Ngày 18 tháng 6.—Trong một bệnh viện, tôi tìm thấy Thomas Haley, đại đội M, kỵ binh số 4 New York—một thiếu niên gốc Ireland chính hiệu, một mẫu hình tuyệt đẹp của sức mạnh thể chất tuổi trẻ—bị đạn xuyên qua phổi—chắc chắn không qua khỏi—đã sang đất nước này từ Ireland để gia nhập quân ngũ—không có lấy một người bạn hay người quen nào ở đây—đang ngủ say vào lúc này, (nhưng đó là giấc ngủ của thần chết)—có một lỗ đạn thủng thẳng qua phổi. Tôi đã gặp Tom khi cậu mới được đưa đến đây ba ngày trước, và không ngờ cậu có thể sống qua mười hai giờ—(dẫu cho nhìn khuôn mặt cậu thì một người quan sát qua đường cũng thấy hãy còn khá khỏe mạnh.) Cậu nằm đó với phần thân trên để trần cho mát mẻ, một người đàn ông có vóc dáng đẹp, vết nắng cháy vẫn chưa phai mờ trên má và cổ. Thật vô ích khi nói chuyện với cậu, bởi vì với vết thương trầm trọng, những liều thuốc kích thích được bơm cho, cùng sự xa lạ tột cùng của mọi vật, khuôn mặt, đồ đạc, v.v., tội nghiệp thay, ngay cả khi thức giấc, chàng trai cũng giống như một con thú nhỏ hoảng hốt và nhút nhát. Phần lớn thời gian cậu ngủ, hoặc nửa tỉnh nửa mê. (Đôi khi tôi nghĩ cậu hiểu nhiều hơn những gì cậu thể hiện.) Tôi thường đến ngồi bên cậu trong sự lặng im tuyệt đối; cậu sẽ thở suốt mười phút nhẹ nhàng và đều đặn như một đứa trẻ thơ đang ngủ. Tội nghiệp chàng trai trẻ, thật tuấn tú, lực lưỡng, với mái tóc dày óng ánh đẹp đẽ. Có bận khi tôi ngồi ngắm cậu lúc cậu đang ngủ, bỗng nhiên, không hề giật mình lấy một chút, cậu tỉnh giấc, mở mắt, nhìn tôi một cái thật lâu và điềm tĩnh, quay mặt đi một chút để dễ nhìn hơn—một cái nhìn dài, trong trẻo, lặng lẽ—một tiếng thở dài nhẹ—rồi quay lại và chìm vào giấc ngủ gà ngủ gật. Cậu bé khốn khổ, đã mang án tử trong người, nào có hay biết gì về trái tim của người xa lạ đang vẫn quẩn quanh đâu đây.
W.H.E., Đại đội F, trung đoàn 2 N.Y.—Căn bệnh của anh là viêm phổi. Anh đã nằm bệnh tại cái bệnh viện tồi tàn bên dưới lạch Aquia trong bảy hoặc tám ngày trước khi được đưa đến đây. Anh được điều động từ trung đoàn của mình đến đó để giúp đỡ làm y tá, nhưng chẳng bao lâu sau chính anh cũng ngã bệnh. Là một người đàn ông lớn tuổi, mặt tái xám, khá gầy gò, tóc điểm bạc, đã góa vợ và có con. Anh bày tỏ mong ước tha thiết được uống trà xanh đậm và ngon. Một người phụ nữ tuyệt vời, bà W., ở Washington, đã sớm gửi cho anh một gói trà; cùng với một khoản tiền nhỏ. Bác sĩ dặn cứ cho anh uống trà tùy thích; gói trà nằm trên chiếc bàn bên cạnh giường, và anh dùng nó mỗi ngày. Anh ngủ rất nhiều; không thể nói chuyện nhiều vì tai đãâm điếc. Nằm ở giường 15, khu I, Armory. (Cùng vị phu nhân nói trên, bà W., đã gửi cho những người lính một gói thuốc lá lớn.)
J. G. nằm ở giường 52, khu I; thuộc đại đội B, trung đoàn 7 Pennsylvania. Tôi đưa cho anh một khoản tiền nhỏ, ít thuốc lá và phong bì. Người ở chiếc giường bên cạnh, tôi cũng tặng hai mươi lăm xu; mặt anh đỏ bừng lên khi tôi đưa—ban đầu từ chối, nhưng khi tôi nhận ra anh không có nổi một xu dính túi và rất thích đọc báo hằng ngày, tôi bèn nài nỉ anh nhận lấy. Rõ ràng anh rất biết ơn, dù nói chẳng bao nhiêu.
J.T.L., thuộc đại đội F, trung đoàn 9 New Hampshire, nằm ở giường 37, khu I. Rất thích thuốc lá. Tôi cấp cho anh một ít; cùng với một chút tiền. Bị hoại tử ở chân; một ca khá nặng; chắc chắn sẽ phải cắt ba ngón chân. Là một hình mẫu đích thực của một người nhà quê New England chính gốc, thô mộc, nhiệt tình, để lại trong tôi ấn tượng về sự tương đồng với chú mèo lông xém nổi tiếng, tốt gỗ hơn tốt nước sơn.
Giường 3, khu E, Armory, rất thèm dưa chuột muối, một thứ gì đó cay nồng. Sau khi tham khảo ý kiến bác sĩ, tôi đưa cho anh một lọ mù tạt nhỏ; cùng vài quả táo; và một cuốn sách. Một số y tá ở đây rất tuyệt vời. Nữ y tá ở khu này làm tôi rất mến. (Bà Wright—một năm sau tôi tìm thấy bà ở bệnh viện Mansion house, Alexandria—bà là một y tá hoàn hảo.)
Ở một chiếc giường nọ có một thanh niên, Marcus Small, đại đội K, trung đoàn 7 Maine—mắc bệnh lỵ và sốt thương hàn—một ca khá nguy kịch—tôi thường xuyên trò chuyện với cậu—cậu nghĩ mình sẽ chết—trông quả thật đúng là như vậy. Tôi viết giùm cậu một bức thư gửi về nhà ở East Livermore, Maine—tôi để cậu nói chuyện với mình một chút, nhưng không nhiều, khuyên cậu hãy nằm thật yên tĩnh—phần lớn thời gian là tôi tự nói chuyện—ở lại với cậu khá lâu, vì cậu cứ nắm chặt lấy tay tôi—trò chuyện với cậu bằng giọng vui vẻ nhưng chậm rãi, trầm ấm và đều nhịp—nói về kỳ nghỉ phép của cậu, và việc trở về nhà ngay khi cậu đủ sức đi lại.
Thomas Lindly, kỵ binh số 1 Pennsylvania, bị thương rất nặng ở chân—tội nghiệp chàng trai trẻ, cậu đau đớn khủng khiếp, phải liên tục được cho dùng morphin, khuôn mặt tái xám và đờ đẫn, đôi mắt trẻ trung sáng ngời—tôi tặng cậu một quả táo lớn đẹp mắt, đặt nó vào tầm mắt, dặn cậu nhờ nướng lên vào buổi sáng, vì lúc đó thường cậu cảm thấy dễ chịu hơn và có thể ăn một chút bữa sáng. Tôi viết hộ cậu hai bức thư.
Đối diện đó, một cụ bà theo phái Quaker ngồi bên cạnh con trai mình, Amer Moore, pháo binh số 2 U.S.—bị trúng đạn vào đầu từ hai tuần trước, rất yếu, hoàn toàn tỉnh táo—từ hông trở xuống bị liệt—cậu chắc chắn không qua khỏi. Tôi nói với cậu vài lời rất ngắn gọn vào mỗi ngày và mỗi tối—cậu đáp lại một cách dễ chịu—không cần gì cả—(cậu đã kể cho tôi nghe chẳng bao lâu sau khi đến đây về chuyện gia đình ở quê, mẹ cậu là một người ốm yếu lâu năm, và cậu sợ để bà biết tình trạng của mình.) Cậu qua đời chẳng bao lâu sau khi bà đến.