Tháng Mười, năm Dận Hỷ Đế thứ năm.
Tại bình nguyên Cự Lộc dưới chân núi phía Nam của Tỏa Hà Sơn, trong làn khói gỗ nam hương mù mịt, thần vu vỗ tay ca hát trên đỉnh đầu, nhảy múa xung quanh đống lửa. Các chư hầu triều Dận đội mũ cao, mặc tay áo rộng, lũ lượt bước tới, cung kính dâng lên thanh khuê bạch bích bằng lễ tám lạy, còn người ngồi ngay ngắn ở giữa quân trướng đáp lễ bằng bảy lạy, thế là hoàn thành "Nạp Bích chi lễ" của bậc bá chủ.
Đây là cảnh tượng tại "Tỏa Hà hội minh". Cuộc "Tỏa Hà huyết chiến" thảm liệt kết thúc bằng đại hội của các chư hầu công khanh này, lúc bấy giờ tuyết mịn bay lả tả, nhưng cũng chẳng thể che lấp nổi những đống xương khô chưa kịp chôn cất trên chiến trường Cự Lộc.
Sau bảy trăm năm triều Dận lập quốc, cuối cùng đã nghênh đón vị chư hầu xưng bá đầu tiên. Ly quốc hầu Doanh Vô Ế bước ra khỏi đám đông, dựa vào đội quân tinh nhuệ uy chấn các nước, nắm chặt quyền hành của đế triều trong tay, tuyên cáo một thời đại mới.
Dẫu trong mắt người đời sau, thời đại con sư tử Đông Lục gầm thét tung hoành này chẳng qua chỉ là khoảnh khắc tựa sao băng, thế nhưng ngôi sao băng này lại đặt dấu chấm hết hoàn toàn cho sinh mệnh của triều đại Tường Vi. Từ đó về sau, khói lửa báo hiệu chiến tranh lại không ngừng dấy lên trên đại địa Đông Lục, những kẻ mạnh trong hàng chư hầu lần lượt coi Thiên Khải - đế đô thần thánh - như miếng mỡ béo bở trong miệng, mà con cháu của vị hoàng đế vĩ đại ngày xưa không còn một ai có thể thực sự nắm giữ mảnh đất rộng lớn này nữa.
Đây là khởi đầu của "Hai mươi năm loạn thế".
Tháng Tư, năm Dận Hỷ Đế thứ sáu, xuân ấm hoa nở.
Khi các chư hầu liên minh bại trận trong "Tỏa Hà huyết chiến" có lẽ vẫn còn đang bóp cổ tay thở dài trong cung điện của mình, một con ngựa trắng nhẹ nhàng như bay phi vào cổng thành Nam Hoài, Uyển Châu.
Mà hạt giống của đế vương, đang lặng lẽ nảy mầm trong góc tối tăm nhất.