Vừa trở thành một thành viên trong cái gia đình ở công viên Hyde là ông Gerhardt lao ngay vào những công việc mà ông mặc nhiên cảm thấy là của mình. Ông chịu trách nhiệm trông coi lò sưởi và vườn, ông bực mình khi nghĩ rằng cứ phải bỏ tiền thuê người ngoài trong khi ông không có việc gì làm. Ông bảo Jennie rằng cây cối trong vườn thảm hại quá. Nếu Lester sắm cho ông một con dao tỉa và một cái cưa thì đến mùa xuân ông sẽ chăm lo đến đám cây cối ấy. Ở bên Đức người ta biết cách chăm lo những công việc như thế, còn những người Mỹ này thì thật vụng về. Sau đó, ông đòi dụng cụ, đinh và kịp thời sửa lại đâu vào đấy tất cả tủ cùng giá để đồ. Ông phát hiện ra một nhà thờ dòng Luther cách nhà gần hai dặm và tuyên bố rằng nhà thờ ấy đẹp hơn cái nhà thờ ở Cleveland. Vị linh mục ở đó cố nhiên là một đức thánh con được trời sai xuống. Và muốn gì thì muốn, con Vesta cứ phải theo ông đến nhà thờ đều đặn.
Jennie và Lester ổn định dần nếp sống mới với một vài nỗi lo âu; chắc chắn một số khó khăn sẽ xảy ra. Trước kia ở phía bắc thành phố, Jennie tránh gặp gỡ chuyện trò với hàng xóm còn dễ. Bây giờ hai người chiếm cứ một ngôi nhà tương đối bề thế nên những người láng giềng gần gũi nhất cảm thấy có bổn phận phải đến thăm, và Jennie sẽ phải đóng vai trò một bà chủ lịch duyệt. Nàng cùng Lester đã bàn bạc với nhau về tình hình này. Chàng nói rằng ở đây có thể để người ta hiểu ngầm rằng hai người là vợ chồng. Vesta sẽ được giới thiệu là con riêng của Jennie sau cuộc hôn nhân đầu, còn chồng nàng, một ông Stover nào đó (tên gọi thời con gái của mẹ cô) đã chết ngay sau khi đứa trẻ ra đời. Cô nhiên Lester là bố dượng của đứa trẻ. Cái vùng đặc biệt này rất xa cái trung tâm sang trọng của thành phố Chicago nên Lester cũng chắc là sẽ không gặp nhiều bạn bè lắm. Chàng giảng giải cho nàng về những nghi thức thông thường trong việc xã giao để khi người khách đầu tiên đến thăm, Jennie có thể sẵn sàng đón tiếp. Trong vòng nửa tháng người khách đầu tiên này đã đến, đó là bà Jacob Stendahl, một phụ nữ khá quan trọng ở khu vực này. Bà này ở cách nhà Jennie năm nhà – những ngôi nhà trong khu vực đặc biệt này đều có sân cỏ rộng rãi – và bà đến bằng xe ngựa vào một buổi chiều, trên đường đi mua sắm trở về nhà.
- Bà Kane có nhà không? – Bà hỏi cô Jeannette, một cô hầu gái mới đến làm.
- Thưa bà có ạ – cô gái trả lời. – Xin bà cho phép chuyển danh thiếp vào.
Tấm danh thiếp được đưa ra và được chuyển tới Jennie, nàng đọc rất kỹ.
Khi Jennie vào phòng khách, bà Stendahl, một phụ nữ cao lớn, da ngăm ngăm, vẻ tò mò, chào nàng hết sức thân mật.
- Có lẽ tôi đến bà thế này khí đường đột – bà nói, vẻ rất lấy lòng. – Tôi là một trong những láng giềng của bà. Tôi ở phía bên kia đường phố, ngược lên phía trên mấy nhà. Có lẽ bà đã nhìn thấy nhà chúng tôi, cái nhà có trụ cổng bằng đá trắng ấy.
- Ồ, quả có thế – Jennie trả lời. – Em biết rõ cái nhà ấy. Anh Kane và em ngay hôm mới tới đây đã ngưỡng mộ ngôi nhà ấy.
- Tòi có biết về ông nhà ta, cố nhiên là nghe tiếng thôi. Nhà tôi có quan hệ với công ty Wilkes sản xuất ghi xe lửa.
Jennie cúi đầu. Căn cứ vào cái lối bà Stendahl đề cập đến nó, nàng cũng đủ hiểu cái hãng vừa được nói đến kia hẳn phải là một cái gì quan trọng và nhiều lợi nhuận.
- Gia đình chúng tôi ở đây đã nhiều năm và tôi biết cái cảm giác của một người hoàn toàn xa lạ như bà khi đặt chân đến một khu vực mới của thành phố. Tôi hy vọng bà sẽ dành thời giờ quá bộ lại thăm tôi một buổi chiều nào đó. Tôi sẽ vô cùng phấn khởi. Ngày tiếp khách thường lệ của tôi là thứ năm hàng tuần.
- Nhất định em sẽ đến. – Jennie trả lời, hơi lo sợ vì cuộc thử thách ấy thật là gay go. – Em rất cảm kích vì bà đã có nhã ý đến thăm. Anh Kane nhà em nói chung rất bận, nhưng khi anh ấy có nhà em chắc anh ấy sẽ vô cùng phấn khởi được gặp bà và ông nhà.
- Một buổi tối nào đó, nhất định cả hai ông bà phải đến đấy – bà Stendahl trả lời. – Chúng tôi sống rất yên tĩnh. Ông nhà tôi không thích tụ tập đông lắm. Nhưng chúng tôi rất thích những người bạn hàng xóm.
Jennie mỉm cười tỏ rõ thiện chí của mình. Nàng tiễn bà Stendahl ra cửa và bắt tay bà. – Tôi rất sung sướng thấy bà kiều diễm quá. – bà Stendahl thành thực nhận xét.
- Ồ, cảm ơn bà – Jennie nói, hơi đỏ mặt một chút – em chắc là không xứng với lời bà quá khen.
- Được, tôi mong sẽ gặp bà vào một buổi chiều nào đó. Tạm biệt, – và bà vẫy tay chào duyên dáng.
- Cũng không đến nỗi dở lắm – Jennie nghĩ, mắt nhìn theo bà Stendahl đánh xe đi. – Theo mình thì bà ta rất lịch sự. Mình sẽ kể cho Lester nghe về bà ta.
Trong số những người đến thăm khác, có hai ông bà Carmichael Burke, một bà Hanson Field và một bà Timothy Ballinger nào đó – Tất cả các vị khách này đều để danh thiếp lại hoặc ngồi chơi chuyện trò dăm phút. Jennie cảm thấy rằng mình được thực sự coi là một phụ nữ quan trọng và nàng cố gắng hết sức để xứng với vinh dự của địa vị mình. Mà quả thực nàng đã khéo xử vô cùng. Nàng rất mến khách và duyên dáng. Nàng có nụ cười hiền hậu và phong thái hoàn toàn tự nhiên; nàng đã gây được một ấn tượng rất thuận lợi. Nàng giải thích cho các vị khách biết rằng nàng đã sống ở phía bắc thành phố cho mãi đến thời gian gần đây, rằng chồng nàng, ông Kane, từ lâu vẫn muốn có một ngôi nhà ở khu công viên Hyde, rằng cha nàng và con gái nàng hiện đang sống ở đây và Lester là bố dượng của đứa trẻ. Nàng nói rằng nàng hy vọng sẽ đáp lễ tất cả các vị khách quý này và hy vọng sẽ là một người láng giềng tốt của họ.
Đến tối, Lester nghe kể lại về những cuộc thăm viếng này, bởi vì chàng không thích gặp những người ấy. Jennie bắt đầu hơi thích thú chuyện ấy. Nàng thích làm quen với những bạn mới và hy vọng rằng ở đây có thể xảy ra một điều gì dứt khoát khiến Lester sẽ coi mình như một người vợ hiền và một người bạn lý tưởng. Biết đâu một ngày nào đó có thể chàng thực sự muốn cưới nàng.
Chẳng bao lâu Jennie phát hiện ra rằng những ấn tượng ban đầu không phải bao giờ cũng bền vững mãi. Những người hàng xóm có lẽ đã hơi quá vội vàng chấp nhận nàng, và giờ đây những lời đồn đại bắt đầu lan truyền đi. Một bà Sommerville nào đó trong khi đến thăm bà Craig – một trong những người hàng xóm gần nhất của Jennie – đã thông báo rằng bà biết rõ Lester là người như thế nào. – Ồ, phải thật vậy. Bà chị thân mến, bà cũng biết, bà nói tiếp, – tiếng tăm của anh chàng cũng hơi… – bà dướn lông mày đồng thời giơ tay lên.
- Thế nữa kia đấy! – Bà bạn bình luận một cách tò mò – Trông anh chàng có vẻ con người điềm đạm và thận trọng thế cơ mà.
- Ồ, còn phải nói, chừng mực nào đó thì anh ta là con người như thế, – bà Sommerville nói tiếp. – Gia đình anh ta thuộc loại giàu sang nhất. Anh ta có đi theo một cô ả nào đó, nhà em bảo thế. Em không biết có phải là cô này không, còn cô ả kia được giới thiệu là cô Gorwood gì ấy, hoặc một cái tên na ná như thế, hồi anh ả sống với nhau như vợ chồng ở phía bắc thành phố.
- Chậc, chậc, chậc, – bà Craig tặc lưỡi khi nghe cái tin sửng sốt này. – Thế nữa kia đấy! Bà chị cứ thử nghĩ mà xem, nhất định là cùng một ả rồi. Bố ả tên là Gerhardt!
- Gerhardt! – Bà Sommerville kêu lên. – Phải, đúng cái tên ấy rồi. Em thấy hình như trước kia còn có một chuyện tai tiếng gì đó về cô ả, ít ra thì cũng có một đứa con. Về sau anh chàng có cưới cô ả không thì em chẳng biết. Về sau theo em, gia đình anh chàng cũng chẳng quan hệ gì với cô ả.
- Thật là lý thú! – Bà Craig kêu lên. – Kể cũng lạ là về sau anh chàng lại lấy cô ả, nếu như quả thật như thế. Thời buổi này, thật chẳng biết ai là người tốt mà giao thiệp, phải không bà chị?
- Điều đó thì đúng quá đi rồi. Đôi khi cuộc đời vàng thau lẫn lộn. Cô ả nom bề ngoài cũng đáng yêu đấy chứ?
- Tuyệt vời! – Bà Craig kêu lên. – Rất thơ ngây. Quả thật em rất thích cô ta.
- Ồ, cũng có thể – bà khách nói tiếp – suy cho cùng thì đó không phải là cái cô ả kia. Có lẽ em nhầm!
- Ồ, em chả nghĩ thế. Tên là Gerhardt mà! Cô ta nói với em rằng hai người đã sống ở phía bắc thành phố.
- Thế thì em chắc vẫn là cái ả đó. Kể cũng lạ là bà chị lại nói về ả như vậy!
- Quả là như vậy – bà Craig nói tiếp, vừa nói bà vừa suy tính xem trong tương lai bà nên có thái độ nào đối với Jennie.
Những lời đồn đại khác từ các nguồn khác đến. Có những người đã bắt gặp Jennie và Lester cùng đi xe ngựa ở phía bắc thành phố, nàng đã được giới thiệu với họ là cô Gerhardt và họ biết gia đình họ Kane suy nghĩ gì về sự việc này. Cố nhiên là cái địa vị hiện thời của nàng, ngôi nhà đẹp đẽ, sự giàu có của Lester, vẻ đẹp của con Vesta – tất cả những cái đó đã góp phần làm cho tình hình đỡ gay. Rõ ràng là nàng quá ư thận trọng, quá ư là một người vợ thảo mẹ hiền, thật sự quá ư lịch sự nên chẳng ai giận được, song nàng đã có một quá khứ và cái quá khứ ấy cần phải được xét đến.
Tiếng sét mở đầu cơn dông tố sắp tới, một hôm, đã giáng xuống Jennie khi con bé Vesta lúc đi học về bỗng hỏi: “Mẹ ơi, bố con là ai?”
- Bố con tên là Stover, con yêu quý ạ. – Người mẹ trả lời và lập tức choáng người nghĩ rằng có thể có lời bình phẩm nào đó, hẳn có người nào đó nói điều gì. – Sao con lại hỏi thế?
- Con đẻ ở đâu? – Vesta vẫn tiếp tục, không để ý gì đến câu hỏi trước mà chỉ chú ý đến việc làm sáng tỏ lai lịch của bản thân nó.
- Ở Columbus, bang Ohio, cưng ạ. Thế thì sao?
- Con Anita Ballinger bảo rằng con chẳng có bố nào cả và bảo rằng mẹ chưa hề có chồng khi mẹ đẻ con. Nó nói con thật sự chẳng phải là một đứa con gái mà chẳng là cái thá gì. Nó làm con điên lên đến nỗi con đã tát cho nó một cái.
Nét mặt Jennie đanh lại. Nàng ngồi nhìn chằm chằm ra phía trước. Trước đây bà Ballinger đã đến thăm nàng và Jennie đã tưởng bà ta là một người đặc biệt tử tế và hay giúp người khi bà ta ngỏ lời muốn đỡ đần nàng, thế mà bây giờ đứa con gái nhỏ của bà lại nói với Vesta như vậy. Con bé này đã nghe chuyện ấy ở đâu?
- Con không được để ý gì đến nó, con yêu quý ạ. – Cuối cùng Jennie nói. – Nó không biết. Bố con là ông Stover, còn con thì đẻ ở Columbus. Con không được đánh nhau với các bạn nhỏ khác. Cố nhiên là khi đánh nhau thì chúng nó hay nói bậy bạ, đôi khi chúng nói cả những điều mà chúng thực sự không định nói. Cứ mặc kệ nó, còn con thì đừng đến gần nó nữa. Thế là nó sẽ không nói gì với con cả.
Sự giải thích ấy tuy đuối lẽ song tạm thời cũng thỏa mãn Vesta.
- Con sẽ vả vào miệng nó nếu nó tìm cách lăng mạ con – con bé vẫn khăng khăng.
- Con không được đến gần nó, con yêu quý ạ, con có nghe không? Khi ấy nó sẽ không thể tìm cách lăng mạ con. – Người mẹ trả lời. – Con hãy cố gắng học hành và đừng để tâm gì đến nó. Nó sẽ không thể cãi nhau với con nếu con không để cho nó có cơ hội.
Vesta bỏ đi để cho Jennie trầm ngâm suy nghĩ về lời lẽ của nó. Những người hàng xóm đang thì thào bàn tán. Lai lịch nàng trở thành câu chuyện ngồi lê đôi mách. Chẳng biết làm thế nào mà họ phát hiện ra được?
Chữa cho lành một vết dao đâm thì còn dễ chứ để cho vết thương thỉnh thoảng bị đâm thêm mấy nhát cho to thêm ra thì khó mà chữa nổi. Một hôm đến thăm bà Hanson Field là người hàng xóm gần nhất, Jennie gặp bà Williston Baker đang uống trà ở đó. Bà Baker biết rõ về gia đình nhà Kane, về câu chuyện của Jennie ở phía bắc thành phố và về thái độ của gia đình nhà Kane. Bà ta là một phụ nữ trí thức, mảnh khảnh và đầy nghị lực, đại khái cũng thuộc loại người như bà Bracebridge và rất thận trọng trong quan hệ xã hội. Xưa nay bà vẫn cho bà Field là một phụ nữ cũng có thái độ nguyên tắc cẩn trọng như mình và khi thấy Jennie đến chơi đấy, bề ngoài bà ta vẫn tỏ ra bình tĩnh song trong lòng thì bực bội. – Bà Baker ạ, đây là bà Kane. – bà Field vừa nói vừa giới thiệu hai người khách với nhau bằng vẻ mặt tươi cười. Bà Baker nhìn Jennie bằng cái nhìn báo điềm gở.
- Bà Lester Kane à? – Bà hỏi.
- Vâng, – bà Field trả lời.
- Ra thế – bà lạnh lùng nói tiếp. – Tôi đã nghe nói rất nhiều về bà… – bà ta nhấn mạnh mấy chữ – bà Lester Kane.
Bà ta quay lại phía bà Field, lờ hẳn Jennie đi, và bắt đầu một cuộc đối thoại riêng mà Jennie không thể nào xen vào được. Jennie cứ đứng trơ ra bên cạnh. Lát sau bà Baker cáo từ ra về, mặc dù trước đó bà đã định ngồi chơi lâu hơn.
- Tôi không thể ở lại thêm được phút nào nữa, – bà ta nói. – Tôi đã hứa ghé thăm bà Neil mấy hôm nay. Chắc chắn là tôi đã quấy rầy bà nhiều lắm rồi.
Bà ta đi ra cửa, mãi đến khi sắp ra khỏi phòng rồi bà ta vẫn không thèm nhìn đến Jennie, Rồi bà ngoái nhìn nàng và gật đầu chào lạnh lùng.
- Thỉnh thoảng chúng mình gặp những người kỳ cục như thế đấy, – cuối cùng bà ta vừa vụt bước đi vừa nhận xét với bà chủ nhà như vậy.
Bà Field cảm thấy không thể bênh vực Jennie, bởi vì bản thân bà chẳng có địa vị xã hội cao sang gì và cũng chỉ cố gắng theo kịp chị em như mọi người phụ nữ trung lưu khác. Bà cũng không muốn phật lòng bà Williston Baker vì bà này so với Jennie về mặt xã hội thì quan trọng hơn nhiều. Bà quay lại chỗ Jennie đang ngồi và mỉm cười xin lỗi, tuy nhiên bà hơi bối rối. Cố nhiên là Jennie lúng túng rồi, Ngay sau đó nàng cáo từ ra về. Thái độ coi thường kia đối với nàng khiến nàng đau nhói, và nàng có cảm giác rằng bà Field đã nhận ra mình sai lầm vì đã từng giao thiệp với nàng. Sẽ không còn những cuộc thăm viếng lẫn nhau ở đây nữa – nàng biết điều đó. Nàng lại thấy cái cảm giác vô vọng ngày trước rằng đời mình đã bỏ đi. Đời nàng không thể làm lại cho tốt được nữa, mà nếu có thể thì cũng sẽ chẳng đi đến đâu. Lester không muốn cưới nàng và gây dựng lại cho nàng tử tế.
Thời gian cứ tiếp tục trôi đi và mọi chuyện vẫn cứ nguyên như trước.
Cứ nhìn ngôi nhà lớn này với cái bãi cỏ mịn màng và những hàng cây tươi tốt, giàn nho leo quanh những cột trụ ở hành lang và đan vào nhau thành một tấm lưới màu lá cây trong sáng; cứ nhìn ông Gerhardt thơ thẩn trong vườn, con Vesta từ trường học về nhà, Lester đi làm buổi sáng bằng cỗ xe lịch sự – hẳn người ta sẽ bảo rằng nơi đây chỉ có yên tĩnh và sung túc, không một bóng dáng nào của bất hạnh lởn vởn quanh tổ ấm đẹp đẽ này.
Thực tế là cuộc sống của Lester và Jennie không hoàn toàn trôi chảy. Quả là những người hàng xóm không đến thăm nữa, hoặc chỉ có vài người trong bọn họ đến, còn sinh hoạt xã hội thì chẳng có gì mà nói tới; song sự mất mát ấy cũng khó nhận thấy; trong cuộc sống gia đình, có nhiều điều để mà vui thú và quan tâm. Vesta đang học dương cầm và nó đàn rất khá. Nó có năng khiếu âm nhạc tốt, Jennie là hình ảnh của sự kiều diễm với những chiếc áo dài mặc trong nhà màu xanh, màu xanh nhạt có phẩy đỏ hoặc màu ô liu mỗi khi nàng quanh quẩn làm các công việc của mình, nào may vá nào lau chùi hoặc chuẩn bị cho Vesta đi học và trông nom cho nhà cửa nói chung được gọn gàng ngăn nắp. Ông Gerhardt luôn chân luôn tay làm biết bao công việc, vì ông chỉ thỏa mãn khi nào được dự phần vào mọi việc tiết kiệm trong gia đình. Một trong những nhiệm vụ ông tự đề ra cho mình là đi khắp nhà khi Lester hoặc bọn đầy tớ đã đi ngủ để tắt những ngọn đèn hơi hoặc đèn điện ngẫu nhiên còn bật sáng. Để như thế là một sự phung phí tội lỗi.
Lại nữa, những quần áo đắt tiền mà chàng vứt bừa đi sau khi dùng vài tháng cũng là nguyên nhân buồn bực cho ông già người Đức tằn tiện này. Ngoài ra ông còn xót ruột về những đôi giày đẹp đẽ bị bỏ đi chỉ vì vài nếp nhăn trên mặt da hoặc vì gót hay đế hơi mòn một chút. Ông Gerhardt muốn đem đi chữa, nhưng đáp lại câu ca cẩm của ông già “những đôi giày ấy đã việc gì đâu”, Lester bảo giày ấy đi không thoải mái nữa.
- Thật quá quắt! – Ông Gerhardt phàn nàn với Jennie – Thật phí phạm! Hoang phí như vậy thì không làm nên cơ nghiệp gì đâu. Như thế rồi sẽ có ngày túng thiếu.
- Anh ấy không thể khác được, bố ạ – Jennie bào chữa. – Anh ấy đã được nuôi dưỡng theo cái kiểu ấy.
- Chà! Được nuôi dưỡng kỳ cục thật. Cái bọn người Mỹ này họ chẳng biết tiết kiệm là thế nào. Họ cần phải sống ở bên Đức một thời gian. Khi ấy họ sẽ biết được giá trị của một đồng đôla.
Qua Jennie, Lester biết được đôi điều về chuyện này song chàng chỉ mỉm cười. Chàng thấy ông Gerhardt thật ngộ.
Một điều đáng phàn nàn nữa là cái lối dùng diêm lãng phí của Lester. Chàng có thói quen đánh một que diêm rồi cứ cầm mà nói chuyện chứ không châm vào điếu xì gà, và rồi lại vứt diêm đi. Đôi khi chàng quẳng đi hết que này đến que khác rồi mới thực sự châm được điếu xì gà, mặc dù đã bắt đầu châm từ hai, ba phút trước. Có một chỗ ở góc hành lang là nơi chàng thích ngồi vào những tối mùa xuân hay mùa hạ để hút thuốc và để quăng đi những que diêm cháy dở. Jennie thường ngồi với chàng và biết bao nhiêu que diêm thường được đánh lên và liệng ra bãi cỏ. Một lần trong khi cắt cỏ, ông Gerhardt bàng hoàng khi phát hiện ra không phải có một dúm mà đúng là hàng hộp những que diêm cháy dở nằm mục ra dưới đám cỏ đã cắt. Ông đâm nản, mà nói thế còn là nhẹ.
Ông thu thập cái đám bằng chứng tệ hại ấy vào một tờ giấy báo rồi đem vào phòng ngồi chơi là nơi Jennie đang ngồi khâu.
- Xem thử bố tìm thấy cái gì! – Ông nói. – Cứ thử nhìn mà xem! Cái anh chàng ấy ý thức tiết kiệm cũng chẳng hơn gì một, hơn gì một… – ông không tìm được từ thích hợp. – Anh ta cứ ngồi mà hút thuốc, và đây là cái lối dùng diêm của anh ta. Người ta bán mỗi bao năm xu – năm xu. Bố không hiểu một con người làm sao có thể hy vọng làm ăn khấm khá được nếu cứ tiêu xài như thế này. Cứ nhìn những que diêm này mà xem!
Jennie nhìn. Nàng lắc đầu. – Anh Lester anh ấy phung phí lắm – nàng nói.
Ông Gerhardt đem cái mớ diêm ấy xuống tầng hầm, ít nhất thì những que diêm ấy cũng nên đem đốt trong lò sưởi. Nếu là ông thì ông đã dùng chúng để mồi tẩu thuốc của mình bằng cách gí chúng vào lò, chỉ có giấy báo cũ mới tốt hơn mà thôi, và ông cũng có hàng đống báo cũ nữa – lại một bằng chứng nữa về cái tính vung tay quá trán tệ hại của vị chúa tể và chủ nhân của ông. Cái thế giới mà ông đang sống thật đáng buồn. Hầu như cái gì cũng trái ý ông. Tuy vậy ông vẫn hết sức dũng cảm chống lại những hành động lãng phí và ngông cuồng vô liêm sỉ. Còn việc tiết kiệm của ông thì rất triệt để; suốt trong hai năm, chủ nhật nào ông cũng mặc độc một bộ đồ đen cắt ra từ một trong những bộ quần áo đắt tiền mà Lester đã sắm cách đây nhiều năm. Những đôi giày của Lester chỉ cần có trí tưởng tượng tí chút cũng có thể đem sửa thành tốt, và ông đi những đôi giày ấy. Những cái ca-vát cũ của chàng cũng vậy, những cái màu đen ấy thật là đẹp. Nếu như có thể cắt lại những chiếc sơ mi của Lester thì ông đã làm như vậy rồi. Ông có sửa lại quần áo lót của chàng, nhờ đường kim mũi chỉ giúp đỡ thân mật của chị nấu bếp. Những đôi bít tất của Lester thì cố nhiên ông đi vừa. Không bao giờ phải có một khoản chi nào về quần áo cho ông Gerhardt.
Cái đám tồn kho những quần áo bỏ đi của Lester – nào giày dép, nào sơ mi, nào cổ áo, nào những bộ com-lê, ca-vát và những thứ linh tinh khác ông thường tích lại qua nhiều tuần, nhiều tháng để rồi, lòng đầy sầu muộn, ông gọi một người thợ may, hoặc một người mua giày dép cũ hay một bác đồng nát đến mà bán cả cái mớ ấy đi với một cái giá cao nhất mà ông có thể nài được. Ông nhận ra rằng tất cả những tay mua quần áo cũ đều là bọn cắt cổ, rằng đừng có bao giờ nên tin tí gì ở những lời cả quyết của bất kỳ bác đồng nát hoặc bác buôn giày cũ nào. Tất cả bọn họ đều nói dối. Tất cả bọn họ đều tự nhận là rất nghèo trong khi thực tế họ đang sống rất phong lưu. Trước đó ông Gerhardt đã điều tra những chuyện này, ông đã theo dõi họ, ông đã thấy họ sử dụng những thứ mua được của ông như thế nào.
- Đồ xỏ lá! – Ông tuyên bố. – Chúng nó trả tao mười một xu một đôi giày, và rồi tao thấy chúng nó đem treo ở nơi bán hàng của chúng và đề hai đôla. Quân đầu trộm đuôi cướp! Lạy Chúa! Lẽ ra chúng nó có thể trả tao được một đôla.
Jennie mỉm cười. Ông chỉ phàn nàn với nàng thôi vì ông không thể trông chờ sự đồng tình nào của Lester. Riêng về khoản tiền dành dụm ít ỏi của ông thì ông đem cúng hầu hết vào cái nhà thờ mà ông yêu thích, ở đó ông được xem là một mẫu mực về thái độ đúng đắn, ngay thẳng và sùng đạo – thực tế là hiện thân của cả ba đức tính ấy.
Và vì vậy, mặc dù những lời đồn đại xấu xa đang bắt đầu lan truyền đi trong giới xã giao, Jennie giờ đây vẫn đang sống những năm tháng trong mộng của đời mình. Mặc dầu đôi khi bị những mối ngờ vực bủa vây, không chắc mình có khôn ngoan trong sự nghiệp tiến thủ hay không, Lester vẫn luôn luôn hồn hậu và ân cần với nàng và chàng có vẻ thích thú cuộc sống gia đình.
- Mọi việc ổn cả chứ? – Nàng thường hỏi lúc chàng trở về vào buổi tối.
- Hẳn đi rồi! – Chàng trả lời và véo cằm hoặc má nàng.
Nàng thường theo chàng vào trong nhà trong khi Jeannette luôn luôn nhanh nhảu, cởi áo khoác và cất mũ cho chàng. Mùa đông, hai người thường hay ngồi ở trong phòng đọc sách, trước một lò sưởi lớn. Vào mùa xuân, mùa hạ hoặc mùa thu Lester thích đi ra ngoài hành lang hơn (Một góc hành lang này nhìn ra quang cảnh bãi cỏ rộng rãi và đường phố phía xa) để đi dạo và châm điếu xì gà thường lệ trước bữa ăn chiều. Jennie thường ngồi bên thành ghế của chàng mà vuốt tóc chàng.
- Tóc anh chẳng thưa đi tý nào, anh Lester ạ, anh có thích thế không? – Nàng thường nói; hoặc – Ồ, anh lại nhăn trán rồi. Anh không được làm thế. Sáng nay anh không thay ca-vát rồi, anh ạ. Sao anh lại không thay? Em đã để sẵn một cái cho anh cơ mà.
- Ồ, anh quên. – chàng thường trả lời vậy, hoặc thôi nhăn trán, hoặc tiên đoán một cách đùa cợt rằng chẳng bao lâu nữa chàng sẽ hói nếu như bây giờ chàng chưa hói.
Trong phòng ngồi chơi hoặc trong phòng đọc sách, trước mặt Vesta và ông Gerhardt, nàng vẫn lộ vẻ âu yếm không kém, tuy rằng có hơi thận trọng hơn. Nàng thích những trò hóc hiểm ngồ ngộ như trò đàn lợn an nhàn[1], trò hang nhện, bàn bi-a tí hon và những trò đại loại như thế. Lester cũng tham gia vào những trò tiêu khiển bình dị ấy. Chàng thường cặm cụi làm hàng giờ, nếu cần, để giải một câu đố. Jennie tỏ ra sáng trí trong việc giải những bài toán máy móc ấy. Đôi khi nàng thường phải bày cho chàng cái phương pháp thích hợp, và lúc ấy nàng thường lấy làm bằng lòng vô cùng. Những lúc khác nàng thường đứng phía sau chàng mà quan sát, cằm tì vào vai chàng, hai tay ôm lấy cổ chàng. Hình như chàng cũng không phản đối – thật ra chàng sung sướng trong tình cảm yêu thương dào dạt mà nàng đã dành cho chàng. Sự thông minh, dịu dàng và khéo léo của nàng đã tạo ra một bầu không khí vô cùng dễ chịu; mà trước hết là vẻ trẻ trung và sắc đẹp của nàng đã cuốn hút chàng. Điều đó khiến Lester cảm thấy mình trẻ, và nếu có một điều gì chàng không ưa thì đó là cái ý nghĩ rằng rồi mình sẽ héo hắt đi và bước vào tuổi già không mục đích. “Mình muốn giữ được trẻ mãi hoặc được chết trẻ” – đó là một trong những câu ưa thích của chàng. Chàng sung sướng thấy mình giờ đây trẻ ra nhiều vì nàng.
Một nét thú vị nữa trong cuộc sống gia đình này là Lester ngày càng tỏ ra yêu mến Vesta hơn. Vào buổi tối con bé thường ngồi bên cái bàn lớn trong phòng đọc sách mà học bài trong khi Jennie ngồi khâu và ông Gerhardt đọc hàng lô bài báo về dòng Luther Đức. Ông già buồn phiền vì Vesta không được cho đi học tại một trường xứ đạo dòng Luther của Đức, nhưng Lester đâu có chịu nghe một ý kiến nào như vậy.
- Chúng mình sẽ không để cho bất kỳ sự dạy dỗ đầu độc nào của Đức vào cái nhà này, – chàng nói với Jennie khi nàng nhắc đến chuyện ông Gerhardt than phiền. – Các trường công cũng đủ tốt đối với bất kỳ đứa trẻ nào. Em bảo ông cụ để con bé yên thân.
Có những giờ phút thực sự êm đềm trôi qua giữa bốn người. Lester thích để cô bé học sinh lên bảy ấy ngồi lên đầu gối mình mà trêu đùa. Chàng thích xoay ngược những cái gọi là thực tế của cuộc sống, đề xuất những nghịch lý của nó để xem xem đầu óc non trẻ của con bé nhận thức thế nào. – Nước là cái gì? – Chàng thường hỏi, và khi, được nó cho biết rằng đó là “cái mà ta uống”, chàng thường nhìn nó chằm chằm và nói. – Đúng đấy, nhưng nó là cái gì? Ở trường họ không dạy cháu rõ hơn tí nào ư?
- Ồ, nước là cái mà ta uống, phải không ạ? – Vesta vẫn khăng khăng nói.
- Việc ta uống nó đâu có cắt nghĩa được nó là cái gì – chàng vặn lại. – Cháu hãy hỏi thầy giáo xem nó là cái gì – và rồi chàng bỏ con bé xuống và để mặc cho cái vấn đề bực mình kia dằn vặt tâm trí non trẻ của nó.
Đồ ăn, đồ sứ, quần áo, bất kỳ vật gì chàng cũng có thể xoay ngược, truy về thành phần hóa học của chúng, và chàng thường để mặc con bé vật lộn với những gợi ý mập mờ về một cái gì khác đằng sau cái bề mặt của sự vật cho đến khi nó thật sự kinh sợ chàng. Vào buổi sáng con bé thường có thói quen phô cho chàng thấy nó xinh xắn thế nào trước khi đi học, một thói quen phát sinh ra do chàng luôn luôn phê bình cái hình thức bề ngoài của nó. Chàng muốn cho nó nom thật oách, chàng đòi phải thay giày thấp cổ cho nó bằng đôi ủng cao cho phù hợp với sự thay đổi thời tiết giữa hai mùa và đòi may quần áo cho nó theo một gam màu phù hợp với nước da và tính tình của nó.
- Con bé tính nhẹ nhàng và vui vẻ, đừng cho nó mặc màu tối, – có lần chàng nhận xét vậy.
Jennie đi đến chỗ nhận ra là phải hỏi ý kiến chàng về chuyện này và nàng thường nói:
- Con đến cho bố con xem có xinh không nào.
Vesta thường chạy đến và vừa nhanh nhẹn quay một vòng trước mặt chàng vừa nói, “Xem này”.
- Được. Nom được đấy. Tiếp tục đi nào.
Và nó tiếp tục quay tròn.
Chàng trở nên hãnh diện về nó đến mức, vào những hôm chủ nhật và một vài ngày thường khác khi đánh xe cùng Jennie đi chơi, chàng thường để nó ngồi giữa hai người. Chàng cứ khăng khăng đòi Jennie cho nó đi học trường múa, còn ông Gerhardt thì giận dữ và đau buồn đến mức không tự chủ nổi mình.
- Vô đạo đến thế là cùng! – Ông than phiền với Jennie. – Thật là chuyện vố vẩn quái quỷ. Bây giờ nó đi nhảy. Để làm gì cơ chứ? Để biến nó thành một thứ vô tích sự, một kẻ đáng xấu hổ à?
- Ồ, không phải đâu bố ạ – Jennie trả lời – cũng không đến nỗi tệ hại đến thế đâu. Đây là một cái trường rất hay. Anh Lester bảo nó phải đi học,
- Lester, Lester, cái anh chàng ấy! Anh ta thì biết cái gì là tốt cho một đứa trẻ. Một tay cờ bạc, một gã lưu linh!
- Suỵt, bố đừng nói; con không muốn bố nói thế – Jennie thường trả lời sôi nổi. – Anh ấy là người tốt và bố cùng biết thế.
- Phải, phải, một người tốt. Có thể ở những mặt nào đó. Chứ về việc này thì không. Không đâu.
Ông vừa bỏ đi vừa rền rĩ. Khi có mặt Lester, ông không nói năng gì, còn con Vesta thì có thể tha hồ vần vò ông thế nào cũng được.
- Ông ơi, – con bé thường vừa nói vừa kéo cánh tay ông hoặc xoa cái má nhăn nheo của ông. Ông Gerhardt không còn phản ứng gì khi Vesta làm như vậy. Ông không tự chủ được nữa, một cái gì dâng lên cổ ông tắc nghẹn. – Ừ, ông biết là cháu cừ rồi, – ông thường kêu lên như vậy.
Vesta còn véo tai ông.
- Thôi ngay! – Ông thường nói. – Thế là đủ rồi.
Nhưng nó không chịu thôi đùa nghịch, trừ phi là tự nó muốn thế. Ông Gerhardt chiều chuộng con bé và nó có thể muốn làm gì ông cũng được, ông luôn luôn là người phục vụ tận tình của nó.
❀ ❀ ❀
[1] Trò chơi trẻ con dùng một miếng ván kê nghiêng, người chơi ném trên đó những viên bi (gọi là lợn), mỗi viên phải lăn vào lỗ riêng – ND.