ngài. Chà, câu chuyện vẫn chưa chấm dứt ở đó đâu nhé; sau đấy tiểu thư định tặng luôn hai con ngựa, nhưng lão gia kiên quyết không cho; tiểu thư lại muốn gửi kèm một bộ da sói và một túi tiền, lão gia liền nổi giận từ chối. Dẫu vậy, sự cự tuyệt của lão chẳng có mấy tác dụng đâu! Nếu tiểu thư đã muốn phóng hỏa đốt nhà, thì cuối cùng lão gia cũng sẽ gật đầu cho phép mà thôi. Thế nên tôi mới mang được ngứa ngáy gì đâu, hai con ngựa, tấm da sói và cả túi tiền này đến đây đấy ạ."

"Đúng là một cô gái tuyệt vời!" Zbyszko thầm nghĩ. Một lát sau, cậu lại cất tiếng hỏi:

"Chắc vị viện phụ không gây rắc rối gì chứ?" Tên người Czech, vốn là một tên tùy tùng thông minh và nhạy bén với mọi sự xung quanh, mỉm cười đáp lời:

"Cả hai người họ đều cố gắng che giấu mọi chuyện thật kín kẽ trước mặt viện phụ; còn chuyện gì xảy ra khi ngài ấy hay biết sau lúc tôi rời khỏi Zgorzelice thì tôi chịu thua không rõ được. Thỉnh thoảng lão tu viện trưởng hay quát mắng tiểu thư lắm; nhưng sau đó lão lại lén lút quan sát xem mình có đối xử quá tay với nàng hay không. Chính mắt tôi đã chứng kiến có lần, sau khi mắng mỏ tiểu thư xong, lão lủi thủi đi tới chiếc rương của mình lấy ra một sợi dây chuyền đẹp tuyệt trần — thứ mà dẫu có lùng khắp Krakow cũng chẳng tài nào tìm được sợi thứ hai — rồi đem tặng nàng. Hừm, rồi tiểu thư cũng sẽ thuần hóa được cả vị viện phụ ấy thôi, bởi ngay cả cha ruột của nàng cũng chẳng cưng chiều nàng hơn lão ta đâu."

"Quả thực là vậy rồi."

"Thề có Chúa chứng giám!"

Đoạn, họ lại chìm vào im lặng, tiếp tục rảo bước giữa muôn vàn gió tuyết mịt mù. Bỗng nhiên, Zbyszko khựng ngựa lại; từ phía khu rừng ven đường bỗng vọng ra một giọng nói đầy bi thương, nửa như bị bóp nghẹt bởi tiếng tru gào của gió:

"Hỡi những người theo đạo Thiên Chúa, xin hãy cứu giúp tôi tớ của Chúa trong buổi hoạn nạn này!"

Ngay lập tức, một kẻ ăn vận nửa giống tu sĩ lao phì phập ra đường cái và bắt đầu kêu cứu Zbyszko:

"Dù ngài là bất cứ ai, xin hãy rủ lòng thương cứu giúp một sinh linh vừa gặp phải tai ương khủng khiếp này!"

"Ngươi là ai và đã xảy ra chuyện gì với ngươi thế?" vị hiệp sĩ trẻ tuổi cất tiếng hỏi.

"Tôi là tôi tớ của Chúa, dẫu chưa thụ phong tu sĩ; sáng nay con ngựa chở những chiếc rương đựng các bảo vật thánh của tôi đã hoảng sợ bỏ chạy mất dạng. Tôi bị bỏ lại một mình, tay không tấc sắt; trời thì sắp tối mịt, và chẳng mấy chốc nữa muông thú chốn thâm sơn sẽ bắt đầu gầm rú. Tôi chắc chắn sẽ mất mạng nơi đây nếu không được ngài rủ lòng cứu giúp."

"Nếu ta để mặc ngươi chết cóng, ta sẽ mang tội gánh chịu những lỗi lầm của ngươi; nhưng làm sao ta có thể tin lời ngươi nói là sự thật đây. Biêt đâu ngươi lại là một tên cướp đường ranh mãnh giống như vô số kẻ đang nhởn nhơ ngoài kia thì sao!"

"Ngài hoàn toàn có thể tin tưởng tôi, thưa ngài, bởi tôi sẽ cho ngài tận mắt chứng kiến những chiếc rương đó. Rất nhiều kẻ sẵn sàng dâng cả một túi đầy ắp vàng để đổi lấy những thứ bên trong; nhưng tôi sẽ biếu không ngài một phần, nếu ngài chịu cho phép tôi cùng những chiếc rương này đi theo."

"Chính miệng ngươi vừa bảo mình là tôi tớ của Chúa cơ mà, thế mà sao lại không biết rằng người ta phải ra tay giúp đỡ kẻ khác vì phần thưởng thiêng liêng ở cõi vĩnh hằng, chứ đâu phải vì chút lợi lộc trần thế. Mà sao bảo ngựa chở rương chạy mất cơ mà, thế bây giờ ngươi lại có những chiếc rương đó ở đâu ra?"

"Bầy sói đã xé xác con ngựa trong rừng rồi, nhưng những chiếc rương thì vẫn còn nguyên; tôi đã vác chúng ra đến tận đường cái đây, rồi ngóng chờ ơn phước cùng sự cứu giúp."

Để chứng minh lời mình nói là thật, hắn ta chỉ tay về phía hai chiếc rương bọc da đang nằm lăn lóc dưới gốc cây thông. Zbyszko vẫn nhìn hắn bằng ánh mắt đầy ngờ vực, bởi bộ dạng kẻ này trông chẳng có vẻ gì là lương thiện, và ngữ điệu câu chữ của hắn lại tố cáo hắn xuất thân từ một vùng đất xa xôi nào đó. Dẫu vậy, cậu không từ chối việc giúp đỡ, mà cho phép hắn dắt con ngựa do tên người Czech đang cầm cương và mang theo hai chiếc rương — hóa ra chúng vô cùng nhẹ nhàng.

"Nguyện xin Chúa ban thêm nhiều chiến công hiển hách cho vị hiệp sĩ dũng mãnh!" kẻ lạ mặt tung hô.

Rồi, khi nhận ra gương mặt trẻ măng của Zbyszko, hắn ta bồi thêm một câu nhỏ nhẹ:

"Và nguyện xin Ngài ban phúc cho cả những sợi râu trên cằm ngài nữa."

Hắn rảo bước sóng đôi cùng tên người Czech. Ban đầu họ chẳng thể trò chuyện gì vì cơn cuồng phong đang gào thét dữ dội trong rừng; nhưng khi gió vừa ngớt đôi chút, Zbyszko liền nghe thấy đoạn đối thoại sau vang lên phía sau lưng mình.

"Ta chẳng chối cãi chuyện ngươi từng đặt chân đến Rome; nhưng mặt mày ngươi trông chẳng khác gì một bợm nhậu chuyên bợm bia," tên người Czech lên tiếng.

"Hãy cẩn thận cái miệng kẻo mang họa đọa đày đời đời kiếp kiếp đấy," kẻ lạ mặt đanh giọng đáp; "ngươi đang nói chuyện với một người mà lễ Phục Sinh vừa rồi từng thong thả ăn trứng luộc với Đức Thánh Cha đấy nhé. Giữa cái tiết trời lạnh buốt cắt da cắt thịt này đừng có mà mở miệng ra bàn chuyện bia bọt với ta; bằng không, nếu ngươi có sẵn vò rượu vang nào trong người, hãy hào phóng dốc cho ta vài ba ngụm, ta sẽ rộng lòng ân xá cho ngươi một tháng chịu cực hình nơi luyện ngục."

"Ngươi còn chưa được thụ phong tu sĩ; chính tai ta vừa nghe ngươi thú nhận cơ mà. Thế thì dựa vào đâu mà ngươi dám ban ơn xá tội luyện ngục cho ta hả?"

"Tôi chưa thụ phong chức sắc, nhưng đầu tôi đã được cạo trọc theo đúng nghi thức bởi tôi đã có sự cho phép; vả lại, tôi đang mang theo bên mình vô số giấy ân xá cùng các thánh tích linh thiêng cơ mà."

"Nằm trong mấy cái rương này á?" tên người Czech tò mò hỏi.

"Chính xác. Nếu ngươi được chiêm ngưỡng toàn bộ những thứ tôi cất giấu bên trong, đảm bảo không chỉ có mình ngươi đâu, mà toàn bộ hàng thông trong khu rừng này cùng muôn thú hoang dã cũng sẽ phải rạp mình sát đất cúi đầu kính bái."

Nhưng tên người Czech, vốn là một tên tùy tùng khôn ngoan và từng trải, bèn liếc nhìn gã buôn thần bán thánh này với vẻ đầy nghi kỵ rồi vặn vỏi:

"Thế bầy sói đã ăn thịt con ngựa của ngươi rồi cơ mà?"

"Đúng thế, chúng nuốt chửng nó gọn lỏn, bởi lũ sói vốn là họ hàng thân thích với quỷ dữ mà lị. Này, nếu ngươi có giấu chai rượu nào trong người thì dốc ra đây xem nào; dẫu gió đã ngừng thổi nhưng người tôi vẫn cứng đờ như đá vì phải ngồi lì bên lề đường suốt cả buổi trời rồi đây này."

Tên người Czech nhất quyết không chịu chia rượu cho hắn; và thế là họ cứ lầm lũi tiến bước trong yên lặng, cho đến khi kẻ lạ mặt chủ động bắt chuyện:

"Thế đoàn các ngài đang định đi đâu thế?"

"Đi xa lắm. Trước mắt là tới Sieradz. Ngươi có muốn nhập bọn đi cùng không?"

"Buộc lòng phải đi chứ. Tôi sẽ tá túc trong chuồng ngựa, biết đâu ngày mai vị hiệp sĩ đạo đức này lại thương tình ban ơn cho tôi một con ngựa thì sao; khi ấy tôi sẽ tiếp tục lên đường đi xa hơn."

"Ngươi quê quán ở đâu thế?"

"Từ vùng đất dưới quyền cai trị của các lãnh chúa Phổ, cách Marienburg không xa lắm."

Vừa nghe đến đây, Zbyszko liền quay phắt đầu lại và ra hiệu cho kẻ lạ mặt tiến lên sóng đôi gần mình hơn.

"Ngươi vừa từ Marienburg đến đấy à?" cậu hỏi.

"Vâng, thưa ngài."

"Thế ngươi là người Đức à? Sao lại nói tiếng nước ta sõi thế. Ngươi tên là gì?"

"Tôi là người Đức, thiên hạ thường gọi tôi là Sanderus; sở dĩ tôi nói thông thạo ngôn ngữ của các ngài là bởi tôi sinh ra ở Torun, nơi mà ai nấy đều sử dụng thứ tiếng này; sau đó tôi dời đến sinh sống ở Marienburg, tình hình cũng y chang vậy. Chà! Ngay cả các vị tu sĩ trong Hiệp sĩ đoàn cũng hiểu rành rọt tiếng của các ngài cơ mà."

"Ngươi rời khỏi Marienburg từ bao giờ thế?"

"Tôi từng đến Đất Thánh, rồi ghé qua Constantinople và Rome; từ đó tôi băng qua nước Pháp để đến Marienburg rồi từ chốn ấy lại hành trình hướng về Mazowsze, mang theo những thánh tích thiêng liêng mà những tín đồ Cơ đốc đạo đức sẵn sàng mua lại với tất cả sự hoan hỉ, vì sự cứu rỗi cho linh hồn họ."

"Ngươi từng đặt chân tới Plock hay Warszawa bao giờ chưa?"

"Tôi đặt chân đến cả hai thành phố ấy rồi chứ. Nguyện xin Chúa ban cho hai vị công nương thân thể khang kiện! Công nương Alexandra rất mực được các lãnh chúa Phổ kính trọng, bởi ngài là một phu nhân vô cùng đạo đức; công nương Anna Januszowna cũng sùng đạo không kém."

"Ngươi có dịp yết kiến triều đình ở Warszawa chưa?"

"Tôi không yết kiến ở Warszawa mà ở Ciechanow, nơi cả hai vị công nương đã tiếp đón tôi vô cùng nồng hậu và ban thưởng cho tôi những phần quà hậu hĩnh — thứ mà một bề tôi của Chúa hoàn toàn xứng đáng nhận được. Tôi đã để lại cho họ những thánh tích chắc chắn sẽ mang lại phúc lành từ Thiên Chúa."

Zbyszko rất muốn gặng hỏi về tung tích Danusia; nhưng cậu thừa hiểu rằng việc bộc bạch tâm sự với một kẻ tha hóa, thấp kém như thế này là điều cực kỳ kém khôn ngoan. Thế nên, sau một thoáng ngập ngừng, cậu đổi chủ đề:

"Thế ngươi đang mang theo những loại thánh tích nào bên mình?"

"Tôi mang theo cả giấy ân xá lẫn các thánh tích; giấy ân xá thì có đủ loại khác nhau; có loại ân xá toàn phần, có loại thời hạn năm trăm năm, có loại ba trăm, hai trăm và những loại thời hạn ngắn hơn với giá rẻ hơn, để ngay cả những kẻ bần hàn nhất cũng có thể mua nổi nhằm rút ngắn bớt những đớn đau chốn luyện ngục. Tôi có cả giấy ân xá cho những tội lỗi trong quá khứ lẫn tương lai; nhưng ngài đừng tưởng lầm rằng tôi tư túi số tiền thu được từ chúng nhé. Tôi chỉ cần một mẩu bánh mì đen cùng ly nước lã là đủ ấm lòng — ngần ấy là quá đủ cho tôi rồi; số còn lại tôi mang tuốt về Rome, tích lũy cho đến khi gom đủ chi phí cho một cuộc Thập tự chinh mới. Quả thực, ngoài kia có không ít những kẻ lừa đảo chuyên buôn bán giấy ân xá giả, thánh tích giả, ấn tín giả cùng những tờ chứng nhận giả mạo; và chúng đang bị trừng phạt đích đáng bởi các sắc lệnh từ Đức Thánh Cha; ngặt nỗi tôi lại từng bị vị viện phụ ở Sieradz đối xử bất công, bởi những con dấu của tôi đều là hàng thật chuẩn xác. Ngài thử ngắm nghía lớp sáp trên dấu ấn này xem, thưa ngài, rồi cho tôi biết cảm nhận của ngài đi."

"Thế còn chuyện của vị viện phụ ở Sieradz thì sao?"

"Ồ, thưa ngài! Tôi ngầm e rằng ngài ấy đã bị tiêm nhiễm thứ lạc giáo của Wiklef. Nếu như lời tên người hầu của ngài nói là đúng, rằng ngài đang trên đường đến Sieradz, thì tốt nhất là tôi nên tránh mặt ngài ấy, bởi tôi không muốn đẩy ngài ấy vào vũng lầy tội lỗi báng bổ những vật phẩm thánh thiêng."

"Nói một cách ngắn gọn, ý ngươi là lão ta nghĩ ngươi chỉ là một tên bịp bợm chứ gì."

"Nếu chuyện đó chỉ nhắm vào cá nhân tôi, tôi sẵn sàng tha thứ vì tình nghĩa anh em; đằng này lão ta lại dám mở miệng phỉ báng cả những bảo vật thánh của tôi, và tôi vô cùng lo sợ rằng lão sẽ phải chịu hình phạt đọa đày đời đời kiếp kiếp vì tội ác đó."

"Ngươi đang sở hữu những bảo vật thánh lừng lẫy gì nào?"

"Thật không phải phép khi bàn luận về chúng trong lúc đầu còn trùm kín mũ; nhưng dẫu sao, vì lần này tôi đang có sẵn vô số giấy ân xá trong tay, tôi xin phép cho ngài được giữ nguyên mũ trùm đầu đấy, thưa ngài, bởi cơn gió quái ác kia lại bắt đầu thổi mạnh rồi kìa. Đổi lại, ngài sẽ phải mua cho tôi một tờ giấy ân xá và tội lỗi ấy sẽ được xóa sạch. Tôi thiếu thứ gì cơ chứ? Tôi có cả chiếc móng của con lừa mà Thánh Gia từng cưỡi trong chuyến trốn chạy sang Ai Cập; nó được tìm thấy ngay gần các kim tự tháp đấy. Vua xứ Aragon từng gạ mua nó với giá năm mươi đồng ducats đấy. Tôi có cả chiếc lông vũ rụng ra từ đôi cánh của tổng lãnh thiên thần Gabriel trong buổi truyền tin; tôi có cả phần đầu của hai con chim cút từng được ban phát cho dân Israel trong vùng hoang mạc; tôi có cả vạc dầu mà bọn ngoại giáo từng định dùng để chiêu lật thánh John; một bậc thang trong giấc mơ thăng thiên của Jacob; những giọt nước mắt của thánh Mary xứ Egypt cùng chút rỉ sắt bám trên chùm chìa khóa của thánh Peter. Nhưng tôi chẳng thể kể lể hết được đâu. Người tôi lúc này lạnh buốt cả rồi mà tên tùy tùng của ngài thì nhất quyết không chịu chia cho tôi ngụm rượu vang nào cả."

"Quả là những thánh tích vô cùng vĩ đại, nếu chúng thực sự là hàng thật!" Zbyszko thốt lên.

"Hỏi thật hay giả á? Ngài cứ việc giật lấy ngọn giáo từ tay tên hầu rồi chĩa thẳng vào tôi xem nào, bởi quỷ dữ đang lảng vảng ngay đây và rót vào tai ngài những ý nghĩ hoài nghi đó đấy. Hãy giữ chặt lấy hắn, thưa ngài, ở khoảng cách bằng chiều dài ngọn giáo ấy. Nếu ngài không muốn tự chuốc lấy tai ương họa hại vào thân, tốt nhất hãy mua ngay một tờ giấy ân xá đi; bằng không, chỉ trong vòng ba tuần nữa, một người mà ngài vô cùng yêu dấu sẽ phải bỏ mạng đấy."

Zbyszko hoảng hốt trước lời đe dọa ấy, bởi tâm trí cậu ngay lập tức hướng về Danusia, và cậu thốt lên:

"Không phải ta, mà chính vị viện phụ của dòng Đa-minh ở Sieradz mới là kẻ không tin."

"Ngài cứ tự mình soi kỹ lớp sáp trên con dấu đi, thưa ngài; còn về phần vị viện phụ kia, tôi cũng chẳng dám chắc lão còn sống hay đã chết đâu, bởi sự công chính của Thiên Chúa vốn đến rất nhanh."

Nhưng khi họ đặt chân đến Sieradz thì vị viện phụ vẫn còn sống nhăn. Zbyszko liền đến yết kiến ngài, và mua hai lễ cầu hồn; một lễ để cầu cho lời thề của Macko sớm thành hiện thực, và lễ còn lại để đảm bảo thành công cho lời thề gom đủ ba chiếc chéo mũ lông công của chính cậu. Vị viện phụ vốn là người ngoại quốc, sinh ra ở Cylia; nhưng trong suốt bốn mươi năm sinh sống tại Sieradz, ngài đã học nói tiếng Ba Lan vô cùng trôi chảy, đồng thời là một kẻ thù không đội trời chung với bọn Hiệp sĩ Thánh chiến. Thế nên, khi hay biết về chiến dịch của Zbyszko, ngài liền gật đầu bảo:

"Một sự trừng phạt đích đáng và to lớn hơn thế nữa chắc chắn sẽ giáng xuống đầu chúng; nhưng ta sẽ chẳng đời nào khuyên can ngài từ bỏ đâu, bởi ngài đã lấy danh dự hiệp sĩ của mình ra để hứa nguyện rồi; vả chăng, dẫu có dùng bao nhiêu hình phạt đi chăng nữa bằng chính đôi tay người Ba Lan thì cũng chẳng thể nào trả hết nợ cho những tội ác tày trời mà chúng từng gây ra trên mảnh đất này đâu."

"Chúng đã gây ra những tội ác gì thế, thưa ngài?" Zbyszko nôn nóng cất tiếng hỏi, lòng chực chờ được nghe tường tận về những hành vi bất lương của bọn Hiệp sĩ Thánh chiến.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.