Lester đã suy nghĩ khá nghiêm chỉnh về tình trạng bế tắc của mình, và lẽ ra chàng đã hài lòng mà bắt tay vào hành động sớm nếu như không xảy ra một sự kiện gây đảo lộn ở nhà chàng tại khu công viên Hyde, thuộc loại những biến cố đôi khi khiến công việc của con người ta đâm phức tạp. Sức khỏe của ông Gerhardt bắt đầu suy sụp nhanh chóng.
Dần dần ông đành phải bỏ những nhiệm vụ của mình ở quanh khu nhà ở; cuối cùng, ông buộc phải nằm liệt giường. Nằm trong phòng, ông được Jennie tận tụy chăm sóc, thường xuyên được Vesta, và thỉnh thoảng cả Lester, đến thăm hỏi. Cách giường ông nằm không xa có một cửa sổ nhìn ra quang cảnh đẹp đẽ của bãi cỏ và một trong những đường phố gần đó, và ông thường nhìn qua cửa sổ ấy hàng giờ mà băn khoăn tự hỏi không biết mọi sự sẽ ra sao khi vắng ông. Ông ngờ rằng bác xà ích Woods đã không chăm nom bầy ngựa và mấy cái yên cương được cẩn thận, người đưa báo sao nhãng việc đem báo chí đến, người coi lò thì lãng phí than hoặc không cung cấp đủ nhiệt lượng cho gia đình. Hàng chục điều lo lắng tuy vặt vãnh nhưng đối với ông vẫn cứ là cụ thể. Ông biết cách trông nom nhà cửa thế nào. Ông luôn luôn khe khắt trong việc thực hiện những bổn phận tự đề ra cho mình, và ông rất e ngại rằng mọi việc sẽ không được tiến hành một cách hợp lý. Jennie đã may cho ông một cái áo khoác bằng len, có phủ một lượt lụa màu xanh thẫm, nom rất sang trọng và xa xỉ, sắm cho ông một đôi dép len dày và mềm để đi đôi với chiếc áo khoác kia, song ông không hay dùng lắm. Ông thích nằm trên giường đọc Kinh thánh và những tờ báo thuộc dòng đạo Luther của mình hơn và thích hỏi Jennie xem mọi công việc tiến triển thế nào.
- Bố muốn con xuống tầng hầm xem xét cái thằng cha ấy đang làm gì. Nó chẳng cho chúng ta tý hơi nóng nào cả – ông thường phàn nàn như vậy. – Bố cam đoan là bố biết nó đang làm gì. Nó cứ ngồi đấy mà đọc sách rồi quên khuấy đi chẳng còn biết lò cháy ra sao cho mãi đến khi lửa gần tắt ngấm mới nhớ ra. Hầm bia thì ở ngay đó, nó có thể lấy được. Con nên khóa lại. Con chẳng biết nó thuộc hạng người nào đâu. Có thể nó là một thằng vô tích sự.
Jennie một mực cam đoan rằng nhà cửa khá là ngăn nắp, rằng người ấy là một người Mỹ lịch sự, trầm lặng và đạo mạo, rằng nếu bác ta có uống một chút bia thì cũng không hề gì. Ông Gerhardt thường lập tức nổi giận.
- Lúc nào cũng cái cung cách ấy – ông tuyên bố một cách mạnh mẽ. – Con chẳng có ý thức tiết kiệm gì cả. Nếu bố không có đó là con bao giờ cũng sẵn sàng thả lỏng mọi việc. Thằng ấy mà là một người lịch sự! Làm sao mà con biết được nó là người lịch sự cơ chứ? Nó có giữ cho lò cháy không nào? Không! Nó có giữ các lối đi dạo cho sạch sẽ không nào? Nêu con không để mắt đến là nó sẽ y như những đứa khác, vô tích sự, Con phải tự mình đi khắp lượt xem mọi việc thế nào.
- Thưa bố, được ạ – nàng thường cố vui vẻ trả lời để ông cụ yên lòng – con sẽ đi xem thế nào. Xin bố đừng lo. Con sẽ khóa hầm bia lại, Bây giờ bố có muốn xơi một tách cà phê và một chút bánh nướng không?
- Không – ông Gerhardt thở dài – cái dạ dày bố nó làm sao ấy. Bố không biết làm thế nào mà qua khỏi được căn bệnh này.
Bác sĩ Makin, vị thầy thuốc đàn anh ở khu vực đó và là một người có nhiều kinh nghiệm và năng lực, đã đến thăm theo yêu cầu của Jennie; ông khuyên nên dùng một vài thứ đơn giản – sữa nóng, rượu vang, nghỉ ngơi, song ông cũng bảo Jennie đừng hy vọng quá nhiều.
- Bà cũng biết là ông cụ bây giờ cũng khá thọ rồi. Ông cụ rất yếu. Nếu như ông cụ trẻ hơn hai mươi tuổi thì chúng tôi có thể chữa chạy cho ông cụ được rất nhiều. Như bây giờ, ông cụ cũng khá phong lưu rồi. Ông cụ có thể sống thêm được ít lâu. Ông cụ có thể trở dậy và lại đi lại được, nhưng rồi sẽ không trở dậy được nữa. Tất cả chúng ta đều chờ đợi những sự việc ấy. Tôi chẳng hề lo lắng về chuyện gì có thể xảy đến với mình. Bản thân tôi cũng quá già rồi.
Jennie cảm thấy buồn khi nghĩ rằng bố mình có thể sẽ chết, song nàng lại lấy làm hài lòng khi nghĩ rằng nếu có phải chết thì ông cụ cũng sẽ được chết trong hoàn cảnh khá sung túc như vậy. Ở đây ít ra ông cũng được chăm sóc chu đáo.
Chẳng bao lâu, người ta thấy rõ rằng đây là cơn ốm đau cuối cùng của ông Gerhardt, và Jennie cho rằng mình có bổn phận báo tin cho các anh chị em. Nàng viết thư báo cho Bass biết ông cụ không được khỏe, và nhận được một bức thư trả lời rằng anh đang rất bận không thể đến được trừ phi là ông cụ có nguy cơ chết ngay. Bass viết tiếp rằng George đang ở Rochester, làm việc cho một hãng sản xuất giấy dán tường quy mô lớn – có lẽ đó là công ty Sheff-Jefferson. Martha đã cùng với chồng đi Boston. Địa chỉ của cô là một vùng ngoại ô nhỏ bé gọi là Belmont, ngay ở phía ngoài thành phố. William thì ở Omaha, làm việc cho một công ty điện địa phương. Veronica đã lấy một người tên là Albert Sheridan có quan hệ với công ty sản xuất dược phẩm quy mô lớn ở Cleveland. “Nó chẳng bao giờ đến thăm anh cả”, Bass phàn nàn, “nhưng rồi anh sẽ cho nó biết”. Jennie viết thư riêng cho từng người. Nàng nhận được thư ngắn gọn của Veronica và Martha. Hai cô rất buồn và mong chị sẽ báo tin cho biết nếu như có chuyện gì xảy ra. George viết rằng cậu ta không thể nghĩ đến chuyện đi Chicago trừ phi là ông cụ thật sự ốm nặng, song cậu ta muốn thỉnh thoảng được thông báo tình hình ông cụ thế nào. Còn William, như lời cậu ta kể với Jennie ít lâu sau, thì không nhận được thư nàng.
Bệnh tình của ông già người Đức cho đến khi ông chết đã giày vò tâm trí Jennie rất nặng nề, bởi vì, tuy trước đây có những thời gian hai bố con xa cách, giờ đây họ đã trở nên rất gần gũi. Ông Gerhardt đã bắt đầu nhận thấy rõ ràng rằng đứa con gái bị ruồng bỏ của ông là hiện thân của lòng nhân hậu, ít nhất cũng là đối với ông. Nàng không bao giờ cãi lại ông, không bao giờ cản trở ông về phương diện nào. Giờ đây ông đau ốm, nàng ra ra vào vào phòng ông hàng chục bận trong một buổi tối hay buổi chiều để xem xem ông có “ổn” không, để hỏi xem ông thích dùng bữa điểm tâm, bữa trưa hoặc bữa tối thế nào. Khi ông trở nên yếu mệt hơn, nàng thường ngồi bên ông mà đọc sách hoặc khâu vá. Một hôm, khi nàng đang vuốt phẳng cái gối của ông, ông cầm lấy bàn tay nàng mà hôn. Lúc ấy, ông cảm thấy rất yếu và tuyệt vọng. Nàng ngạc nhiên ngước nhìn và thấy cổ họng mình tắc nghẹn, Trong đôi mắt ông có những giọt nước mắt.
- Con là một đứa con gái ngoan, Jennie ạ – ông nói giọng đứt quãng. – Con đã đối xử tốt với bố. Bố đã thô lỗ và bẳn tính, nhưng bố già rồi. Con thứ lỗi cho bố.
- Ôi, bố, xin bố đừng nói thế – nàng khẩn khoản, mắt rưng rưng lệ. – Bố cũng biết là con chẳng có gì mà thứ lỗi cả. Con là kẻ trước nay vẫn luôn sai trái.
- Không, không – ông nói, còn nàng thì quỳ sụp xuống bên ông mà khóc. Ông đặt bàn tay gầy, vàng vọt lên mái tóc nàng. – Thôi đi nào – ông nói giọng đứt quãng – bố hiểu rất nhiều điều mà trước đây bố không hiểu. Con người ta càng già càng khôn lên.
Nàng ra khỏi phòng, nói là đi rửa mặt rửa tay, và khóc hết nước mắt.
Phải chăng, cuối cùng, ông đã thực sự tha thứ cho nàng? Còn nàng thì đã nói dối ông đến thế! Nàng cố gắng tỏ ra ân cần hơn nhưng không thể nào làm được. Song, sau sự hòa giải này, ông có vẻ sung sướng hơn và hài lòng hơn, và hai bố con đã cùng sống những giờ hạnh phúc bên nhau, chỉ để mà hàn huyên, Có lần ông nói với nàng:
- Con biết không, bố cảm thấy y như hồi bố còn nhỏ. Nếu như không đau nhức xương thì bố đã có thể đứng dậy mà nhảy múa trên cỏ.
Jennie vừa hơi mỉm cười vừa nức nở.
- Bố sẽ khỏe hơn lên, bố ạ, – nàng nói. – Bố sắp sửa khỏe rồi. Rồi con sẽ đưa bố đi chơi bằng xe ngựa. – Nàng rất lấy làm sung sướng vì đã có thể giúp ông được sống đầy đủ trong mấy năm cuối đời này.
Về phần Lester, chàng cũng trìu mến và ân cần.
- Thế nào, tối nay tình hình ra sao? – về đến nhà là chàng thường hỏi ngay như vậy, và trước bữa ăn tối chàng thường ghé vào thăm ông già mấy phút để xem xem bệnh tình thế nào. – Nom ông cụ cũng khá đấy chứ, – chàng thường nói với Jennie. – Ông cụ chưa làm sao đâu. Anh chẳng lo.
Con bé Vesta cũng dành nhiều thì giờ với ông, bởi vì nó ngày càng yêu mến ông cụ tha thiết. Nó thường đem theo sách vở, nếu như điều đó không làm rầy ông lắm, và đọc thuộc lòng một vài bài học; hoặc thường để ngỏ cửa buồng ông mà chơi dương cầm cho ông nghe. Lester cũng đã mua cho nó một cái máy hát rất đẹp và đôi khi nó thường đem đến mở cho ông nghe. Đôi lúc ông thấy chán tất cả mọi vật và mọi người, trừ Jennie; ông muốn được ở gần nàng một mình. Nàng thường ngồi bên ông rất lặng lẽ và khâu vá. Nàng có thể thấy rõ ràng rằng giờ phút cuối cùng chỉ còn trong gang tấc.
Ông Gerhardt, đúng với bản chất của mình, đã tính đến tất cả những công việc khác nhau cần thu xếp khi ông chết. Ông mong được chôn cất tại cái nghĩa địa nhỏ bé của nhà thờ Luther ở cách đó mấy dặm về phía nam thành phố, và ông muốn được vị mục sư quý mến ở cái nhà thờ của mình đến hành lễ.
- Bố rất muốn mọi thứ đều giản dị – ông nói, – Chỉ cần bộ đồ đen và đôi giày bố vẫn đi vào những ngày chủ nhật, và cái ca-vát nhỏ bản ấy. Bố không cần thêm gì nữa. Như thế bố thấy ổn rồi.
Jennie vật nài xin ông đừng nói đến chuyện ấy, song ông cứ nói. Một hôm, vào lúc bốn giờ ông bị một cơn bệnh đột ngột làm cho suy sụp hẳn và đến năm giờ thì ông chết. Jennie vừa cầm hai bàn tay ông vừa quan sát nhịp thở nặng nhọc của ông; một đôi lần ông mơ mắt ra và mỉm cười với nàng.
- Bố đi không có điều gì phàn nàn, – ông nói vào cái giờ phút cuối cùng ấy. – Bố đã làm hết sức mình.
- Bố ơi, bố đừng nói đến chuyện chết, – nàng khẩn khoản.
- Thế là hết, – ông nói. – Con đã cư xử tốt với bố. Con là một người phụ nữ tốt.
Nàng không nghe thấy đôi môi ông thốt ra lời nào nữa.
Cải chết mà thời gian đã đem lại như vậy cho cuộc đời đầy lo âu khiến Jennie đau buồn sâu sắc. Trong quan hệ tình cảm thắm thiết của mình, nàng yêu thương ông Gerhardt không phải chỉ với tư cách là bố mà còn với tư cách một người bạn và một người cố vấn nữa. Giờ đây, nàng thấy ông trong phối cảnh thực sự, một ông già người Đức cần cù, lương thiện và chân thành, một người đã cố hết sức để gây dựng cho một gia đình đầy ngang trái và để sống một cuộc đời lương thiện. Quả thật trước đây, nàng đã là cái gánh nặng lớn duy nhất của ông, và quả là nàng đã chẳng bao giờ nói hết sự thật đến đầu đến đũa với ông. Giờ đây nàng tự hỏi ở dưới suối vàng liệu ông có biết nàng đã nói dối hay không? Và liệu ông có tha thứ cho nàng không? Ông đã gọi nàng là một người phụ nữ tốt kia mà.
Những bức điện được gửi đến tất cả con cái ông, Bass đánh điện báo là sẽ tới, và ngày hôm sau anh đến. Những người khác đánh điện báo là không thể đến được, nhưng yêu cầu cho biết chi tiết, và Jennie viết thư trả lời. Vị mục sư dòng Luther được mời đến để cầu nguyện và ấn định thời gian cử hành tang lễ. Một bác nhà đám béo tốt, bảnh choẹ được ủy nhiệm việc sắp xếp tất cả các chi tiết. Một vài người bạn hàng xóm đến viếng – đó là những người vẫn còn trung thành nhất – và vào ngày thứ hai sau khi ông Gerhardt chết thì tang lễ được cử hành. Lester đi theo Jennie, Vesta và Bass tới ngôi nhà thờ dòng Luther nhỏ bé xây bằng gạch đỏ và ngồi bình thản qua suốt những nghi lễ khá khô khan ấy. Chàng mệt mỏi lắng nghe bài thuyết giáo dài lê thê về những cái đẹp và những phần thưởng của một cuộc sống tương lai, và cựa quậy một cách bực bội khi diễn giả nói đến địa ngục. Bass chán ngấy nhưng tỏ ra thận trọng. Giờ đây, anh ta coi ông bố mình cũng hệt như bất kỳ người nào khác. Chỉ có Jennie là khóc lóc một cách đầy thương cảm. Nàng nhìn thấy bố trong cả một chuỗi xa vời, những năm dài khổ não của đời ông, những ngày ông phải đi xẻ gỗ để kiếm sống, những ngày ông đã sống trên một cái gác xép ở nhà máy, ngôi nhà nhỏ bé tồi tàn mà gia đình ông đã buộc phải sống ở phố Mười Ba, những ngày khủng khiếp, cay cực họ đã trải qua ở phố Lorrie tại Cleveland, nỗi buồn khổ của ông vì nàng, nỗi đau đớn của ông khi bà Gerhardt mất, tình yêu thương và sự chăm sóc của ông đối với con bé Vesta, và cuối cùng là những ngày này. 1
“Ôi, bố thật là một người tốt”, nàng nghĩ “bố lúc nào cũng nghĩ đến điều tốt”. Họ hát một bài thánh ca, bài “Chúa của chúng ta là pháo đài hùng vĩ” và rồi nàng nức nở khóc.
Lester kéo cánh tay nàng. Nỗi đau khổ của nàng khiến chàng xúc động đến cùng cực.
- Em phải tỏ ra can đảm hơn, – chàng thì thầm. – Lạy Chúa, anh không thể chịu đựng nổi. Anh sẽ phải đứng dậy và ra khỏi chỗ này.
Jennie nín một lát, nhưng nàng hầu như không chịu đựng nổi sự tan vỡ của những mối liên hệ hữu hình cuối cùng giữa nàng với ông cụ.
Tại cái huyệt trong nghĩa địa Chúa Cứu Thế, nơi Lester đã nhanh chóng thu xếp mua một lô đất, họ nhìn thấy chiếc quan tài đơn sơ hạ xuống và đất lấp. Lester ngỡ ngàng nhìn những thân cây trơ trụi, những lá cỏ chết màu nâu và những mảnh đất đồng cỏ màu nâu được lật lên bên phần mộ đơn sơ. Lô đất dành cho phần mộ này không có gì đặc biệt. Trông nó tầm thường và tiều tuỵ, nơi an nghỉ của một người lao động, song ông cụ đã muốn thế thì cũng được thôi. Chàng quan sát khuôn mặt gầy còm và sắc sảo của Bass và băn khoăn không biết anh chàng này đang tự gây dựng cho mình một sự nghiệp gì. Chàng thấy Bass nom giống như một kẻ có thể sẽ điều khiển thành công một cửa hàng thuốc lá. Chàng quan sát Jennie đang lau đôi mắt đỏ hoe và rồi chàng lại tự nhủ mình lần nữa: “Ồ, ở nàng có một cái gì đặc biệt”. Xúc cảm của người phụ nữ này rất sâu sắc, rất thực. “Nàng quả là một phụ nữ đôn hậu”, chàng tự nhủ.
Trên đường về nhà, qua các phố lộng gió và đầy bụi, chàng chuyện trò về cuộc đời. Bass và Vesta cũng có mặt.
- Jennie coi mọi sự quá ư là nặng nề – Chàng nói. – Cô ấy đến ốm mất. Cuộc đời không đến nỗi tệ như cô ấy hiểu bằng cái tính đa cảm của mình đâu. Chúng ta thảy đều có những nỗi lo phiền và chúng ta thảy đều phải chịu đựng, người nhiều, kẻ ít. Không thể cho rằng ai sung sướng hơn hoặc khổ cực hơn ai. Chúng ta thảy đều có phần phiền muộn của mình.
- Em không thể nào đừng được – Jennie nói. – Em cứ cảm thấy rất ái ngại cho một số người nào đó.
- Tính Jennie lúc nào cũng hơi rầu rĩ. – Bass nói xen vào. Anh chàng đang nghĩ rằng Lester thật là một con người cao quý, hai người sống với nhau thật là đẹp, Jennie đã mở mặt với đời biết bao. Anh chàng đang nghĩ rằng cô em hẳn phải có nhiều điểm đặc biệt hơn là lúc đầu anh vẫn tưởng. Cuộc đời thế mà hóa ra thật lạ lùng. Có một thời gian, anh đã từng nghĩ rằng đời Jennie là một thất bại không phương cứu chữa và chẳng được tích sự gì.
- Em phải cố cứng rắn lên, sự đời thế nào, ta đón nhận thế ấy và đừng có rã rời như thế – cuối cùng Lester nói.
Bass cũng nghĩ như vậy.
Jennie tư lự nhìn đăm đăm qua cửa sổ xe ngựa. Giờ đây chỉ còn có ngôi nhà cổ rộng lớn, yên lặng mà không có ông Gerhardt. Cứ thử nghĩ mà xem, nàng sẽ chẳng bao giờ thấy ông nữa. Cuối cùng, họ rẽ vào lối dành cho xe ngựa và vào phòng đọc sách. Cô hầu gái Jeannette vừa bồn chồn vừa thương cảm đem nước trà ra mời, Jennie bắt đầu chăm lo các chuyện vặt vãnh. Nàng ngõ ngàng tự hỏi rồi khi chết hồn mình sẽ về đâu?