Họ là một hội nhóm tồi tàn, dẫu cho cũng là một bọn bạn bè tốt, những kẻ cất tiếng gầm vang trong ca đoàn, và còn gầm vang hơn nữa trong tửu quán. Họ chính là tám phần từ cấu thành nên cú pháp của buổi lễ, và được phân biệt với nhau qua những thứ âm thanh chẳng khác nào tiếng chuông, bởi họ chẳng tạo nên một buổi hoà nhạc mà là một hồi chuông đổ. Tiêu khiển hay giải trí của họ là những lời kinh nguyện, còn bài tập thể dục lại là việc uống rượu, dẫu vậy họ lại say mê sự đạo đức ấy đến mức thường phụng sự Chúa nhất là lúc say mưa say mửa. Phẩm giá của họ là một cái cúi chào dành cho vị linh mục thường trực, học thức của họ chỉ là một chương sách, bởi họ thường học thuộc nó trước khi kịp đọc; dẫu vậy, những cái tên tiếng H Hebrew cổ kính chẳng lấy làm biết ơn họ cho lắm, vì họ phát âm sai chúng còn tệ hơn cả cách họ gọi nhau. Dẫu chưa từng giảng giải Kinh thánh, họ lại chạm tay vào nó rất nhiều, và làm vấy bẩn Phúc âm bằng hai thứ: câu chuyện phiếm của họ và những ngón cái của họ.
Vào những ngày làm việc, họ cư xử trong các giờ kinh chẳng khác nào lúc bên vò rượu, bởi họ nuốt chửng chúng trong chớp mắt. Những chiếc áo choàng của họ thường vấy bẩn những dòng bia chảy dọc, là phần dư thừa từ một chén rượu hay cổ họng vô độ. Tài năng ca hát khiến họ trở nên những người bạn đồng hành thú vị hơn khi đi đây đi đó, và những bài thánh ca giúp họ đủ tài để hát những khúc ca vui nhộn. Phần lớn họ không sống thọ, đặc biệt là những người hát giọng trầm, họ tràn bờ thường xuyên đến mức làm ngập lụt cả những chiếc đàn phong cầm. Tóm lại, nếu trốn được cảnh bị bắt giữ, họ sẽ ra đi khi đang tận tụy phục vụ Chúa; và để đón nhận cái chết của mình với sự kiên nhẫn lớn hơn, họ có rượu và bánh ngọt trong tang lễ của mình, và giờ đây họ giữ gìn nhà thờ tốt hơn rất nhiều, góp phần lấp đầy nơi ấy bằng những bộ xương của họ thay vì bằng tiếng ồn ào như trước kia.