Bí Ẩn Thành Phố London, Tập 4

Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 120
Mười Chín Năm Trôi Qua.

❊ ❊ ❊

Thật dễ biết bao khi ghi lên giấy những dòng chữ đầy vẻ bao quát: “Mười chín năm đã trôi qua kể từ những sự việc vừa được kể lại;”—thật dễ biết bao chỉ với vài khoảnh khắc múa bút mà có thể vượt qua một khoảng thời gian chiếm gần một phần năm của cả một thế kỷ!

Mười chín năm!—vài âm tiết ngắn ngủi—một giọt mực—một mẩu giấy—và chút ít thời gian bận rộn phút chốc,—đó là tất cả những gì một nhà văn cần để có thể lướt qua những biến động của mười chín năm trời!

Ồ! chính quyền năng này buộc chúng ta phải nhìn nhận với sự hoài nghi về tính hữu ích trong chính nghề nghiệp của mình,—phải ngẫm nghĩ xem tác phẩm hư cấu dẫu có tự nhiên nhất đi chăng nữa thì vẫn còn cách xa thực tế đến nhường nào,—và phải cảm nhận sự vô nghĩa của mọi nỗ lực tưởng tượng khi đặt lên bàn cân so sánh với những sự thật lạnh lùng, cứng nhắc của thế giới thực tại!

Vì dẫu nhà văn, khi nắm giữ quyền lực tuyệt đối đối với những đứa con tinh thần của mình, có thể định đoạt cả năm tháng—phải, thậm chí cả những thế kỷ, chỉ bằng một cái phẩy bút,—thế nhưng đối với Thời Gian, theo cách mà vũ trụ thực sự trải nghiệm bước tiến của nó, thì dù chỉ một khoảnh khắc anh ta cũng chẳng thể kìm lại—chẳng thể thúc nhanh lên dù chỉ một phút.

Những vị Vua chúa vĩ đại, từng tự xưng là á thần và ép buộc hàng triệu người phải quỳ rạp xung quanh ngai vàng uy nghiêm của họ,—những kẻ mà chỉ cần một cái gật đầu đầy quyền uy cũng khiến toàn thể các quốc gia run rẩy như trước ánh mắt giận dữ của vị thần tối cao Jupiter, và tiếng dậm chân đầy mất kiên nhẫn của họ trên nền đá cẩm thạch trong cung điện dường như làm rung chuyển trái đất đến tận tâm can,—những vị quân vương kiêu hãnh và ngạo mạn như thế lại hoàn toàn bất lực trong tay Thời Gian, chẳng khác nào những đứa trẻ ngây thơ trong gọng kìm của một tên Người Khổng Lồ. Dù đầu rơi theo mệnh lệnh của họ, thế nhưng họ chẳng thể ngăn nổi dù chỉ một sợi tóc trên đầu mình chuyển bạc: dù theo tiếng gọi của họ, cả những tỉnh thành lớn bị tàn sát không còn một bóng người, thế nhưng họ chẳng thể kéo dài thêm dù chỉ một khoảnh khắc cho cuộc đời của chính mình!

Thời Gian là một vị vua chuyên chế hùng mạnh hơn tất cả những bậc đế vương từng khoác áo tía hoàng gia,—mạnh mẽ hơn những chiến binh dũng cảm nhất từng dẫn dắt các đạo binh chinh chiến qua những vùng đất bị tàn phá,—và khó lòng lay chuyển được lòng trắc ẩn hơn cả những bạo chúa tàn ác nhất từng nắm giữ vương trượng trên trần gian.

Đối với những ai đang chìm trong đau khổ, ngóng chờ hạnh phúc chắc chắn đang ánh lên với họ bằng những tia hy vọng le lói từ chốn xa xôi, Thời Gian mới chậm chạp làm sao—ôi! chậm đến mức đôi chân như thể mang theo những tạ sắt nặng trịch và đôi cánh nặng đìu chì:—nhưng đối với những ai đang hạnh phúc, nhận thấy những điềm báo không thể nhầm lẫn của tai họa sắp sập xuống, Thời Gian lại trôi qua nhanh chóng—ôi! nhanh đến mức đôi chân dường như lướt đi thoăn thoắt giống như một chú bé hiếu động đang rượt đuổi theo con bướm, và đôi cánh thì nhẹ nhàng, bồng bềnh tựa như loài chim bayh nhanh nhất.

kẻ gian ác, nằm trên giường bệnh, kêu lên: “Ồ! ước gì có chút thời gian để hối hận!”—nhưng Thời Gian phớt lờ lời cầu nguyện trong cơn thống khổ của y và phán rằng: “Hãy chết đi!” Người bệnh, oằn mình vì những cơn đau đớn tột cùng, và đã mệt mỏi với một sự tồn tại chẳng hề có phút giây nào ngơi nghỉ khỏi đớn đau, thốt lên: “Ồ! ước gì thần chết đưa tôi đi!”—nhưng Thời Gian không đáp ứng lời khẩn cầu trong tiếng thét gào ấy, mà phán rằng: “Hãy sống tiếp!”

Dẫu vô cảm và chẳng có lấy một chút rung động, Thời Gian lại thể hiện những sự thất thường mà ngay cả cô gái nông nổi và bướng bỉnh nhất cũng phải cảm thấy hổ thẹn khi mắc phải,—tha thứ ở nơi lẽ ra phải tước đoạt mạng sống—và tước đoạt mạng sống ở nơi lẽ ra phải buông tha: hoàn toàn dửng dưng trước mọi động cơ, không đủ khả năng để hoạch định bất kỳ mưu đồ nào, ngài dường như hành động theo một thứ quy luật của sự mâu thuẫn và dựa trên một hệ thống những sự bất thường được tính toán kỹ lưỡng.

“Mười chín năm đã trôi qua kể từ những sự việc được kể lại trong các chương trước!”—Đó là lời khẳng định mang tính bao quát mà giờ đây chúng ta phải đưa ra.

Mười chín năm!—biết bao niềm vui từng được trải nghiệm, bao nỗi thống khổ từng cảm nhận trong khoảng thời gian ấy: biết bao thay đổi lớn lao đã diễn ra trên khắp mặt địa cầu!

Ở những hòn đảo này, khoảng thời gian đó được đánh dấu bằng triều đại của ba vị quân vương:—George Đệ Tứ—William Đệ Tam—Victoria.

Những cuộc ăn chơi trụy lạc, thói hư tật xấu và sự đồi phong bại tục của vua George đã làm giảm sút giá trị của Chế độ Quân chủ ngay cả trong mắt những người ủng hộ kiên định nhất của nó; sự bất tài tột độ, sự yếu kém và thậm chí cả sự ngu ngốc rành rành của vua William lại đẩy nó xuống một mức suy giảm trầm trọng hơn nữa;—và sự lên ngôi của nữ hoàng Victoria đã công bố một thực tế lớn lao rằng Chế độ Quân chủ chẳng qua chỉ là một trò hề, bởi vì một nữ sinh bình thường cũng có thể được đưa lên làm con rối ngồi ngai vàng trong cái rạp múa rối hoàng gia của Punch-and-Judy.

Do đó, trong suốt mười chín năm trời, giá trị của Chế độ Quân chủ đã trải qua một sự suy giảm nhanh chóng và rõ rệt; và dẫu nó vẫn còn tồn tại, nó đang lao đi với tốc độ của trận cuồng phong hướng tới sự diệt vong hoàn toàn. Con người ta đang trở nên khôn ngoan hơn để không còn duy trì một chiếc ngai vàng vốn có thể bị chiếm giữ bởi một kẻ trác táng, một tên ngốc, hay một con búp bê: họ nhận thấy điều gì đó căn bản và tồi tệ một cách hiển nhiên ở một thể chế chứa đựng những rủi ro đáng sợ nhường ấy;—và họ đang trông chờ một thời điểm thuận lợi và một cơ hội thích hợp để thực hiện, bằng các biện pháp đạo đức và không dùng bạo lực, một sự thay đổi hoàn toàn. Chiếc ngai vàng đã mục nát—lớp nhung của nó thủng lỗ chỗ và phủ đầy bụi bặm: và chẳng có sức mạnh trần gian nào có thể sửa chữa phần gỗ hay vá víu lại mảnh vải ấy nữa. Nó đã cũ kỹ—rệu rã—và vô tích sự; và chiếc ghế quyền lực của một vị Tổng thống, do toàn dân bầu ra, tất yếu phải thay thế nó. Chế độ Quân chủ sụp đổ sẽ kéo theo cả Tầng lớp Quý tộc cổ xưa xuống cùng với nó; và với hai mươi sáu triệu con người ở vương quốc này cùng bắt đầu một cách công bằng trên nguyên tắc bình đẳng phổ quát, những ai thành công trong việc chạm tới đích đến của Đức hạnh và Tài năng sẽ tạo lập và cấu thành nên một Tầng lớp Quý tộc mới.

Mười chín năm đã trôi qua kể từ những sự việc được kể lại trong các chương trước; và giờ đây là mùa hè năm 1846.

Ánh nắng tháng Bảy tỏa ra cái nóng oi bức đến ngột ngạt; và chẳng có lấy một ngọn gió thổi qua những con đường ngột ngạt ở khu West-End, hay làm lay động tán lá xanh tươi của Công viên St. James. Mặc dù vậy, toàn bộ khu phố thời thượng ấy của Luân Đôn—nơi nằm ngay sát cạnh cung điện cổ mang tên công viên vừa được nhắc tới—lại mang một vẻ nhộn nhịp và đầy náo nhiệt; bởi vì Nữ hoàng Victoria sẽ tổ chức một buổi tiếp kiến lớn vào lúc trưa ngày hôm đó.

Phố Pall Mall đông nghịt những người ăn mặc lịch sự thuộc cả hai giới;—và các khung cửa sổ cùng ban công trên con phố đó kín nghịt những quý ông quý bà diện trang phục trang nhã, họ hoặc là chủ nhân của những ngôi nhà có cửa sổ mà họ đang đứng ngóng ra, hoặc đã thuê chỗ tại các cửa hàng nơi sự ham lợi của những người chủ tiệm tận dụng tối đa sự tò mò của công chúng.

Do đó, hiển nhiên là buổi tiếp kiến được tổ chức vào ngày hôm nay không hề tầm thường chút nào, và người ta đang ngóng chờ một nhân vật vĩ đại hoặc lừng lẫy nào đó tới tham dự buổi thiết triều hoàng gia. Bởi vì, giữa hàng ngàn người đang chen chúc trên các con phố, một sự nôn nóng tột cùng nhằm giành được những vị trí đẹp nhất đã bao trùm khắp nơi; và ở mọi góc phố đều vang lên câu hỏi đầy háo hức rằng:—“Nhưng liệu có chắc chắn là Hoàng tử sẽ đi qua con đường này không?”

Chúng ta phải dừng lại vài phút để chú ý đến một nhóm người đang đứng ở ban công cửa sổ phòng khách tại dinh thự của Bá tước xứ Ellingham. Nhóm người này gồm có sáu người—ba nam và ba nữ.

Người đàn ông đầu tiên trong nhóm là một người khoảng bốn mươi lăm tuổi, vóc dáng đẹp đẽ, khôi ngô và mang phong thái cao quý—với nét mặt biểu lộ những cảm xúc của lòng danh dự cao cả nhất, sự hào hiệp tuyệt vời và một trí tuệ lỗi lạc. Đó chính là Bá tước xứ Ellingham.

Đứng gần ông là một cụ ông lớn tuổi và đáng kính, tuổi tác đã tiệm cận mốc bảy mươi, nhưng đôi mắt nhỏ, láu lỉnh và sắc sảo vẫn ánh lên ngọn lửa của thiên tài, và đôi môi mím chặt cho thấy dẫu ông đã đồng ý trở thành một khán giả chứng kiến khung cảnh vui tươi sắp diễn ra, tâm trí ông vẫn thường xuyên vươn tới những đề tài nghiêm túc hơn và phù hợp hơn với bản chất của ông. Đó là Sir John Lascelles—vị y sư lỗi lạc nhất thời đại, người từng nhận được tước hiệu hiệp sĩ để đền đáp cho những cống hiến lớn lao mà ông đã dành cho ngành y học.

Người đàn ông thứ ba khoảng hai mươi lăm tuổi. Cao ráo, khôi ngô, cân đối, và có vẻ ngoài lịch thiệp, chàng trông rất xứng đôi vừa lứa khi sánh bước bên cô gái kiều diễm đang tựa nhẹ vào cánh tay mình, người mà chúng ta sẽ nhắc đến chi tiết hơn chẳng mấy chốc nữa. Chàng thanh niên tuấn tú vừa được nhắc tới có tên là Charles Hatfield; nhưng trong phần trước của tác phẩm này, khi còn là một cậu bé, chàng từng được độc giả biết đến với cái tên Charley Watts.

Người phụ nữ đầu tiên trong số ba người phụ nữ khoảng ba mươi bảy tuổi; và vẻ đẹp của nàng, mang phong cách Do Thái tinh tế, thuần khiết và cao quý nhất, vẫn được giữ gìn một cách đáng kinh ngạc. Sự trôi qua của thời gian chỉ làm cho nét kiều diễm của nàng thêm mặn mà chứ không hề làm suy suyển; thời gian đã chẳng chạm tới sắc trắng như ngọc của hàm răng nàng, cũng chẳng làm lu mờ đi ánh hào quang rực rỡ từ đôi mắt to và tối màu ấy. Mái tóc của nàng vẫn giữ nguyên sắc đen tuyền sâu thẳm và bóng mượt—mềm mại như lụa và dày dặn hệt như khi chúng ta từng miêu tả lần đầu trong chương bốn của câu chuyện:—bởi vì người mà chúng ta đang nhắc tới lúc này chính là Esther, Nữ bá tước xứ Ellingham.

Đang trò chuyện cùng vị phu nhân dòng dõi Do Thái cao quý ấy—bởi nàng vẫn kiên định với đức tin của tổ tiên mình—là một người phụ nữ sở hữu vẻ đẹp mang phong cách lộng lẫy và đẫy đà đến mức khiến bất kỳ kẻ nào ngắm nhìn cũng phải gạt bỏ mọi tính toán và phỏng đoán về độ tuổi của chủ nhân nhan sắc ấy;—bởi vì dẫu bốn mươi bốn năm đã trôi qua trên cuộc đời của phu nhân Hatfield, nàng vẫn được ban cho một vẻ đẹp dẫu đã mặn mà nhưng dường như chỉ trải qua sự đổi thay của những mùa hè và chưa từng phải hứng chịu những cơn bão tuyết lạnh giá tương đương của mùa đông.

Và giờ đây chúng ta phải bàn kỹ hơn về thiếu nữ duyên dáng mà chúng ta vừa nhắc tới ban nãy, người đang tựa tay vào cánh tay của con trai phu nhân Hatfield. Đẹp đến nao lòng là thiếu nữ mười bảy tuổi này—với chiếc mũi khoằm thanh tú của người mẹ và làn da trắng ngần mang sắc thái Saxon của người cha. Vâng—tiểu thư Frances Ellingham quả thực vô cùng xinh đẹp, là trái ngọt duy nhất của cuộc hôn nhân diễn ra giữa Bá tước và Esther một năm sau vụ mớ sát Tamar, và do đó cách biệt mười phần tám năm so với thời điểm mà chúng ta đang viết lúc này. Phần lớn những lời miêu tả mà chúng ta từng dành cho Esther ở phần mở đầu câu chuyện đều có thể áp dụng cho vẻ kiều diễm của con gái nàng, với chiếc trán cao, rộng và thông minh,—khuôn miệng nhỏ nhắn, khi cười hé lộ hàm răng trắng như ngọc trai phương Đông,—đôi mắt to và tối màu, cùng vóc dáng cao ráo, thanh thoát như tiên nữ và đầy uyển chuyển. Thế nhưng mái tóc của tiểu thư Frances Ellingham, dẫu tối màu, lại kém đen hơn mái tóc của mẹ nàng vài tông; và làn da của nàng trong trẻo một cách mong manh, phảng phất một chút sắc hồng rực rỡ ẩn hiện bên dưới lớp da trắng tinh khiết chói lọi.

Đó chính là nhóm sáu con người đầy thú vị đang đứng tại ban công dinh thự của Bá tước xứ Ellingham. Nhưng trong khi họ đang chờ đợi sự xuất hiện của nhân vật lừng lẫy được mong đợi sẽ đi qua phố Pall Mall để đến buổi thiết triều của Nữ hoàng tại cung điện St. James, chúng ta hãy ghi lại một vài sự thật ngắn gọn để làm sáng tỏ hơn đối với độc giả về khoảng thời gian mười chín năm mà chúng ta đã quyết định lướt qua trong câu chuyện của mình.

Trong một thời gian dài—rất dài sau vụ sát hại Tamar, Tom Rain dường như chẳng thể nào nguôi ngoai hay tìm thấy sự khuây khỏa: nhưng cuối cùng tâm trí vốn mạnh mẽ tự nhiên và trí tuệ sắc bén của anh cũng bắt đầu phát huy năng lượng—trí tuệ để chiến đấu chống lại nỗi đau buồn sâu sắc và đè nặng—còn tinh thần thì nhắc nhở anh về sự cần thiết phải tung ra toàn bộ sức mạnh trong cuộc đấu tranh, không chỉ vì sự vô ích của những niềm tiếc thương vô vọng, mà còn vì lợi ích của những ai đang quan tâm đến anh. Tuy nhiên, chủ yếu là vào dịp lễ cưới của Lãnh chúa Ellingham với Esther de Medina, Rainford mới thực sự hồi phục một cách rõ rệt; bởi vì việc nhìn thấy hạnh phúc của người anh cùng cha khác mẹ đã đem lại điều tốt lành cho trái khiêm nhường và hào hiệp của anh. Khi thời gian trôi đi, Tom Rain đã lấy lại phần lớn sự vui vẻ vốn có trước kia; và sau khi ba năm trôi qua kể từ ngày Tamar qua đời, anh bắt đầu lắng nghe với sự chú ý, nếu không muốn nói là với sự hứng thú, trước những lời lẽ trình bày của Bá tước, thúc giục anh thực hiện một nghĩa vụ mà giờ đây anh hoàn toàn có khả năng hoàn thành. Arthur gợi nhắc anh về cách hành xử hào hiệp của Georgiana Hatfield trong việc giành lấy sự ân xá từ hoàng gia,—ông đảm bảo với Rainford rằng vị phu nhân kia không còn nhìn anh bằng ánh mắt căm ghét và xa lánh nữa, mà sẽ vui lòng trao tay mình cho người cha của đứa con trai do chính cô sinh ra,—và vị quý tộc hơn nữa còn khuyên nhủ anh nên tiến tới hôn nhân với lý do là khi đó đứa trẻ sẽ được sống chung với cả cha lẫn mẹ. Cái chết của ông de Medina, xảy ra vào khoảng thời gian đó, đã làm trì hoãn các cuộc thương lượng vừa được khởi xướng; nhưng khi tròn một năm trôi qua, lời đề nghị lại được khơi lại và những sự sắp xếp cần thiết nhanh chóng được dàn xếp ổn thỏa. Cuối cùng, mọi chuyện đã được định đoạt rằng Rainford sẽ từ bỏ cái tên mà anh vẫn dùng bấy lâu nay để mang họ Hatfield,—rằng đứa trẻ từ đó về sau cũng sẽ được gọi theo họ đó, nhưng sẽ được nuôi dưỡng với niềm tin rằng nó là cháu ruột của Rainford,—và rằng sau lễ cưới, vốn sẽ được cử hành một cách kín đáo nhất có thể, cặp uyên ương sẽ lên đường đi lục địa châu Âu và sinh sống ở đó vài năm. Tất cả những sự sắp xếp này đều được thực hiện đâu vào đấy. Rainford—người mà từ nay chúng ta sẽ gọi bằng họ của vợ anh—đã trở thành phu quân của phu nhân Georgiana Hatfield;—và mang theo đứa con trai của họ, vốn được giới thiệu là đứa cháu gọi bằng cậu, họ lập tức lên đường sang Ý, nơi họ đã sinh sống gần mười lăm năm trời. Do đó, khi trở về Luân Đôn, chỉ vài tuần trước thời điểm mà chúng ta vừa đưa các tình tiết của câu chuyện đến, tất cả những biến cố náo động từng gắn liền với cái tên Tom Rain đã hầu như bị quên lãng; và ngoại trừ một vài kẻ nằm trong vòng bí mật, chẳng còn ai nghi ngờ gì nữa về việc người đàn ông lịch thiệp, dễ mến và tốt bụng mang tên ngài Hatfield ấy chính là kẻ từng khiến cả nước Anh rúng động vì tên tuổi của mình mười chín năm về trước.

Trong lúc chúng ta mải rẽ ngang qua những chuyện đó, sự xôn xao giữa đám đông trên phố Pall Mall ngày càng dâng cao;—bởi vì cỗ xe của một số nhân vật lỗi lạc hoặc lừng lẫy đã lần lượt đi qua trên đường tới buổi thiết triều hoàng gia.

Tại ban công cửa sổ phòng khách của Bá tước xứ Ellingham, một bầu không khí tò mò và phấn khích đang ngự trị, thứ chắc chắn không thể nào bị khơi gợi lên ở những con người thông minh tụ họp nơi đây chỉ vì cảnh tượng trưng bày của những cỗ xe lộng lẫy tầm thường. Chúng ta hãy xem liệu đoạn hội thoại đang diễn ra ngoài ban công kia có rọi chút ánh sáng nào vào vấn đề này không.

“Chà,” Sir John Lascelles thốt lên, với giọng điệu gần như cáu kỉnh, “tôi tự hỏi tâm điểm thu hút của các anh sẽ còn phải mất bao lâu nữa mới chịu xuất hiện đây? Thật sự thì, bạn tôi—Bá tước Ellingham đây—đã tốn không ít công sức để lôi kéo tôi rời xa những thí nghiệm của mình chỉ để cốt thoáng nhìn thấy một vị Hoàng tử ngoại quốc——”

“Không đâu, thưa bác sĩ,” Bá tước ngắt lời, mỉm cười: “Chính xác là vì vị Hoàng tử lừng lẫy này không phải là người nước ngoài—mà là một người Anh chính gốc và mang trái tim đích thực của một thần dân Anh quốc trong lồng ngực—nên tôi nghĩ ông sẽ vui lòng hòa mình vào những ai đang khao khát được chiêm ngưỡng một vị anh hùng trẻ tuổi có tên tuổi chiếm một trang sử vô cùng đáng nhớ.”

“Thôi được, thôi được,” vị y sư nói, có phần dịu giọng hơn: “Tôi sẽ kiên nhẫn—và vì các anh đã đảm bảo rằng nhân vật là tâm điểm tò mò của mọi người quả thực là một người Anh——”

“Chắc chắn là ông không thể hoài nghi sự thật ấy, cũng như không thể không biết đến những chiến công vĩ đại của cậu ấy chứ, thưa bác sĩ?” vị Bá tước thốt lên. “Nhưng nếu ông muốn nhận được những lời đảm bảo chắc chắn về nguồn gốc Anh quốc của Hoàng tử Điện hạ, phu nhân Hatfield sẽ làm ông thỏa mãn.”

“Vâng—chính xác là vậy,” Georgiana lên tiếng. “Khi chúng tôi ở Ý, chúng ta không chỉ trở thành những nhân chứng sống cho cuộc Cách mạng vĩ đại được dẫn dắt đến một kết cục thắng lợi vang dội bởi vị anh hùng trẻ tuổi mà ông đang nhắc tới; mà sau đó chúng ta còn vinh dự có được mối quan hệ quen biết với Hoàng tử Điện hạ và vị Vương phi của ngài, người vừa đáng yêu lại vừa xinh đẹp.”

“Và giờ đây khi Hoàng tử đã quay trở lại thăm quê hương đất tổ một lần nữa,” Charles Hatfield nói, đôi mắt lóe lên ngọn lửa nhiệt tình đang tràn ngập tâm hồn chàng, “nhân dân tụ họp đông nghịt để bày tỏ lòng tôn kính đối với người đồng hương lừng lẫy của họ. Ồ! cảm giác của ngài ấy hẳn phải tuyệt vời làm sao, khi ngài ngẫm nghĩ rằng trong tư cách là một cá nhân vô danh từng có lúc di chuyển, lặng lẽ và không ai hay biết, giữa những mê cung của thành phố lớn lao này,—và rằng chính nhờ vào tài năng xuất chúng của mình, ngài đã tự nâng bản thân lên đỉnh cao của phẩm hàm và vinh quang, trở thành đối tượng ngưỡng mộ của hàng vạn con người đang tụ họp nơi đây để chào đón sự hiện diện của ngài.”

“Nói hay lắm, Charles thân mến của ta,” phu nhân Hatfield thốt lên. “Hãy nhìn dọc theo con đường kia—nó thực sự được lát và bao bọc bằng nhữngKhuôn mặt con người! Trên những ban công ở cả hai bên ngôi nhà này—và cả phía đối diện nữa—ta nhận ra rất nhiều vị phu nhân và các tước gia thuộc hàng cao quý nhất. Vâng—Charles, con nói đúng: cảm giác của Hoàng tử hẳn phải vô cùng hân hoan khi ngài ngẫm nghĩ rằng sự hội tụ đông đảo của mọi tầng lớp này đã tề tựu để tôn vinh người đồng hương mà họ vô cùng tự hào.”

“Lịch sử tràn ngập những tấm gương về những kẻ táo tợn, tồi tệ và đầy tham vọng từng chiếm đoạt quyền lực và tự tô điểm cho mình bằng những tước hiệu cao quý,” Charles tiếp tục, hướng lời nói của mình một phần về phía phu nhân Hatfield và một phần về phía tiểu thư Frances Ellingham xinh đẹp: “nhưng trong trường hợp này, chúng ta có một chàng trai trẻ người Anh, với tâm hồn hào hiệp, những quan điểm khai sáng và cả sự chính trực kiên định trong hành trình xử thế, đã tự nâng mình lên từ con số không và giành lấy những tước hiệu kiêu hãnh nhất. Bởi vì đó là một sự thăng hoa vĩ đại nhường nào khi từ một quý ông bình thường tên là Richard Markham lại trở thành Hoàng tử Điện hạ Thống chế Hoàng gia Montoni, Tổng tư lệnh Quân đội Castelcicala, và là Người thừa kế ngai vàng Đại Công quốc!”

Charles Hatfield vừa dứt lời những danh hiệu vang dội ấy với một giọng điệu minh chứng đầy đủ cho sự nhiệt tình đang dâng trào trong tâm hồn khi chàng nghĩ về sự nghiệp lẫy lừng của Richard Markham,1 thì những tiếng hoan hô chào mừng và vui sướng từ đằng xa bất ngờ vọng đến tai nhóm người đứng ngoài ban công:—rồi những âm thanh ấy cứ thế đến gần hơn và gần hơn nữa, khi đám đông tiếp nối những tiếng hô từ hướng khởi nguồn của chúng;—và chưa từng có một vị Vương tôn nào lại được chào mừng bằng một lời thăm hỏi nồng nhiệt hơn thứ đang chào đón vị anh hùng của xứ Castelcicala lúc bấy giờ.

“Muôn năm Hoàng tử xứ Montoni! Chúa phù hộ Richard Markham!” đó là những lời lẽ được cất lên bởi hàng ngàn, hàng vạn tiếng nói hướng về vòm trời xanh thẳm.

Chẳng mấy chốc, một cỗ xe ngựa sang trọng, được kéo bởi bốn con chiến mã lộng lẫy, xuất hiện trong tầm mắt của những khán giả ngoài ban công; và giờ đây không gì có thể vượt qua được sự hào hứng của Charles Hatfield khi chàng lại một lần nữa chiêm ngưỡng đối tượng tôn sùng anh dũng của mình—vị Hoàng tử trẻ tuổi khôi ngô mà chàng từng bao lần ngưỡng mộ và ganh tị khi ngài duyệt binh đội đồn trú của thủ đô Castelcicala ngay tại quảng trường rộng lớn của cung điện đại công quốc Montoni.

Hoàng tử, người ngồi trong cỗ xe cùng với hai sĩ quan tùy giáp, khoác trên mình bộ quân phục mang cấp bậc quân sự cao cấp: lực ngực của ngài che kín những Huân chương; và trên tay ngài cầm chiếc mũ có đính lông vũ vừa được tháo ra khỏi trán nhằm tỏ lòng tôn kính đối với đông đảo công chúng Anh quốc rộng lượng, những người đang dành cho ngài sự chào đón nồng nhiệt đến thế.

Hoàng tử Điện hạ đang ở độ tuổi thanh xuân rực rỡ và đỉnh cao phong độ của một người đàn ông trưởng thành. Ngài tròn ba mươi tuổi: mái tóc sẫm màu, được cắt tỉa hơi dài và quăn tự nhiên, bao bọc lấy chiếc trán toát lên vẻ thiên tài bậc nhất;—và đôi mắt đen tuyệt đẹp rực sáng với ngọn lửa của sự thông tuệ cùng niềm vui sướng trọn vẹn. Bộ quân phục lộng lẫy càng tôn lên vóc dáng cân đối và uyển chuyển của ngài đến mức tối đa, và ngài lịch thiệp cùng nhún nhường đáp lại những biểu hiện vui mừng và chào đón dọc theo lộ trình di chuyển.

Khi cỗ xe của ngài đi ngang qua dinh thự của Bá tước xứ Ellingham, ánh mắt ngài hướng về phía ban công; và khi nhận ra phu nhân Hatfield cùng chàng Charles đầy nhiệt huyết, ngài đã cúi đầu chào họ theo một cách thức minh chứng rõ nét cho niềm vui mà ngài cảm nhận được khi gặp lại những người từng quen biết tại thủ đô đại công quốc Castelcicala.

“Ngài ấy quả thực là một thanh niên rất khôi ngô,” Sir John Lascelles nói. “Tôi hiếm khi thấy gương mặt nào biểu lộ nguồn năng lượng tinh thần to lớn đến thế:” rồi sau một khoảng lặng ngắn, vị y sư đáng kính bổ sung thêm rằng, “Tôi sẵn sàng đánh đổi rất nhiều để có được một bản đúc thạch cao cái đầu của ngài ấy.”

Bá tước đang định đáp lời thì tên của chính ông bất ngờ được hô vang bởi một giọng nói vang lên từ dưới phố; và cái tên ấy, được truyền từ miệng người này sang miệng người khác, vang vọng qua hàng ngàn con người cảm thấy vô cùng phấn khích khi được liên kết người bạn kiên định của tầng lớp lao động Anh quốc với những lời chào mừng nồng nhiệt dành cho nhà vô địch hoàng gia bảo vệ tự do hiến pháp ở Ý.

“Muôn năm Thống chế-Hoàng tử xứ Montoni! Ba tiếng hô vạn tuế dành cho Bá tước xứ Ellingham!” chính là những tiếng hét làm rung chuyển cả vòm trời lúc bấy giờ; và những tiếng hoan hô ấy kéo dài trong suốt một khoảng thời gian, cho đến khi cỗ xe của Hoàng tử Điện hạ rẽ vào sân trong của cung điện St. James, và Bá tước cũng lui khỏi ban công.

“Anh đang thở dài đấy à, Charles?” tiểu thư Frances Ellingham cất lời, với một giọng điệu nhỏ nhẹ và có phần lo lắng, nói riêng với người mà nàng vẫn đinh ninh là cháu ruột của phu nhân Hatfield.

“Anh chỉ đang nghĩ thôi, Fanny thân mến,” chàng thanh niên đáp lại, “rằng dù anh có nỗ lực nhiều đến đâu và khao khát nâng cao vị thế bản thân đến mức nào đi nữa, thì có lẽ anh cũng chẳng bao giờ có được may mắn sở hữu những cơ hội như Hoàng tử xứ Montoni từng tìm thấy để làm rạng danh tên tuổi và giành lấy một danh tiếng khổng lồ.”

“Anh đang ganh tị với ngài ấy đấy à, Charles?” thiếu nữ xinh đẹp gặng hỏi, với giọng điệu mang chút trách móc. “Em cứ ngỡ là anh không màng gì đến tước vị và địa vị cao sang——”

“Không—năng lực của chúng không phải là thứ có sẵn do thừa kế,” Charles Hatfield vội vã đáp lời; “và anh đã từng nhiều lần khẳng định điều này với em trong bí mật—bởi vì anh không muốn đưa ra nhận xét đó trước mặt người cha đáng kính của em, người có tước vị vốn được truyền đời. Nhưng anh ngưỡng mộ—vâng, và anh cũng ganh tị nữa chứ, với những vinh quang mà một người vĩ đại tự giành lấy bằng chính thực lực của bản thân! Em có tưởng tượng nổi việc người dân Anh sẽ tập trung thành những đám đông khổng lồ chỉ để hoan hô chào đón một trong những vị Công tước hoàng gia của họ không? Không đời nào! Thế mà họ lại có vẻ như không thể bày tỏ niềm vui sướng của mình theo một cách nào sống động hơn khi Hoàng tử xứ Montoni xuất hiện giữa họ.”

Trong lúc đoạn hội thoại nhỏ này đang diễn ra ở một góc của căn phòng khách rộng lớn tại dinh thự của Bá tước xứ Ellingham, thì chính vị quý tộc này đang trò chuyện cùng vợ mình và phu nhân Hatfield ở một góc khác—khi toàn bộ nhóm người đã rời khỏi ban công và Sir John Lascelles đã cáo lui khỏi căn phòng.

“Vâng,” Bá tước nói, đáp lại câu hỏi được đặt ra bởi phu nhân Hatfield; “tôi được biết rằng Hoàng tử dự định sẽ ở lại Luân Đôn vài tuần. Vương phi Isabella đã không đi cùng ngài—vì cha mẹ ruột của nàng, Đại Công tước Alberto và Đại Công nương, không đành lòng rời xa nàng. Hoàng tử đã chọn ngụ tại—ít ra là theo tờ báo buổi sáng đưa tin—Markham Place, ngôi nhà nơi ngài sinh ra và nơi toàn bộ tuổi trẻ cùng một khoảng thời gian trưởng thành của ngài đã trải qua. Theo đó, đúng như mong muốn của cô, Georgiana, tôi sẽ đến thăm Hoàng tử Điện hạ vào ngày mai; và tôi sẽ thỉnh cầu ngài chấp thuận một bữa tiệc chiêu đãi tại dinh thự này.”

“Làm sao mà Thomas lại không ở cùng chúng ta lúc nãy để chứng kiến đoàn người chào mừng Hoàng tử tiến về St. James nhỉ?” Nữ bá tước xứ Ellingham thắc mắc.

“Em biết rõ mà, Esther thân mến,” phu nhân Hatfield đáp, “chồng tôi vốn ưa chuộng sự yên tĩnh và kín đáo, và đặc biệt tránh xuất hiện ở những nơi đông đúc. Anh ấy sợ bị nhận ra,” nàng nói thêm, hạ thấp giọng để Charles và tiểu thư Frances ở đầu bên kia căn phòng không thể nghe thấy: “và có lẽ anh ấy đúng—dẫu cho ngài ấy đã trải qua rất nhiều năm kể từ những sự việc đó——”

“Những chuyện mà chúng ta sẽ không nhắc lại nữa,” Lãnh chúa Ellingham vội vã ngắt lời. “Hai đứa trẻ có vẻ như đang trò chuyện rất nghiêm túc với nhau kìa,” ông nói thêm, liếc nhìn về phía Charles Hatfield và tiểu thư Frances.

“Charles đã ấp ủ những tư tưởng lãng mạn nhất định cùng hy vọng được làm rạng danh bản thân trên thế giới,” Georgiana nhận xét; “và tôi nghĩ thật đúng đắn khi khuyến khích những khát vọng cao cả—những khát vọng hào hiệp đó. Nhưng cô con gái kiều diễm của anh rõ ràng đang quở trách cậu ấy về một vấn đề gì đó: và dường như hai đứa cháu này rất quấn quýt lấy nhau đấy chứ,” nàng nói thêm, với ánh mắt có phần lo lắng hướng về phía Bá tước, tựa hồ như nàng không chắc chắn liệu ông sẽ đón nhận nhận xét mang ý tứ sâu xa ấy ra sao.

“Cô vừa nhắc đến một hoàn cảnh mang lại cho tôi niềm vui lớn—không chỉ riêng tôi đâu, mà cả Esther yêu dấu của tôi nữa,” vị quý tộc nói. “Chúng ta đã sớm xem đó là nền tảng cho vô số kế hoạch hạnh phúc trong tương lai——”

“Vâng,” Nữ bá tước xứ Ellingham nhấn mạnh: “một cuộc hôn nhân giữa Charles và cô con gái yêu quý của chúng ta sẽ chứng minh là nguồn cội của hạnh phúc và sự thỏa nguyện cho tất cả chúng ta.”

“Arthur—và cả cô nữa, Esther thân mến,” phu nhân Hatfield thì thầm, với giọng điệu biểu lộ những cảm xúc sâu sắc, “tôi cảm ơn các bạn vì những lời đảm bảo này. Mọi tham vọng trần thế của tôi—niềm hy vọng duy nhất của tôi, sẽ được hoàn thành vào ngày mà liên minh đó diễn ra. Hỡi ôi! tội nghiệp thằng bé—thật đau lòng—Ôi! thật đau lòng khi buộc phải che giấu khỏi nó bí mật thực sự về nguồn gốc dòng dõi của mình—kéo nó vào những lúc thắc mắc với tôi về cha mẹ nó—những người cha mẹ giả tưởng, những kẻ được cho là đã không còn nữa! Vâng—và thật nhẫn tâm làm sao khi bị ép buộc phải lừa dối nó—phải nghe nó gọi tôi là dì—tôi, người sinh ra nó!”

“Georgiana—Georgiana thân mến nhất, đừng tự hành hạ bản thân như thế nữa chứ!” Esther thì thầm, siết chặt bàn tay phu nhân Hatfield theo một cách đầy trìu mến và cất giọng tràn ngập sự an ủi cùng niềm đồng cảm ngọt ngào.

Thế nhưng gần như ngay tại khoảnh khắc đó, một tiếng thét xé lòng bỗng phát ra từ đôi môi của Georgiana; và nàng ngã vật xuống bất tỉnh trong vòng tay của Nữ bá tước xứ Ellingham—trong khi vị Bá tước, quay người lại một cách máy móc và vội vã, nhìn thấy Charles đang đứng ngay sát đằng sau mình,—với vẻ mặt tái mét—chết sững—đông cứng như đá! Bởi vì chàng thanh niên đã tiến đến mà không hề bị ai phát hiện—và những bước chân không tiếng động trên tấm thảm dày và mềm mại —tiến về phía nhóm người được tạo thành bởi phu nhân Hatfield, vị quý tộc và Nữ bá tước: và tai chàng đã bắt trọn những từ ngữ ấy—“phải nghe nó gọi tôi là dì—tôi, người sinh ra nó!”

Trong vài khoảnh khắc, chàng đứng bất động—kinh ngạc và chết sững trước những gì vừa nghe thấy:—nhưng rồi, đột ngột lấy lại khả năng vận động và buông xuôi theo những cảm giác khôn tả đang trào dâng trong lồng ngực, chàng lao bật về phía trước—và ôm chầm lấy người mẹ vẫn đang bất tỉnh của mình trong vòng tay, chàng kêu lên: “Ồ! mẹ yêu dấu của con—người mẹ kính yêu, người mẹ tôn kính của con—hãy mở mắt ra—hãy nhìn lấy con đi——”

“Mẹ của thằng bé!” tiểu thư Frances thốt lên, ngập tràn trong sự kinh ngạc và hoàn toàn bất lực, với sự ngây thơ của một thiếu nữ trinh trắng, không thể hình thành nổi dù chỉ là một ý niệm nhỏ nhoi nhất có thể đóng vai trò như manh mối để giải mã bí mật vẫn còn quá đỗi thâm sâu đối với nàng.

“Vâng—Fanny yêu dấu của cha,” Bá tước nói, vội vã kéo con gái sang một bên và cất giọng trầm ấm, nhanh gọn: “Charles thực sự là con trai—chứ không phải là cháu—của ngài Hatfield và phu nhân Georgiana. Nhưng vì những lý do mang tính mệnh lệnh tối cao—những lý do mà con còn quá trẻ để có thể thấu hiểu, và quá mực kín đáo để gặng hỏi——”

“Cha yêu dấu của con, con không mong muốn biết điều gì vượt quá những gì cha vui lòng kể cho con nghe,” thiếu nữ ngắt lời, với một sự quyết đoán vừa đáng yêu lại vừa chu đáo và đầy trấn an: “và hành vi của con từ nay về sau sẽ diễn ra như thể con chưa từng vô tình trở thành nhân chứng chứng kiến cảnh tượng này vậy.”

“Con quả là đứa con gái yêu quý—cục cưng của cha!” vị Bá tước thốt lên đầy phấn khích khi đặt đôi môi lên vương trán thanh khiết và trong trẻo của khuôn mặt kiều diễm đang ngước lên nhìn ông tràn đầy yêu thương.

Đến lúc này phu nhân Hatfield đã tỉnh lại nhờ vào sự chăm sóc ân cần của Esther; và khi ý thức quay trở lại, nàng ôm chầm lấy đứa con trai vào lồng ngực, thỉnh cầu bằng một giọng điệu yếu ớt và đứt quãng: “Giờ thì con đã biết bí mật của mẹ rồi đấy, Charles—một bí mật mà—Nhưng để dịp khác—vào một dịp khác, con sẽ biết tất cả mọi chuyện! Ồ! Charles—mẹ cảm thấy vô vàn hạnh phúc và đồng thời cũng quá đỗi đau buồn—hòa quyện vào nhau một cách kỳ lạ—vào khoảnh khắc này đây——”

“Xin mẹ hãy bình tâm lại, thưa người mẹ—người mẹ kính yêu nhất!” chàng thanh niên thốt lên, những giọt nước mắt tuôn rơi xối xả. “Giờ đây con đã biết rằng mẹ chính là sinh thành ra con—và con chẳng màng phải biết thêm bất cứ điều gì khác nữa! Sẽ không bao giờ—không bao giờ con gặng hỏi mẹ về quá khứ nữa đâu: sự tận hưởng của hiện tại, và niềm hy vọng đang tô điểm cho tương lai—đó là quá đủ đối với con rồi!”

“Đứa con tội nghiệp của mẹ!” phu nhân Hatfield thì thầm, siết chặt chàng vào ngực: “Mẹ cảm thấy như thể một gánh nặng khổng lồ vừa được gỡ bỏ khỏi tâm trí mình—mẹ tựa hồ như đang được nhấp ngụm nguồn nước hạnh phúc tinh khôi hơn bất cứ thứ gì mình từng biết trước đây—Ôi! tại sao trước kia mẹ lại từng ngần ngại không nói cho con biết rằng con chính là đứa con trai dứt ruột sinh ra của mẹ cơ chứ!”

Và một lần nữa nàng lại ôm ghì lấy chàng sát hơn nữa vào lồng ngực, phủ đầy trán và má chàng những nụ hôn; trong khi nước mắt tuôn trào từ đôi mắt của Nữ bá tước và tiểu thư Frances trước khung cảnh cảm động ấy—và vị Bá tước thì quay mặt đi chỗ khác để che giấu những xúc cảm của chính mình.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.