Ông Gerhardt tuyệt vọng, ông chẳng biết một ai để có thể cầu cứu trong khoảng thời gian từ hai giờ đêm đến chín giờ sáng. Ông về nhà bàn với vợ, rồi lại đến nơi gác. Biết làm gì bây giờ? Ông chỉ có thể nghĩ đến một người bạn có khả năng hoặc sẵn lòng làm bất kỳ điều gì. Đó là ông Hammond, nhà sản xuất thủy tinh, nhưng ông ta lại không có mặt trong thành phố. Tuy nhiên, ông Gerhardt lại không biết điều đó.
Đến chín giờ sáng ông tới tòa án một mình, ông nghĩ rằng vợ và các con ông không nên có mặt. Bà Gerhardt muốn biết tình hình ngay. Ông sẽ trở về ngay lập tức.
Khi Sebastian được đưa ra xếp hàng trong khoang bị cáo, gã phải đợi một lúc lâu vì trước gã còn có nhiều tù nhân khác. Cuối cùng, người ta gọi tên và cu cậu bị đẩy ra trước vành móng ngựa. – Ăn trộm than, thưa quý tòa, và kháng cự khi bị bắt, – viên cảnh sát đã bắt gã trình bày.
Viên quan tòa nhìn Sebastian chằm chằm, cái mặt xây xát và bị thương của gã thanh niên khiến ông ta thấy mất cảm tình.
- Này, anh thanh niên – ông ta nói, – anh có điều gì để bào chữa cho mình không? Sao mắt anh lại bị thâm tím thế?
Sebastian nhìn viên quan tòa nhưng không trả lời.
- Tôi đã bắt gã, – viên thám tử nói. – Gã đứng trên một toa xe của công ty. Gã toan vùng khỏi tay tôi, và khi tôi tóm được gã thì gã tấn công tôi. Có ông này làm chứng, – hắn vừa nói thêm vừa quay lại phía người công nhân hỏa xa đã giúp hắn.
- Có phải gã đấm ông vào chỗ kia không? – Tòa vừa khỏi vừa quan sát cái hàm sưng vù của viên thám tử.
- Thưa ngài, đúng đấy ạ, – hắn đáp, lấy làm hể hả vì có dịp trả thù thêm nữa.
- Xin ông, – ông Gerhardt ngả người về phía trước nói xen vào, – nó là con tôi. Tôi sai nó đi lấy than. Nó…
- Giá nhặt nhạnh quanh xưởng thì chẳng sao. – gã thám tử ngắt lời, đằng này gã lại hắt từ trên các toa xuống cho năm, sáu đứa khác.
- Các người không kiếm đủ ăn để khỏi phải lấy than ở các toa xe à? – Tòa hỏi, nhưng cả cha lẫn con chưa kịp trả lời thì ông ta đã nói tiếp – Anh làm nghề gì?
- Đóng toa xe. – Sebastian trả lời.
- Còn ông, ông làm nghề gì? – Ông ta vừa hỏi vừa quay sang ông Gerhardt.
- Tôi gác cổng ở xưởng đồ gỗ nội thất của ông Miller.
- Hừm, – vị quan tòa nói, vì cảm thấy thái độ của Sebastian vẫn hầm hầm và gây gổ. – Nghe đây, anh thanh niên này có thể được tha về tội ăn trộm than nhưng hình như anh ta có phần quá sính đấm đá thì phải. Bang Columbus này đã quá dồi dào cái chuyện ấy rồi. Mười đôla!
- Xin ông, – ông Gerhardt bắt đầu nói, nhưng viên cảnh sát giữ trật tự ở tòa án đã đẩy ông ra.
- Tôi không muốn nghe thêm gì về vụ ấy nữa, – viên quan tòa nói. – Kể ra anh ta cũng bướng. Vụ tiếp theo thế nào?
Ông Gerhardt len lỏi đến chỗ con trai, lòng bối rối nhưng cũng rất vui mừng vì kết quả không đến nỗi tệ hơn. Bằng cách nào đó, ông nghĩ ông cũng có thể gom góp đủ số tiền. Sebastian lo lắng nhìn ông khi ông bước đến.
- Thế là ổn. – Bass nói một cách an ủi – Lão ấy không cho con lấy một nửa cơ hội để nói điều gì.
- Bố chỉ thấy mừng vì không đến nỗi nặng hơn, – ông Gerhardt bồn chồn nói. – Chúng ta sẽ cố kiếm món tiền ấy.
Về nhà gặp vợ, ông Gerhardt thông báo kết quả cho cả gia đình đang băn khoăn chờ. Bà Gerhardt đứng lặng, mặt tái nhợt nhưng nhẹ hẳn người, bởi vì xem ra mười đôla là một món cũng có thể kiếm được.
Jennie há hốc mồm, mở to mắt mà nghe toàn bộ câu chuyện. Đối với cô đó là một đòn khủng khiếp. Tội nghiệp anh Bass. Anh ấy bao giờ cũng sôi nổi và tốt bụng. Anh ấy mà bị tống giam thì thật quá đáng.
Ông Gerhardt vội vã đến ngôi nhà đẹp đẽ của ông Hammond song ông ta không có mặt trong thành phố. Ông bèn nghĩ đến một viên luật sư tên là Jenkins, ông cũng tình cờ mà biết ông này, song ông Jenkins không có ở văn phòng. Ông cũng quen nhiều chủ hiệu tạp hóa và buôn bán than, nhưng ông lại nợ họ tiền. Linh mục Wundt có thể cho ông vay số tiền ấy, nhưng phải thổ lộ một chuyện như vậy với con người đáng kính này sẽ làm ông đau đớn, vì vậy ông lại thôi không đến. Ông có đến một hai nhà người quen, nhưng những người này ngạc nhiên trước lời đề nghị khác thường và lạ lùng này nên đã kiếm cớ khước từ. Lúc bốn giờ sáng ông trở về nhà, mệt mỏi và kiệt sức.
- Tao chẳng còn biết làm thế nào nữa, – ông tuyệt vọng nói. – Ước gì tao có thể nghĩ được cách nào.
Jennie nghĩ đến Brander, nhưng tình thế chưa thúc bách cô phải liều lĩnh đến mức có thể vượt qua sự phản đối và sự lăng mạ khủng khiếp của cha cô đối với ông thượng nghị sĩ – điều cô vẫn nhớ sâu sắc, để mà đi hỏi. Chiếc đồng hồ của cô đã đem cầm lần thứ hai và cô chẳng còn cách nào mà kiếm ra tiền.
Cuộc họp gia đình kéo dài đến tận mười giờ rưỡi nhưng vẫn không quyết định được điều gì. Bà Gerhardt xoa hai bàn tay vào nhau một cách đơn điệu và nhìn chằm chằm xuống sàn nhà. Ông Gerhardt bối rối lùa một bàn tay vào mái tóc màu nâu đỏ của mình. – Không ăn thua gì, – cuối cùng ông nói. – Tao không thể nghĩ ra cách nào.
- Đi ngủ đi, Jennie, – mẹ cô buồn rầu nói, – cho các em đi ngủ. Chúng nó thức thì được cái tích sự gì. Mẹ có thể nghĩ ra cách. Con đi ngủ đi.
Jennie về phòng mình nhưng không thể nào nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi được. Sau khi xảy ra cuộc cãi nhau giữa cha cô và ông thượng nghị sĩ ít lâu, cô đọc được tin trên báo nói rằng ông ta đã rời đi Washington. Không thấy thông báo gì về ngày về của ông ấy. Nhưng có thể ông đã có mặt trong thành phố rồi. Cô đứng trước một tấm gương ngắn, hẹp, gắn ở phần trên chiếc tủ tồi tàn mà suy nghĩ. Con em gái Veronica vẫn ngủ với cô lúc này đã đang thả hồn vào cõi mộng. Cuối cùng một quyết tâm mãnh liệt nảy ra trong đầu cô. Cô sẽ đến gặp thượng nghị sĩ Brander. Nếu có mặt ở thành phố thì ông ấy sẽ giúp đỡ Bass. Tại sao cô lại không đến, ông ấy yêu cô cơ mà. Đã mấy lần ông ấy đề nghị cưới cô làm vợ. Tại sao cô lại không đến nhờ ông ấy giúp đỡ?
Do dự một đôi chút, rồi khi nghe tiếng con Veronica thở đều đều, cô đội mũ và mặc áo vét, rón rén mở cửa thông sang phòng khách xem có người nào động cựa không.
Không có một âm thanh nào ngoài tiếng ông Gerhardt thao thức trở mình trong gian nhà bếp. Không có một ánh sáng nào ngoài ánh sáng của ngọn đèn nhỏ trong buồng cô và một tia sáng từ dưới khe cửa bếp chiếu hắt ra. Cô quay lại thổi tắt ngọn đèn của mình, rồi lặng lẽ lẻn ra cửa trước, mở cửa và bước ra ngoài đêm tối.
Vầng trăng khuyết chiếu sáng và người ta cảm thấy sức sống im lặng đang bừng nở tràn đầy trong bầu không khí, vì lúc ấy mùa xuân lại đang đến gần. Khi Jennie vội vã đi dọc những đường phố dày bóng tối – thời ấy đèn hồ quang chưa được phát minh – lòng cô nặng trĩu một nỗi lo sợ, chẳng biết cái việc liều lĩnh mà cô sắp sửa làm này rồi sẽ ra sao. Không biết ông thượng nghị sĩ sẽ đón tiếp cô như thế nào? Ông ấy sẽ nghĩ gì? Cô đứng yên như phỗng, phân vân và nghi ngại, rồi cô sực nhớ đến Bass đang phải ngủ đêm trong xà lim nên lại vội vã bước đi.
Ở khách sạn Capitol phụ nữ có thể vào dễ dàng qua cửa dành riêng cho các bà các cô để lên các tầng khác nhau vào bất kỳ giờ nào ban đêm. Khách sạn này không khác gì nhiều khách sạn khác thời ấy, được quản lý chặt chẽ nhưng cách giám sát đôi lúc cũng còn có phần lỏng lẻo. Bất cứ ai cũng có thể vào, nếu đi lối phía sau liền với hành lang thì người thường trực có thể nhìn thấy. Còn không thì cũng chẳng ai để ý.
Khi cô đến cửa khách sạn thì xung quanh tối đen, chỉ có một ngọn đèn cháy leo lét ở lối vào. Chỉ đi dọc hành lang tầng hai một quãng ngắn là tới phòng ông thượng nghị sĩ. Cô vội vã bước lên cầu thang, bồn chồn và tái nhợt song không biểu lộ ra ngoài một dấu hiệu gì về trận bão tố đang dấy lên trong lòng mình. Khi bước đến khung cửa quen thuộc ở phòng ông, cô dừng lại, chỉ lo không thấy ông trong phòng, mặt khác cô lại run sợ khi nghĩ rằng ông có thể ở đó. Một ánh đèn chiếu qua cửa sổ nhỏ trên cao, và cô thu hết can đảm gõ cửa. Có tiếng người ho và động cựa bên trong.
Ông Brander mở cửa ra, ngạc nhiên không sao tả xiết.
- Ôi, Jennie – ông kêu lên. – Thật là thú vị! Tôi vừa mới nghĩ đến em. Vào đây, vào đây!
Ông đón cô bằng một cái ôm hôn sôi nổi.
- Tôi vừa sắp sửa đến thăm em, thì em đến, em hãy tin lời tôi, thật thế. Vừa qua tôi đang suy nghĩ xem nên thu xếp chuyện này thế nào cho ổn. Thế rồi em đến. Có chuyện gì khó khăn không?
Ông giơ thẳng tay về đằng trước nắm lấy người cô và quan sát vẻ mặt quẫn bách của cô. Ông cảm thấy vẻ đẹp tươi mát của cô như những bông hoa huệ vừa mới hái còn ướt sương.
Ông cảm thấy nỗi trìu mến trào lên như con sóng lớn.
- Em có điều muốn nhờ ông giúp, – cuối cùng cô quyết định nói. – Anh trai em bị bắt giam. Gia đình em cần có mười đôla nộp phạt cho anh ấy, em chẳng biết nơi nào khác mà đến.
- Em bé tội nghiệp của tôi, – ông vừa nói vừa xoa hai bàn tay cô – Em việc gì phải đến đâu khác nữa? Tôi chẳng đã bảo em cứ đến đây là gì? Em có hiểu không, Jennie, tôi sẵn lòng làm bất cứ việc gì trên thế gian này vì em.
- Có ạ, – cô hổn hển nói.
- Ồ, thế thì em đừng bận tâm chút nào về chuyện ấy nữa. Nhưng liệu rồi số phận có bao giờ ngừng vùi dập em không, em bé tội nghiệp? Làm sao mà anh trai em bị bắt giam?
- Họ bắt được anh ấy hốt than từ các toa xe xuống, – cô trả lời.
- À! – Ông nói, niềm thương cảm được khơi động và thức dậy. Cậu thanh niên này giờ đây bị bắt giữ và bị phạt chỉ vì cái việc mà số phận đang thúc bách cậu phải làm. Còn đây là cô gái đang cầu khẩn mình giữa đêm hôm, trong phòng mình, để xin cái mà đối với cô là cả một cần thiết lớn – mười đôla – trong khi đối với ông thì hoàn toàn không đáng kể gì. – Tôi sẽ thu xếp chuyện người anh của em, – ông nói nhanh. – Đừng lo, tôi có thể giải thoát cho anh ấy trong nửa tiếng đồng hồ. Bây giờ em cứ ngồi đây thoải mái trong khi chờ tôi về.
Ông vẫy tay ra hiệu cho cô đến ngồi vào chiếc ghế bành của mình bên cạnh một cây đèn lớn, rồi vội vã bước ra khỏi phòng.
Brander quen viên cảnh sát trưởng vẫn đích thân giám sát nhà giam của quận. Ông quen viên quan tòa đã ấn định số tiền phạt kia. Chỉ cần năm phút là viết xong một bức thư gởi cho viên quan tòa đề nghị hủy bỏ món tiền phạt để gã trai trẻ khỏi mang tiếng và cho người mang tới nhà ông ta. Rồi mười phút nữa để đích thân đến nhà giam đề nghị ông bạn cảnh sát trưởng thả chàng trai ra ngay tức khắc.
- Đây, tiền đây, – ông nói. – Nếu như món tiền phạt được hủy thì anh có thể gửi trả lại tôi. Bây giờ anh thả cậu ta ra.
Viên cảnh sát trưởng được dịp chiều lòng ông thì đã quá mừng rồi. Ông ta vội vã xuống phòng dưới để đích thân trông nom công việc. Còn Bass được thả ra thì lấy làm ngạc nhiên. Không ai hạ cố giải thích điều gì cho gã.
- Thôi, ổn rồi đấy, – viên coi cửa nhà giam nói. – Cậu được tự do. Về nhà ngay đi và đừng có để người ta bắt được cậu phạm tội gì như thế nữa.
Bass vừa đi vừa phân vân tự hỏi, còn ông cựu thượng nghị sĩ thì trở về khách sạn cố tìm xem nên xử lý cái tình huống tế nhị này ra sao. Rõ ràng là trước đó Jennie đã không nói gì cho bố biết về sứ mạng của cô. Cô đến đây là bất đắc dĩ. Giờ đây cô ngồi trong phòng ông để đợi ông về.
Trong cuộc đời của mọi người, có những bước khủng hoảng khi họ phân vân giữa một bên là việc triệt để thực hiện công lý và bổn phận và một bên là những khả năng to lớn mưu cầu hạnh phúc cá nhân dường như có thể đảm bảo được bằng một cách xử sự khác. Mà cái đường ranh giới phân cách hai bên đâu phải bao giờ cũng được đánh dấu rõ ràng. Ông biết rằng vấn đề lấy Jennie, thậm chí là lấy làm vợ, cũng bị sự chống đối vô lý của ông bố cô làm cho khó khăn. Dư luận thiên hạ còn gây thêm một rầy rà khác nữa. Giả dụ như ông lấy cô một cách công khai thì liệu thiên hạ sẽ nói gì? Về mặt đa cảm cô là một điển hình đáng kể, điều đó ông biết. Ở cô, đứng trên bình diện nghệ thuật và khí chất mà xét, có một cái gì vượt quá xa tầm tưởng tượng sắc sảo nhất của những người tầm thường. Bản thân ông cũng không hiểu rõ đó là cái gì, song ông cảm thấy đó là một sự dồi dào tình cảm không hoàn toàn ngang với tầm trí tuệ, hay hơn thế nữa, với kinh nghiệm của mình, ông thấy đó là một điều đáng để cho bất cứ một người đàn ông nào khao khát. “Cô gái này thật khác thường”, ông ngẫm nghĩ, hình dung ra cô rõ mồn một trong tâm tưởng mình.
Vừa trầm ngâm suy nghĩ xem nên làm gì, ông vừa trở lại khách sạn và về phòng riêng. Khi bước vào phòng, một lần nữa ông lại thấy bàng hoàng vì sắc đẹp của cô và vì vẻ quyến rũ không cưỡng nổi của tính cách cô. Trong ánh sáng của ngọn đèn chụp nom cô như thể một nhân vật đầy tiềm năng diệu kỳ.
- Này, – ông vừa nói vừa cố tỏ ra bình tĩnh, – tôi đã lo liệu cho anh cô rồi. Anh ấy đã được thả ra.
Cô đứng dậy.
- Ôi, – cô kêu lên, đan hai bàn tay vào nhau rồi dang cánh tay về phía ông. Những giọt lệ biết ơn rưng rưng trong mắt cô.
Ông nhìn thấy những giọt nước mắt ấy và bước lại gần cô. – Jennie ơi, lạy Chúa, em đừng khóc, – ông khẩn cầu. – Em là thiên thần! Em là cô gái đầy lòng từ thiện! Em đã chịu đựng những hy sinh khác, giờ lại còn phải nhỏ thêm nước mắt nữa.
Ông kéo cô sát vào mình, và bỗng mất hết cả tính cẩn trọng của tuổi tác. Trong tâm trạng ông có một cảm giác vừa thiếu thốn vừa thỏa mãn. Cuối cùng, bất chấp những tổn thất khác, số mệnh đã đem đến cho ông cái điều khao khát nhất – tình yêu, một người phụ nữ mà ông có thể yêu. Ông ôm lấy cô vào lòng và hôn hoài, hôn mãi.
Nhà văn người Anh, Jefferies[1] đã nói phải mất một trăm năm mươi năm mới tạo nên được một trinh nữ hoàn hảo. “Của báu đó đã được chắt lọc ra từ tất thảy những điều diệu kỳ nhất của trái đất và không khí. Từ làn gió nam thổi suốt một thế kỉ rưỡi trên đồng lúa xanh rờn, từ hương cỏ sinh sôi rập rờn tỏa trên ngàn hoang thảo trĩu hoa và những khóm thủy cự reo cười, nơi giấu mình của những con chim khuyên xanh, nơi con ong ngơ ngác lạc đường, từ những bờ giậu đầy hoa hồng, hoa kim ngân và hoa ngô màu thanh thiên, nơi những thân lúa vàng chen chúc dưới bóng mát của những hàng dương xanh. Từ vị ngọt của tất cả những dòng suối nhỏ quanh co, nơi những cây diên vĩ hứng ánh nắng, từ vẻ đẹp của những khu rừng hoang dại; từ những quả đồi rộng đầy xạ hương thảo và lồng lộng tự do – ba trăm năm mới lặp lại một lần.
“Một trăm năm của hoa anh thảo, hoa dạ lan hương, hoa tím; mùa xuân thắm và mùa thu vàng, ánh nắng, mưa rào và những buổi sáng đẫm sương; đêm dài vĩnh cửu, tất cả nhịp điệu của thời gian trải ra. Một cuốn biên niên sử không được viết ra và vượt quá sức của mọi cây bút; ai là người ghi lại những cánh hồng đã rụng khỏi cây từ một thế kỉ trước? Thử nghĩ mà xem ba trăm lần cánh nhạn về đậu trên nóc nhà! Từ những cái đó trinh nữ vụt hiện, và cả trần gian khao khát hướng về sắc đẹp của nàng như về những bông hoa của quá khứ. Vẻ yêu kiều của tuổi mười bảy phải trải hàng thế kỉ mới nên. Chính vì vậy nên tình yêu như nhuốm buồn”.
Nếu như ta đã hiểu và trân trọng vẻ đẹp của những bông dạ lan rừng ba trăm năm nở lại, nếu như tinh hoa của những đóa hồng, của âm nhạc, của những buổi mai và những buổi chiều hừng sáng đã có lần khiến lòng ta xúc động, nếu như tất cả cái đẹp đều phù du mà ta có dịp được ôm tất cả cái đó trong vòng tay trước khi thế gian này trôi tuột đi thì liệu ta có bỏ qua không?
❀ ❀ ❀
[1] Richard Jefferies, văn hào Anh thế kỉ 19 (1848 – 1887) – ND.