Thuở xưa, đằng sau dãy núi Isphahan, có một thành phố mang tên El-Medeeneh el-Khadra, nơi ngự trị của một vị vua tên là Suleyman. Ngài là một bậc quân vương hào hiệp, nhân từ, công chính và liêm khiết, với bản tính khoan dung và niềm nở. Khách du phương từ khắp bốn bề đổ về cầu kiến, và tiếng tăm của ngài vang dội khắp mọi miền đất nước. Ngài trị vì trong vinh quang và an bình suốt một thời gian dài, ngặt một nỗi là không có vợ lẫn con.
Bên cạnh nhà vua có một vị tể tướng sở hữu phẩm chất gần như tương đồng với ngài, từ sự hào hiệp cho đến những đức tính cao đẹp khác. Một ngày nọ, nhà vua triệu tể tướng vào hầu và cất lời: "Này tể tướng, lòng ta u uất, sức chịu đựng đã cùng đường, và tinh lực hao mòn, bởi ta chẳng có lấy một người vợ hay đứa con. Điều này vốn chẳng giống với thông lệ của các bậc đế vương cai trị muôn dân, vì họ luôn vui mừng khi để lại nối dõi và nhân rộng hàng cháu con. Hơn nữa, Nhà Tiên Tri (cầu Chúa phù hộ và ban bình an cho Người!) từng dạy rằng: 'Hãy kết hôn và sinh dưỡng để nòi giống các ngươi được hưng thịnh, bởi ta sẽ lấy số đông của các ngươi để tranh đua với các dân tộc khác vào Ngày Phục Sinh.' Vậy theo ngươi, ta nên tính sao, hỡi tể tướng? Hãy chỉ cho ta đường đi nước bước hợp lẽ." Nghe những lời ấy, nước mắt tể tướng giàn giụa, ông đáp: "Xin chúa tể thời đại hãy thứ lỗi, nào dám để tôi bàn đến chuyện thuộc về quyết định của Đấng Từ Bi! Ngài muốn tôi phải rơi xuống ngọn lửa Địa Ngục vì cơn thịnh nộ của Vị Vua Toàn Năng hay sao?" Nhà vua liền đáp: "Hỡi tể tướng, hãy hiểu cho điều này: nếu một vị vua mua một nữ nô mang thân phận và dòng dõi vô danh, ngài sẽ chẳng thể biết rõ nguồn gốc ti tiện của ả để mà lánh xa, hay gia thế cao quý của ả để mà sủng ái. Cứ cho là ngài làm vậy đi, biết đâu ả sẽ sinh ra một đứa con phản trắc, bạo tàn, kẻ chuyên đổ máu; và ả cũng chẳng khác nào vùng đất đầm lầy cằn cỗi, sinh hoa kết trái vô tích sự, chẳng đạt được chút phẩm chất tốt đẹp nào. Đứa con ấy rất có thể sẽ chuốc lấy sự phẫn nộ từ Chúa tể của mình, chẳng màng làm theo lệnh Ngài hay kiêng cữ điều Ngài cấm đoán. Do đó, ta tuyệt đối không bao giờ tạo ra cơ sự ấy bằng cách mua một nữ nô. Trái lại, ta muốn ngươi hãy cầu hôn giúp ta một trong những nàng công chúa có dòng dõi rành mạch và nhan sắc lừng danh. Nếu ngươi tìm được một tiểu thư dòng dõi tôn quý và đạo đức trong số các vương nữ theo đạo Hồi, ta sẽ hỏi nàng làm vợ và cử hành hôn lễ trước sự chứng kiến của các nhân chứng, ngầu hầu thu phục lòng mặn mà từ Chúa tể muôn loài." Tể tướng tâu: "Quả thật Thượng Đế đã toại nguyện cho ngài và ban cho ngài điều ước." Nhà vua hỏi: "Bằng cách nào?" Tể tướng đáp: "Thâu tóm lại, hỡi bệ hạ, tôi được biết rằng vua Zahr Shah, quân vương xứ El-Ard el-Beyda, có một cô con gái sắc nước hương trời, ngôn từ không sao tả xiết, người đời nay không ai bì kịp. Nàng sở hữu vẻ đẹp và sự cân đối hoàn hảo, đôi mắt đen láy, mái tóc dài, vòng eo thon thả cùng phần hông nở nang; khi nàng bước đến thì làm say đắm lòng người, lúc quay lưng lại thì giết chết tâm trí, cướp đi trái tim và ánh nhìn. Theo ý kiến của tôi, bệ hạ nên phái đến chỗ thân phụ nàng một sứ thần thông minh, uyên bác và từng trải sự đời, để nhã ý cầu hôn nàng với vua cha; bởi nàng vốn chẳng có đối thủ ở cả chốn xa xôi lẫn chốn gần kề. Nhờ vậy, ngài sẽ được ngắm nhìn dung nhan kiều diễm ấy, và Vị Vua Vinh Quang sẽ tán thành hành động của ngài, hệt như lời dạy của Nhà Tiên Tri (cầu Chúa phù hộ và ban bình an cho Người!): 'Không có chế độ tu viện trong đạo Hồi.'"
Nghe thế, nhà vua khôn xiết vui mừng, lồng ngực phơi phới hân hoan, mọi lo âu phiền muộn đều tan biến. Ngài quay sang bảo tể tướng: "Này tể tướng, không ai khác ngoài ngươi có thể gánh vác sứ mệnh này, bởi ngươi vốn nổi danh khôn ngoan và lịch thiệp. Vậy hãy lui về phủ, sắp xếp công việc đâu vào đấy, chuẩn bị sẵn sàng vào ngày mai để hỏi cưới giai nhân đã khiến tim ta thổn thức, và đừng trở về nếu thiếu bóng nàng." Tể tướng cung kính đáp: "Tôi xin tuân lệnh." Ông liền trở về phủ, ra lệnh chuẩn bị những lễ vật xứng tầm vương giả gồm châu báu đắt tiền, trân phẩm quý hiếm gọn nhẹ mà giá trị cao, cùng tuấn mã Ả Rập, áo giáp thời vua Đa-vít, và những tráp vàng bạc giàu sang ngôn từ không tả nổi. Tất cả được chất lên lưng la và lạc đà. Tể tướng lên đường, tháp tùng theo là một trăm nam nô dòng mamluuk, một trăm nam nô da đen và một trăm nữ nô, với cờ xí tung bay phấp phới trên đầu. Nhà vua dặn ông phải chóng quay về; và sau khi tể tướng đi rồi, vua Suleyman Shah ngày đêm bứt rứt vì khao khát, tâm trí chìm đắm trong tình yêu dành cho nàng công chúa. Trong khi ấy, tể tướng ngày đêm băng qua những hoang mạc và bãi tha ma. Khi khoảng cách giữa đoàn của ông với thành phố đích đến chỉ còn một ngày đàng, ông hạ trại bên bờ sông, triệu một viên quan cao cấp đến và ra lệnh phi nhanh đến yết kiến vua Zahr Shah để báo tin đoàn sắp tới. Viên quan tuân lệnh, phóng nhanh vào thành. Lúc bấy giờ, vua Zahr Shah đang ngự tại một nơi giải trí trước cổng thành, trông thấy người lạ tiến vào liền nhận ra đó là khách phương xa và triệu vào hầu. Khi sứ thần đến nơi, ông tâu về sự hiện diện của vị tể tướng đại diện cho tối cao vương thượng Suleyman Shah, vua xứ El-Ard el-Khadra và miền núi Isphahan. Vua Zahr Shah khôn xiết vui mừng, chào đón sứ thần, dẫn ngài vào cung và hỏi: "Ngươi chia tay tể tướng ở đâu?" Sứ thần đáp: "Tôi từ biệt ngài vào lúc sáng sớm bên bờ con sông nọ, và ngày mai ngài sẽ đến yết kiến bệ hạ; cầu Chúa tiếp tục ban ơn cho ngài và thương xót song thân của bệ hạ!" Zahr Shah liền ra lệnh cho một vị tể tướng đi cùng đại đa số các đại thần, quan thị vệ, quan chức và các bậc quý tộc trong triều ra nghênh đón nhằm tỏ lòng tôn kính đối với vua Suleyman Shah, vì uy quyền của ngài trải rộng khắp xứ sở.
Lúc bấy giờ, tể tướng của vua Suleyman Shah vẫn dừng chân tại nơi hạ trại cho đến nửa đêm, rồi mới tiếp tục hành trình về phía thành phố. Khi ánh bình minh ló dạng, rọi những tia nắng lên đồi trọc lẫn thung lũng, vị tể tướng của vua Zahr Shah cùng các thị vệ, quý tộc và đại thần trong vương quốc bất ngờ tiếp cận và nhập đoàn với ông từ khoảng cách vài dặm ngoài thành phố. Vua tể tướng của Suleyman Shah vô cùng chắc chắn về sự thành công của sứ mệnh, bèn gửi lời chào đến những người ra đón. Họ đi tiên phong dẫn đường cho ông thẳng tiến đến cung điện hoàng gia, bước qua cánh cổng của tiền sảnh thứ bảy. Đây là nơi quy định không ai được phép cưỡi ngựa đi qua vì nó nằm sát cung điện; thế nên tể tướng đã xuống ngựa tại đây và đi bộ cho đến khi tới một gian phòng khách uy nghi. Ở đầu phía trên của gian phòng đặt một chiếc sả cẩn ngọc trai và châu báu, với bốn chân làm bằng ngà voi; bên trên trải nệm bọc lụa sa tanh xanh thêu chỉ vàng đỏ, che phủ bằng một tấm lọng trang hoàng ngọc ngà châu báu. Ngự trên chiếc sả ấy là vua Zahr Shah, xung quanh là các bậc quý tộc triều thần đứng hầu. Khi tể tướng bước vào tiến đến trước mặt nhà vua, ông giữ vững tâm trí, cất cao giọng nói uy uyển của bậc tể tướng, thốt lên những lời lẽ hùng biện, cung kính chào mừng nhà vua bằng một loạt các vần thơ chúc tụng. Dứt lời, nhà vua liền mời ông tiến lại gần, đối đãi bằng sự tôn trọng cao nhất, xếp chỗ cho ông ngồi cạnh mình, mỉm cười và ban cho những lời đáp từ ân cần. Sau đó, các hầu cận dọn bàn tiệc ra gian phòng ấy, tất cả ăn uống cho đến khi no nê thì dọn dẹp đi, và mọi người lui ra ngoài, ngoại trừ các quan chức cấp cao. Khi tể tướng thấy hội trường đã vắng bóng người ngoài, ông đứng dậy, cúi rạp sát đất trước mặt nhà vua và tâu: "Hỡi đại vương và vị quân vương kính mến, tôi đến yết kiến ngài vì một việc mang lại hòa bình, thịnh vượng và hạnh phúc cho ngài, cụ thể như sau: tôi đến đây với tư cách là sứ thần để thay mặt nhà vua Suleyman Shah—bậc quân vương nổi danh công chính, liêm khiết, nhân từ, hào hiệp, người cai trị xứ El-Ard el-Khadra và miền núi Isphahan—hỏi cưới ái nữ danh giá và thuộc dòng dõi tôn quý của ngài. Ngài ấy đã gửi đến ngài vô số lễ vật cùng trân phẩm quý hiếm vì mong muốn kết thân. Vậy bệ hạ có ưng thuận điều này chăng?" Nói xong, ông đứng im lặng chờ đợi câu trả lời. Nghe những lời ấy, vua Zahr Shah đứng phắt dậy, khiêm nhường cúi rạp người xuống đất; những kẻ có mặt đều ngạc nhiên và sửng sốt trước thái độ nhún nhường của nhà vua đối với vị sứ thần. Nhà vua cất lời ca ngợi Đấng Tối Cao sở hữu vinh quang và danh dự, và vẫn đứng đó tuyên bố: "Hỡi vị tể tướng cao quý và bậc hiền triết lừng lẫy, hãy nghe ta nói đây: đối với vua Suleyman Shah, chúng ta chỉ là bần dân và sẽ lấy làm vinh hạnh được làm thông gia với ngài. Chúng ta vô cùng khát khao mối lương duyn này, và con gái ta chính là một nữ tì của ngài ấy. Đây là tâm nguyện lớn nhất của đời ta, mong rằng ngài ấy sẽ là chỗ dựa và niềm tin vững chắc cho ta." Nhà vua liền triệu tập các vị Kadi và các nhân chứng đến. Họ làm chứng rằng vua Suleyman Shah đã ủy quyền cho tể tướng làm đại diện để ký kết hôn ước, và vua Zahr Shah hoan hỉ đại diện cho con gái mình thực hiện nghi thức. Thế là các vị Kadi hoàn tất hợp đồng hôn ước, cất lời cầu nguyện cho hạnh phúc và thịnh vượng của cả hai bên. Ngay sau đó, tể tướng đứng dậy, cho bày biện những lễ vật, trân phẩm quý hiếm cùng toàn bộ quà cáp mang theo dâng lên vua Zahr Shah.

Nhà vua liền bận rộn chuẩn bị của hồi môn cho con gái và thiết yến thết đãi tể tướng một cách trọng thị. Ngài ban yến tiệc cho cả tầng lớp quý tộc lẫn dân nghèo, kéo dài lễ hội suốt hai tháng trời mà không bỏ sót bất cứ điều gì có thể làm thỏa lòng người xem. Khi mọi tư trang cần thiết cho cô dâu đã hoàn tất, nhà vua hạ lệnh dựng lều trại bên ngoài thành phố. Họ đóng gói đồ đạc vào rương tráp, chuẩn bị sẵn sàng cho các nữ nô người Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ. Nhà vua ban cho cô dâu những báu vật quý giá cùng trang sức đắt tiền, đồng thời làm riêng cho nàng một cỗ kiệu bằng vàng ròng khảm ngọc ngà châu báu, bố trí mười con la phục vụ cho chuyến hành trình. Cỗ kiệu trông tựa như một căn phòng riêng tư, còn người ngồi bên trong thì đẹp chẳng khác nào một nàng Hư-ri tuyệt sắc, chiếc lọng che rợp bóng hệt như một lầu son gác tía nơi thiên đàng. Mọi bảo vật và tài sản được cất vào tráp, chất lên lưng la và lạc đà. Vua Zahr Shah tiễn đưa họ một đoạn đường dài ba dặm, rồi từ biệt con gái, tể tướng cùng đoàn hầu cận để trở về cung trong niềm vui và an bình.
Vị tể tướng tiếp tục hành trình cùng ái nữ của nhà vua, ngày đêm vượt qua bao hoang mạc và dặm đường với lòng mẫn cán, cho đến khi khoảng cách giữa họ và quê nhà chỉ còn ba ngày đường. Lúc bấy giờ, ông cử một sứ giả đi trước tâu báo với vua Suleyman Shah về sự cận kề của cô dâu. Sứ giả phi nước đại cho đến khi diện kiến nhà vua, báo tin cô dâu đang đến gần. Nhà vua khôn xiết vui mừng, ban cho sứ giả một chiếc áo choàng danh dự, đồng thời ra lệnh cho quân lính rầm rộ kéo ra nghênh đón cô dâu cùng đoàn tùy tùng với tất cả sự kính trọng, yêu cầu họ trang hoàng lộng lẫy nhất và giương cao cờ xí. Mọi người tuân lệnh; một vị thông truyền lớn tiếng loan báo khắp thành phố rằng không một người phụ nữ che lụa hay phu nhân quyền quý hay mụ già tà lọt nào được phép vắng mặt trong buổi lễ nghênh đón cô dâu. Thế là tất cả đều đổ xô ra đón nàng, và những người có chức sắc tháp tùng bên cạnh để phục vụ nàng. Họ thống nhất sẽ đưa nàng vào cung điện của nhà vua vào lúc tối trời, và các quan chức triều đình đồng lòng trang hoàng đường phố, đứng tề tựu hai bên đường khi cô dâu đi qua với đội ngũ hoạn quan và nữ nô đi trước, bản thân nàng thì khoác bộ y phục do chính phụ thân ban tặng. Khi nàng tiến đến, đoàn quân tề tựu hai bên bao bọc lấy nàng, cỗ kiệu tiến sâu vào khuôn viên cung điện. Không một ai là không đổ xô ra chiêm ngưỡng: trống chiêng rền vang, giáo mác khua động, kèn thổi rộn ràng, hương thơm ngào ngạt lan tỏa khắp chốn, cờ xí phấp phới, tuấn mã đua tranh cho đến khi đến được cổng cung điện. Tại đây, các thị đồng đẩy cỗ kiệu tiến thẳng vào cửa Harem. Cung điện bỗng chùng bừng sáng rực rỡ, những bức tường ngập tràn hào quang của các họa tiết trang trí. Vào ban đêm, đám hoạn quan mở tung cánh cửa phòng trong, đứng hầu quanh lối ra vào chính. Cô dâu bước ra giữa bầy nữ nô, tựa như vầng trăng giữa muôn tinh tú, hay hạt ngọc sáng nhất chuỗi trân châu. Nàng bước vào căn phòng nơi người ta đã đặt sẵn chiếc sả bằng ngọc thạch anh cẩn trân châu và châu báu. Nàng an tọa trên đó, và nhà vua bước vào thăm. Chúa Trời đã thổi bùng ngọn lửa tình yêu dành cho nàng vào tâm khát của ngài, khiến mọi ưu tư phiền muộn đều tan biến.
Ngài ở bên nàng khoảng một tháng, rồi sau đó bước ra ngự triều trên ngai vàng để xét xử phân minh cho muôn dân. Sáng sớm ngày thứ nhất sau khi tròn chín tháng mười ngày, hoàng hậu sinh hạ một hoàng tử có tướng mạo khôi ngô tuấn tú. Khi hay tin, nhà vua khôn xiết vui mừng, ban thưởng hậu hĩnh cho kẻ mang tin vui. Trong cơn hân hoan, ngài tiến đến bên đứa trẻ, hôn lên trán giữa hai hàng lông mày, ngỡ ngàng trước vẻ đẹp tuyệt trần của tiểu hoàng tử. Các bà mụ bế lấy cậu, dùng phấn kohl viền đen mí mắt, và đặt tên cho cậu là Taj-el-Mulook Kharan. Cậu lớn lên trong bầu sữa của sự nuông chiều, được dưỡng dục giữa lòng thịnh vượng. Ngày tháng thoi đưa cho đến khi cậu tròn bảy tuổi, nhà vua Suleyman Shah bèn triệu tập các bậc thức giả, học giả, ra lệnh cho họ dạy con trai mình chữ viết cùng khoa học và văn chương lịch thiệp. Họ tiếp tục truyền dạy trong nhiều năm cho đến khi cậu thấu đáo mọi điều cần thiết. Khi cậu đã thông làu những gì nhà vua kỳ vọng, ngài liền đón con về khỏi các thầy dạy, và thuê riêng một võ sư dạy cậu nghệ thuật cưỡi ngựa cho đến khi cậu tròn mười bốn tuổi. Mỗi khi thiếu niên này xuất thành giải quyết việc gì, bất kỳ ai trông thấy cũng đều say đắm trước nhan sắc của cậu, đến mức họ làm thơ ca ngợi cậu; ngay cả những phụ nữ đoan trang cũng không thắng được tình yêu dành cho cậu bởi vẻ đẹp ngoại hạng mà Chúa ban tặng. Đến năm mươi tám tuổi, một lớp tơ mỏng bắt đầu xuất hiện quanh nốt ruồi trên má hồng của cậu, trong khi một nốt ruồi khác tựa giọt long diên hương lại càng tô điểm thêm cho nét quyến rũ ấy. Cậu làm xiêu lòng bao tâm hồn và ánh nhìn của những ai đối diện. Vẻ tuấn tú ngời ngời tăng dần theo tuổi trưởng thành. Cậu có vô số bạn bè tri kỷ, và bất kỳ ai được tiếp cận cậu đều khát khao sao cho Taj-el-Mulook sẽ kế vị Sultan sau khi vua cha băng hà, để chính họ trở thành những vị Emir dưới quyền.
Lúc bấy giờ, Taj-el-Mulook đâm ra nghiện săn bắn và không chịu rời bỏ sở thích ấy dù chỉ một khắc. Vua cha nhiều lần ngăn cản vì lo sợ cậu gặp nguy hiểm giữa hoang mạc và thú dữ, nhưng cậu nào nghe lời cảnh báo. Một ngày nọ, cậu ra lệnh cho đám gia nhân: "Hãy mang theo lương thực đủ dùng trong mười ngày." Họ tuân lệnh. Khi cậu cùng đoàn tùy tùng khởi hành đi săn, họ tiến sâu vào hoang mạc, rong ruổi suốt bốn ngày cho đến khi lọt vào một vùng đất xanh tươi rờn, nơi muông thú tung tăng khắp chốn, cây trái sum suê trĩu quả cùng những dòng suối phun trào róc rách. Cậu liền bảo đoàn tùy tùng: "Hãy giăng lưới ở đây, mở rộng vòng vây, và điểm hẹn của chúng ta sẽ là bìa ngoài của vòng vây tại góc độ kia." Họ tuân thủ mệnh lệnh, giăng lưới và mở rộng vòng vây. Chẳng mấy chốc, vô số loài thú rừng và linh dương bị lùa vào tròng đông đúc đến mức chúng cất tiếng kêu hoảng sợ, lao cả vào mặt ngựa để tìm đường tẩu thoát. Cậu bèn thả chó săn, báo gác và chim ưng đuổi theo chúng, đồng thời giương cung bắn hạ những con thú vào chỗ chí mạng. Đoàn người tiến đến tận cùng vòng vây mà đã thu được số lượng thú rừng khổng lồ, phần còn lại đều tháo thân chạy trốn. Taj-el-Mulook bèn hạ trại bên bờ suối, ra lệnh mang chiến lợi phẩm đến để phân chia. Ngài dâng những con thú thượng hạng cho vua cha Suleyman Shah và cử người áp tải về cung, phần còn lại phân phát cho các quan lại triều đình.





Họ nghỉ đêm tại địa điểm đó. Sáng hôm sau, một đoàn lữ hành lớn bao gồm nô lệ da đen, gia nhân và thương nhân tiến đến. Đoàn lữ hành dừng chân bên bờ suối và vùng đất xanh tươi. Khi Taj-el-Mulook trông thấy họ, ngài bảo một cận vệ: "Hãy đi dò la tin tức về nhóm người này và hỏi xem cớ gì họ lại dừng chân tại đây." Sứ giả tiến lại gần và cất tiếng: "Hãy cho chúng tôi biết các ngươi là ai và đáp lời cho nhanh." Họ đáp: "Chúng tôi là thương nhân, dừng chân ở đây để nghỉ ngơi vì trạm dừng tiếp theo còn ở xa; sở dĩ chúng tôi đồn trú tại chốn này là vì được tận hưởng sự bình yên dưới sự bảo bọc của vua Suleyman Shah cùng hoàng tử, bởi chúng tôi thừa biết bất kỳ ai đặt chân lên lãnh thổ của ngài đều được an toàn và hạnh phúc; hơn nữa, chúng tôi có mang theo một vài trân phẩm quý giá dành riêng cho hoàng tử Taj-el-Mulook." Sứ giả lập tức quay về bẩm báo lại mọi chuyện với hoàng tử. Nghe vậy, hoàng tử bảo: "Nếu họ có mang theo báu vật dâng lên ta, ta sẽ không vào thành hay rời khỏi đây cho đến khi chúng được bày biện trước mặt ta." Ngài liền lên ngựa, dẫn theo đám mamluuk tiến lại gần đoàn lữ hành. Các thương nhân đứng dậy chào đón, cầu xin ơn phước từ Thiên Chúa ban cho ngài và chúc vinh quang cùng phẩm hạnh của ngài trường tồn. Một chiếc lều bằng lụa sa tanh màu đỏ thêu ngọc ngà châu báu được dựng lên cho ngài, người ta trải thảm hoàng gia lên trên lớp thảm lụa, phía đầu thảm nạm ngọc lục bảo. Taj-el-Mulook an tọa, đám mamluuk đứng hầu xung quanh, rồi ngài phái người truyền lệnh cho thương nhân mang tất cả hàng hóa ra mắt. Họ mang hàng hóa đến trưng bày trước mặt ngài. Cậu chọn lấy những món vừa ý và trả đủ tiền cho họ.
Sau đó, ngài lên ngựa định rời đi; nhưng khi liếc nhìn đoàn lữ hành, ngài bỗng thấy một thanh niên khôi ngôi, diện trang phục tinh tề, dáng người tao nhã với vầng trán sáng ngời và gương mặt tuấn tú. Chỉ tiếc là nét đẹp ấy đã phai tàn, sắc diện nhợt nhạt vì nỗi đau thương tích tụ do chia lìa người thương. Tiếng rên rỉ và than khóc của chàng vang lên não nề, nước mắt đầm đìa, miệng ngâm nga những câu thơ:
Cuộc chia ly kéo dài đằng đẵng, nỗi sợ hãi và ưu tư chồng chất, hỡi người bạn ơi, lệ từ mắt tôi vẫn tuôn rơi.
Tôi đã từ biệt trái tim mình vào ngày phân ly, để giờ đây cô độc, chẳng còn trái tim cũng chẳng còn hy vọng.
Hỡi người bạn, hãy dừng lại cùng tôi để tôi tiễn biệt người mà giọng nói có thể chữa lành mọi bệnh tật và khổ đau.
Ngâm xong, chàng khóc nức nở rồi ngất lịm đi. Taj-el-Mulook đứng nhìn đầy ngỡ ngàng trước cơ sự ấy. Khi chàng tỉnh lại, ánh mắt trân trân đầy kiên định, rồi lại tiếp tục ngâm thơ với câu mở đầu:



Hãy dè chừng ánh mắt nàng; bởi nó mang phép thôi miên, và không ai lọt vào tầm ngắm mà có thể thoát nạn.
Chàng cất tiếng thở dài sườn sượt rồi lại ngất lịm lần thứ hai. Thấy vậy, Taj-el-Mulook vô cùng bối rối bèn bước tới gần. Ngay khi thanh niên ấy tỉnh lại và thấy hoàng tử đang đứng đầu giường, chàng vội chồm dậy, cúi rạp sát đất chào. Taj-el-Mulook liền hỏi: "Sao ngươi không mang hàng hóa ra trưng bày trước mặt bọn ta?" Chàng đáp: "Hỡi chúa công, hàng hóa của thần chẳng có món nào xứng tầm với uy danh của ngài." Nhưng hoàng tử cương quyết: "Ngươi bắt buộc phải cho ta xem những gì ngươi có, và kể cho ta nghe hoàn cảnh của mình; bởi ta thấy mắt ngươi đẫm lệ, lòng ngươi tang thương. Nếu ngươi bị áp bức, ta sẽ dẹp bỏ sự áp bức ấy; nếu ngươi nợ nần, ta sẽ trả hết nợ thay ngươi; vì tâm can ta đã thổn thức vì ngươi từ khoảnh khắc đầu tiên ta trông thấy."
Taj-el-Mulook liền ra lệnh bày ghế. Người ta mang đến một chiếc ghế bằng ngà voi và gỗ mun chạm trổ hoa văn lưới vàng lụa là, trải thêm thảm lụa bên dưới. Taj-el-Mulook an tọa trên ghế, ra lệnh cho chàng thanh niên ngồi lên thảm và bảo: "Hãy trưng bày hàng hóa của ngươi ra cho ta xem." Thanh niên khẩn khoản: "Hỡi chúa công, xin đừng nhắc đến nó, vì hàng hóa của thần không xứng với ngài." Nhưng Taj-el-Mulook gạt đi: "Ta bắt buộc phải xem!" rồi ra lệnh cho đám thị đồng mang ra bằng được. Bất chấp sự kháng cự của chàng trai, họ vẫn mang hàng hóa tới. Khi nhìn thấy chúng, nước mắt chàng lại tuôn trào, khóc nức nở, thở dài não nề, tiếng rên phát ra từ cổ họng. Sau khi ngâm thêm vài câu thơ, chàng mở bọc hàng, trưng bày trước mặt Taj-el-Mulook từng phần từng miếng một, rồi rút ra từ đó một chiếc áo choàng sa tanh dệt chỉ vàng trị giá tới hai nghìn đồng tiền vàng. Khi mở nó ra, một mảnh vải lanh từ giữa nếp áo rơi xuống. Chàng thanh niên vội vã chộp lấy, nhét giấu xuống dưới người, tâm thần bấn loạn và thốt lên:
Đến bao giờ trái tim bị hành hạ này mới được nàng chữa lành? Cụm sao Tua Rua còn ở gần tôi hơn là em!
Taj-el-Mulook hết sức kinh ngạc trước những lời nói đó mà không hiểu nguyên do. Khi thấy chàng thanh niên giấu mảnh vải lanh xuống dưới người, ngài liền hỏi: "Mảnh vải lanh gì thế kia?" Chàng đáp: "Hỡi chúa công, ngài chẳng có liên quan gì đến nó đâu." Hoàng tử gặng hỏi: "Hãy cho ta xem." — "Hỡi chúa công," chàng đáp, "thần che giấu hàng hóa chẳng qua chỉ vì món này, bởi thần không thể cho ngài xem nó được." Nhưng Taj-el-Mulook kiên quyết: "Ta bắt buộc phải thấy!" Ngài gặng hỏi rồi đâm ra bực bội. Chàng đành lấy nó ra từ dưới đầu gối, vừa khóc lóc, thở dài não nề vừa than van khôn xiết. Thấy thế, Taj-el-Mulook bảo: "Ta thấy hành vi của ngươi có điều bất ổn; hãy kể cho ta nghe nguyên nhân khiến ngươi khóc lóc khi nhìn thấy mảnh vải lanh này." Nghe nhắc đến mảnh vải lanh, chàng thở dài thườn thượt và tâu: "Hỡi chúa công, câu chuyện của thần vô cùng kỳ diệu, và hoàn cảnh của thần đối với mảnh vải lanh này, cũng như đối với người sở hữu nó—người đã thiết kế ra những hình thêu và biểu tượng này—thực sự kỳ lạ." Đoạn, chàng mở mảnh vải lanh ra, kìa, trên đó có hình một con linh dương được thêu bằng chỉ lụa và kim tuyến đỏ, đối diện là hình một con linh dương khác thêu bằng bạc, trên cổ đeo một chiếc vòng vàng ròng gắn ba hạt xá-cầu bằng ngọc chrysolite. Khi Taj-el-Mulook trông thấy và nhận ra sự tinh xảo trong từng đường nét, ngài thốt lên: "Ngợi ca sự hoàn hảo của Chúa Trời, Đấng đã dạy cho con người những điều họ không biết!" Tâm trí ngài chìm đắm trong khao khát được lắng nghe câu chuyện của chàng trai trẻ, bèn cất lời: "Hãy kể cho ta nghe câu chuyện của ngươi và của người sở hữu những con linh dương này." Chàng thanh niên tâu:
Hỡi chúa công, xin hãy biết rằng phụ thân thần là một đại thương gia, và ngài chỉ có một mình thần là con. Thần có một người chị họ (con của bác ruột) lớn lên cùng nhau trong nhà, bởi phụ thân nàng đã qua đời, và trước khi mất, bác đã thỏa thuận với phụ thân thần rằng sẽ gả nàng cho thần. Thế nên, khi thần đến tuổi trưởng thành và nàng đến tuổi cập kê, hai bên gia đình không hề ngăn cấm chúng thần. Phụ thân thần từng bảo mẫu thân rằng: 'Năm nay chúng ta sẽ cử hành hôn lễ cho Aziz và Azeezeh.' Sau khi thống nhất với mẫu thân, ngài bắt đầu chuẩn bị sính lễ cho yến tiệc.
Mọi việc diễn ra khi thần và người chị họ vẫn sống chung một nhà mà chẳng hề có chút câu nệ nào, và nàng vốn là người thông minh, hiểu biết hơn thần. Khi phụ thân đã chuẩn bị đâu vào đấy cho ngày hội, chẳng còn gì ngoài việc cử hành hôn ước và ngày thành hôn của chúng thần, ngài định sự sẽ làm lễ ngay sau buổi cầu nguyện ngày thứ Sáu. Ngài đi gặp gỡ bạn bè là giới thương nhân cùng những người khác để thông báo ý định, còn mẫu thân thì đi mời bạn bè và họ hàng nhà gái. Đến ngày thứ Sáu, người ta dọn dẹp sạch sẽ sảnh đường dành cho khách, cọ rửa sàn cẩm thạch, trải thảm khắp nhà và trang hoàng tường bằng những tấm vải dệt kim tuyến đúng theo yêu cầu, bởi mọi người đã hẹn sẽ đến chúc gia đình chúng thần sau buổi lễ. Phụ thân đi đặt làm các loại bánh kẹo và mứt đường, mọi thứ đã sẵn sàng chẳng thiếu thứ gì. Mẫu thân phái thần đến nhà tắm công cộng và cử người mang theo một bộ y phục hoàn toàn mới thuộc loại thượng hạng. Khi bước ra khỏi nhà tắm, thần khoác lên mình bộ cánh lộng lẫy ngát hương thơm, mùi hương lan tỏa khắp nẻo đường.
Thần vốn định đi thẳng đến nhà thờ Hồi giáo, nhưng chợt nhớ ra một người bạn nên quay lại tìm để mời dự lễ đính hôn, bụng bảo dạ: 'Ta sẽ tạt qua việc này cho đến sát giờ cầu nguyện.' Thần rẽ vào một con hẻm nhỏ chưa từng đặt chân tới. Mồ hôi túa ra vì hiệu ứng của nhà tắm và bộ y phục mới, hơi ẩm đọng lại trong khi hương thơm ngào ngạt tỏa ra. Thần liền ngồi xuống một chiếc mastaba ở đầu hẻm để nghỉ chân, trải chiếc khăn tay thêu mang theo ra lót bên dưới. Trời oi bức khiến trán thần đẫm mồ hôi chảy ròng ròng trên mặt, nhưng thần chẳng thể dùng khăn tay lau đi vì nó đang lót dưới chỗ ngồi. Thần định vén vạt áo farajiyh lên để lau má, thì thình lình một chiếc khăn tay trắng rơi xuống người từ trên cao. Chiếc khăn ấy sờ vào mịn màng hơn cả ngọn gió xuân, và nhìn vào còn dễ chịu hơn cả sự chữa lành cho người bệnh. Thần cầm nó lên tay, ngước đầu nhìn lên nơi nó rơi xuống, và bắt gặp ánh mắt của người nữ nhân chủ nhân của những con linh dương kia. Nàng đang ghé nhìn ra từ khung cửa chớp bằng đồng. Chưa bao giờ mắt thần thấy được ai xinh đẹp nhường ấy, nhan sắc nàng lộng lẫy đến mức ngôn từ không sao tả xiết. Khi thấy thần ngẩng lên nhìn, nàng liền đưa ngón tay lên miệng, rồi chụm ngón giữa và ngón trỏ lại đặt lên ngực, đoạn rụt đầu vào trong, khép cửa chớp lại rồi khuất dạng. Một ngọn lửa bỗng chốc phóng thẳng vào tim thần và bừng cháy dữ dội; cảnh tượng ấy rút ra từ ngực thần ngàn tiếng thở dài và khiến thần bối rối khôn cùng, bởi chẳng nghe nàng thốt một lời nào và cũng chẳng hiểu cử chỉ ấy có ý nghĩa gì. Thần ngước nhìn lại ô cửa sổ lần nữa nhưng thấy nó đã đóng kín. Thần ngồi đợi đến tận hoàng hôn nhưng chẳng nghe âm thanh hay bóng dáng ai, đành tuyệt vọng đứng dậy, cầm theo chiếc khăn tay rồi bước đi. Khi mở chiếc khăn ra, hương xạ hương ngào ngạt tỏa ra khiến thần sảng khoái hệt như đang ở thiên đàng. Thần trải nó ra trước mặt, một mảnh giấy mỏng manh từ trong rơi xuống. Mở ra, thần thấy nó thấm đẫm hương thơm tinh tế với những vần thơ được đề trên đó:
Tôi gửi thư than thở nỗi niềm đam mê bằng nét chữ thanh mảnh (vì nét chữ vốn đa dạng);
Người yêu liền hỏi: 'Sao chữ em lại mảnh mai nhỏ xíu, khó lòng đọc nổi?'
Tôi đáp: 'Bởi thân xác em đã tiều tụy héo mòn; nét chữ của kẻ lơ đãng vốn dĩ phải thế.'
Sau đó, thần liếc nhìn vẻ đẹp của chiếc khăn tay và thấy một câu thơ tình thêu dọc một đường viền, và một câu thơ khác tương tự ở đường viền bên kia.
Khi đọc được những vần thơ ấy trên khăn tay, ngọn lửa bùng cháy trong tim, khao khát và bối rối của thần càng tăng gấp bội. Thần cầm khăn và thư trở về nhà, hoàn toàn mù tịt về cách thức đạt được điều mình muốn lẫn phương hướng giải quyết mối tình này. Khi về đến nhà thì trời đã khuya khoắt. Thần thấy người chị họ đang ngồi khóc rấm rức. Thấy thần về, nàng vội lau nước mắt, bước lại cởi áo khoác ngoài cho thần và gặng hỏi lý do đi vắng. Nàng cho biết toàn thể khách khứa, các vị emir, vương tôn đại thần, thương nhân và nhiều người khác đã tề tựu đông đủ trong nhà, Kadi và nhân chứng cũng đã đến, họ đã ăn uống và ngồi chờ đợi mòn mỏi sự hiện diện của thần để cử hành hôn lễ. Khi tuyệt vọng chờ đợi, họ đành giải tán ra về. Nàng nghẹn ngào: 'Phụ thân vô cùng thịnh nộ vì chuyện này, ngài thề sẽ hoãn đám cưới của chúng ta sang tận năm sau vì đã tốn kém một khoản tiền lớn cho yến tiệc. Chuyện quái quỷ gì đã xảy ra với anh hôm nay mà lại về muộn thế này để rồi gây ra nông nỗi ấy?'

Thần đáp: 'Mọi chuyện xảy ra thế này thế nọ...' rồi kể cho nàng nghe toàn bộ câu chuyện về chiếc khăn tay từ đầu đến cuối. Nàng cầm lấy bức thư và chiếc khăn, đọc những dòng chữ trên đó, nước mắt đầm đìa gò má. Nàng gặng hỏi: 'Nàng ta nói gì với anh, và ra hiệu những gì?' Thần đáp: 'Nàng chẳng thốt một lời, chỉ đưa ngón tay lên miệng, rồi chụm ngón giữa và ngón trỏ đặt lên ngực, chỉ tay xuống đất, đoạn rụt đầu lại đóng cửa chớp và chẳng thấy xuất hiện nữa. Nàng đã cướp mất trái tim anh, còn anh thì ngồi ngóng chờ đến tận hoàng hôn với hy vọng nàng ngó ra lần nữa nhưng vô vọng. Khi tuyệt vọng, anh đành rời đi. Đó là câu chuyện của anh, xin hãy cứu giúp anh khỏi rắc rối này.' Nghe vậy, người chị họ ngước nhìn thần và bảo: 'Hỡi con chú, nếu anh cần con mắt của em, em cũng sẵn sàng móc ra từ hốc mắt cho anh; em sẽ giúp anh đạt được tâm nguyện, và cũng giúp nàng ta nữa, bởi nàng ấy cũng đang chết ngập trong tình yêu với anh hệt như anh vậy.' — 'Vậy ý nghĩa của những cử chỉ nàng ấy là gì?' thần hỏi. Nàng giải thích: 'Việc nàng đưa ngón tay lên miệng ngụ ý rằng trong tâm trí nàng, anh quý giá như linh hồn trong thể xác, và nàng đang khao khát được hợp nhất với anh. Còn chiếc khăn tay là tín hiệu chào mừng của người tình gửi đến người thương. Mức thư biểu thị linh hồn nàng đã bị anh chinh phục. Còn cử chỉ đặt hai ngón tay lên ngực mang ý nghĩa như thể nàng đang nhắn nhủ rằng: "Sau hai ngày nữa hãy đến đây, để nỗi khổ tâm của anh được xoa dịu bởi dung nhan em." Hãy hiểu rằng, hỡi con chú, nàng yêu anh và tin tưởng anh. Đó là cách lý giải của em; nếu em có tự do ra vào tùy thích, em đã dung hợp hai người trong thời gian ngắn nhất và bảo vệ cả hai bằng tà áo của mình rồi.'
Nghe những lời ấy từ người chị họ, thần cảm ơn nàng và tự nhủ: 'Ta sẽ đợi hai ngày.' Thần ở lỳ trong nhà suốt hai ngày, không bước chân ra ngoài, chẳng ăn cũng chẳng uống, gối đầu lên đùi người chị họ. Nàng dùng những lời trò chuyện để vực dậy tinh thần cho thần: 'Hãy kiên định và can đảm lên, diện trang phục đẹp và đến gặp nàng đúng hẹn.' Nàng đứng dậy, thay quần áo và xông trầm hương cho thần.
Thần vực dậy tinh thần, củng cố trái tim rồi bước ra ngoài, đi thẳng đến con hẻm. Sau khi ngồi một lúc trên mastaba, kìa, cửa chớp mở tung. Thần ngước nhìn người đẹp, nhưng vừa thấy nàng, thần lại ngất lịm đi. Tỉnh lại, thần gom hết can đảm, lấy hết bình tĩnh ngước nhìn lần nữa nhưng lại bất tỉnh nhân sự. Khi hồi tỉnh, thần thấy nàng cầm một chiếc gương và một chiếc khăn tay màu đỏ. Nhìn thấy thần, nàng xắn tay áo lên đến khuỷu, xòe năm ngón tay tát mạnh vào ngực (vừa lòng bàn tay vừa năm ngón). Tiếp đó, nàng giơ tay chìa chiếc gương qua khung cửa sổ, cầm lấy chiếc khăn tay đỏ rồi bước vào trong. Chút sau, nàng quay lại, thả chiếc khăn tay từ cửa sổ lơ lửng xuống đường ba lần: thả xuống rồi kéo lên, vắt kiệt và xoắn nó bằng tay, cúi đầu xuống rồi kéo ngược qua cửa chớp, khép cửa lại và bỏ đi mà không thốt một lời, để lại thần bơ vơ không hiểu nàng ám chỉ điều gì. Thần ngồi đó cho đến tận giờạ tối mịt mới lết về nhà vào lúc gần nửa đêm.
Thần thấy người chị họ đang lấy tay chống cằm, nước mắt đầm đìa mi mắt. Nỗi lo âu phiền muộn của thần chồng chất, ngã quỵ xuống một góc phòng. Nàng vội chồm đến vực thần dậy, cởi áo khoác ngoài cho thần, dùng tay áo lau mặt và gặng hỏi cơ sự. Thần liền kể lại tường tận những gì đã xảy ra với người đẹp. Nàng liền bảo: 'Hỡi con chú, động tác dùng tay và năm ngón tay mang ý nghĩa: "Hãy đến đây sau năm ngày." Còn cử chỉ với chiếc gương, việc nàng thò đầu qua cửa chớp cùng hành động với chiếc khăn tay màu đỏ ngụ ý rằng: "Hãy ngồi chờ ở cửa hiệu của thợ nhuộm cho đến khi sứ giả của ta đến tìm anh."' Nghe những lời ấy, ngọn lửa bùng cháy trong tim, thần kêu lên: 'Xin thề bởi Thượng Đế, hỡi con cô, em đoán chuẩn xác làm sao, vì anh đã nhìn thấy một thợ nhuộm người Do Thái trong con hẻm.' Thần òa khóc, và người chị họ an ủi: 'Hãy kiên định và vững lòng lên; người ta phải chịu đựng tình yêu ròng rã bao năm trời với biết bao sóng gió cay đắng, trong khi anh chỉ phải chịu đựng một tuần lễ, cớ sao sự thiếu kiên nhẫn này lại đánh gục anh?' Nàng tiếp tục động viên, mang thức ăn đến cho thần. Thần cầm một miếng định ăn nhưng chịu không nổi. Thần từ chối mọi thức ăn thức uống, từ bỏ giấc ngủ, sắc diện tái nhợt và tàn tạ, bởi trước nay chưa từng biết yêu hay nếm trải sự cuồng nhiệt của tình yêu. Thế là thầnổ lăn ra ốm, và người chị họ cũng vì thương thần mà ngã bệnh. Nàng bận rộn kể cho thần nghe những câu chuyện khổ ải của các đôi tình nhân để vực dậy tinh thần cho đến khi thần chìm vào giấc ngủ. Thi thoảng tỉnh giấc, thần lại thấy nàng thức trắng canh chừng, nước mắt đầm đìa gò má. Cứ thế cho đến khi tròn năm ngày trôi qua, người chị họ đứng dậy đun nước ấm, tắm rửa, thay quần áo cho thần và dặn dò: 'Hãy đi đi, cầu mong Allah thành toàn tâm nguyện cho anh và ban cho anh người yêu dấu.'
Thần lên đường, rảo bước cho đến khi đến đầu con hẻm. Hôm đó là thứ Bảy, thần thấy cửa hiệu thợ nhuộm đóng kín mít. Thần ngồi đó cho đến tận giờ cầu nguyện buổi chiều, rồi mặt trời ngả vàng, tiếng kinh chiều vang lên, màn đêm buông xuống mà chẳng thấy bóng dáng, tiếng nói hay tin tức gì từ nàng. Sợ hãi sự cô độc khi trời tối, thần lủi thủi đứng dậy bước đi như kẻ say rượu cho đến khi về đến nhà.
Vừa bước vào nhà, thần thấy Azeezeh đang dùng một tay bấu vào cái chốt đóng trên tường, tay kia đặt lên ngực, rên rỉ và ngâm thơ. Dứt lời, nàng quay sang nhìn thấy thần, vội lau nước mắt của cả hai bằng tay áo, mỉm cười chào: 'Hỡi con chú, cầu Allah ban cho anh niềm hạnh phúc từ những gì Ngài ban tặng! Sao đêm nay anh không đến thăm người yêu?' Nghe những lời ấy, thần giận tím mặt, tung chân đá thẳng vào ngực nàng khiến nàng ngã nhào xuống sàn. Xui xẻo thay, chỗ đó có một cái chốt tường đập trúng trán nàng làm vết thương rách toác, máu tuôn xối xả. Thế nhưng nàng vẫn im thin thít không kêu một tiếng, đứng phắt dậy ngay lập tức, đốt ít bùi nhùi giẻ rách đắp vào vết thương rồi lấy băng quấn chặt đầu lại, lau sạch vết máu loang lổ trên thảm như thể chẳng có tai nạn nào xảy ra. Đoạn, nàng tiến lại gần, mỉm cười dịu dàng: 'Xin thề bởi Allah, hỡi con chú, em nói thế không phải để giễu cợt anh hay nàng ta đâu. Ban nãy em bận xoa dịu cơn đau đầu và lau vết máu thôi, giờ thì đỡ lắm rồi. Hãy kể cho em nghe hôm nay mọi chuyện thế nào đi.' Thần liền kể lại toàn bộ sự việc trớ trêu hôm nay do người đẹp gây ra rồi òa khóc. Nàng an ủi: 'Hãy vui mừng đón nhận điềm báo thành công và sự viên mãn cho hy vọng của anh. Quả thực đây là tín hiệu chấp thuận, nàng lánh mặt vì muốn thử thách anh xem có kiên nhẫn hay không, có thực lòng yêu nàng hay không. Ngày mai hãy đến đó, đứng đúng vị trí cũ và xem nàng ra hiệu gì, vì hạnh phúc đã ở rất gần, nỗi buồn sắp tiêu tan.' Nàng tiếp tục dỗ dành nhưng tâm trạng u uất của thần chẳng hề thuyên giảm. Nàng mang thức ăn tới, thần tức giận đá bay bát đĩa văng tung tóe và gắt lên: 'Kẻ đang yêu đều điên rồ cả, chẳng màng ăn uống hay ngủ nghê gì sất!' Người chị họ Azeezeh nghẹn ngào: 'Xin thề bởi Thượng Đế, hỡi con chú, đó chính là triệu chứng của kẻ si tình!' Nàng vừa khóc vừa lượm nhặt mảnh vỡ, lau dọn đống thức ăn đổ vỡ rồi ngồi trò chuyện bầu bạn, trong khi thần cầu nguyện Chúa mau chóng sáng ngày.

Khi bình minh ló dạng, hừng đông rạng ngời, thần vội vã chạy đến con hẻm, ngồi phịch xuống chiếc mastaba quen thuộc. Kìa, cửa sổ bật mở, nàng thò đầu ra mỉm cười. Đoạn nàng lui vào trong, quay ra mang theo một chiếc gương, một chiếc túi, một chậu cây xanh và trên tay cầm một chiếc đèn. Việc đầu tiên nàng làm là: cầm chiếc gương bỏ vào túi, cột chặt lại rồi ném ngược vào trong phòng. Tiếp đó, nàng xõa tóc phủ che mặt, đặt chiếc đèn lên chậu cây xanh trong chốc lát, rồi ôm tất cả đồ đạc bước đi, khép kín cửa chớp. Trái tim thần tan nát vì những tín hiệu bí hiểm và ẩn ý khó lơ của nàng, bởi nàng chẳng thốt lấy một lời, khiến đam mê trong thần càng bùng cháy dữ dội, sự kích động và quay cuồng lên đến đỉnh điểm.
Thần lủi thủi bước về nhà với đôi mắt đẫm lệ và trái tim tang thương. Vào trong, thần thấy người chị họ đang ngồi úp mặt vào tường, lồng ngực cháy bỏng vì lo âu, đau buồn và ghen tuông; nhưng tình yêu thương đã ngăn không cho nàng trách móc thần về nỗi cuồng si mù quáng ấy. Nhìn kỹ lại, thần thấy đầu nàng quấn đến hai lớp băng: một lớp cho vết thương ở trán, lớp kia che kín một bên mắt do cơn đau khóc lóc quá độ gây ra. Nàng chìm trong hoàn cảnh thê lương, vừa khóc vừa ngâm những vần thơ:
Dù ở chốn nào, xin hãy luôn bình an, hỡi người ra đi nhưng vẫn ngự trị trong tim tôi!
Cầu xin Chúa ở cạnh người trên mọi nẻo đường, cứu rỗi người khỏi mọi tai ương nghịch cảnh!
Người đã đi, và mắt tôi trống vắng vì vắng bóng hình, lệ tuôn trào—ôi, sao mà đầm đìa thế!
Ngâm xong, nàng ngước nhìn thần đang đẫm lệ, vội lau nước mắt, đứng dậy tiến về phía thần nhưng nghẹn ngào chẳng thốt nên lời vì quá đỗi yêu thương. Im lặng một hồi lâu, nàng cất lời: 'Hỡi con chú, hãy kể cho em nghe những gì anh trải qua từ nàng ấy.' Thần kể hết mọi chuyện. Nàng bảo: 'Hãy kiên nhẫn lên, vì thời khắc đoàn tụ đã đến, anh đã đạt được mục đích của hy vọng. Cử chỉ nàng dùng gương và bỏ vào túi đồng nghĩa với việc nhắn nhủ: "Hãy đợi cho đến khi mặt trời lặn." Còn việc xõa tóc che mặt ám chỉ: "Khi màn đêm buông xuống, thả bóng đen che phủ ánh sáng ban ngày, hãy đến đây." Cử chỉ với chậu cây xanh ngụ ý rằng: "Khi đến nơi, hãy bước vào khu vườn phía sau con hẻm." Và tín hiệu cầm đèn mang nghĩa: "Khi bước vào vườn, hãy tìm đến nơi có ngọn đèn sáng, ngồi xuống dưới đó và chờ ta, vì tình yêu dành cho anh đang thiêu đốt ta."' Nghe người chị họ giải mã, thần gào lên vì quá đỗi cuồng si: 'Sao em hứa hẹn với anh biết bao lần, để rồi anh đến đó mà chẳng đạt được ước nguyện lẫn ý nghĩa chân thực nào?' Nghe vậy, người chị họ bật cười đáp: 'Anh chỉ còn phải kiên nhẫn nốt phần còn lại của ngày hôm nay, cho đến khi ánh ban ngày tàn lụi, màn đêm buông xuống với bóng tối mịt mùng, rồi anh sẽ tận hưởng niềm vui đoàn tụ và sự viên mãn của hy vọng; những lời này chuẩn xác trăm phần trăm không sai đi đâu được.' Nàng tiến lại gần, dùng những lời ngọt ngào vỗ về thần, nhưng chẳng dám dọn thức ăn vì sợ thần nổi giận và nuôi hy vọng thần sẽ quay về với nàng. Nàng chỉ cởi áo khoác ngoài cho thần rồi bảo: 'Hỡi con chú, hãy ngồi cạnh em để em trò chuyện giải trí cho qua ngày, và nếu ơn Chúa, đêm nay anh sẽ được kề cận người yêu.' Nhưng thần chẳng màng đến nàng, chỉ ngóng chờ màn đêm buông xuống và khẩn cầu: 'Lạy Chúa, xin hãy mau chóng buông màn đêm!' Khi đêm đến, người chị họ khóc nức nở, đưa cho thần một hạt xạ hương nguyên chất và dặn: 'Hỡi con chú, hãy ngậm hạt này trong miệng, và khi gặp được người thương, lúc từ giã ra về hãy đọc cho nàng nghe câu thơ này:'
Hỡi những kẻ tình tứ, xin hãy nói cho tôi hay, một thiếu niên phải hành động thế nào khi tình yêu đã quá đỗi cuồng nhiệt.
Nàng hôn thần và bắt thề tuyệt đối không đọc câu thơ ấy cho đến khi rời khỏi người đẹp. Thần đáp: 'Xin tuân lệnh.'
Thần bước ra ngoài khi màn đêm buông xuống, tiến thẳng đến khu vườn. Thấy cổng mở, thần bước vào và nhận ra đằng xa có ánh đèn. Thần tiến về phía đó và phát hiện một phòng khánh tiết (maq'ad) rộng lớn, bên trên lợp mái vòm bằng ngà voi và gỗ mun, chiếc đèn treo lủng lẳng giữa vòm. Căn phòng được trải thảm lụa thêu kim tuyến bạc, đặt một ngọn nến lớn trong chân đèn bằng vàng bên dưới chiếc đèn treo. Giữa phòng là một đài phun nước trang trí đủ họa tiết; bên cạnh là chiếc bàn bày đầy thức ăn phủ khăn lụa, kèm theo một bình sứ lớn đựng đầy rượu cùng chiếc ly pha lê mạ vàng. Sát bên cạnh là một mâm bạc lớn có đậy nắp. Thần mở ra và thấy vô số loại trái cây như vả, lựu, nho, cam, thanh yên cùng đủ loại hoa như hồng, nhài, sim, tầm xuân, thủy tiên và vô vàn hương thơm ngào ngạt. Thần vô cùng kinh ngạc trước cảnh tượng này, lòng ngập tràn hân hoan, mọi lo âu phiền muộn tan biến. Nhưng ngặt nỗi trong chốn này chẳng có lấy một bóng người, chẳng thấy cả nam nô lẫn nữ nô, hay bất kỳ ai chăm chút cho nó. Thần ngồi trong phòng chờ đợi người thương cho đến khi canh một, canh hai, canh ba trôi qua mà chẳng thấy tăm hơi. Cơn đói bắt đầu cào xé dữ dội, bởi thần đã nhịn ăn suốt bao ngày vì cuồng si tình yêu. Thế nhưng khi chứng kiến cảnh quan nơi đây, và nhận ra người chị họ đã giải mã chính xác các tín hiệu của người đẹp, thần thấy an lòng phần nào, dẫu cơn đói vẫn hành hạ và mùi thơm thức ăn trên bàn cứ kích thích vị giác. Đinh ninh rằng mình đã đạt được mục đích và thèm thuồng ăn uống, thần tiến lại gần bàn, dỡ nắp đậy ra và thấy một đĩa sứ đựng bốn con gà bọc bột tẩm gia vị, xung quanh bày bốn đĩa nhỏ: một đĩa mứt, một đĩa hạt lựu ngào đường, một đĩa bánh baklawah và một đĩa bánh qataif (cả vị ngọt lẫn vị chua). Thần bốc một ít bánh qataif, một miếng thịt, rồi với tay ăn bánh baklawah cho đến khi vừa miệng, múc một hai muỗng mứt và ăn một phần thịt gà cùng thức ăn khác. Ăn xong, dạ dày căng phồng, các khớp xương bải hoải, cơn buồn ngủ ập đến khiến thần chẳng thể chống cự. Thần rửa tay, gối đầu lên một chiếc gối ôm và chìm vào giấc ngủ sâu, hoàn toàn mất ý thức về những gì diễn ra sau đó.
Thần chỉ giật mình tỉnh giấc khi bị ánh nắng mặt trời thiêu đốt (bởi đã mấy ngày liền chẳng được một giấc ngủ tử tế). Khi tỉnh dậy, thần phát hiện trên bụng mình có một nhúm muối và cục than hồng. Thần đứng phật dậy, rũ sạch quần áo, ngó quanh trái phải nhưng chẳng thấy bóng người. Hóa ra mình đã ngủ thiếp đi trên nền cẩm thạch trơ trọi chẳng có lấy một tấm thảm lót. Thần bàng hoàng bấn loạn, đau buồn khôn tả, nước mắt tuôn rơi trên má và khóc thương cho số phận.
Thần thẫn thờ quay về nhà, bắt gặp người chị họ đang đấm ngực khóc nức nở như mưa lũ. Thấy thần về, nàng vội quẹt nước mắt, dịu dàng an ủi: 'Hỡi con chú, Chúa thật nhân từ với tình yêu của anh, vì người anh yêu cũng đáp đền tình cảm ấy, trong khi em phải ngồi đây khóc thương cho sự chia lìa của một kẻ chê bai tình cảm của em; nhưng cầu Chúa đừng trừng phạt anh vì em!' Nàng mỉm cười giận dỗi, âu yếm cởi áo khoác ngoài cho thần, trải ra và thốt lên: 'Xin thề bởi Thượng Đế, mùi hương này không phải là của kẻ vừa tận hưởng vòng tay người yêu! Hãy khai mau đi, chuyện gì đã xảy ra với anh?' Thần kể lại ngọn ngành. Nàng lại mỉm cười giận dỗi và bảo: 'Quả thật lòng em đang đau đớn khôn cùng! Nhưng cầu cho kẻ làm trái tim anh đau khổ phải chuốc lấy diệt vong! Người phụ nữ này đang cố tình làm khó anh quá mức. Xin thề, hỡi con chú, em sợ những gì ả ta sẽ làm với anh lắm. Hãy hiểu rằng: hạt muối tượng trưng cho ý nghĩa: "Anh đã chìm đắm trong giấc ngủ, tẻ nhạt vô vị đến mức linh hồn ghê tởm, anh cần phải được ướp muối để dạ dày không nôn mửa ra. Anh cứ tự nhận mình là kẻ tình tứ hào hiệp, nhưng giấc ngủ vốn là điều cấm kỵ đối với kẻ yêu; tuyên bố yêu đương của anh là giả dối." Vả lại, hành động của ả cũng giả dối nốt, vì tình yêu dành cho anh là giả tạo: nếu thực lòng yêu anh, khi thấy anh ngủ say, ả đã đánh thức anh dậy rồi. Còn cục than hồng ngụ ý rằng: "Cầu cho mặt anh đen sì như than", vì anh đã ra điều kiệt giả dối về tình yêu trong khi chỉ là một đứa trẻ chẳng màng gì ngoài ăn, uống và ngủ nghỉ. Đó là ý nghĩa tín hiệu của ả, và cầu xin Chúa Trời cứu rỗi anh khỏi móng vuốt ả ta!' Nghe những lời ấy, thần đấm ngực tự trách: 'Xin thề bởi Thượng Đế, nàng nói chuẩn xác, vì ta đã ngủ trong khi kẻ yêu không hề ngủ; hóa ra ta đã tự hại chính mình. Còn điều gì tai hại hơn việc ăn với ngủ nữa chứ? Giờ phải làm sao đây?' Thần òa khóc nức nở, van nài người chị họ: 'Hãy chỉ đường dẫn lối và rủ lòng thương xót anh, bằng không anh chết mất.' Vô cùng yêu thương thần, người chị họ đáp: 'Xin vâng lệnh anh! Nhưng hỡi con chú, em đã bảo anh mấy lần rồi, nếu em có quyền tự do ra vào, em đã dung hợp hai người trong chớp mắt và che chở cả hai bằng tà áo của mình. Nếu Chúa cho phép, em sẽ dốc toàn lực để tác hợp hai người; nhưng hãy nghe lời em, tuân thủ hướng dẫn của em, quay lại đúng nơi đó và ngồi xuống. Khi đêm xuống, hãy ngồi vào chỗ cũ và tuyệt đối kiêng kỵ ăn uống, vì ăn uống sinh ra buồn ngủ. Hãy cẩn trọng đừng để ngủ quên, vì nàng sẽ không đến cho đến khi qua một phần tư đêm; cầu Chúa che chở anh khỏi sự hiểm độc của ả!' Nghe thế, thần khấp khởi mừng vui, cầu Chúa mau chóng buông màn đêm. Khi đêm đến, thần định lên đường, người chị họ dặn dò: 'Khi gặp nàng, lúc từ giã ra về hãy đọc câu thơ trước đây nhé.' Thần đáp: 'Xin tuân lệnh.'

Thần bước ra ngoài, tiến thẳng đến khu vườn và thấy nơi đó đã được dọn dẹp sẵn sàng hệt như trước: đầy đủ thức ăn, thức uống, trái cây khô, hương thơm ngào ngạt và nhiều thứ khác. Thần bước lên sảnh maq'ad, ngửi thấy mùi thức ăn thơm phức liền thèm thuồng. Thần cố nén kìm lòng mấy bận nhưng rồi đành chịu thua. Thần đứng dậy tiến đến bàn, dỡ nắp ra và thấy đĩa thịt gà vây quanh bởi bốn đĩa con chứa bốn loại thức ăn khác nhau. Thần nếm mỗi loại một miếng, ăn một ít bánh kẹo, một miếng thịt, uống một ngụm nước zardeh thấy ngon miệng bèn húp lấy húp để bằng muỗng cho đến khi no nê căng cứng dạ dày. Mi mắt lập tức trĩu nặng, thần vơ lấy chiếc gối lót dưới đầu, tự nhủ: 'Chắc ta chỉ ngả lưng thôi chứ không ngủ đâu.' Nhưng hỡi ôi, thần nhắm nghiền mắt và chìm vào giấc ngủ, chỉ giật mình tỉnh dậy khi mặt trời đã lên cao (bởi đã mấy đêm liền thức trắng). Lần này, trên bụng thần có đặt một viên xúc xắc (play-bone), một cây gậy tab, một hạt chà là và một hạt đậu hũ (locust-seed). Xung quanh trống hoác chẳng còn chút đồ đạc hay thức ăn nào, hệt như đêm qua chẳng có chuyện gì xảy ra.
Thần đứng dậy, rũ bỏ đống đồ vật trên người, tức giận đùng đùng bỏ về nhà. Vừa bước vào, thấy người chị họ đang rên rỉ, thần liền mắng mỏ và lăng mạ nàng. Nàng òa khóc, lau nước mắt, tiến lại gần hôn và ôm chầm lấy thần, nhưng thần hất ra tự trách mình. Nàng dịu dàng: 'Hỡi con chú, có vẻ như đêm qua anh lại ngủ quên rồi.' Thần đáp: 'Đúng vậy, lúc tỉnh dậy anh thấy trên bụng có đặt một viên xúc xắc, một cây gậy tab, một hạt chà là và một hạt đậu hũ, chẳng hiểu ả có ý gì.' Lại òa khóc, thần van nài nàng giải mã ý nghĩa và cứu giúp. Nàng đáp: 'Xin vâng lệnh. Cây gậy tab và viên xúc xắc đặt trên bụng ngụ ý rằng anh đến đó nhưng tâm hồn treo ngược cành cây, như muốn nhắn nhủ: "Tình yêu không diễn ra thế này, đừng tự nhận mình là kẻ tình tứ." Còn hạt chà là ngụ ý nếu anh thực lòng yêu, trái tim đã cháy bỏng đam mê và chẳng màng đến giấc ngủ, vì vị ngọt của tình yêu tựa như quả chà là nhen nhóm ngọn lửa trong tim. Còn hạt đậu hũ ám chỉ trái tim kẻ si tình đang mệt mỏi, như muốn bảo: "Hãy kiên nhẫn chịu đựng sự chia lìa của chúng ta như lòng kiên nhẫn của ông Job."' Nghe giải mã đến đây, lửa giận bốc ngùn ngụt trong tim, nỗi buồn tăng bội phần, thần gào khóc: 'Trận số định đoạt ta phải ngủ quên vì cái vận số hẩm hiu!' Thần nài nỉ: 'Hỡi con cô, nhân danh sinh mạng anh, xin hãy mưu tính giúp anh một kế sách để có thể gặp lại nàng.' Nàng đáp: 'Hỡi Aziz, hỡi con chú, quả thực lòng em đang ngổn ngang trăm mối, chẳng muốn nói gì; nhưng tối nay cứ đến đó, tuyệt đối đừng ngủ quên, anh sẽ đạt được tâm nguyện. Đó là lời khuyên của em, chúc anh bình an.' Thần hứa: 'Nếu Chúa muốn, ta sẽ không ngủ mà làm y như em dặn.' Người chị họ bèn mang thức ăn tới: 'Giờ hãy ăn cho no nê đi để không còn thèm thuồng gì nữa.' Thần tuân lệnh ăn cho đến khi thỏa mãn. Khi đêm xuống, nàng mang đến một bộ y phục lộng lẫy mặc vào cho thần, bắt thề phải đọc câu thơ cho người đẹp và cảnh giác chuyện ngủ quên.
Thần rời khỏi nhà, đến khu vườn, bước lên maq'ad trong trạng thái bụng no căng. Thần chống cự không ngủ suốt một phần tư đêm, thời gian kéo dài dằng dặc tưởng như cả năm trời. Khi canh hai qua đi, gà gác tiếng gáy, cơn đói cào xé vì thức khuya lại trỗi dậy. Thần lại tiến đến bàn, ăn uống no nê. Đầu óc trĩu nặng, thèm ngủ cào xé nhưng thình lình nghe tiếng động đằng xa. Thần giật mình đứng dậy, rửa tay rửa miệng tỉnh táo lại ngay lập tức. Chút sau, nàng xuất hiện cùng mười nữ nô, rực rỡ tựa vầng trăng giữa muôn tinh tú, khoác bộ cánh sa tanh xanh thêu kim tuyến đỏ. Thấy thần, nàng mỉm cười: 'Sao anh lại tỉnh táo thế này, giấc ngủ không đánh gục được anh à? Trải qua một đêm thức trắng, ta tin chắc anh đích thị là một kẻ si tình, bởi đặc trưng của tình nhân là thức đêm kiên cường chịu đựng khao khát.' Nói rồi, nàng ra hiệu cho đám nữ nô lui ra, bước lại ôm chầm lấy thần, hôn hít và trò chuyện rôm rả cho đến sáng. Lúc thần định ra về, nàng giữ lại: 'Khoan đã, để em dặn dò và trao cho anh món này.' Nàng mở chiếc khăn tay, lấy ra mảnh vải lanh trải trước mặt thần. Kìa, trên đó thêu hình những con linh dương tuyệt mỹ. Thần vô cùng thán phục và cầm lấy nó, hứa hẹn sẽ đến thăm nàng mỗi đêm trong khu vườn này rồi hoan hỉ ra về. Trong niềm vui sướng, thần quên béng mất câu thơ mà người chị họ đã dặn dò phải đọc. Khi trao mảnh vải thêu, nàng bảo: 'Đây là tác phẩm của muội muội ta.' — 'Muội muội nàng tên gì?' thần hỏi. — 'Tên nó là Noor-el-Huda; hãy giữ kỹ mảnh vải lanh này nhé.'
Từ biệt người đẹp, thần khải hoàn trở về nhà. Gặp lại người chị họ đang nằm nghỉ, thấy thần về nàng vội ngồi dậy, nước mắt đầm đìa, bước lại ôm ngực thần và hỏi: 'Anh đã đọc câu thơ em dặn chưa?' Thần đáp: 'Anh quên mất rồi, mải mê ngắm họa tiết linh dương nên quên sạch.' Thần quăng mảnh vải lanh xuống trước mặt nàng. Nàng nhặt lên, trải ra xem xét. Khi đến giờ ra đi, nàng dặn: 'Đi đi, cầu bình an cho anh; nhưng khi từ giã nàng ta, nhớ đọc câu thơ em dạy lúc trước nhé.' — 'Hãy nhắc lại cho anh nghe nào,' thần bảo. Nàng đọc lại cho thần nghe.
Thần trở lại khu vườn, bước vào maq'ad. Người đẹp đang chờ sẵn, nàng đứng dậy ôm hôn và mời ngồi. Chúng thần ăn uống đầm ấm, và sáng hôm sau, trước lúc chia tay, thần đọc cho nàng nghe câu thơ:

Hỡi những kẻ tình tứ, xin hãy nói cho tôi hay, một thiếu niên phải hành động thế nào khi tình yêu đã quá đỗi cuồng nhiệt.
Nghe xong, mắt nàng đẫm lệ và đáp lời:

Yêu đương phải biết chôn giấu, che đậy bí mật, kiên nhẫn trước mọi biến cố và vâng lệnh phục tùng.
Thần ghi nhớ kỹ trong đầu, vui mừng vì hoàn thành nhiệm vụ rồi quay về nhà. Vào trong, thần thấy người chị họ đang nằm, với mẫu thân ngồi đầu giường khóc thương cho tình trạng ốm yếu của nàng. Thấy thần về, mẫu thân mắng mỏi: 'Đồ con cái gì mà vô ơn thế! Sao có thể bỏ mặc cô em họ đang ốm đau bệnh tật mà không màng hỏi han?' Nghe tiếng thần, người chị họ ngước đầu ngồi dậy: 'Hỡi Aziz, anh đã đọc câu thơ em dạy cho nàng chưa?' Thần đáp: 'Rồi, khi nghe xong nàng đã khóc và đọc lại cho anh một câu thơ khác mà anh còn nhớ.' — 'Hãy đọc cho em nghe nào,' nàng bảo. Vừa nghe xong, người chị họ òa khóc nức nở và ngâm một câu thơ khác:
Anh đã tìm kiếm sự kiên nhẫn đẹp đẽ, nhưng chẳng tìm thấy gì ngoài một trái tim héo mòn vì khao khát.
Nàng dặn: 'Lần tới khi đến đó, hãy đọc cho nàng câu thơ anh vừa nghe nhé.' Thần đáp: 'Xin tuân lệnh.'
Thần lại đến vườn theo lệ thường, và lúc từ giã ra về đã đọc câu thơ ấy cho người đẹp. Nghe xong, nước mắt nàng tuôn xối xả và đáp:
Thế thì, nếu hắn không đủ kiên nhẫn giấu kín bí mật, ta chẳng biết khuyên gì hơn ngoài cái chết.
Khắc ghi trong đầu, thần quay về nhà. Vừa bước chân vào, thần thấy người chị họ đã ngất lịm, mẫu thân đang ngồi bên chăm sóc. Nghe tiếng thần, nàng mở hé mắt thều thào: 'Hỡi Aziz, anh đã đọc câu thơ đó chưa?' — 'Rồi, và khi nghe xong nàng đã khóc, đọc tiếp một câu thơ khác...' Thần vừa đọc lên, nàng lại ngất lịm lần nữa. Tỉnh lại, nàng đọc tiếp câu thơ:
Chúng tôi nghe và vâng lệnh, rồi chúng tôi chết; hãy chuyển lời chào của tôi đến kẻ ngăn cản mối tình này.
Đêm hôm sau, thần lại đến vườn như thường lệ. Người đẹp đang chờ sẵn, chúng thần ăn uống vui vẻ. Sáng ra, lúc chuẩn bị từ giã, thần đọc lại những lời người chị họ nhắn nhủ. Nghe xong, nàng hét lên một tiếng kinh hoàng, hoảng loạn: 'Xin thề bởi Thượng Đế, người thốt ra câu thơ này đã chết rồi!' Nàng oà khóc mắng nhiếc: 'Đồ khốn! Kẻ thốt ra câu thơ ấy có quan hệ gì với anh?' — 'Nàng là con gái của bác ruột tôi,' thần đáp. Nàng gắt lên: 'Ngươi nói dối! Thề có Chúa, nếu thực là em họ, anh đã dành cho nàng tình yêu sâu sắc như nàng dành cho anh. Chính anh là kẻ đã giết chết nàng, và cầu Chúa cũng hủy diệt anh như thế! Thề có Chúa, nếu biết anh có em họ, ta đã chẳng ban ơn sủng ái cho anh.' — 'Quả thật nàng ấy là em họ tôi, chính nàng đã giải mã những tín hiệu của nàng và dạy tôi cách tiếp cận nàng; tôi chẳng thể đến được với nàng nếu không có sự thông tuệ của em ấy.' — 'Nàng ấy biết chuyện của chúng ta ư?' — 'Đúng vậy.' — 'Cầu Chúa bắt anh phải khóc thương cho tuổi trẻ của mình hệt như cách anh đã bắt nàng ấy khóc thương!' Nàng quát lớn: 'Đi mau về thăm nàng đi.'
Thần bàng hoàng rời đi, lòng đầy lo âu chạy thẳng về con hẻm nhà mình. Nghe tiếng ai oán khóc than, thần gặng hỏi thì nhận được câu trả lời: 'Chúng tôi phát hiện Azeezeh đã chết đằng sau cánh cửa.' Thần lao vào nhà. Vừa thấy mặt, mẫu thân thét lên: 'Tội ác giết chết con bé thuộc về mày, cầu Chúa không tha thứ tội lỗi cho mày! Đồ con cái vô tích sự!' Phụ thân cũng vừa về tới, chúng thần lo liệu tang ma, cử hành nghi lễ chôn cất nàng và thuê người đọc toàn bộ kinh Quran tại mộ phần. Chúng thần ở lại đó ba ngày rồi thần mới trở về nhà trong nỗi tiếc thương vô hạn. Mẫu thân cất lời: 'Ta muốn biết mày đã làm gì khiến con bé tan nát cõi lòng. Ta hỏi hoài về căn bệnh nhưng nó giấu nhẹm. Nhân danh Chúa, hãy khai thật mày đã làm gì để nó chết.' Thần đáp: 'Con chẳng làm gì cả.' Mẫu thân nguyền rủa: 'Cầu Chúa trừng phạt mày! Nó chẳng hé răng nửa lời, che giấu sự thật cho đến chết vẫn giữ trọn tình yêu dành cho mày. Lúc nhắm mắt xuôi tay, nó mở mắt bảo ta rằng: "Hỡi thím, xin Chúa đừng quy tội con trai thím cho cái chết của con, đừng trừng phạt anh ấy; giờ đây con chuyển từ cõi tạm sang cõi vĩnh hằng." Ta bảo: "Con gái ơi, cầu Chúa bảo vệ tuổi thanh xuân của con." Rồi ta gặng hỏi căn bệnh nhưng nó không đáp, chỉ mỉm cười nói: "Hỡi thím, nếu con trai thím muốn đến nơi nó thường lui tới, hãy dặn nó đọc hai câu này khi ra về: 'Sự trung thực là cao quý, sự phản trắc là ti tiện.' Con dặn thế vì lòng trắc ẩn, mong phước lành cho anh ấy khi sống cũng như lúc đã chết." Nó còn gửi lại một món quà cho mày, và bắt thề tuyệt đối không trao cho đến khi thấy mày khóc lóc thảm thiết vì nó. Món quà đó ta đang giữ, bao giờ thấy mày đau khổ như nó miêu tả ta mới đưa.' Thần nài nỉ: 'Hãy đưa cho con xem.' Nhưng mẫu thân kiên quyết từ chối.
Thần quay lại với nhịp sống ăn chơi đàng đúm, chẳng màng đến cái chết của người chị họ, bởi tâm trí đã hoàn toàn lạc lối, chỉ ao ước được chìm đắm toàn bộ thời gian ngày đêm bên người thương. Chỉ chưa đầy một ngày sau, thần lại tạt qua khu vườn. Người đẹp đang ngồi đó, cháy bỏng khao khát chờ đợi. Vừa thấy mặt, nàng lao đến ôm chầm lấy cổ, gặng hỏi tình hình người em họ. Thần đáp: 'Nàng chết rồi, chúng tôi đã làm lễ zikr và đọc kinh Quran cho nàng, tính ra đã năm ngày trôi qua.' Nghe tin, nàng gào khóc thảm thiết: 'Ta đã bảo chính anh đã hại chết nàng cơ mà! Sao không báo cho ta trước khi nàng chết để ta đền đáp ân nghĩa? Nhờ nàng ấy dọn đường anh mới đến được với ta, nếu không đời nào có chuyện đó; giờ thì ta sợ anh sẽ vạ lây vì thảm kịch này.' Thần đáp: 'Nàng đã tha thứ cho tôi trước khi chết,' rồi kể lại những gì mẫu thân thuật lại. Nàng thốt lên: 'Xin thề, khi về gặp mẫu thân, anh phải tìm hiểu món quà đó là gì.' — 'Mẫu thân bảo: 'Con bé dặn trước lúc lâm chung rằng nếu con muốn ra khỏi nhà đến nơi thường lui tới, hãy đọc hai câu: 'Sự trung thực là cao quý, sự phản trắc là ti tiện.' Nghe đến đây, nàng thốt lên: 'Cầu xin lòng thương xót của Chúa ngự trị nơi nàng, chính nàng đã cứu mạng anh khỏi tay ta! Ban đầu ta định giăng bẫy hại anh, nhưng giờ thì thôi, ta sẽ không làm tổn thương anh nữa.' Thần kinh ngạc hỏi: 'Trước đó nàng định làm gì tôi sau khi chúng ta đã mặn nồng tình cảm?' Nàng đáp: 'Anh tận tụy với ta thật đấy, nhưng còn quá trẻ con, tâm hồn ngây thơ chẳng biết gì về sự hiểm độc mưu mô của phụ nữ chúng ta. Nếu nàng ấy còn sống, nàng sẽ bảo vệ anh, vì nàng là nguyên nhân cứu mạng và giúp anh thoát khỏi họa diệt vong. Giờ ta cảnh cáo anh: tuyệt đối không được nói chuyện hay đáp lời bất kỳ phụ nữ nào, dù già hay trẻ. Hãy cẩn trọng trăm bề vì anh mù tịt về sự gian xảo của đàn bà. Kẻ thay anh giải mã tín hiệu nay đã chết, ta chỉ sợ anh sập bẫy rồi chẳng tìm được ai cứu rỗi. Ôi thương xót thay cho đứa em họ của anh! Ước gì ta được gặp nàng trước khi chết để đền ơn đáp nghĩa. Cầu xin Chúa dung thứ cho nàng, người đã giấu nhẹm bí mật đến phút chót! Giờ ta có một việc muốn nhờ anh.' — 'Việc gì thế?' Thần hỏi. Nàng đáp: 'Hãy dẫn ta ra mộ phần để ta viếng thăm và khắc lên đó vài vần thơ.' Thần đáp: 'Ngày mai, nếu ơn Chúa cho phép!' Thần ở lại với nàng đêm đó, và nàng cứ lặp đi lặp lại: 'Ước gì anh kể cho ta nghe về em họ anh trước khi nàng mất!' Thần gặng hỏi: 'Ý nghĩa của câu 'Sự trung thực là cao quý, sự phản trắc là ti tiện' là gì?' nhưng nàng kiên quyết không giải thích.
Sáng hôm sau, nàng thức dậy, mang theo chiếc túi đựng tiền vàng và bảo: 'Hãy đứng lên, dẫn ta ra mộ để viếng thăm, khắc thơ, xây điện thờ, cầu nguyện và phân phát số vàng này làm từ thiện cho linh hồn nàng.' Thần đáp: 'Xin tuân lệnh.' Thần đi trước dẫn đường, nàng theo sau, dọc đường liên tục bố thí cho người nghèo và niệm chú: 'Đây là bố thí cho linh hồn Azeezeh, người đã cạn chén rượu tử thần mà vẫn giấu nhẹm tình yêu.' Cứ thế họ đi cho đến khi tới nghĩa trang, số tiền trong túi vừa cạn sạch. Nhìn thấy ngôi mộ, nàng lao vào ôm lấy, khóc nghẹn ngào. Sau đó, nàng lấy ra một chiếc đục thép nhỏ cùng cái búa con, cẩn thận khắc lên tấm bia đá đầu mộ những vần thơ:
Tôi đi ngang qua một ngôi mộ vô danh giữa khu vườn, bên trên mọc bảy đóa an-môn;
Tôi hỏi: 'Mộ ai thế này?' Đất liền đáp: 'Hãy tôn trọng, đây là nơi yên nghỉ của một người si tình.'
Tôi thốt lên: 'Xin Chúa phù hộ cho em, hỡi nạn nhân của tình yêu, và đưa em đến tầng cao nhất của thiên đàng!'
Sao mà khốn khổ thay cho những kẻ yêu đương trong cõi nhân gian, ngay cả nấm mồ của họ cũng vùi lấp trong cát bụi bẩn thỉu!
Giá mà tôi có thể, hỡi ngôi mộ, tôi sẽ biến em thành khu vườn và tưới mát bằng dòng lệ tuôn trơi!

Nàng lại khóc nức nở, rồi đứng dậy cùng thần trở về khu vườn. Nàng dặn dò: 'Nhân danh Chúa, anh chớ bao giờ ruồng bỏ em.' Thần đáp: 'Xin tuân lệnh.' Thế là thần tiếp tục qua lại với nàng như trước, được đối đãi ân cần trọng thị. Nàng cứ gặng hỏi về hai câu khẩu hiệu mà người em họ Azeezeh dặn dò, và thần lặp lại cho nàng nghe. Thần cứ thế ăn uống, tận hưởng những buổi trò chuyện, diện trang phục tinh tế cho đến khi da dẻ mập mạp béo tốt, chẳng còn bận tâm lo âu buồn phiền gì nữa và quên sạch bóng hình em họ.
Thần chìm đắm trong những hoan lạc ấy ròng rã suốt một năm trời. Đến đầu năm mới, thần vào nhà tắm công cộng thư giãn, khoác lên mình bộ y phục bảnh bao. Khi bước ra, thần nhấp một ngụm rượu, tận hưởng mùi thơm ngát tỏa ra từ quần áo. Lòng dạ thảnh thơi chẳng bận tâm hoạn nạn. Khi màn đêm buông xuống, thần muốn sang thăm người đẹp nhưng vì men rượu ngà ngà nên đi nhầm đường lạc vào con hẻm mang tên Nakeeb. Đang lê bước, bỗng một bà già cầm ngọn nến sáng rực trong một tay, tay kia cầm bức thư gấp gọn bước tới. Nhìn thấy thần, bà khóc rấm rức: 'Hỡi con trai, con có biết đọc chữ không?' Thần đáp: 'Dưa hường của ta ơi, có chứ.' Bà bảo: 'Hãy cầm lấy bức thư này và đọc giúp ta.' Thần cầm lấy, mở ra và đọc nội dung, hóa ra đây là lá thư từ người đi vắng gửi lời thăm hỏi người thương. Nghe vậy, bà hân hoan mừng rỡ, cầu phước cho thần: 'Cầu Chúa xua tan lo âu cho con hệt như con vừa cua tan lo âu cho ta!' Bà cầm lại bức thư, đi được vài bước rồi quay lại, nắm tay thần cảm ơn: 'Hỡi chúa công, cầu Chúa ban cho con tuổi trẻ vinh hiển và che chở con. Xin hãy bước đi cùng ta vài bước đến cánh cửa kia, bởi ta đã kể cho họ nghe nội dung thư con đọc nhưng họ không tin: hãy cùng ta đến đó, đứng ngoài cửa đọc lại lần nữa để chứng thực cho họ, xem như đáp lại lời cầu nguyện của ta.' — 'Lá thư này từ đâu ra vậy?' thần hỏi. Bà đáp: 'Hỡi con, nó từ đứa con trai đã biệt tích mười năm nay của ta. Nó đi buôn xa và bặt vô âm tín suốt ngưng ấy năm, khiến chúng ta tuyệt vọng tưởng nó đã chết. Bỗng nay có bức thư này gửi về; nó còn có một người em gái đã khóc thương anh ngày đêm suốt quãng thời gian qua. Ta bảo con bé anh nó vẫn bình an, nhưng nó không tin, bắt ta phải tìm người đọc thư cho nghe để an lòng. Con thừa biết kẻ yêu đương thường hay lo xa hoảng sợ mà, xin hãy làm ơn đứng ngoài rèm đọc cho con bé nghe qua khe cửa để tích đức giải trừ ưu phiền cho một tín đồ Hồi giáo, bởi Nhà Tiên Tri từng dạy: 'Ai giải tỏa nỗi buồn thế gian cho một người đau khổ, Chúa sẽ giải tỏa một nỗi buồn ngày phục sinh cho người ấy...' Đừng từ chối ta nhé.' Thần đáp: 'Xin vâng lệnh, xin mời bà đi trước.'

Thần theo chân bà đi một đọan ngắn cho đến khi dừng chân trước một cánh cửa lớn nẹp đồng. Bà dừng lại, cất giọng gọi bằng tiếng Ba Tư, và lập tức một thiếu niên bước ra với dáng đi nhẹ nhàng linh hoạt. Chiếc quần rộng được xắn lên tận đầu gối, lộ ra cặp chân đẹp đến mức làm bấn loạn tâm trí lẫn ánh nhìn, trông tựa hai cột cẩm thạch trổ hoa văn đeo vòng chân nạm ngọc. Tà áo ngoài được vén lên nách, tay áo xắn cao, để lộ cổ tay trắng ngần đeo hai vòng ngọc bệ vệ, tai đeo hoa tai ngọc trai, cổ đeo vòng đá quý đắt tiền, trên đầu đội chiếc khăn kufiyah mới tinh khảm trân châu. Nàng xắn vạt áo trong nhét vào cạp quần, trông có vẻ như vừa bận rộn làm việc nặng. Vừa trông thấy thần, nàng cất giọng ngọt ngào thánh thiện chưa từng nghe thấy ở đâu: 'Hỡi mẹ, đây là người đến đọc thư à?' Bà đáp: 'Đúng vậy.' Nàng chìa bức thư về phía thần. Khoảng cách giữa nàng và cửa chớp khoảng nửa sải tay, thần vươn tay lấy thư, rướn đầu và vai qua khung cửa để tiến lại gần. Nhưng chớp nhoáng chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra, mụ già liền dùng đầu đẩy mạnh lưng thần vào trong, trong khi tay vẫn giữ bức thư. Thần hoảng hốt quay nhìn thì thấy mình đã lọt thỏm vào giữa nhà, ngay khu tiền sảnh. Mụ già lẹ làng như chớp đóng sập cửa lại. Thiếu niên thấy thần đã vào trong liền ôm chầm lấy, nắm tay không cho thoát, dẫn đường đi qua bảy lớp tiền sảnh, dưới sự dẫn đường của mụ già cầm nến, cho đến khi vào đến một sảnh đường rộng lớn có bốn bề vòm (lewan) đủ chỗ cho kỵ sĩ chơi polo. Nàng mời thần ngồi: 'Hãy mở mắt ra xem nào.' Thần vâng lời mở mắt, choáng váng vì cú xô lúc nãy, nhận ra toàn bộ kiến trúc sảnh đường bằng cẩm thạch lộng lẫy, nội thất rặt gấm vóc lụa là, cùng hai chiếc băng ghế đồng và chiếc sả vàng rồng cẩn ngọc ngà chẳng kém gì ngai vàng đế vương.
Đoạn nàng cất lời: 'Hỡi Aziz, giữa sự sống và cái chết, anh chọn cái nào dễ chịu hơn?' Thần đáp: 'Sự sống.' — 'Vậy nếu sự sống tốt hơn, hãy cưới em đi.' Thần từ chối: 'Ta không muốn cưới một người như nàng.' Nàng cười: 'Cưới em thì anh mới mong thoát khỏi nanh vuốt của mụ Deleeleh gian xảo.' — 'Deleeleh gian xảo là ai?' nàng mỉm cười: 'Sao anh ngốc thế, sống chung với ả ròng rã một năm bốn tháng mà không biết à? Cầu Chúa tiêu diệt ả! Chẳng có ai hiểm độc hơn ả đâu. Không biết bao nhiêu mạng người đã chết dưới tay ả trước anh rồi! Sao anh may mắn thoát nạn suốt bấy lâu mà không bị ả hạ sát?' Nghe vậy, thần hết sức kinh ngạc: 'Hỡi tiểu thư, ai đã kể cho nàng nghe về ả?' — 'Ta biết ả rành như thời gian biết thảm họa vậy. Nhưng giờ hãy khai thật mọi chuyện kinh hoàng anh trải qua với ả để ta biết nguyên nhân anh bình an vô sự.' Thần liền kể lại toàn bộ câu chuyện với mụ Deleeleh lẫn người em họ Azeezeh. Nghe đến đây, nàng thở dài đập tay vào nhau, nước mắt tuôn rơi khi hay tin Azeezeh qua đời: 'Cầu Chúa đền bù xứng đáng cho anh, hỡi Aziz; chính nàng ấy là vị ân nhân cứu mạng anh khỏi mụ Deleeleh, bằng không anh đã bỏ mạng rồi.' Đoạn nàng vỗ tay gọi: 'Hỡi mẹ, hãy đưa những người ở trong ra đây.' Lập tức mụ già dẫn bốn nhân chứng hợp pháp bước vào thắp nến. Các nhân chứng chào hỏi rồi ngồi xuống. Nàng khoác khăn izar lên người, ủy quyền cho một nhân chứng đại diện ký kết hôn ước. Thế là hôn lễ diễn ra, nàng tuyên bố đã nhận đủ sính lễ tiền mặt lẫn hồi môn trả chậm, và chính nàng đang nợ thần mười nghìn đồng bạc. Sau khi trả thù lao cho nhân chứng, họ ra về.
Sáng hôm sau, thần định bước ra ngoài nhưng nàng chặn lại cười vang: 'Anh tưởng ra khỏi nhà tắm dễ dàng chắc? Anh tưởng ta giống mụ Deleeleh gian xảo à? Đừng hòng mơ tưởng chuyện đó. Anh là chồng hợp pháp của ta theo kinh Quran và Sunnah rồi, hãy tỉnh táo lại đi. Căn nhà này chỉ mở cửa đúng một ngày duy nhất trong suốt cả năm thôi. Cứ ra cửa chính mà xem.' Thần chạy ra ngó thử thì thấy cửa đã bị đóng đinh kín mít. Trở vào báo cáo, nàng bảo: 'Hỡi Aziz, lượng bột mì, ngũ cốc, trái cây, lựu, đường, thịt, cừu, gà đủ dùng cho chúng ta nhiều năm trời, và từ đêm nay cửa sẽ đóng kín mít không mở cho đến tròn một năm sau. Ta biết đời nào anh mới bước chân ra khỏi đây được trước khi hết năm.' Nghe vậy, thần thốt lên: 'Không có sức mạnh nào ngoài Chúa Trời!' Nàng cười to, thần cũng cười theo, cam chịu ở lại với nàng cho đến khi tròn mười hai tháng trọn, sinh hạ được một cậu con trai kháu khỉnh. Ngày đầu tiên của năm tiếp theo, tiếng mở cửa vang lên, người ta mang ka'ak, bột mì, đường xá vào. Thần đòi ra ngoài nhưng nàng cản: 'Hãy đợi đến tối, lúc anh vào thế nào thì lúc ra thế ấy.' Thần đành chờ đợi, và khi đến giờ G, lúc đang run rẩy sắp bước ra thì nàng bắt thề: 'Xin thề bởi Thượng Đế, ta không buông tay anh cho đến khi anh thề độc sẽ quay lại trước khi cửa đóng.' Thần đành thề độc bằng thanh kiếm, kinh Quran và lời thề ly dị sẽ quay về với nàng.
Thần bước ra khỏi nhà, tiến thẳng về khu vườn. Thấy cửa mở toang như cũ, thần tức giận càu nhàu: 'Ta vắng bóng suốt cả năm trời, nay ghé qua đột xuất mà vẫn thấy nó mở toang. Để ta vào xem thử người đẹp có còn đó không rồi hãy về thăm mẫu thân.' Lúc đó đã tối mịt, thần bước vào vườn, tiến đến maq'ad và thấy mụ Deleeleh gian xảo đang ngồi chống cằm gối. Nhan sắc tàn tạ, mắt trũng sâu. Vừa thấy mặt thần, ả reo lên: 'Tạ ơn Chúa vì anh đã bình an!' rồi toan đứng dậy nhưng ngã khụy vì quá mừng rỡ. Thần hổ thẹn cúi gằm mặt, rồi bước đến ôm hôn: 'Sao bà biết ta sẽ đến lúc này?' Ả đáp: 'Ta nào biết đâu, xin thề bởi Thượng Đế, suốt ròng rã một năm nay ta chưa hề chợp mắt, đêm nào cũng mòn mỏi ngóng chờ anh từ cái ngày anh rời đi với bộ y phục mới và hứa hẹn quay về. Anh thất hứa suốt mấy đêm liền nhưng ta vẫn kiên nhẫn chờ đợi, vì đó là bản chất của kẻ si tình. Giờ hãy khai mau lý do vắng bóng suốt một năm qua.' Thần kể hết sự thật. Nghe tin thần đã kết hôn, mặt ả cắt không còn giọt máu. Thần bảo: 'Ta đến đây tối nay nhưng sáng phải đi ngay.' Ả thét lên: 'Chưa đủ đô à? Ả ta cưới anh, giăng bẫy giam cầm anh ròng rã một năm trời, bắt anh thề ly dị phải quay về trước sáng hôm nay, không cho anh gặp gỡ thăm nom mẫu thân hay ta, không cho phép anh ngủ qua đêm với bất kỳ ai ngoài ả! Thế mà anh nỡ đối xử với ta như thế sao, trong khi ta biết anh trước cả ả? Đáng thương thay cho Azeezeh, nàng đã chịu đựng những đày đọa không ai thấu, kiên nhẫn đến chết dưới sự áp bức của anh. Chính nàng đã bảo vệ anh khỏi tay ta. Ta đã tha thứ cho anh, ban tự do cho anh dù hoàn toàn có quyền giam cầm hay hạ sát.'
Nói xong, ả òa khóc giận dữ, trừng mắt nhìn thần khiến cơ thể thần run lẩy bẩy như hạt đậu rang trên chảo lửa. Ả thét lớn, mười nữ nô từ đâu xông ra quật ngã thần xuống sàn. Bị đè nghiến, ả cầm dao lao tới: 'Ta sẽ cắt cổ ngươi như cắt tiết dê, đó là sự đền bù nhẹ nhàng nhất cho những gì ngươi đã gây ra cho em họ mình.' Thấy dưới thân đám nữ nô, mặt dính đầy bụi đất và lưỡi dao kề cận, thần thấy cái chết đã rành rành trước mắt. Van xin khẩn khoản nhưng ả chẳng mộng mị động lòng, ra lệnh trói chặt hai tay sau lưng, đẩy ngửa ra, đè bẹp lên ngực và đầu. Hai đứa nắm chân, hai đứa đè chân, còn mụ chủ tàn ác cùng hai đứa khác xách roi đánh túi bụi cho đến ngất lịm. Tỉnh lại, thần tự nhủ: 'Thà bị cắt cổ quách cho rồi còn hơn chịu đòn roi thế này!' Thần nhớ đến lời người em họ dặn dò: 'Cầu Chúa cứu rỗi anh khỏi sự hiểm độc của ả!' và gào khóc thảm thiết. Ả mài dao sắc lẹm, ra lệnh cho đám nữ nô: 'Lột trần cổ nó ra.' May thay, Chúa đã truyền cảm hứng cho thần thợ nhắc lại hai câu khẩu hiệu mà người em họ trù dặn: 'Sự trung thực là cao quý, sự phản trắc là ti tiện.' Nghe thế, ả thét lên: 'Cầu Chúa thương xót em, hỡi Azeezeh! Ước gì tuổi trẻ của em được bảo toàn! Em đã cứu rỗi đời hắn lúc sinh thời lẫn khi đã khuất!' Ả quay sang phán: 'Xin thề, ngươi đã cứu mạng nhờ hai câu khẩu hiệu ấy, nhưng ta bắt buộc phải để lại một dấu vết trừng phạt.' Ả giáng một nhát dao chí mạng khiến thần ngất lịm. Khi tỉnh dậy, máu đã cầm, ả ném cho ly rượu và đá một cước hắt hủi.

Thần lết đứng dậy, lê lết từng bước về nhà người vợ hợp pháp. Cửa mở toang, thần lết vào nhà rồi ngất lịm. Vợ chạy ra bế xốc lên sảnh đường, chìm vào giấc ngủ sâu. Tỉnh dậy, thần thấy mình bị vứt chỏng chơ ngoài cổng khu vườn.
Trong nỗi đớn đau, thần lê thân về nhà, thấy mẫu thân đang khóc lóc thảm thiết: 'Ước gì mẹ biết con đang phiêu bạt chốn nào!' Thần lao vào lòng mẫu thân. Nhìn thấy con, bà hoảng hốt nhận ra sắc diện xanh xao đen đúa hòa lẫn trên mặt. Thần nhớ đến người em họ hiền hậu, nhận ra tình yêu đích thực và khóc thương thảm thiết. Mẫu thân cũng khóc theo rồi thông báo: 'Hỡi con, phụ thân con đã qua đời rồi.' Nghe tin dữ, cơn thịnh nộ bùng lên, thần khóc lốt ngất lịm đi. Tỉnh lại, thần ngó đăm đăm về góc phòng nơi người em họ thường ngồi, tiếp tục gào khóc ngất lịm nhiều bận cho đến nửa đêm. Mẫu thân bảo: 'Phụ thân con mất đã mười ngày rồi.' Thần đáp: 'Con chẳng màng ai ngoài em họ; con đáng đời bị trừng phạt vì đã ruồng bỏ nàng.' Mẫu thân an ủi: 'Tạ ơn Chúa vì mày chỉ bị trừng phạt thế chứ không bị ả ta cắt cổ!' Bà bôi thuốc trị thương cho đến khi thần hồi phục sức lực, rồi đoạn nói: 'Này con, giờ ta sẽ trao món quà con bé gửi gắm, vì mày đã thực sự hối hận và thương nhớ nó.' Bà mở rương lấy ra mảnh vải lanh thêu hình linh dương mà thần từng tặng thuở trước, trên đó viết chi chít những vần thơ than trách tình yêu đơn phương, kèm theo mẩu giấy chứa đựng những lời khuyên nhủ an ủi.
Đọc xong mẩu giấy, thần lại òa khóc cùng mẫu thân, chìm đắm trong tang thương suốt một năm ròng. Đến năm sau, một số thương nhân cùng thành phố—chính là đoàn lữ hành thần đang đi cùng—chuẩn bị lên đường buôn bán. Mẫu thân khuyên nhủ thần nên tháp tùng theo: 'Biết đâu chuyến đi sẽ xua tan nỗi sầu muộn này, đi một hai năm rồi trở về khi đoàn lữ hành về nước, lòng dạ sẽ thanh thản hơn.' Nghe lời khuyên, thần chuẩn bị hàng hóa lên đường. Suốt hành trình, nước mắt chưa từng cạn khô; mỗi khi dừng chân hạ trại, thần lại trải mảnh vải lanh ngắm nghía, nghĩ về người em họ và khóc thương thảm thiết cho một người đã chết vì sự vô tình của mình. Khi đoàn lữ hành trở về, thần cũng về theo. Nỗi đau chẳng những không vơi mà còn nhân lên bội phần khi đi ngang qua quần đảo Long (Camphor) và Lâu đài Thủy tinh.

Quần đảo này gồm bảy hòn đảo, do vua Shah-Zaman cai trị. Ngài có một cô con gái tên là Dunya, người được đồn đại là tác giả của các bức tranh linh dương mà thần đang sở hữu. Khi biết tin, khao khát diện kiến Dunya bùng cháy trong lòng. Khi đoàn lữ hành vào lãnh thổ, thần rảo bước lang thang đến những khu vườn ngập tràn cây trái. Người quản vườn là một lão sheykh lớn tuổi, thần liền hỏi: 'Hỡi lão, khu vườn này của ai?' — 'Của con gái nhà vua, tiểu thư Dunya, chúng ta đang ở dưới chân cung điện của nàng. Nếu muốn giải khuây, hãy mở cửa phụ vào ngắm cảnh và ngửi hương hoa.' Thần xin phép ngồi lại chờ tiểu thư đi qua để chiêm ngưỡng dung nhan. Lão sheykh đồng ý. Thần đưa tiền nhờ lão mua ít đồ ăn. Lão mừng rỡ mở cửa dẫn thần vào khu vực đẹp đẽ, mang ra món cừu quay ngon lành. Đang ăn uống ngon lành thì cửa mở, lão sheykh giật mình bảo thần trốn đi. Một tên hoạn quan da đen thò đầu ra hỏi: 'Có ai ở đây không?' Lão đáp: 'Không.' — 'Đóng cửa lại đi.' Lão sheykh tuân lệnh, và tiểu thư Dunya bước ra. Trông thấy nàng, thần ngỡ vầng trăng hạ phàm, tâm trí bấn loạn khao khát khôn cùng. Nàng đi dạo một lát rồi đóng cửa bước vào trong. Thần thất thểu quay về trọ, hiểu rằng chẳng thể tiếp cận nàng. Khi đoàn lữ hành khởi hành, thần lại theo về thành phố của Taj-el-Mulook và gặp gỡ ngài tại đó. Đó là toàn bộ câu chuyện của thần.
Nghe xong câu chuyện, trái tim Taj-el-Mulook khắc khoải tình yêu dành cho tiểu thư Dunya. Ngài lên ngựa cùng Aziz trở về kinh thành, bố trí nhà cửa tươm chu đáo cho Aziz rồi quay về hoàng cung. Nỗi nhớ thương khiến nước mắt tuôn rơi đầm đìa (bởi nghe ngóng cũng tác động mạnh hệt như mắt thấy tai nghe), sắc diện đổi thay rõ rệt khiến vua cha hốt hoảng gặng hỏi. Ngài thuật lại toàn bộ câu chuyện về Dunya và tình yêu sét đánh từ lời kể. Vua cha can ngăn: 'Hỡi con, phụ thân nó là quốc vương, xứ sở lại xa xôi cách trở, hãy từ bỏ ý định đó đi. Vào hậu cung của mẹ con đi, năm trăm giai nhân xinh đẹp tựa trăng rằm đang chờ, muốn chọn ai chẳng được; nếu không thích, ta sẽ hỏi cưới một công chúa còn lộng lẫy hơn Dunya cho con.' Taj-el-Mulook cương quyết: 'Thưa phụ vương, con chỉ muốn duy nhất nàng; chính nàng là người đã thêu bức họa linh dương mà con từng thấy, con phải có được nàng, bằng không con sẽ trúng vào hoang mạc tự sát.' Vua cha đành nhượng bộ: 'Hãy kiên nhẫn để ta phái sứ thần sang hỏi cưới, nếu từ chối ta sẽ đem quân san bằng vương quốc của hắn.' Ngài gọi Aziz đến giao trọng trách dẫn đường cho tể tướng. Aziz tuân lệnh. Sứ đoàn khởi hành vượt ngày đêm đến quần đảo Long Não, hạ trại bên bờ sông và cử sứ giả vào báo tin. Nửa ngày sau, các đại thần vương quốc ra nghênh đón đoàn đến yết kiến nhà vua. Sau bốn ngày dâng lễ vật, ngày thứ năm tể tướng tiến vào trình bày sứ mệnh cầu hôn. Vua Shah-Zaman vô cùng lúng túng vì ái nữ vốn ghét chuyện kết hôn, bèn quay sang hỏi tên hoạn quan: 'Hãy báo tin này cho tiểu thư Dunya.' Hoạn quan quay về bẩm báo: 'Hỡi bệ hạ, khi con thưa chuyện, tiểu thư Dunya nổi trận lôi đình, cầm gậy đuổi đánh định đập vỡ đầu con khiến con phải chạy tháo thân; nàng dấy lên lời thề: "Nếu phụ vương ép gỡ, ta sẽ giết chết kẻ đó rồi tự sát."' Nhà vua đành từ chối sứ đoàn tể tướng. Tể tướng quay về báo cáo thất bại. Nhà vua định dấy binh chiến tranh nhưng tể tướng ngăn lại vì sợ công chúa tự sát.
Biết chuyện, Taj-el-Mulook khăng khăng: 'Con không thể sống thiếu nàng, con sẽ cải trang thành thương nhân tự mình tìm cách gặp nàng cho bằng được.' Vua cha đành cấp vốn hàng hóa trị giá một trăm nghìn đồng tiền vàng, phái tể tướng và Aziz tòng vong. Họ cải trang lên đường hành trình suốt hai tháng trời đằng đẵng. Khi đến nơi, họ thuê một căn lữ quán lớn làm trọ, rồi thuê hẳn một biệt phủ sang trọng để lập mưu tính kế. Tể tướng hiến kế: 'Theo ta, ngài nên mở cửa hàng buôn bán vải vóc thượng hạng tại khu chợ sầm uất, lấy Aziz làm phụ tá, với dung mạo tuấn tú của ngài chắc chắn sẽ thu hút thiên hạ.' Taj-el-Mulook khen phải, lập tức mua sắm y phục thương nhân, chi một ngàn đồng vàng thuê cửa hàng lộng lẫy nhất khu chợ vải, trưng bày toàn bộ bảo vật thượng hạng.
Sự xuất hiện của Taj-el-Mulook với nhan sắc tuyệt trần khiến cả khu chợ náo động, tưởng rằng thiên thần sa ngã hay Rizwan mở cửa thiên đàng quên đóng. Tể tướng sắp xếp đâu vào đấy rồi lui về trọ suy tính mưu kế. Một ngày nọ, một mụ già cùng hai nữ nô ghé ngang cửa hàng. Bị thu hút bởi nhan sắc ngời ngời, mụ trầm trồ: 'Đây chẳng phải người phàm, đích thị là thiên thần cao quý!' Mụ tiến lại gần chào hỏi. Taj-el-Mulook mỉm cười đứng dậy, theo hiệu của Aziz mời mụ ngồi, ân cần quạt mát cho mụ. Khi mụ hỏi thăm hàng hóa, Aziz mang ra tấm vải lanh trị giá một ngàn đồng vàng. Mụ già kinh ngạc trước vẻ đẹp của tấm vải lẫn chủ nhân, cất lời ca ngợi rồi hé lộ mua cho tiểu thư Dunya. Nghe nhắc đến người thương, Taj-el-Mulook bừng tỉnh, sai Aziz gói tấm vải biếu mụ già. Mụ mừng rỡ ra về mang dâng tiểu thư Dunya. Khi Dunya trầm trồ trước vẻ đẹp của tấm vải, mụ già liền rỉ tai ca ngợi dung nhan tuyệt mỹ của ông chủ cửa hàng. Công chúa tò mò gặng hỏi và sai mụ quay lại nhắn nhủ: 'Hãy chuyển lời chào của ta, chúc mừng ngài đến thăm thành phố, bất kỳ mong muốn nào cũng sẽ được ta đáp ứng.'
Mụ già quay lại báo tin mừng, Taj-el-Mulook mừng quýnh khôn tả, lập tức xin bút mực viết thư tỏ bày tâm tư nhung nhớ sâu kín gửi trao mụ mang về. Dunya đọc thư xong nổi trận lôi đình đe dọa đóng đinh treo cổ, nhưng mụ già khuyên nên viết thư cảnh cáo ngược lại. Dunya đành viết thơ đe dọa xử trảm. Mụ già mang thư đến, Taj-el-Mulook đọc xong lại đau khổ nức nở nhờ viết thư đáp lời đầy thiết tha. Cứ thế qua lại vài bận, mụ già gian xảo kiên trì làm trung gian nhận vô số vàng thưởng. Đỉnh điểm, mụ giấu thư trong tóc, lừa lúc Dunya chải đầu để rơi ra. Đọc xong bức thư chan chứa tình cảm, Dunya tức giận mắng mới mụ già, nhưng cuối cùng đgành viết thư uy hiếp lần cuối.

Hết cách, tể tướng hiến mưu cuối cùng: vẽ bức tranh tích chuyện chim bồ câu trên tường khu vườn riêng của công chúa để khơi gợi tâm lý. Tể tướng chi đậm cho thợ vẽ bức tranh bồ câu cái mắc bẫy thợ săn, bồ câu đực quay lại cứu thì bị đại bàng bắt mất. Khi Dunya vào vườn dạo chơi cùng mụ già, trông thấy bức tranh liền chấn động tâm lý, liên tưởng đến giấc mơ xưa và chạnh lòng thương xót phái nam. Cùng lúc đó, mụ già ra hiệu cho Taj-el-Mulook bước ra lộ diện. Đụng độ nhan sắc đỉnh cao, Dunya chính thức sụp đổ lọt lưới tình, say đắm ngất ngây. Nàng thúc giục mụ già tìm cách đưa chàng vào cung.
Hôm sau, mụ già cải trang Taj-el-Mulook thành một nữ nô, dắt theo vào cung qua bảy lớp cửa. Lọt qua sự kiểm tra của hoạn quan nhờ màn cãi vã đanh thép, chàng tìm đến căn phòng thứ sáu theo chỉ dẫn và hội ngộ tiểu thư Dunya. Hai người ôm chầm lấy nhau, tận hưởng những giây phút mặn nồng suốt ròng rã nửa năm trời.
Trong khi đó, tể tướng và Aziz tưởng Taj-el-Mulook đã mất mạng, hoảng hốt về nước cấp báo vua cha. Vua Suleyman Shah nổi trận lôi đình, dấy đại quân rợp trời rợp đất kéo sang vương quốc xứ Camphor để đòi con. Giữa lúc ấy, một hôm quá chén ngủ quên, hai người bị hoạn quan Kafur phát hiện khi đi tra xét. Vua Shah-Zaman tức giận phán quyết xử trảm ngay lập tức. Giữa pháp trường, đao phủ chuẩn bị hạ dao thì đại quân của vua Suleyman Shah vừa vặn kéo đến vây kín thành phố. Sứ thần tể tướng tiến vào diện kiến, đe dọa san bằng lãnh thổ nếu hoàng tử mệnh vong. Vua Shah-Zaman hoảng loạn tột độ, vội vàng chạy ra pháp trường cứu vớt Taj-el-Mulook, tạ tội xin tha thứ.
Trong hậu cung, Dunya định lấy gươm tự sát vì người yêu, nhưng vua cha kịp thời ngăn cản và thông báo hôn sự được chấp thuận. Nàng mừng quýnh chạy đến ôm chầm lấy Taj-el-Mulook thắm thiết trước mặt vua cha. Vua Shah-Zaman phái sứ thần đón tiếp vua cha Suleyman Shah vô cùng trọng thị, gửi tặng vô số chiến mã, lạc đà và lễ vật. Hai vị quân vương hội ngộ mừng tủi, chính thức ký kết hôn ước linh đình cho Taj-el-Mulook và Dunya.

Trước lúc chia tay, Taj-el-Mulook không quên đền ơn Aziz bằng một trăm trân phẩm vải vóc thượng hạng để chàng trở về quê nhà đoàn tụ với hiền mẫu, tiếp tục câu chuyện tình hoài niệm bên nấm mồ người em họ Azeezeh. Còn Taj-el-Mulook ở lại sống hạnh phúc viên mãn bên hoàng hậu Dunya và vua cha, tận hưởng những ngày tháng vinh quang ngập tràn hoan lạc.














