Jennie Gerhardt

Lượt đọc: 487 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 26

❊ ❊ ❊

Cũng chẳng cần ghi chép những sự kiện xảy ra trong ba năm tiếp theo làm gì, – những sự kiện mà gia đình này đã trải từ cảnh nghèo túng thấp hèn đến chỗ tương đối có thể tự lực được, tất nhiên dựa vào sự phát đạt của Jennie và vào sự rộng lượng (thông qua nàng) của người chồng phương xa của nàng. Thỉnh thoảng người ta thấy Lester đến thăm Cleveland như một nhân vật quan trọng và đôi khi chàng đến tận ngôi nhà kia, tại đó, chàng cùng Jennie chiếm hai phòng đẹp nhất trên tầng hai. Về phía nàng cũng có những chuyến đi vội vã – đáp lại những bức điện tín nhắn gọi – tới Chicago, St. Louis và New York. Một trong những thú tiêu khiển mà chàng ưa thích là thuê nhà tại các vùng nghỉ mát nổi tiếng – Hot Springs, Mt. Clemens, Saratoga – và ở liền một mạch một hoặc hai tuần lễ để hưởng thú xa hoa cùng với Jennie như người vợ của mình. Có những lần khác chàng rẽ qua Cleveland chỉ để được gặp Jennie một ngày, chàng luôn luôn nhận thức rằng mình đang trút lên nàng cái gánh nặng thật sự của một tình thế, khá khó xử, song chàng cũng không biết làm thế nào để có thể cứu vãn được vào lúc này. Cho đến nay chàng vẫn không chắc là mình có thực sự muốn cứu vãn cái tình thế ấy không. Hai người đang sống với nhau khá là êm đẹp.

Thái độ của gia đình Gerhardt đối với chuyện này cũng khác thường. Thoạt tiên, tuy việc này không hợp thức song cũng có vẻ tự nhiên, Jennie nói rằng mình đã cưới. Không ai nhìn thấy tờ giấy chứng nhận hôn thú, song nàng bảo thế và giữ cái phong thái của một người có mối quan hệ ấy. Thế nhưng nàng vẫn không bao giờ đến Cincinnati là nơi gia đình chàng ở và cũng chẳng có người bà con nào của chàng đến với nàng. Lại nữa, mặc dù lúc đầu mọi người mờ mắt vì tiền bạc, song thái độ của chàng vẫn là kỳ cục. Chàng không xử sự như một người có vợ. Chàng rất thờ ơ. Có những tuần, nàng chỉ nhận được những bức thư ngắn viết lấy lệ. Có những lần nàng chỉ đi khỏi nhà ít ngày để gặp chàng, Rồi có những thời gian dài nàng vắng mặt – bằng chứng duy nhất đáng kể về một mối quan hệ vợ chồng thực sự, và như thế dù sao cũng có vẻ khác thường.

Bass lúc ấy đã trở thành một thanh niên hai mươi lăm tuổi, phần nào có óc phán xét về việc kinh doanh và muốn thoát ly gia đình để bước vào đời, gã sinh nghi. Gã đã bắt đầu có một hiểu biết khá sắc sảo về cuộc sống và cảm thấy bằng trực giác rằng sự việc này không ổn. George, mười chín tuổi, đã kiếm được một chân tàm tạm trong một nhà máy sản xuất giấy dán tường và đang hy vọng thành nghề hẳn hoi trong lĩnh vực này, giờ đây cũng đâm áy náy. Nó cảm thấy có điều gì trật khấc. Con Martha mười bảy tuổi vẫn đi học như thằng William và con Veronica. Mỗi đứa đều có cơ hội ăn học lâu dài, nhưng đời sống có những chuyện phải băn khoăn. Chúng biết về đứa con của Jennie. Những người hàng xóm thì hiển nhiên là đang tự rút ra những kết luận. Gia đình này có ít bạn bè. Bản thân ông Gerhardt cuối cùng cũng kết luận rằng có điều gì không ổn, song vì ông đã tự buông thả vào tình thế ấy nên chẳng thể đặt vấn đề ra tranh luận. Đôi khi ông muốn hỏi Jennie và nếu có thể thì đề nghị nàng cải thiện tình hình đó, song điều xấu nhất đã xảy ra rồi. Ông biết rằng hây giờ mọi sự đều phụ thuộc vào anh chàng kia.

Sự việc đã đang dần dần tiến đến một tình thế có thể xảy ra một cuộc tổng biến động thì cuộc đời lại xen vào một giải pháp tình cờ. Sức khỏe của bà Gerhardt bị suy sụp. Tuy tạng người mập mạp và trước đây năng hoạt động, song vài năm gần đây rõ ràng bà đã có thói quen tĩnh tại và trở nên yếu ớt, lại thêm đầu óc vốn hay lo quanh nghĩ quẩn như thể bị nhiều căn bệnh trầm trọng và rối loạn đè nặng lên. Tình trạng đó giờ đây lên đến tột đỉnh, chuyển thành một ca ngộ độc, thuốc ngấm vào cơ thể từ từ nhưng rất chắc chắn. Cử chỉ của bà trở nên chậm chạp một cách rõ rệt, bà mau mệt khi làm chút ít công việc mọi người dành để bà làm, và cuối cùng bà than phiền với Jennie rằng bà khó lòng mà lên xuống cầu thang. – Mẹ không được khỏe – bà nói. – Có lẽ mẹ sắp sửa ốm.

Jennie hoảng hốt và đề nghị đưa bà đến một nơi nào gần đó có suối chữa bệnh, nhưng bà Gerhardt không chịu. – Mẹ nghĩ cũng chẳng ăn thua gì đâu, – bà nói. Bà cứ ngồi chơi loanh quanh hoặc đi chơi với con gái bằng xe ngựa, song cảnh thu tàn khiến bà buồn bã. – Mẹ không muốn bị ốm vào mùa thu, – bà nói. – Những chiếc lá rụng khiến mẹ nghĩ mình sẽ chẳng bao giờ bình phục được.

- Ôi, mẹ đừng nói gở nào! – Jennie nói, tuy vậy nàng cũng cảm thấy hãi hùng.

Một gia đình bình thường nhờ cậy vào bà mẹ đến mức nào thể hiện rõ lúc mọi người sợ bà sắp qua đời. Bass đã tính đến chuyện lấy vợ và ra khỏi cái bầu không khí này, giờ đây lại tạm thời bỏ ý nghĩ ấy. Ông Gerhardt choáng váng và buồn rũ rượi, cứ vơ vơ vẩn vẩn như một người chờ đợi và sợ hãi một tai họa có thể xảy ra. Vốn chưa từng trải chuyện chết chóc nên không tin là có thể mất mẹ, Jennie cảm thấy sự sống của bà chừng mực nào đó, là tuỳ thuộc ở nàng. Cứ hy vọng hoài, bất chấp mọi hoàn cảnh bất lợi hoàn toàn, nàng cứ loanh quanh như một cái bóng trắng kiên nhẫn, chờ đợi và hầu hạ.

Cái chết đến vào một buổi sáng sau một tháng bà bị ốm và nhiều ngày bất tỉnh, trong thời gian ấy căn nhà chìm trong yên lặng và tất cả mọi người trong gia đình đi lại đều phải rón rén bằng đầu ngón chân. Bà Gerhardt qua đời, đôi mắt tắt dần còn dán vào khuôn mặt Jennie suốt mấy phút tỉnh táo cuối cùng mà cuộc sống chiếu cố cho bà. Jennie nhìn thẳng vào đôi mắt mẹ với một nỗi hãi hùng đầy thương cảm. – Ôi mẹ! Mẹ! – Nàng kêu lên. – Ồ, không, không!

Từ ngoài sân, ông Gerhardt chạy vào và nằm vật xuống giường, vặn hai bàn tay xương xẩu vào nhau một cách khổ não. – Lẽ ra tôi phải đi trước mới đúng! – Ông kêu lên. – Lẽ ra tôi phải đi trước!

Cái chết của bà Gerhardt khiến cho sự tan vỡ dứt khoát của gia đình này càng đến sớm. Bass nhất quyết lấy vợ ngay vì gã đã có một cô người yêu ở trong thành phố ít lâu nay. Martha cũng nóng lòng muốn thoát ly ngay vì cách nhìn đời của cô đã mở rộng ra và cứng rắn thêm. Cô thấy một vết nhơ gắn liền với gia đình – mà thực tế là gắn vào cô chừng nào cô còn ở đó. Martha hướng về những trường công như một nguồn thu nhập, cô sắp trở thành một cô giáo. Chỉ có mình ông Gerhardt chẳng biết nên xoay hướng nào. Thời gian này, ông lại làm một chân gác đêm.

Một hôm Jennie thấy ông khóc một mình trong bếp và nàng lập tức cũng òa lên khóc. – Bố ơi! – Nàng khẩn khoản, – tình thế cũng không đến nỗi tồi tệ thế đâu. Rồi bố lúc nào cũng có một gia đình, bố biết đấy, chừng nào mà con còn có chút gì. Bố có thể đến với con.

- Không, không, – ông phản đối. Ông thật sự không muốn đi với con gái. – Không phải thế đâu, – ông nói tiếp – Cả cuộc đời bố thế là hết.

Ít lâu sau Bass, George và Martha dứt khoát ra đi, song lần lượt từng người một, để lại Jennie, ông bố, con Veronica, thằng William và một đứa trẻ nữa – con của Jennie. Tất nhiên là Lester không biết bố mẹ con bé Vesta là ai và kể cũng lạ là trước đây chàng chẳng bao giờ thấy nó. Trong những thời gian ngắn chàng hạ cố đến gia đình này – nhiều lắm là hai, ba ngày. – bà Gerhardt đều hết sức thận trọng để cho con bé Vesta tránh mặt. Trên tầng thượng có một phòng cho trẻ chơi và một phòng ngủ vì vậy việc giấu giếm cũng dễ dàng. Lester ít khi ra khỏi phòng mình, thậm chí chàng còn dùng bữa trong cái phòng tạm có thể gọi là buồng tiếp khách của dãy phòng ấy, Chàng không tọc mạch mà cũng chẳng sốt sắng muốn gặp bất kỳ người nào khác trong gia đình. Chàng hoàn toàn sẵn lòng bắt tay họ hoặc đổi trao vài lời chiếu lệ, mà chỉ những lời chiếu lệ mà thôi. Mọi người đều hiểu ngầm rằng đứa trẻ không nên xuất hiện và vì vậy nó không xuất hiện.

Giữa tuổi già và tuổi thơ có một mối cảm thương không thể nào giải thích nổi, đó là một sự đồng cảm vừa đẹp đẽ vừa thắm thiết. Suốt cái năm đầu ở phố Lorrie ấy, những lúc không có ai để ý, ông Gerhardt thường cho con bé Vesta ngồi lên hai vai mình mà đưa đi loanh quanh và véo hai cái má mềm mại đỏ hồng của nó. Khi con bé đủ tháng để tập đi thì chính ông là người buộc dưới hai nách nó một tấm khăn mặt thật chắc chắn mà kiên nhẫn dẫn đi quanh phòng cho đến khi nó có thể tự mình bước lấy vài bước. Đến khi nó thực sự đi được thì ông lại là người dỗ dành cho nó cố bước đi, tuy ông lúc thì rụt rè, lúc thì quyết liệt, song bao giờ cũng âu yếm nó. Số phận run rủi thế nào mà cái vết nhơ này trên danh dự gia đình ông, cái vết ố này trên nền đạo lý thông thường lại gắn những ngón tay bé nhỏ đơn côi xoắn xuýt lấy những sợi dây tình cảm của trái tim ông. Ông yêu quý đứa bé lạc loài này một cách nồng nàn và tràn đầy hy vọng, Nó là tia sáng rực rỡ duy nhất trong một cuộc đời chật hẹp và ảm đạm của ông. Và ông Gerhardt sớm gánh lấy trách nhiệm dạy dỗ cho nó về các vấn đề tôn giáo. Không phải ông thì còn ai đã khăng khăng đòi làm lễ rửa tội cho đứa bé?

- Hãy nói “Chúa Cha” – ông thường bắt đứa bé bi bô nói như vậy khi chỉ có một mình ông với nó.

- Úa a, – đứa bé u ơ lặp lại lời ông, toàn bằng nguyên âm.

- Người ở trên trời.

- Ười ở ên ời, – đứa bé nhắc lại.

- Sao ông dạy nó sớm thế? – bà Gerhardt nài nỉ xin ông khi nghe lỏm thấy con bé cố vật lộn với những phụ âm và nguyên âm bướng bỉnh.

- Vì tôi muốn nó phải học tín ngưỡng của đạo Cơ Đốc – ông Gerhardt trả lời kiên quyết. – Nó phải biết cầu nguyện. Nếu không bắt đầu từ bây giờ thì sẽ chẳng bao giờ nó biết.

Bà Gerhardt mỉm cười. Bà thấy nhiều đặc tính của ông về tôn giáo đối với bà thật ngộ. Đồng thời bà cũng thích được thấy sự quan tâm đầy tình cảm của ông đối với việc dạy dỗ đứa trẻ. Giá mà đôi khi ông đừng tỏ ra khô khan và hẹp hòi quá. Làm thế ông chỉ tổ day dứt bản thân và mọi người khác,

Vào những sớm đầu xuân trong sáng, ông thường đưa đứa trẻ vào những cuộc hành trình ngắn ngủi đầu tiên trong đời. – Ngoan nào, – ông thường nói, – chúng mình sẽ đi dạo một chút.

- Dạo, – bé Vesta bi bô.

- Ừ, dạo, – ông lặp lại.

Và Gerhardt thường đội cho bé một trong những cái mũ nhỏ xíu của nó, bởi vì hồi này Jennie luôn giữ cho cái tủ của Vesta lúc nào cũng đầy ắp những món đồ đẹp đẽ. Cầm bàn tay đứa bé, ông Gerhardt thường cất bước, cảm thấy hài lòng được kéo lê từng bàn chân một để làm cho nhịp bước của mình khớp với những bước đi chập chững của nó.

Một ngày tháng năm đẹp trời, khi Vesta lên bốn, hai ông cháu bắt đầu một cuộc đi dạo. Khắp nơi thiên nhiên đang nảy lộc đâm chồi; chim chóc từ phương nam trở về, kêu ríu rít; côn trùng tận hưởng quãng đời ngắn ngủi của chúng. Những chú sẻ chiêm chiếp trên mặt đường; những chú chào mào khệnh khạng trên bãi cỏ, những con thanh tước làm tổ ở rìa mái các ngôi nhà nhỏ. Ông Gerhardt rất thích thú được chỉ ra những điều kỳ diệu của thiên nhiên cho bé Vesta và nó cũng mau nhận ra. Mỗi quang cảnh hoặc âm thanh mới đều làm cho nó chú ý.

- U! U! – Vesta kêu lên khi thấy thoáng một vệt hồng của một chú chào mào bay lên đậu vào một cành con gần đó. Nó giơ bàn tay lên và mở to đôi mắt.

- Ừ, – ông Gerhardt nói, lòng sung sướng như thể chính ông cũng chỉ vừa mới phát hiện ra sinh vật kỳ diệu ấy. – Chào mào. Chim chào mào. Nói Chào mào đi!

- Ào mào, – Vesta nói.

- Ừ, chào mào, – ông trả lời. – Nó sắp sửa tìm một con sâu đấy. Chúng mình thử xem có tìm thấy tổ của nó không. Hình như ông nhìn thấy cái tổ trên một cây gần đấy.

Ông lặng lẽ lê bước, cố tìm một cái tổ cũ bỏ không mà ông đã thấy trong một cuộc đi dạo lần trước. – Đây rồi, – cuối cùng ông vừa nói vừa bước lại một cây nhỏ trụi lá trên đó một cái tổ dầu dãi tiết đông còn rớt lại. – Đây này, lại đây mà xem, – rồi ông dang thẳng tay nhấc bổng đứa bé lên.

- Thấy chưa, – ông Gerhardt vừa nói vừa dùng một tay chỉ mớ cỏ khô, – cái tổ. Đó là cái tổ chim. Thấy chưa!

- U! – Vesta nhắc lại và dùng một ngón tay chỉ trỏ bắt chước theo ông – Tổ, u!

- Phải rồi, – ông Gerhardt vừa nói vừa đặt cháu xuống. – Đó là một cái tổ chim hồng tước. Bây giờ chim bỏ đi rồi. Chúng sẽ không bao giờ đến đó nữa.

Hai ông cháu vẫn còn đi nữa, ông thì giới thiệu những điều đơn giản của cuộc sống, cháu thì ngỡ ngàng, cái ngỡ ngàng mênh mông của một đứa trẻ thơ. Hai ông cháu đi được một, hai dãy nhà thì ông chầm chậm quay lại như thể đã đi tới điểm tận cùng trái đất.

- Ông cháu mình phải quay về thôi. – Ông nói.

Và như thế đứa bé đã bắt đầu bước sang tuổi thứ năm, vẻ xinh xắn, nét thông minh và hoạt bát tăng lên. Ông Gerhardt mê tít những câu nó hỏi, những vấn đề hắc búa nó đề ra. – Con bé đến là lạ! – Ông thường kêu lên với bà vợ. – Chẳng có điều gì là nó không muốn biết! “Thượng đế ở đâu?”. “Người làm gì? Người để chân ở chỗ nào?” nó hỏi tôi như thế. Đôi lúc tôi phải bật cười. – Từ lúc thức dậy mặc quần áo cho con bé con buổi sáng tới lúc đặt nó xuống giường ngủ vào buổi tối sau khi nó đã cầu nguyện xong, ông cảm thấy nó bắt đầu trở thành niềm an ủi và nguồn êm ấm chủ yếu của đời mình. Nếu không có Vesta ông Gerhardt ắt đã cảm thấy thực sự khó mà chịu đựng nổi cuộc đời.

Nguyên Tâm dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Theodore Dreiser

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.