Những sự việc xảy ra trong những ngày sau đó, đặc biệt có liên quan đến Jennie, đều thuộc loại bị đạo lý thời đại chúng ta nhất trí cấm đoán.
Một số quá trình của tạo hóa mẹ của muôn loài, trí tuệ lớn lao tài tình của cái quyền lực lặng lẽ làm việc và se kết trong bóng tối, những quá trình ấy khi xét dưới ánh sáng định kiến của vài cá nhân nhỏ bé do chính tạo hóa sinh ra, lại bị coi là rất xấu xa. Chúng ta quay mặt đi không nhìn nhận sự sáng tạo ra cuộc sống, như thể đó là điều mà con người không dám công khai quan tâm đến.
Kể cũng lạ là một tình cảm thuộc loại này lại nảy sinh ra trong một thế giới mà chính bản chất của nó lại là sự sinh sôi, là cái quá trình nhị nguyên lớn lao, và ở cái thế giới ấy, gió, nước, đất và ánh sáng, thảy đều góp phần vào việc tạo ra những nguyên tố cấu thành tất cả chúng ta. Tuy rằng cả muôn loài, chứ không phải chỉ có chúng ta, đều bị kích thích bằng tình dục và mọi vật trên thế gian đều ra đi bằng con đường chung duy nhất ấy, thế mà người ta vẫn có cái khuynh hướng nực cười là nhắm mắt lại và quay đầu đi như thể trong bản thân tự nhiên có cái gì ô trọc vậy. “Hoài thai trong tình trạng trái với đạo lý và ra đời trong tội lỗi”. Đó là sự diễn giải phi tự nhiên của kẻ tôn giáo chủ nghĩa cực đoan gán ép cho quá trình ấy và người đời tán đồng bằng cách làm thinh trước cái nhận định méo mó kỳ lạ này.
Nhất định là thái độ ấy có một cái gì sai lầm về căn bản. Những giáo huấn triết học và suy diễn về sinh học lẽ ra cần được vận dụng một cách thực tiễn hơn trong cách suy lý hàng ngày của con người. Không có quá trình nào là xấu xa, không có điều kiện nào là phi tự nhiên. Sự ngẫu biến khác với một lề thói xã hội nhất định không nhất thiết kéo theo tội lỗi. Không có con người trần thế bé bỏng tội nghiệp nào, mắc kẹt trong móng vuốt ghê gớm của rủi ro và, do vậy, chệch khỏi những tập tục đã được thiết lập của con người, lại có thể mắc tội tới mức xấu xa như thái độ người đời thường khẳng định một cách chắc chắn đến thế.
Giờ đây Jennie sẽ phải chứng kiến sự diễn giải bất công về cái kỳ quan kia của tự nhiên mà nếu như ông Brander không chết thì có thể đã được coi là thiêng liêng, thần thánh như một trong những thiên chức lý tưởng của cuộc đời. Tuy bản thân cô không phân biệt nổi tính chất riêng biệt của hiện tượng này so với mọi quá trình bình thường khác của cuộc sống, nhưng hành động của tất cả mọi người xung quanh khiến cô cảm thấy sa đọa là số phận mình, và tội lỗi là thân phận, là nền tảng của tình cảnh mình. Tuy không hoàn toàn thế, nhưng hồ như người ta tìm cách dập tắt cái tình cảm thương mến ân cần và chăm chút mà sau này người đời sẽ đòi hỏi cô phải có đối với đứa con. Tuy không hoàn toàn thế, nhưng hồ như cái tình yêu cốt tủy chớm nở ấy bị coi như một điều xấu xa. Mặc dù cô không bị trừng phạt bằng cách treo cổ hoặc tống giam như trước đây vài trăm năm, nhưng sự ngu dốt và sức ỳ của những người xung quanh khiến họ không thể thấy gì khác ở hoàn cảnh cô hiện nay, ngoài sự vi phạm luật lệ xã hội, một cách đê mạt và có suy tính trước mà cách trừng phạt là trục xuất. Giờ đây cô chỉ còn có thể lẩn tránh những cái nhìn khinh bỉ của mọi người và thầm lặng chịu đựng sự thay đổi lớn lao đang đến với cô. Lạ thay, cô không hề thấy ân hận hoặc tiếc nuối một cách vô ích. Lòng cô trong trắng và cô biết rằng tâm hồn mình hoàn toàn thanh thản. Đành rằng cô có buồn, song đó chỉ là phần dịu ngọt, một cái gì vô định mơ hồ và kỳ diệu đôi khi thường khiến cô trào nước mắt.
Bạn đã từng nghe tiếng chim cu rừng hót trong cô tịch của mùa hè, bạn đã từng thấy dòng suối nhỏ ít người để ý róc rách ca ở những nơi không người đến nghe. Dưới đám lá khô, dưới lớp tuyết, cây dương mai mỏng manh xoè nở nụ hoa bình dị, đáp tiếng gọi nào từ thiên giới giục giã phô màu. Bông hoa của tuổi đàn bà đến thì cũng vậy.
Jennie bị bỏ rơi đơn độc song cũng như con chim cu rừng, cô chính là giọng hót ngọt ngào mùa hạ. Loanh quanh làm các công việc trong nhà, cô không chút than vãn, vui lòng chờ đợi giờ phút hoàn thành cái quá trình kia, mà nói cho cùng cô là công cụ hy sinh vì nó. Khi công việc không có gì mấy, cô sẵn lòng ngồi mà trầm tư mặc tưởng, đắm trong sự diệu kỳ của cuộc sống như trong tình trạng hôn mê. Khi rất bận bịu vì phải giúp đỡ mẹ, thỉnh thoảng cô thường bất chợt thấy mình khe khẽ hát, niềm vui trong lao động nâng tâm hồn cô bay bổng lâng lâng. Cô luôn luôn sẵn sàng đối mặt với tương lai bằng một lòng dũng cảm trong sáng và kiên quyết. Không phải tất cả mọi người phụ nữ đều như vậy. Tệ thay tạo hóa lại cho phép loại sinh vật thấp kém mang thai. Những người bản chất tốt hơn đến độ trưởng thành đều hoan nghênh thiên chức làm mẹ, thấy ở đó những khả năng bao la là hoàn thành nghĩa vụ của chủng loại và tìm thấy nguồn vui và sự thỏa mãn trong việc làm tuỳ nữ phục vụ cho một mục đích lớn lao như thế.
Jennie xét về mặt tuổi đời thì còn bé dại, nhưng về mặt cơ thể và tâm thần thì đã đầy tiềm năng là đàn bà, tuy cô chưa hiểu được cuộc sống một cách đầy đủ và chưa thấy được vị trí của mình trong đó. Cái tình huống đặc biệt đã đẩy cô vào cảnh ngộ bất thường này, theo một quan điểm nào đó, lại đề cao năng lực cá nhân của cô. Nó chứng tỏ lòng can đảm, sự quảng đại về tình cảm và lòng sẵn sàng hy sinh của cô vì cái mà cô cho là một mục đích xứng đáng.
Sở dĩ sự việc đó dẫn tới một hậu quả bất ngờ, trút lên cô một gánh nặng lớn hơn và phức tạp hơn, đó là vì ý thức tự bảo vệ của cô không cân xứng với tình cảm. Đã có lúc cứ nghĩ đến đứa trẻ sẽ ra đời là cô lo sợ và bối rối, bởi vì cô không biết rồi đây liệu nó có oán trách cô không; song bao giờ cũng còn có cái ý thức cứu tinh về công lý vĩnh hằng của cuộc đời, nó khiến cô không tuyệt vọng hoàn toàn. Theo cách suy nghĩ của cô, con người ta không phải độc ác một cách có dụng ý. Những ý nghĩ mơ hồ về tình thân ái và lòng thánh thiện nhuần thấm hồn cô. Cuộc đời, dù lúc thăng, lúc trầm vẫn cứ đẹp – xưa nay bao giờ cũng đẹp.
Những ý nghĩ ấy không phải đến với cô cùng một lúc mà là qua nhiều ngày tháng, trong khi cô theo dõi và chờ đợi. Được làm mẹ là một điều kỳ diệu, thậm chí là trong những điều kiện ngang trái này. Cô cảm thấy mình sẽ yêu quý đứa bé này, sẽ là người mẹ hiền của nó nếu như cuộc đời cho phép. Đó chính là một vấn đề: liệu rồi cuộc sống sẽ cho phép gì đây?
Có nhiều việc sẽ phải làm – quần áo phải may, một số điều khoản vệ sinh và chế độ ăn phải thực hiện. Một điều cô lo sợ là đột nhiên ông Gerhardt có thể trở về, song ông không về. Ông bác sĩ tư già trước đây đã từng chăm sóc nhiều người trong gia đình Gerhardt qua khỏi bao cơn đau yếu – bác sĩ Ellwanger – được mời đến hỏi ý kiến và ông đã khuyên bảo nhiều điều xác đáng và thực tế. Mặc dù được giáo dưỡng theo giáo phái Luther, việc làm nghề thầy thuốc từ thiện đã dẫn ông đến kết luận rằng trên trời và dưới đất có nhiều điều ngoài những gì ta mơ ước trong những triết lý[1] và những quan hệ xóm giềng nhỏ mọn của mình.
- Ra thế đấy, – ông nhận xét với bà Gerhardt khi bà bồn chồn thú thật sự tình cùng ông. – Ồ, bà không nên lo nghĩ làm gì. Những chuyện như thế này xảy ra ở nhiều nơi hơn là bà tưởng. Nếu bà hiểu đời nhiều như tôi và những người hàng xóm của bà thì bà sẽ không khóc lóc nữa. Con gái bà sẽ ổn thôi. Cô ấy rất khỏe mạnh. Sau này cô ấy có thể đi một nơi nào đó và người ta sẽ chẳng biết gì đâu. Hàng xóm nghĩ gì mặc họ, can chi bà phải băn khoăn. Chuyện này không hiếm như bà tưởng đâu.
Bà Gerhardt sững sờ. Ông ấy quả là một người từng trải. Điều đó khiến bà can đảm lên một chút. Còn đối với Jennie, cô lắng nghe lời chỉ bảo của ông với một vẻ chăm chú mà không sợ sệt gì. Cô muốn những điều tốt lành cho mình thì ít mà cho đứa trẻ thì nhiều, và cô sốt sắng muốn làm theo mọi lời bảo ban. Ông bác sĩ tò mò muốn biết ai là cha đứa bé; khi được biết, ông trợn tròn mắt ra. – Thực vậy ư! – Ông bình luận. – Nhất định đứa trẻ sẽ sáng dạ.
Giờ phút cuối cùng khi đứa trẻ ra đời đã đến. Chính bác sĩ Ellwanger chủ trì việc đỡ đẻ với sự giúp sức của bà mẹ vốn đã sáu lần sinh nên biết đích xác những việc phải làm. Mọi việc trơn tru và khi đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời đầu tiên thì trong lòng Jennie thức dậy một niềm âu yếm vô hạn đối với nó. Đây là con của cô! Nó yếu ớt mỏng manh – một bé gái, và nó cần đến sự chăm chút của cô. Sau khi tắm và quấn tã lót cho nó xong, cô áp nó vào ngực với một cảm giác vô cùng mãn nguyện và sung sướng. Đây là con cô, đứa con gái bé bỏng của cô. Cô muốn được sống để có thể làm việc vì con, và thậm chí ngay trong lúc còn yếu cô vẫn cảm thấy vui mừng vì thấy mình dồi dào sức lực đến thế.
Bác sĩ Ellwanger tiên đoán rằng cô sẽ mau chóng hồi phục. Theo ông cùng lắm cô cũng chỉ cần nằm nghỉ hai tuần lễ. Thực tế, sau mười ngày cô đã trở dậy và đi lại loanh quanh, vẫn khỏe khoắn lành mạnh như xưa.
Cô bẩm sinh đã có sức và có cái đặc tính mát tay nuôi trẻ là điều kiện tạo thành người mẹ lý tưởng.
Cơn khủng hoảng lớn đã qua đi và bây giờ cuộc sống lại tiếp tục như xưa. Trừ Bass, bọn trẻ con đều còn quá nhỏ nên không hiểu được đầy đủ sự việc và bị người lớn đặt chuyện nói dối rằng Jennie đã lấy thượng nghị sĩ Brander và ông này đã chết. Chúng không biết là sắp có một đứa trẻ ra đời, mãi đến lúc đẻ mới hay. Bà Gerhardt thì sợ những người hàng xóm vì họ luôn luôn để ý rình mò và thực sự họ biết tất cả. Nếu như không có lời khuyên của Bass thì hẳn Jennie đã chẳng dám đương đầu với cái bầu không khí ở địa phương này. Trước đó ít lâu, gã kiếm được một chỗ làm ở Cleveland và viết thư về nói rằng theo gã thì khi Jennie khỏe rồi, cả gia đình nên tìm cách gây dựng lại ở Cleveland. Ở đó mọi nghề làm ăn đang thịnh vượng. Một khi đã rời đi rồi thì gia đình sẽ chẳng phải nghe những lời ong tiếng ve của đám hàng xóm hiện nay nữa và Jennie sẽ có thể kiếm được một việc làm nào đó. Vì vậy cô cứ ở lại nhà.
❀ ❀ ❀
[1] Shakespeare, Hamlet, hồi 1, cảnh 5 – ND.