Jennie Gerhardt

Lượt đọc: 487 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1

❊ ❊ ❊

Một buổi sáng mùa thu năm 1880, một người đàn bà đứng tuổi đi cùng một thiếu nữ trạc tuổi mười tám đến bàn tiếp khách của khách sạn chính thành phố Columbus, bang Ohio, hỏi xem ở đó có thể có việc gì thích hợp cho bà không. Tạng người bà béo bệu và yếu ớt, vẻ mặt thẳng thắn, cởi mở, cung cách hồn hậu, rụt rè, đôi mắt to đầy vẻ nhẫn nại, ngưng đọng bóng đen của đau khổ mà chỉ ai đã từng nhìn vào vẻ mặt những người nghèo khó, cùng quẫn và không nơi nương tựa với nỗi thương cảm mới có thể hiểu được phần nào. Bất kỳ ai cũng có thể hiểu vì đâu cô con gái đứng sau bà lại rụt rè bẽn lẽn, – chính nỗi niềm ấy đang đẩy cô lùi lại, hờ hững nhìn ra phía khác. Cô là hoa trái sinh ra từ đầu óc hay tưởng tượng, giàu tình cảm và lòng yêu thương bẩm sinh trong tâm hồn mộc mạc nhưng thơ mộng của người mẹ, kết hợp với sự trầm mặc và đĩnh đạc vốn là đặc tính của người cha. Cái nghèo đang dồn họ tới đường cùng. Mẹ và con gộp lại tạo ra hình ảnh rất đỗi thương tâm về cảnh cơ hàn, lương thiện khiến người thư ký cũng phải mủi lòng.

- Bà muốn làm việc gì?

- Có lẽ ông cho tôi quét dọn hoặc lau chùi gì đó – bà trả lời rụt rè – Tôi có thể rửa sàn nhà.

Nghe mẹ nói, cô con gái bối rối quay đi, không phải công việc làm cô khó chịu, mà bởi cô không thích người ta đoán được nỗi bần bách đã bắt mình phải ngửa tay ra xin việc. Người thư ký mủi lòng trước nông nỗi hiển nhiên của cái đẹp trong bước đường cùng. Sự bất lực thơ ngây của cô con gái làm cho hoàn cảnh của hai mẹ con càng có vẻ gay go thực sự.

- Chờ một lát nhé, – ông nói, rồi vừa bước vào phòng làm việc phía trong vừa gọi bà quản lý khách sạn.

- Việc làm thì có đấy. Cầu thang chính và phòng khách chưa được quét dọn vì vắng chị lau sàn thường ngày.

- Có phải con gái bà ta cùng đứng đấy không? – Bà quản lý hỏi, bà có thể nhìn thấy hai mẹ con từ chỗ bà đang đứng.

- Vâng, có lẽ thế.

- Nếu bà ấy muốn, chiều nay đến cũng được. Chắc cô con gái cũng giúp bà ta chứ?

- Bà vào gặp bà quản lý. Đi thẳng qua chỗ kia kìa, ông ta chỉ một cái cửa ra vào gần đấy. Bà ấy sẽ sắp xếp công việc cho bà.

Một chuỗi bất hạnh, mà cảnh này có thể là nỗi bi đát tột cùng, đã xảy đến trong cuộc đời và gia đình ông William Gerhardt, một người làm nghề thổi thủy tinh. Sau khi gặp những thất bại vốn rất thông thường với những người thuộc tầng lớp dưới, trông chờ vào may rủi sớm hôm mà kiếm miếng cơm manh áo lần lữa sống qua ngày, ông bị ốm liệt giường. Cậu con cả Sebastian, hoặc Bass như bạn bè của cậu thường gọi, là thợ học việc tại một xưởng đóng toa xe chở hàng ở địa phương, mỗi tuần chỉ được lĩnh có bốn đôla, Genevieve, cô con gái lớn nhất, đã hơn mười tám tuổi, vẫn chưa được học nghề. Những đứa trẻ khác là George mười bốn tuổi, Martha mười hai, William lên mười và Veronica lên tám đều còn nhỏ, chưa làm được việc gì, khiến cho vấn đề sinh sống càng thêm phức tạp. Chỗ dựa duy nhất của chúng là ngôi nhà thuộc quyền sở hữu của ông bố, trừ khoản cầm đợ sáu trăm đôla tiền nợ. Sau khi đã dành dụm đủ tiền mua căn nhà này, ông lại phải vay thêm khoản ấy để xây thêm ba phòng và một vòm cổng đủ rộng cho cả gia đình. Còn vài năm nữa mới phải trả hết nợ, song thời buổi làm ăn quá tồi tệ buộc ông phải chi dùng hết số tiền ít ỏi dành dụm được đó để thanh toán cả gốc, lẫn lãi hàng năm. Ông Gerhardt không biết trông cậy vào đâu, và ý thức được tình cảm gieo neo của mình – nào hóa đơn bác sĩ, nào tiền lãi về khoản cầm đợ, cùng với những món nợ bác hàng thịt và bác hàng bánh mì, những người đó biết ông rất mực ngay thật nên đã tin ông mãi cho đến khi họ không còn tin được nữa – tất cả cái mớ bòng bong ấy đè nặng tâm trí và giày vò thần kinh ông làm ông chậm bình phục.

Bà Gerhardt đâu phải là người yếu ớt. Có một dạo bà nhận quần áo về giặt giũ, dù công xá chẳng được là bao, dành những giờ rảnh rỗi lo ăn mặc cho bọn trẻ, coi sóc chúng đi học, vá quần, vá áo cho chúng, phục dịch ông chồng và thỉnh thoảng khóc than về số phận mình. Bà luôn luôn phải tự mình kiếm một người bán tạp phẩm mới, mỗi lần một xa hơn, và sau thời gian đầu trả sòng phẳng ít tiền mặt, bà thường được mua chịu cho đến khi các người bán tạp phẩm khác báo động cho con người nhân đức này là chớ có dại dột. Ngô rẻ, thỉnh thoảng bà làm một chảo bánh đúc ngô và cứ thế kéo cả tuần, ít khi có thêm món gì khác. Bột ngô cũng vậy, nấu lên thành cháo và thêm một chút sữa thì hầu như đã trở thành một bữa tiệc linh đình. Năm thì mười họa có mon men đến loại thức ăn sang trọng thì cùng lắm cũng chỉ là món khoai tây rán, còn cà phê thì là một chầu chiêu đãi hiếm hoi, Than được kiếm bằng cách nhặt từng xô, từng rổ dọc những đường sắt chằng chịt trong xưởng hỏa xa gần đấy. Củi đun kiếm ở các xưởng gỗ xung quanh. Cứ như vậy, họ sống ngày này qua ngày khác, từng giờ từng phút hi vọng người bố sẽ khỏe và xưởng thủy tinh chẳng bao lâu sẽ khởi công. Song khi mùa đông gần đến, ông Gerhardt bắt đầu cảm thấy tuyệt vọng.

“Chắc tôi sắp khỏi đến nơi rồi”, đó là câu nói cửa miệng của ông già người Đức có vóc dáng cứng cáp và nỗi lo âu chỉ hơi lộ ra trong giọng nói nhỏ nhẹ.

Thêm vào hoàn cảnh gay go ấy, bé Veronica lại lên sởi, và suốt mấy ngày, ai cũng nghĩ rằng nó sẽ chết, Người mẹ bỏ bễ mọi công việc để quanh quẩn bên con và ra sức cầu nguyện. Bác sĩ Ellwanger ngày nào cũng đến, hoàn toàn do lòng nhân ái. Linh mục Wundt, một giáo sỹ thuộc dòng Luther[1] đến ban sự an ủi của giáo hội. Cả hai nhân vật này mang tới căn nhà một không khí đạo giáo khắc khổ. Họ là những sứ giả vận đồ đen, sùng kính của các thế lực bề trên. Bà Gerhardt cảm thấy như thể sắp mất đi đứa con và bà rầu rĩ ngồi bên giường bệnh. Sau ba ngày, cơn hiểm nghèo qua đi nhưng trong nhà lại hết bánh mì. Tiền lương của Sebastian tiêu hết vào khoản thuốc men. Chỉ có than là còn nhặt được, nhưng trước đó bọn trẻ con đã mấy lần bị đuổi khỏi xưởng hỏa xa.

Bà Gerhardt nghĩ đến tất cả những nơi có thể xin được việc làm, và với nỗi niềm tuyệt vọng bà vớ được cái khách sạn này. Thật kỳ lạ, lần này bà lại gặp may.

- Bà đòi tiền công bao nhiêu? – Người quản lý hỏi.

Trước đó bà Gerhardt không nghĩ rằng mình được hỏi điều đó, song hoàn cảnh túng quẫn đã khiến bà mạnh dạn hẳn lên.

- Liệu mỗi ngày một đôla có quá không ạ?

- Không, – bà quản lý nói, – mỗi tuần chỉ đủ việc làm cho khoảng ba ngày công. Nếu chiều nào bà cũng đến, bà có thể nhận việc được đấy.

- Hay lắm – người xin việc nói. – Chúng tôi bắt đầu ngay hôm nay có được không ạ?

- Được, xin mời bà đi theo tôi, tôi sẽ chỉ cho bà chỗ để đồ lau nhà.

Cái khách sạn mà mẹ con bà được nhận vào làm một cách khá dễ dàng như vậy, khá tiêu biểu cho thời gian và không gian này. Columbus thủ phủ của bang, với số dân năm chục vạn người, tàu xe qua lại tấp nập là mảnh đất tốt cho nghề kinh doanh khách sạn, và cơ hội ấy đã được tận dụng; ít ra người dân Columbus cũng tự hào nghĩ như vậy. Một công trình kiến trúc cao năm tầng, dáng bề thế đứng sừng sững ở góc quảng trường trung tâm, nơi có điện Capitol và các cửa hiệu chính. Hành lang rộng và gần đây mới được trang hoàng lại. Cả sàn nhà lẫn chân tường đều bằng đá men trắng bóng lộn vì được lau chùi thường xuyên. Một cầu thang đồ sộ có tay vịn bằng gỗ hồ đào và mép các bậc viền đồng. Một góc trông có vẻ hấp dẫn dành để kê bàn đọc báo và hút thuốc.

Bàn tiếp khách và văn phòng được đặt ở chân cầu thang, tất cả đều bằng gỗ cứng và được trang hoàng bằng những ống dẫn hơi đốt thật tân kỳ. Qua cửa ra vào ở đầu hành lang có thể nhìn thấy phòng cắt tóc với dãy ghế ngồi cùng một dãy bát đựng xà phòng cạo râu. Bên ngoài thường có hai ba xe buýt đến hoặc đi, khớp với giờ tàu hỏa.

Bộ phận ưu tú nhất trong giới lãnh đạo chính trị và xã hội của bang thường lui tới khách sạn lớn này. Nhiều vị thống đốc đã từng lấy đó làm nơi thường trú trong suốt nhiệm kỳ của mình. Có hai ông thượng nghị sĩ Liên bang[2] luôn luôn giữ phòng tiếp tân riêng tại khách sạn này, bất kỳ lúc nào công việc đòi hỏi họ có mặt ở Columbus. Một trong hai ông này, thượng nghị sĩ Brander, được người chủ khách sạn xem là một khách trọ hầu như vĩnh viễn, bởi lẽ ông ta không những là cư dân của thành phố này mà còn là người sống độc thân. Những vị khách trọ khác gồm các nghị sĩ, các nhà lập pháp của bang sở tại và các nhân vật hoạt động hậu trường, các nhà kinh doanh, người làm nghề tự do, và sau họ cả một đám đông khách hàng không sao tả nổi, lui lui tới tới, tạo nên vẻ đẹp lộng lẫy và nhộn nhịp của cái thế giới muôn màu muôn vẻ này.

Bỗng dưng bị ném vào cái vương quốc đầy vẻ huy hoàng, thượng lưu ấy, hai mẹ con cảm thấy vô cùng sợ sệt. Họ dạo quanh, quá đỗi rụt rè, chẳng dám sờ vào bất cứ cái gì, sợ làm người ta phật ý. Đối với họ, gian phòng lớn trải thảm đỏ mà họ phải quét dọn có đầy đủ vẻ nguy nga của một cung điện, hai mẹ con cứ cụp mắt xuống, nói năng hết sức khẽ khàng. Khi bắt đầu lau và đánh bóng các viền đồng của chiếc cầu thang lộng lẫy cả hai mẹ con đều phải ráng hết nghị lực, người mẹ thì để dẹp nỗi rụt rè, cô con gái thì để dẹp nỗi hổ thẹn do phải bêu mình trước chỗ đông người. Phía dưới là một hành lang bề thế trải rộng. Tại đó những người nhàn tản hút thuốc ra vào không ngớt, họ đều có thể nhìn thấy hai mẹ con.

- Đẹp chứ mẹ? – Genevieve thì thầm, và cô bỗng giật mình bối rối khi nghe thấy giọng của chính mình.

- Ừ, – người mẹ trả lời, bà đang vừa quỳ vừa ra sức vắt chiếc khăn lau bằng đôi tay vụng về.

- Trọ ở khách sạn này chắc là tốn tiền lắm mẹ nhỉ?

- Ừ, – mẹ cô trả lời – Đừng quên cọ những khe nhỏ này này. Con xem, còn sót khối chỗ đấy.

Xấu hổ vì lời quở trách ấy, Jennie hăm hở lao vào công việc và ra sức đánh bóng, không còn dám ngước mắt nhìn lên.

Hai mẹ con cứ cần mẫn làm việc, lau dần từ trên xuống dưới cho đến tận khoảng năm giờ chiều, ngoài trời đã tối và cả hành lang ánh điện sáng trưng. Lúc này họ đã lau đến gần chân cầu thang.

Qua cánh cửa quay lớn, từ thế giới lạnh giá bên ngoài, một tôn ông đứng tuổi, người cao lớn và tao nhã bước vào; chiếc mũ lụa và tấm áo choàng rộng kiểu nhà binh khiến ta hiểu ngay rằng ông là một nhân vật quan trọng nổi bật trong đám người nhàn tản bình thường. Mặt ông ngăm ngăm đen và trang trọng, những đường nét khoáng đạt, dễ ưa, và cặp mắt sáng long lanh dưới đôi lông mày rậm và đen nhánh. Đến bàn tiếp khách ông cầm chiếc chìa khóa đã để sẵn cho mình, rồi đi đến cầu thang và lên gác.

Thấy người phụ nữ đứng tuổi đang lau cầu thang, ông không những đã đi vòng để tránh mà còn khoát tay một cách duyên dáng như muốn nói: “Cứ ngồi nguyên, mặc tôi”.

Nhưng cô con gái đã đứng dậy và bắt gặp ánh mắt ông, cái nhìn bối rối của cô chứng tỏ cô sợ mình cản lối ông,

Ông nghiêng mình và mỉm cười vui vẻ.

- Cô đừng bận tâm, – ông nói.

Jennie mỉm cười.

Khi lên đến tầng trên, tự nhiên ông liếc nhìn ngang và thấy rõ hơn vẻ mặt dễ thương khác thường của cô gái. Ông để ý vầng trán cao trắng muốt cùng mái tóc mượt rẽ ngôi và tết thành bím. Ông nhìn thấy đôi mắt xanh và nước da trắng. Thậm chí ông còn đủ thì giờ chiêm ngưỡng cái miệng và hai bầu má đầy đặn – nhất là thân hình tròn trặn duyên dáng, đầy sức trẻ. Không nhìn thêm nữa, ông tiếp tục bước đi một cách trịnh trọng, mang theo cả ấn tượng về cốt cách yêu kiều của cô gái. Đó là ngài tân thượng nghị sĩ George Sylvester Brander.

- Cái ông vừa mới lên cầu thang trông hay mẹ nhỉ? – Lát sau Jennie nhận xét.

- Phải, – người mẹ nói.

- Ông ấy có cái can đầu bịt vàng,

- Con không được nhìn chằm chằm vào người qua lại, – người mẹ nhắc nhở với vẻ từng trải. – Như thế không hay đâu.

Jennie lại bắt đầu làm việc trong im lặng, song vẻ huyền ảo trong cái thế giới cao sang kia vẫn đang tác động vào cô. Không thể nhắm mắt, bịt tai trước những âm thanh, vẻ rực rỡ, tiếng râm ran trò truyện và tiếng cười khắp xung quanh. Buồng ăn chiếm một phần tầng phòng khách, nghe tiếng bát đũa chạm nhau lách cách, có thể biết bữa tối đang được sửa soạn. Trong phòng khách có ai đó đang dạo đàn dương cầm, không khí nghỉ ngơi thoải mái trước bữa ăn tối tràn ngập khắp tầng gác, làm trái tim cô gái thơ ngây xôn xao hy vọng. Cô còn hy vọng ở năm tháng cuộc đời, và cơn nghèo túng vẫn chưa thể lèn chặt buồn lo vào đầu óc non trẻ của cô. Jennie luôn tay lau chùi, đôi khi quên khuấy cả người mẹ sầu muộn bên cạnh với cặp mắt hiền từ xung quanh đầy những nếp nhăn, và đôi môi lắp bắp như thể đang mải nhẩm lại trăm điều phải lo liệu trong ngày. Cô chỉ có thể nghĩ là tất cả những cái đó thật mê ly và ước gì mình được hưởng một phần.

Đến năm giờ rưỡi, người quản lý mới sực nhớ ra, đến bảo hai mẹ con cô có thể ra về. Cầu thang đã lau xong, họ ngừng tay thở phào nhẹ nhõm, và sau khi cất dụng cụ họ vội vã ra về. Ít ra bà mẹ cũng cảm thấy hài lòng vì cuối cùng bà đã kiếm được việc làm.

Khi hai mẹ con đi ngang qua mấy ngôi nhà tráng lệ, Jennie lại thấy xôn xao vì cái cảm xúc khó tả mà cuộc sống mới lạ ở khách sạn đã làm nảy sinh trong đầu óc cô.

- Giàu có kể cũng hay mẹ nhỉ? – Cô nói.

- Ừ, – người mẹ vừa trả lời vừa nghĩ đến con bé Veronica đang ốm.

- Mẹ có thấy cái phòng ăn to tướng ở khách sạn không?

- Có.

Hai mẹ con tiếp tục đi ngang qua những căn nhà gỗ thấp giữa đám lá rụng.

- Ước gì nhà ta cũng giàu có, – Jennie lẩm bẩm như nói một mình.

- Mẹ biết làm sao bây giờ. – bà mẹ vừa nói vừa thở dài. – Mẹ chắc trong nhà chẳng còn cái gì ăn.

- Hay mẹ con mình lại thử tạt vào nhà bác Bauman xem. – Jennie thốt lên.

- Theo con, liệu bác ấy có bằng lòng bán chịu cho mình nữa không?

- Ta hãy kể cho bác ấy biết nơi mình đang làm việc hiện nay. Con sẽ nói.

- Thôi được, – mẹ cô nói, giọng mệt mỏi.

Lòng bồi hồi, hai mẹ con đánh bạo bước vào cửa hàng tạp hóa nhỏ có ánh đèn lờ mờ ở cách nhà họ hai ngã tư. Bà Gerhardt chưa kịp mở miệng thì Jennie đã nói trước.

- Bác làm ơn bán cho mẹ con cháu ít bánh mì ăn tối nay, và một ít thịt muối nữa. Mẹ con cháu bây giờ làm việc ở khách sạn Columbus đến thứ bảy này nhất định có tiền trả bác.

- Vâng, – bà Gerhardt nói thêm, – tôi đã có việc làm.

Là người từng bán hàng cho hai mẹ con từ lâu trước khi bệnh tật và khó khăn đến với gia đình này, ông Bauman hiểu rằng họ nói thực.

- Bà làm việc ở đó bao lâu rồi? – Ông hỏi.

- Mới từ chiều hôm nay.

- Bà Gerhardt ạ – ông nói, – bà đã biết hoàn cảnh của tôi đấy. Tôi đâu muốn từ chối bà. Ông Gerhardt là người sòng phẳng, nhưng tôi cũng nghèo. Thời buổi này thật khó khăn – ông giải thích thêm, – tôi phải nuôi cả gia đình.

- Vâng, tôi biết – bà Gerhardt nói, giọng yếu ớt.

Chiếc khăn san cũ kỹ bằng vải xấu che kín đôi bàn tay thô của bà đỏ lựng lên vì lao động suốt ngày, thế mà đôi tay ấy vẫn vặn vẹo, bồn chồn, Jennie đứng bên mẹ yên lặng, căng thẳng.

- Thôi được, – ông Bauman kết luận. – Thứ bảy này cố mà trả tiền nhé.

Ông gói bánh mì và thịt muối, vừa trao cho Jennie vừa nói tiếp, với một thoáng hoài nghi:

- Lúc có tiền rồi bà lại đi mua chỗ khác cho mà xem.

- Không đâu, – bà Gerhardt trả lời, – ông còn lạ gì tôi nữa. – Bị kích động, bà không nói được gì thêm.

Hai mẹ con bước ra ngoài đường phố mờ tối và tiếp tục đi ngang qua những căn nhà gỗ thấp.

- Chẳng biết chúng nó có kiếm được ít than nào không, – người mẹ nói, giọng mệt mỏi.

- Mẹ đừng lo, – Jennie nói – nếu chúng nó chưa kiếm được thì con sẽ đi.

- Có một ông đuổi chúng con – đó là lời đầu tiên thằng George nhớn nhác thốt ra, khi bà mẹ hỏi chuyện than. – Tuy vậy con cũng kiếm được một ít, – nó nói tiếp. – Con hất từ trên toa xuống.

Bà Gerhardt chỉ tủm tỉm, còn Jennie cười phá lên.

- Veronica thế nào rồi? – Bà hỏi.

- Hình như con đang ngủ, – ông bố nói. – Tôi đã cho nó uống thêm thuốc lúc năm giờ.

Trong khi bữa ăn đạm bạc đang được chuẩn bị, người mẹ đến giường đứa con ốm, và bà lại thức thâu đêm, coi như chuyện đương nhiên.

Đang ăn tối, Sebastian đưa ra một ý kiến. Do chỗ gã có nhiều kinh nghiệm hơn cả về các vấn đề thương mại và xã hội nên đề nghị của gã đáng được mọi người cân nhắc. Tuy chỉ là một thợ học việc trong xưởng đóng toa xe, chẳng được học hành gì ngoài những kiến thức có liên quan đến học thuyết Luther mà gã phản đối kịch liệt, gã vẫn thấm nhuần phong cách và nghị lực của người Mỹ. Cái tên gọi bị biến thành Bass rất phù hợp với gã, so với lứa tuổi, gã cao lớn lực lưỡng và cân đối, điển hình của lớp thanh niên mới ở thành phố. Gã đã đề ra một triết lý sống. Muốn thành đạt ta phải làm một cái gì – ta phải liên kết hoặc chí ít cũng phải làm ra vẻ liên kết, với những kẻ nổi trội nhất trong cái thế giới bề ngoài này.

Vì lý do ấy chàng thanh niên này thích quanh quẩn ở khách sạn Columbus. Đối với gã hình như khách sạn này là trung tâm của tất cả những gì gọi là bõ bèn về ý nghĩa xã hội. Lần đầu tiên kiếm đủ tiền sắm sanh bộ cánh tử tế, cu cậu lẻn lên phố chơi tối và quanh quẩn gần cửa khách sạn cùng với lũ bạn, đú đởn, phì phèo điếu xì gà loại hai xu rưỡi, ngắm vuốt cái mã dẻ cùi của mình và tìm gái. Ở đó còn có nhiều kẻ khác – những cậu công tử bột và những gã vô tích sự đến đó để cạo mặt hoặc uống rượu uytxky. Sebastian thán phục đám người này và tìm cách đua đòi. Bộ cánh là tiêu chuẩn chính. Kẻ nào quần áo thật bảnh bao mà lại có nhẫn, có ghim cài ca-vát thì làm gì cũng hợp thức. Muốn giống và hành động như bọn này cho nên kinh nghiệm của cu cậu về cung cách sống phù phiếm phát triển mau chóng.

- Sao mày không nhận quần áo của mấy ông ở khách sạn về mà giặt? – Sebastian hỏi, sau khi Jennie đã kể lại hết mọi việc xảy ra từ chiều. – Như thế còn tốt hơn là lau cầu thang.

- Làm thế nào mà nhận được cơ chứ, – Jennie hỏi.

- Ồ, tất nhiên là phải hỏi người thư ký.

Điều gợi ý này khiến Jennie lưu tâm và coi là rất đáng làm.

- Nếu có gặp tao quanh quẩn ở khách sạn thì cũng đừng bắt chuyện nhé, – lát sau Bass dặn dò riêng Jennie như vậy. – Đừng có để lộ quan hệ giữa chúng mình đấy.

- Sao lại thế? – Cô ngây thơ hỏi.

- Ồ, mày biết rồi còn gì. – Bass trả lời, trước đó gã nói rõ rằng chừng nào mẹ và em còn ăn mặc tồi tàn gã còn không muốn nhận là người nhà vì mất thể diện. – Mày cứ lờ anh đi. Nghe chưa?

- Được rồi, – cô gái trả lời, giọng yếu ớt, Tuy gã con trai này hơn cô có già một tuổi, song ý muốn của người bề trên vẫn là thống soái.

Ngày hôm sau, trên đường đến khách sạn, cô nói chuyện đó với mẹ.

- Anh Bass bảo là mẹ con ta có thể nhận ít quần áo của những người ở khách sạn.

Bà Gerhardt chấp nhận ý kiến đó. Cả đêm qua đầu óc bà căng ra nghĩ về chuyện làm sao có chút gì nữa thêm vào món tiền ba đôla mà sáu buổi chiều lao động của bà sẽ mang lại.

- Có thể được đấy, – bà nói. – Mẹ sẽ hỏi ông thư ký xem.

Tuy vậy khi đến khách sạn hai mẹ con cũng chưa có dịp nói ngay. Họ làm việc mãi đến tận xế chiều. Rồi, vận may bỗng đến, bà quản lý bảo họ vào lau sàn đằng sau bàn tiếp khách. Nhân vật quan trọng này tỏ ra rất tử tế đối với mẹ con bà. Bác ta thích cái sắc diện bối rối dịu dàng của người mẹ và khuôn mặt xinh xắn của cô gái. Vì vậy bác ân cần lắng nghe khi bà Gerhardt nói với giọng nhỏ nhẹ đánh bạo cất lên câu hỏi đã xoay đi, đảo lại trong đầu bà suốt cả buổi chiều.

- Ở đây có quý ông nào vui lòng giao quần áo cho tôi giặt không ạ? – Bà nói – Nếu được tôi rất cảm ơn.

Bác thư ký nhìn bà và một lần nữa nhận ra cái thế neo đơn cùng cực in hằn trên bộ mặt đầy lo âu của bà.

- Để chúng tôi xem xem. – Bác vừa trả lời vừa nghĩ đến thượng nghị sĩ Brander và thống chế Hopkins. Hai vị này là những người từ thiện và chắc sẽ rất vui lòng giúp đỡ một người phụ nữ nghèo. – Bà lên gác tìm thượng nghị sĩ Brander – bác nói tiếp, – ông ấy ở phòng hăm hai. Này – bác vừa nói vừa lấy bút viết số phòng, – bà cứ lên gác và bảo tôi phái đến.

Bà Gerhardt cầm tấm các, tay run run vì cảm động và biết ơn. Đôi mắt bà biểu lộ những lời mà bà không thốt lên được.

- Được rồi, – viên thư ký nói, nhận thấy vẻ xúc động của bà. – Bà cứ lên gác. Bà sẽ gặp ông ấy trong phòng.

Hết sức rụt rè, bà Gerhardt gõ cửa phòng, Jennie yên lặng đứng bên mẹ.

Lát sau cửa phòng mở và ông thượng nghị sĩ hiện ra trong ánh rực rỡ của căn phòng sáng trưng. Vận chiếc áo smoking đẹp đẽ, nom ông trẻ hơn lúc họ gặp lần đầu.

- Ồ, chào bà, – ông nói, nhận ra hai mẹ con, và đặc biệt là cô con gái – tôi có thể làm gì cho bà?

Người mẹ e thẹn và trả lời ngập ngừng:

- Chẳng hay ngài có quần áo cần đưa chúng tôi giặt không ạ?

- Giặt à? – Ông nhắc lại bằng một giọng sang sảng khác thường. – Giặt à? Bà vào đây. Để tôi xem xem.

Ông né sang một bên rất lịch sự, vẫy tay ra hiệu cho hai mẹ con vào và đóng cửa lại. “Để tôi xem xem”, ông vừa nhắc lại vừa mở hết ngăn kéo này đến ngăn kéo khác ở cái tủ đồ sộ, đen bóng bằng gỗ hồ đào. Jennie quan sát căn phòng một cách thích thú. Từ trước đến giờ cô chưa hề nhìn thấy những đồ trang trí và những vật xinh xắn như cái dãy đồ trên mặt lò sưởi và trong hộp trang sức ở đây. Nào chiếc ghế bành của ông thượng nghị sĩ với chiếc đèn mang chụp màu lục bên cạnh, nào tấm thảm dày lộng lẫy, nào những tấm thảm đẹp đẽ trải sàn nhà – ôi thật là tiện nghi, thật là xa hoa!

- Ngồi xuống, ngồi vào hai chiếc ghế kia kìa, – ông thượng nghị sĩ nói vẻ lịch sự và đi khuất vào trong một phòng xép.

Vẫn còn quá sợ sệt, cả hai mẹ con cho rằng cứ đứng thì lễ phép hơn, song lúc này ông thượng nghị sĩ đã lục tìm quần áo xong đang nhắc lại lời mời. Họ miễn cưỡng ngồi vào ghế.

- Đây có phải là con gái bà không? – Ông nói tiếp, mỉm cười nhìn Jennie.

- Dạ thưa ngài, – người mẹ nói, – con gái lớn của tôi đấy ạ.

- Chồng bà còn chứ?

- Tên ông nhà là gì?

- Ông nhà ở đâu?

Bà Gerhardt trả lời những câu hỏi ấy một cách rất khúm núm.

- Ông bà được mấy cháu tất cả? – Ông hỏi tiếp.

- Sáu ạ, – bà Gerhardt trả lời.

- Tốt, – ông nói. – thật là một gia đình lớn. Như thế là ông bà đã làm tròn nghĩa vụ đối với đất nước.

- Thưa ngài vâng ạ, – bà Gerhardt trả lời, xúc động với thái độ ân cần và sự quan tâm của ông.

- Bà bảo đây là con gái lớn của bà?

- Thưa ngài vâng ạ.

- Chồng bà làm nghề gì?

- Nhà tôi làm thợ thổi thủy tinh. Nhưng bây giờ ông ấy đang ốm.

Suốt cuộc nói chuyện Jennie chăm chú lắng nghe, giương cặp mắt to, xanh biếc. Mỗi lần ông đưa mắt về phía cô, Jennie đều đáp lại bằng cái nhìn thẳng thắn, hồn nhiên và mỉm cười dịu dàng, cái nhìn khó tả đến nỗi có tới hơn một phút đồng hồ ông không thể rời mắt khỏi cô.

- Ồ, – ông nói tiếp, giọng thông cảm, – thật là không may! Tôi có ít quần áo đưa giặt đây, không nhiều lắm song rất mong bà nhận cho. Tuần sau có thể nhiều hơn.

Ông đi loanh quanh trong phòng, nhặt mấy thứ quần áo nhét vào một cái túi vải bông màu xanh có họa tiết đẹp.

- Ngài có cần đem trả đúng vào ngày nào không ạ? – Bà Gerhardt hỏi.

- Không, – ông trầm ngâm trả lời. – Ngày nào tuần sau cũng được.

Bà cảm ơn ông bằng một câu nói mộc mạc và toan quay gót.

- Khoan đã, – ông vừa nói vừa bước vượt lên phía trước hai người và mở cửa – bà có thể đem trả vào thứ hai.

- Thưa ngài vâng ạ, – bà Gerhardt nói, – cảm ơn ngài.

Hai mẹ con ra về và ông thượng nghị sĩ trở lại đọc sách, nhưng với một tâm trạng xáo đảo lạ lùng.

- Tội quá, – ông vừa nói vừa gập sách lại. – Ở những con người ấy có cái gì thực là xúc động. – Cái thần thái ngỡ ngàng và hâm mộ của Jennie vẫn tỏa ngợp căn phòng.

Bà Gerhardt và Jennie lại dấn bước đi qua những đường phố lờ mờ tối. Cuộc phiêu lưu may mắn này đã khiến họ vô cùng phấn khởi.

- Ông ấy có cái phòng đẹp đấy chứ, mẹ nhỉ? – Jennie thì thầm.

- Ừ, – người mẹ trả lời, – ông ta là một vĩ nhân.

- Ông ta là thượng nghị sĩ hả mẹ? – Cô con gái hỏi tiếp.

- Ừ.

- Nối tiếng, chắc hẳn phải là điều thú vị – cô gái nói, giọng êm ái.

❀ ❀ ❀

[1] Dòng tôn giáo khổ hạnh của Cơ đốc giáo – ND.

[2] Chỉ nước Mỹ (Hợp chúng quốc Hoa Kỳ).

Nguyên Tâm dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Theodore Dreiser

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.