Do có nhu cầu ấn hành một ván bản mới cho tác phẩm này, ông Lane đã được đề nghị đảm nhận việc hiệu đính nhà in. Tuy nhiên, những công trình khảo cứu văn chương vất vả không để lại cho ông chút thời gian rảnh rỗi nào cho mục đích này, nên ông đã chỉ định tôi—với tư cách là học trò của ông trong việc nghiên cứu tiếng Ả Rập, người am hiểu các trước tác của ông, và đã nhiều năm sống cùng ông tại Cairo—để phần nào lấp vào chỗ trống ấy. Tôi đã nhận trọng trách này với sự e dè lớn lao, bởi ý thức được những khiếm khuyết của bản thân cùng vốn hiểu biết uyên bác của ông; nhưng tôi vẫn cảm thấy ít ra mình có thể đảm bảo được độ chính xác của văn bản và sự trung thành tận tụy đối với các nguyện vọng của ông.
Ấn bản hiện tại được in, mà không có bất kỳ sự thay đổi nào của riêng tôi (ngoại trừ những điểm được đánh dấu là như vậy và đã được trình lên ông Lane), dựa trên một bản sao của ấn bản đầu tiên và hoàn chỉnh, kèm theo các bản sửa đổi và bổ sung do ông Lane thực hiện từng thời kỳ kể từ lần xuất bản đầu tiên. Tuy nhiên, nhờ vào độ chính xác khi thực hiện bản dịch cùng tính đầy đủ của các Chú thích, những điểm sửa đổi ấy không nhiều lắm. Cũng chính những lý do đó đã khiến cho các chú thích của riêng tôi trở nên ít ỏi: tôi tin rằng các chú thích của Bác tôi đã tự thân hoàn chỉnh; và rằng tôi đôi khi đã lầm lỡ, ngay cả trong những ngoại lệ hiếm hoi mà tôi tạo ra, theo hướng thêm thắt không cần thiết.
Một cuốn sách không do chính tác giả giám sát việc ấn hành đôi khi bị nhìn nhận với sự hoài nghi. Do đó, tôi xin đoan quyết với bạn đọc rằng trong trường hợp này, quý vị có thể hoàn toàn tin tưởng ngay cả vào các dấu câu; toàn bộ văn bản đã được đối chiếu công phu với bản sao có chú thích của ông Lane, dẫu cho quá trình này đã gây ra sự chậm trễ đáng kể trong việc in ấn tác phẩm.
Tôi gọi đây là một ấn bản hoàn chỉnh, nhằm phân biệt nó với hai ấn bản khác từng được xuất bản mà không có các chú thích của ông Lane hay phương pháp phiên âm từ ngữ phương Đông của ông, lại kèm theo những đổi thay khác so với ấn bản chuẩn mực. Sự đánh giá cao của công chúng dành cho các chú thích này, cùng những lợi ích từ các từ nước ngoài được chép đúng chính tả, theo tôi đã được minh chứng qua nhu cầu đối với ấn bản hiện tại. Về vấn đề cách viết các từ ngữ phương Đông bằng ký tự châu Âu, tôi không cần phải bàn nhiều, bởi cuộc tranh luận ấy xem như đã lắng xuống. Thế hệ ngày nay không còn coi những lỗi lầm cổ lỗ là "những cái tên quen thuộc thời thơ ấu," mà thay vào đó luôn nỗ lực đạt đến sự chính xác trong mọi việc; và những ai còn bám lấy "Mahomet" hay "Mahomed" thì cũng nên nhất quán mà khai quật lại cái tên "Mahound" đã chìm vào quên lãng từ thời các cuộc Thập tự chinh.
Những quan điểm của dịch giả về nguồn gốc và lịch sử văn học của "Nghìn lẻ một đêm" sẽ được thể hiện một cách đầy đủ trong bài Điểm sách ở cuối tập thứ ba. Trong lời tựa nguyên thủy của mình, ông đã tuyên bố: "Những nhận định mà tôi trình bày ở đây với bạn đọc, được viết ra khi mới chỉ có một phần ba tác phẩm mà chúng đề cập chính được in ra, ắt phải thiếu sót hơn so với khi được để dành lại cho một thời điểm muộn hơn. Trong quá trình ấn hành, tôi có thể có điều kiện hình thành những cái nhìn mạch lạc và trọn vẹn hơn về các chủ đề vốn dĩ nên được thảo luận thấu đáo ở phần đầu bản dịch của tôi, và vì vậy, tôi cho rằng tốt hơn nên đưa vào phần cuối của tác phẩm nhiều quan sát mà thoạt đầu tôi dự định đặt ở phần mở đầu của tập thứ nhất." Do đó, ông đã muốn tôi cấu trúc lại lời tựa, chuyển mọi phần liên quan đến các chủ đề nói trên sang bài Điểm sách, giữ lại những gì phù hợp hơn để đứng ở phần mở đầu của tác phẩm, đồng thời bổ sung thêm bất kỳ nội dung nào của riêng tôi.
Mục đích thực hiện bản dịch được thể hiện rõ nhất qua những lời trong lời tựa của ông Lane.
"Việc tôi đảm nhận dịch lại những Câu chuyện trong 'Nghìn lẻ một đêm' hàm ý một sự đánh giá không mấy thiện cảm về bản dịch đã giải trí cho chúng ta bấy lâu nay; nhưng tôi phải bày tỏ những phản đối của mình đối với bản dịch ấy bằng những lời lẽ rõ ràng, và tôi sẽ làm điều đó thông qua một vài lời bàn về bản dịch của Galland, nguồn cội của nó; bởi chính mình ông là người phải chịu trách nhiệm cho những lỗi lầm chính. Tôi có phần ngần ngại khi đưa ra nhận xét này, bởi một số người, trong đó có cả những bậc danh tiếng xứng đáng là các học giả tiếng Ả Rập, từng tuyên bố rằng bản dịch của ông là một sự cải thiện so với bản gốc. Rằng 'Nghìn lẻ một đêm' có thể được cải thiện rất nhiều, tôi hoàn toàn sẵn lòng thừa nhận; nhưng tôi cũng quả quyết không kém rằng Galland đã bóp méo tác phẩm một cách trầm trọng. Sự am hiểu của ông về phong tục và tập quán Ả Rập không đủ để giúp ông tránh khỏi những sai lầm thô thiển nhất, và qua văn phong của bản dịch, ông đã gán cho toàn bộ tác phẩm một nét giả tạo, qua đó đánh mất phần lớn giá trị quý giá nhất trong nguyên tác—ý tôi là sự chính xác đến từng chi tiết đối với những đặc thù phân biệt người Ả Rập với mọi dân tộc khác, không chỉ ở phương Tây mà cả ở phương Đông.
Bị đánh lừa bởi tính mơ hồ trong bản dịch của Galland, du khách ở Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ và Ấn Độ thường lầm tưởng rằng những Câu chuyện Ả Rập miêu tả phong tục riêng biệt của thổ dân các xứ sở đó; nhưng không ai từng đọc chúng bằng ngôn ngữ gốc mà lại am hiểu sâu sắc về người Ả Rập lại có thể giữ quan điểm này: chính tại các xứ sở Ả Rập, đặc biệt là Ai Cập, chúng ta mới thấy được con người, y phục và kiến trúc mà tác phẩm miêu tả trong hầu hết mọi trường hợp, ngay cả khi bối cảnh được đặt ở Ba Tư, Ấn Độ hay Trung Hoa.
Tin chắc vào tính chân thực của nhận định này, tôi tự cho mình sở hữu những phẩm chất cốt yếu để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hiện tại, nhờ vào việc tôi đã sống vài năm tại Cairo, giao du hầu như chỉ với người Ả Rập, nói ngôn ngữ của họ, tuân thủ các thói quen chung của họ với độ chính xác khắt khe nhất, và được đón nhận vào xã hội của họ trên cơ sở bình đẳng hoàn toàn. Kể từ khi Đế quốc Ả Rập ở Baghdad sụp đổ, Cairo đã trở thành đô thị hàng đầu của thế giới Ả Rập: các Sultan người Mamluk của nơi này, được đưa vào Ai Cập từ thuở thiếu thời, một cách tự nhiên đã tiếp thu phần lớn phong tục của cư dân bản địa, những thứ mà về sau người Thổ Nhĩ Kỳ theo phái Osmanli ít khi làm thay đổi. Cairo là thành phố nơi phong tục Ả Rập hiện vẫn tồn tại ở trạng thái tinh tế nhất; và tôi tin rằng tình hình cũng như vậy khi tác phẩm này được sáng tác."
Hai chuyến đi đầu tiên của ông Lane đến Ai Cập diễn ra vào thời điểm mà lần cuối cùng, phong tục và tập quán Ả Rập như chúng tồn tại trong thời đại của Nghìn lẻ một đêm còn có thể được nghiên cứu; và bản dịch của ông được viết chỉ chùn chút sau khi ông trở về Anh lần thứ hai. Dù một vài câu chuyện có thể có nguồn gốc Ấn Độ hay Ba Tư, ở trạng thái hiện tại, chúng phác họa bức tranh về phong tục, tư duy và ngôn ngữ của triều đình và thời đại các Sultan Mamluk ở Ai Cập, vốn có nhiều nét tương đồng với triều đại của các Caliph ở Baghdad hay của Đại đế quốc Ả Rập. De Sacy và Von Hammer, hai nhà Đông phương học nổi tiếng có quan điểm khác biệt sâu sắc về nguồn gốc của cuốn sách, đều đồng thuận rằng những câu chuyện có sự xuất hiện của Caliph Harun Er-Rashed (những câu chuyện hay nhất, với rất ít ngoại lệ, trong toàn bộ tuyển tập) mang đậm bản sắc Ai Cập. Thế nhưng, kể từ khi "Người Ai Cập cận đại" được ông Lane miêu tả, mọi thứ ở phương Đông đã đổi thay, và mỗi ngày trúng chứng kiến sự tàn lụi của một phong tục cũ, để rồi bị thay thế bởi sự lai căng bắt chước châu Âu. Dưới thời trị vì của Muhammad Ali, mọi dấu vết về sự uy nghi và nghi lễ của triều đình Mamluk cứ thế phai nhạt dần. Y phục châu Âu đã soán ngôi trang phục phương Đông, vải dệt kim tuyến và triều phục; kiến trúc châu Âu chen chúc bên cạnh vẻ đẹp kỳ quái của cố đô Ả Rập; và những đoàn kỵ mã gồm năm mươi người tháp tùng một bậc quyền quý nay được kế vị bởi một cỗ xe ngựa kiểu Anh làm ô uế những con đường yên ả của thành phố, đồng thời xua đuổi cả những con yêu tinh 'Efrit lẫn ký ức về chúng. Ông Lane đã chứng kiến thời kỳ cuối cùng của Cairo trong sự vẹn nguyên của nó; và ông không hề phóng đại tư cách của mình, với tư cách là tác giả cuốn "Người Ai Cập cận đại", cho nhiệm vụ dịch thuật Nghìn lẻ một đêm.
Về bản thảo dùng làm cơ sở cho bản dịch này cùng phương pháp được tuân thủ trong quá trình thực hiện, tôi xin phép được trích dẫn lại lời tựa của ấn bản đầu tiên. Ông Lane cho biết:
"Tôi đã lấy ấn bản Cairo mới được in làm tiêu chuẩn chung cho văn bản gốc; bởi nó vượt trội hơn hẳn so với các ấn bản in khác, và có lẽ tốt hơn mọi bản chép tay. Nó dường như trùng khớp gần như hoàn toàn với bản thảo nổi tiếng của Von Hammer, mà tôi tin rằng không có bản sao nào phong phú hơn tồn tại; đồng thời nó chứa đựng tất cả các câu chuyện trong bản dịch cũ, ngoại trừ những câu mà theo Von Hammer, Galland dường như đã lấy từ các tác phẩm khác bằng tiếng Ả Rập, Ba Tư và Thổ Nhĩ Kỳ trong Thư viện Hoàng gia Paris. Bản thảo dùng để in đã được đối chiếu và hiệu đính cẩn thận bởi một bậc hiền triết uyên bác, sheikh 'Abd-Er-Rahman Es-Saftee Esh-Sharkawee, người cũng giám sát tiến trình ấn bản. Nhưng bên cạnh giá trị do những lời sửa vị sheikh này mang lại, bản sao được dùng cho toàn bộ bản dịch của tôi, ngoại trừ một vài trường hợp, còn sở hữu một ưu điểm mà tôi tin rằng khiến nó vượt trội một cách tuyệt đối so với bất kỳ bản nào khác hiện đang tồn tại: nó đã được trau chuốt, sửa đổi lại lần nữa, đồng thời được minh họa bằng vô số chú thích viết tay bởi một người mà tôi nghĩ mình có thể đường hoàng tuyên bố là nhà ngôn ngữ học hàng đầu của học viện Ả Rập xuất sắc nhất thời đại chúng ta, sheikh Muhammad 'Eiyad Et-Tantawee, hay chính xác hơn là Et-Tanditaee. Các chú thích của ông chủ yếu mang tính ngữ học, giải thích những từ không thuộc ngôn ngữ bác học; và nhiều chú thích trong số đó đã giúp ích cho tôi rất nhiều; dù tôi thấy hầu hết là không cần thiết, nhờ vào vốn tiếng Ả Rập hiện đại mà tôi tích lũy được trong quá trình giao lưu với những người sử dụng nó. Những chỗ sửa đổi văn bản của ông rất nhiều; và vì chúng chỉ thu hút sự quan tâm của rất ít người, tôi chỉ đề cập đến một số ít trong phần chú thích của bản dịch, dẫu cho tôi đã phải kìm nén một sự cám dỗ mạnh mẽ muốn làm ngược lại để các học giả Ả Rập có thể phán đoán tính trung thực của bản dịch thông qua việc so sánh nó với văn bản của ấn bản Cairo. Đối với những đoạn thơ được đan xen xuyên suốt tác phẩm, ông đã dành sự quan tâm đặc biệt; không chỉ sửa chữa những lỗi lầm tìm thấy trong đó, mà còn luôn bổ sung các dấu nguyên âm, và thông thường là cả các lời bình hay giải thích. Qua đó, tôi đã cho thấy mình mang ơn những công trình nghiên cứu uyên bác của ông biết nhường nào. Dù vậy, tôi cũng xin nói thêm rằng tôi đã cả gan bất đồng với ông trong việc cắt nghĩa một vài từ ngữ; khi tìm thấy những tầng nghĩa thích hợp hơn do người Ả Rập ở những vùng đất mà ông chưa từng đặt chân tới gán cho chúng, hoặc những ý nghĩa tương tự được ghi trong các từ điển in mà ông không hề hay biết; và tôi cũng đã chỉnh sửa một vài lỗi lầm đã lọt khỏi sự chú ý của ông. Thiếu đi sự trợ giúp quý báu mà ông đã dành cho mình, tôi đã chẳng dám mạo muội thực hiện bản dịch; và dẫu có sự trợ giúp ấy, tôi cũng không thể làm được nếu không có lợi thế tích lũy được từ quãng thời gian sống giữa lòng cộng đồng người Ả Rập. Không một dịch giả nào có thể luôn chắc chắn rằng, từ hai mươi nghĩa trở lên mà một từ tiếng Ả Rập hàm chứa, mình đã chọn đúng cái nghĩa mà tác giả muốn truyền đạt; nhưng trong hoàn cảnh của mình, tôi có được sự thỏa mãn khi tự tin rằng mình chưa từng gán cho một từ hay một cụm từ nào trong tác phẩm này một nghĩa bất tương thích với việc phác họa những bức tranh trung thực về đời sống và phong tục Ả Rập.
Tôi thấy việc lược bỏ những câu chuyện, giai thoại... tương đối kém hấp dẫn hoặc đáng chê trách ở bất kỳ khía cạnh nào là điều đúng đắn. Nói cách khác, tôi không đưa vào bất cứ thứ gì mà mình cho là thua kém quá xa về mặt hấp dẫn so với các câu chuyện trong bản dịch cũ. Một vài đoạn văn vốn mang tính chất đáng chê trách trong nguyên tác đã được tôi uyển chuyển biến đổi đôi chút; nhưng khi làm điều đó, tôi đặc biệt cẩn trọng để sao cho chúng hoàn toàn hòa hợp với phong tục và tập quán Ả Rập. Ban đầu, tôi có ý định bỏ đi hầu như toàn bộ phần thơ ca, vì nghĩ rằng việc đánh mất nhịp điệu và vần điệu, cùng sự bất khả thi trong việc giữ lại các ví dụ về chơi chữ và một số thể loại tu từ khác ngập tràn trong đó, sẽ khiến các bản dịch thơ trở nên khó lòng chấp nhận được đối với bạn đọc; nhưng sau đó tôi ngẫm ra rằng bản chất của tác phẩm sẽ vì thế mà thay đổi lớn lao; và giá trị của nó, với tư cách là tấm gương phản chiếu phong tục và tình cảm Ả Rập, sẽ suy giảm đáng kể. Do đó, tôi quyết định bảo lưu một lượng đáng kể các đoạn thơ chọn lọc, được lựa chọn hoặc vì giá trị biểu cảm tương đối của chúng, hoặc vì đòi hỏi của mạch văn. Số lượng các bài thơ góp mặt trong tập đầu tiên của bản dịch xấp xỉ một nửa số lượng có trong phần tương ứng của nguyên tác; tuy nhiên, trong một số trường hợp, tôi đã bỏ bớt một hoặc nhiều câu thơ vì thấy không phù hợp hoặc vì lý do nào khác; và ở một vài nơi, tôi chỉ đưa ra câu thơ đầu tiên hoặc cặp câu đầu tiên. Những đoạn thơ này nhìn chung không thể coi là sáng tác của tác giả hay các tác giả của tác phẩm: chúng có vẻ phần lớn được mượn từ người khác, và nhiều bài được lấy từ trước tác của các nhà thơ trứ danh. Để tránh những sự ngắt quãng tẻ nhạt vốn xuất hiện trong nguyên tác vào thời điểm kết thúc mỗi Đêm, tôi đã chia bản dịch thành các chương, mỗi chương gồm một câu chuyện, hoặc hai hay nhiều câu chuyện liên kết với nhau, và chỉ đơn thuần đề cập đến Đêm mở đầu cũng như Đêm kết thúc của mỗi chương ấy.
Bởi nguyên tác được thiết kế thuần túy cho mục đích giải trí của người Ả Rập, tôi bổ sung các chú thích phong phú vào bản dịch, nhằm khiến nó trở nên dễ hiểu và thú vị hơn đối với độc giả Anh quốc. Những chú thích này hoàn toàn là của riêng tôi, trừ những trường hợp tôi có ghi chú rõ ràng; và mục tiêu chung của tôi trong đó là cung cấp những sự giải thích minh họa đủ để thỏa mãn bạn đọc phổ thông, mà không bắt họ phải tra cứu các tác phẩm khác. Trong nhiều chú thích, tôi nỗ lực chứng minh—thông qua các đoạn trích từ các sử liệu Ả Rập được kính trọng cùng các trước tác khoa học và văn học khác, chủ yếu được rút ra từ các bản thảo nằm trong tay tôi, cũng như qua những lời khẳng định và giai thoại mà tôi từng nghe, cùng cách ứng xử mà tôi từng chứng kiến trong quãng thời gian giao lưu với người Ả Rập—rằng những mối quan hệ hoang đường nhất trong tác phẩm này nhìn chung không hề bị coi là điều khó tin, ngay cả bởi các tầng lớp trí thức của dân tộc đó. Đây là một điểm mà tôi cho là vô cùng quan trọng để đặt tác phẩm vào đúng ánh sáng trước những người đồng hương của mình. Tôi từng sinh sống tại một mảnh đất nơi những vị thần linh vẫn được tin sùng là vâng lệnh phù thủy hay kẻ sở hữu bùa hộ mệnh, và hành sự trong các biến cố thường ngày; và tôi đã lắng nghe những câu chuyện về chiến tích của họ được kể lại như những sự thật bởi những con người khả kính bậc nhất, và bởi cả những kẻ vốn chẳng thèm hạ mình đọc những câu chuyện trong 'Nghìn lẻ một đêm' chỉ vì chúng là hư cấu, chứ không được viết theo văn phong trau chuốt thông thường của các sáng tác văn chương."
Tôi đã đề cập từ trước rằng lịch sử văn học của "Nghìn lẻ một đêm" được thảo luận trong phần Điểm sách của ông Lane được đính kèm ở cuối bản dịch này. Trong tiến trình nghiên cứu tiếng Ả Rập, và đặc biệt hơn kể từ khi tôi bận rộn với công việc biên tập tác phẩm hiện tại, tôi đã nỗ lực hình thành một phán đoán vô tư về vấn đề hóc búa này; và mọi cuộc khảo cứu của tôi đều củng cố thêm niềm tin vào việc đồng tình với các quan điểm được bày tỏ ở đó. Von Hammer có khuynh hướng đặt nặng quá mức vào nguồn gốc Ba Tư hoặc Ấn Độ được phỏng đoán của những Câu chuyện này; trong khi De Sacy, mặt khác, bác bỏ niềm tin về bất kỳ mối liên hệ nào giữa tác phẩm cổ và tác phẩm hiện đại hơn, cho rằng tác phẩm sau là một sáng tác độc lập. Dù vậy, việc phát hiện ra một đoạn văn trong một tác phẩm Ả Rập do Von Hammer thực hiện, kể từ sau khi Tiểu luận của De Sacy và Lời tựa của ông Lane được ấn hành, đã đặt vấn đề ra ngoài vòng nghi vấn; và các học giả giờ đây đều đồng thuận, bất chấp những lời châm biếm duyên dáng của De Sacy cùng sức nặng từ danh tiếng lẫy lừng của ông, rằng "Nghìn đêm" đã hình thành phần nào khuôn mẫu cho "Nghìn lẻ một đêm". Mặt khác, sự thấu cảm sắc sảo của De Sacy đối với bản sắc hiện đại (và chủ yếu mang tính Ai Cập hoặc Ả Rập) của cuốn sách ở hình thức hiện tại phải được thừa nhận trọn vẹn, và thực tế đã được chính Von Hammer nhìn nhận như thế. Phong tục, y phục và lối tư duy được phác họa trong đó mang đậm dấu ấn Ả Rập từ đầu đến cuối, ngay cả trong những câu chuyện có lẽ được lưu giữ từ nguyên gốc Ba Tư hoặc Ấn Độ, mà câu chuyện về Con ngựa thần là minh chứng xuất sắc nhất trong bản dịch này. Bên cạnh những câu chuyện liên quan đến triều đình và các cuộc phiêu lưu của Harun Er-Rashed, vốn như tôi đã lưu ý từ trước, mang đậm màu sắc Ai Cập đến kỳ lạ, nhiều câu chuyện khác dường như đã được cấu trúc lại, nếu không muốn nói là thực sự được sáng tác tại Ai Cập. Cũng không kém phần đúng đắn khi cho rằng những câu chuyện này nhìn chung là hay nhất trong toàn bộ tuyển tập, nếu loại trừ các câu chuyện về nô lệ Kafoor, về Azeez và Azeezeh, cùng về Es-Sindibad; bởi những câu chuyện ấy quả thực không thua kém bất kỳ tác phẩm nào. Những câu chuyện mang tính khẩu ngữ và gần gũi hơn cũng chỉ về cùng một nguồn cội; chẳng hạn như câu chuyện về Ala-ed-Deen Abu-sh-Shamat (được bao trùm bởi những đặc điểm Ai Cập trong từ vựng và các phương diện khác), câu chuyện về Aboo-Seer và Aboo-Keer, cùng câu chuyện về Maarouf. Những câu chuyện được xây dựng chủ yếu dựa trên nguyên tác Ba Tư hoặc Ấn Độ dường như là những nơi mà các sinh vật siêu nhiên đóng vai trò nổi bật nhất; và như ông Lane đã nhận xét, chúng thường thiếu vắng các đoạn thơ, dẫu điều ngược lại không áp dụng cho lớp câu chuyện trước. Các giai thoại phần lớn mang tính lịch sử: nhiều câu chuyện trong số đó, ở phần Chú thích, được nhận diện là tương đồng với những giai thoại trong các tác phẩm Ả Rập khác; và hầu hết đều có nguồn gốc Ả Rập.
Những bằng chứng về một niên đại muộn màng rải rác khắp cuốn sách có thể là phần thêm thắt của các nhà chép sử và người kể chuyện; nhưng khi được cân nhắc trong mối liên hệ với bản chất chung của nó, chúng mang một sức nặng nhất định không thể phớt lờ: điều này đã được trình bày cẩn thận trong phần Điểm sách.
Những lập luận của ông Lane ủng hộ việc tập hợp "Nghìn lẻ một đêm" là một tác phẩm đơn lẻ, chứ không phải là một trong nhiều tuyển tập tương tự, đối với tôi có vẻ là những lập luận đanh thép: không phải là ít quan trọng nhất trong số đó là thực tế rằng không có tuyển tập tương tự nào được biết là tồn tại, cũng không được đề cập bởi bất kỳ tác giả Ả Rập nào, ngoại trừ ngoại lệ duy nhất là "Nghìn đêm" thời cổ, mà tôi tin ông đã chứng minh là nguyên mẫu ở mức độ xa xôi của "Nghìn lẻ một". Trích dẫn lời của Lời tựa về vấn đề nguồn gốc của tác phẩm như chúng ta được biết—"Tôi đã cho thấy quan điểm của mình rằng tất cả các bản sao hoàn chỉnh của 'Nghìn lẻ một đêm' hiện được biết đến về cơ bản đều bắt nguồn, dẫu không trực tiếp, từ một nguyên bản duy nhất; và tôi giữ nguyên quan điểm ấy đối với mọi mảnh vỡ chứa đựng phần mở đầu của tác phẩm"; "không coi tác phẩm là hoàn toàn nguyên bản, cũng không phải là tác phẩm đầu tiên cùng loại; bởi nhiều câu chuyện chứa đựng trong đó chắc chắn có nguồn gốc khác nhau và từ thời cổ; và tôi nghĩ rằng bố cục chung của nó có lẽ được mượn từ một trước tác cổ xưa hơn nhiều, mang cùng tựa đề 'Nghìn lẻ một đêm', [hoặc 'Nghìn đêm'], một bản dịch của một tác phẩm Ba Tư mang tựa đề tương ứng, cụ thể là 'Hezar Afsaneh'... Có một điều chắc chắn—rằng 'Nghìn lẻ một đêm', [hoặc 'Nghìn đêm'], được dịch từ tiếng Ba Tư, cổ hơn rất nhiều so với tác phẩm hiện được biết đến dưới tựa đề đó, đồng thời cực kỳ khác biệt so với tác phẩm sau."
Khi những sự thật này được cân nhắc trong mối tương quan với nhau, niên đại được ấn định trong phần Điểm sách đối với việc sáng tác tác phẩm không thể bị xem một cách hợp lý là cách xa sự thật. Chính tại Ai Cập, và đặc biệt là trong triều đình Mamluk, chúng ta phải tìm kiếm để bắt gặp con người, phong tục và thói quen tư duy của "Nghìn lẻ một đêm"; trong khi văn phong của ngôn ngữ được dùng để viết chúng lại chính là thứ mà chúng ta có thể trông đợi từ một người Ai Cập thuộc thời đại ấy, dẫu không thành thạo tiếng Ả Rập cổ điển nhưng vẫn nỗ lực bắt chước nó, chắc chắn dễ được hiểu rộng rãi hơn vào thời đó so với ngày nay đối với những người Ai Cập cận đại. Sự phỏng theo thứ ngôn ngữ cổ này, tôi xin lưu ý, là, và vẫn luôn là, đặc trưng của tất cả các học giả Ả Rập, dù họ là người Ai Cập hay bản xứ của các xứ sở Ả Rập khác (bởi Ai Cập thực sự là thế); nhưng không có trường hợp nào khác về một tác phẩm hư cấu mà trong đó nỗ lực ấy lại thất bại một cách kỳ lạ trong việc chạm đến ngôn ngữ cổ điển hay giữ lại ngôn ngữ cận đại; trong khi tất cả các câu chuyện Ả Rập khác chắc chắn được sáng tác bằng cái này hoặc cái kia. Những cuốn tiểu thuyết Ai Cập cận đại phần lớn được viết bằng phương ngữ thông tục của đời sống thường ngày; nhưng những tác phẩm có niên đại cổ hơn thì không hề bị hiện đại hóa, như một số kẻ đã suy diễn một cách vô lý rằng "Nghìn lẻ một đêm" đã bị như vậy: một sự thay đổi kiểu đó sẽ nằm ngoài mọi tiền lệ trong văn học Ả Rập, như ông Lane đã chứng minh trong bài Điểm sách theo cách giúp tôi rảnh rang khỏi sự cần thiết phải bàn thêm ở đây về vấn đề cụ thể này. "Nghìn lẻ một đêm" trưng bày một văn phong vốn dĩ xa lạ với thính giả của người kể chuyện lãng mạn, mà lại không đạt tới sự uyên bác cổ điển: và kết luận ép buộc chúng ta phải thừa nhận rằng tác phẩm trưng bày ngôn ngữ của một thế hệ đã lùi vào dĩ vãng, thứ ngôn ngữ mà (khi cân nhắc đến các dấu hiệu khác về thời đại và đất nước của nó), khó lòng có thể tranh cãi, chính là ngôn ngữ của thời kỳ hậu kỳ dưới các triều đại cai trị Mamluk ở Ai Cập, trước khi đất nước ấy rơi vào tay người Thổ Nhĩ Kỳ. Theo những lời trong Lời tựa của ông Lane:—"Hầu hết các câu chuyện chứa đựng trong đó không nghi ngờ gì có nguồn gốc cổ xưa hơn, và nhiều câu chuyện được xây dựng dựa trên những truyền thuyết và tích cổ rất lâu đời; nhưng tất cả các truyền thuyết hoặc tích cổ ấy rõ ràng đã được cấu trúc lại để trở thành những bức tranh khắc họa trạng thái phong tục từng tồn tại giữa lòng người Ả Rập, và đặc biệt là giữa những người dân Ai Cập, vào thời kỳ được đề cập ở đây; và tôi nghĩ rằng nhà soạn giả của tác phẩm, hoặc mỗi nhà soạn giả, nếu một người khởi xướng và người khác hoàn thành nó, chính là một người Ai Cập."
Nhưng một chủ đề được đông đảo công chúng ưa chuộng hơn nguồn gốc mơ hồ của nó chính là giá trị văn chương của tác phẩm này. Sức hấp dẫn kỳ lạ của những câu chuyện cổ Ả Rập ấy, sự lãng mạn siêu nhiên, tình yêu cuồng nhiệt, triết lý kỳ quái và sự hài hước lố bịch của chúng, kể từ thời của Galland, đã mang về cho chúng nhiều độc giả hơn bất kỳ tác phẩm thế tục nào khác. Bản dịch của Galland, với tất cả sự què quặt, ngây ngô và bất nhã của nó, đã giành được một chỗ đứng chưa từng lung lay; và nó chỉ đòi hỏi sự xuất hiện của một bản dịch uyên bác và dễ đọc, được gột rửa khỏi những khiếm khuyết ấy, để trở nên được chấp nhận rộng rãi trong các gia đình Anh quốc. Thói quen du lịch sang phương Đông đã góp phần không nhỏ làm bùng lên khao khát về một ấn bản chuẩn mực có chú thích của một tác phẩm độc nhất vô nhị, ngay cả ở những vùng đất của thần linh và phiêu lưu ấy, trong việc miêu tả nổi bật bản sắc, đời sống phương Đông, và khi được dịch sát nghĩa, cả thành ngữ của họ. Sự hài hước của cuốn sách, lúc thì bộc trực, lúc thì thâm trầm (ai mà chẳng mê mẩn Kafoor cùng "nửa lời nói dối" của hắn?), khiến những câu chuyện hài hước nhìn chung vượt trội hơn các câu chuyện lãng mạn; nhưng nỗi bi cảm có lẽ vượt lên trên mọi vẻ đẹp khác. Câu chuyện về Shems-en-Nahar nổi bật nhờ nét đặc trưng này; và câu chuyện về Azeez và Azeezeh (lần đầu tiên được ấn hành trong bản dịch này), vượt trội hơn bất kỳ câu chuyện Ả Rập nào mà chúng ta từng biết về sự dịu dàng tinh tế.
Về giá trị phê bình của bản dịch do ông Lane thực hiện, tôi hầu như không cần phải bàn tới. Tuy nhiên, tôi có thể lưu ý rằng các sinh viên học tiếng Ả Rập coi nó như một sách giáo khoa khi đọc bản gốc; trong khi độc giả Anh quốc thường không quên rằng đó là một bản dịch, và không hề nhận ra sự chính xác đến từng con chữ trong cách truyền tải một ngôn ngữ xa lạ hoặc không quen thuộc.
Tôi đã đề cập đến hệ thống được áp dụng trong việc phiên âm các từ ngữ nước ngoài, và giờ đây tôi khép lại những lời mở đầu này (vốn chỉ nhằm mục đích giúp bạn đọc phổ thông dễ dàng hơn trong việc nghiền ngẫm bài Điểm sách uyên bác và làm dịu bớt những bước chân đầu tiên của họ trên một vùng đất xa lạ), bằng cách trích dẫn, với một vài sự cải thiện nhỏ từ ông Lane, lời giải thích về hệ thống đó từng được đưa ra trong lời tựa của ấn bản đầu tiên.
"Khi viết các từ Ả Rập và các từ phương Đông khác trong tác phẩm hiện tại, tôi đã sử dụng một hệ thống phù hợp với ngôn ngữ của chúng ta và ở mức độ đơn giản nhất; và tôi tuân thủ hệ thống này trong mọi trường hợp, vì mục đích đồng nhất cũng như tính xác thực. Một số người từng phản đối việc tôi viết theo cách này một vài từ quen thuộc được tìm thấy trong từ điển của chúng ta; nhưng họ sẽ tha lỗi cho tôi khi nhận xét rằng cách dùng chung không hoàn toàn đồng điệu với quan điểm của họ. Hầu như mọi tác giả, tôi tin vậy, giờ đây đều viết 'Koran' hoặc 'Kuran', và 'Pasha' hoặc 'Pacha', thay cho các từ trong từ điển của chúng ta là 'Alcoran' và 'Bashaw'; và hầu hết các tác giả xuất sắc nhất của chúng ta về Lịch sử Ả Rập, thời gian gần đây, đã viết 'Khalif' thay cho 'Caliph'. Trong một tác phẩm đề cập đến một dân tộc phát âm chữ w trong tiếng Ả Rập thành v, tôi nên viết 'Vezeer' thay cho từ Ả Rập 'Wezeer'; nhưng việc làm như vậy khi chủ đề là về người Ả Rập, theo tôi là không thích hợp; và trong quan điểm này, tôi được ủng hộ bởi đại đa số những người bạn làm văn chương và các lĩnh vực khác mà tôi từng tham khảo ý kiến về chủ đề này, theo tỷ lệ năm chọi một. Tôi xin nói thêm rằng Tiến sĩ Johnson từng viết trong Từ điển của ông: 'Vizier [đúng ra là Wazir]'; và nếu chúng ta biểu đạt các nguyên âm tiếng Ả Rập bằng các nguyên âm tương đương trong tiếng Ý, thì chính xác phải là 'Wazir' hoặc 'Wezir'.—Hệ thống mà tôi sử dụng ở đây đòi hỏi ít lời giải thích; bạn đọc phổ thông có thể được hướng dẫn phát âm
a như trong từ 'beggar' của chúng ta:
é như trong 'there':
á như trong 'father':
ee như trong 'bee':
e như trong 'bed':
ei như từ 'eye' của chúng ta:
ey như trong 'they':
oo như trong 'boot':
i như trong 'bid':
ow như trong 'down':
o như trong 'obey' (ngắn):
và
ó như trong 'bone':
u như trong 'bull'.
Chữ cái y được phát âm như trong 'you' và 'lawyer':
không bao giờ như trong 'by'.
Một dấu lược apostrophe, khi đứng ngay trước hoặc sau một nguyên âm, được tôi sử dụng để biểu thị vị trí của một chữ cái không có ký tự tương đương trong bảng chữ cái của chúng ta; nó mang âm họng giống như âm thanh phát ra trong tiếng kêu của loài cừu: ạ (có dấu chấm ở bên dưới) đại diện cho chính âm thanh đó ở cuối một âm tiết, khi nó được phát âm mạnh mẽ hơn.
Mỗi phụ âm được phân biệt bằng một dấu chấm ở dưới đều mang một âm cứng đặc biệt.
Vì đã tránh tối đa việc sử dụng các dấu trọng âm, tôi xin đề nghị bạn đọc ghi nhớ rằng một nguyên âm đơn, khi không được đánh dấu trọng âm, luôn là nguyên âm ngắn; và rằng một nguyên âm kép hoặc nguyên âm đôi ở cuối một từ, khi không được đánh dấu như vậy, sẽ không mang trọng âm (ví dụ như từ 'Welee', được phát âm là 'Wĕ'lee'); đồng thời, dấu sắc không phải lúc nào cũng biểu thị điểm nhấn chính hoặc điểm nhấn duy nhất (từ 'Haroon' được phát âm là 'Haroón'); rằng một nguyên âm mang dấu huyền (chỉ xuất hiện ở cuối một từ) không được nhấn mạnh, dẫu nó là nguyên âm dài; và rằng các tổ hợp dh, gh, kh, sh và th, khi không bị ngăn cách bởi dấu gạch nối, mỗi tổ hợp đại diện cho một chữ cái Ả Rập duy nhất."
Tôi chỉ cần bổ sung thêm một trích dẫn nữa từ Lời tựa của ông Lane.
"Nhiều hình khắc được đan xen với mật độ dày đặc trong tác phẩm này sẽ hỗ trợ đáng kể cho việc giải thích cả Văn bản lẫn các Chú thích; và để đảm bảo độ chính xác của chúng trong khả năng tối đa của mình, tôi đã cung cấp cho họa sĩ trang phục hiện đại cùng các tài liệu cần thiết khác. Nhờ đó, ông đã có thể khiến các bản thiết kế của mình trùng khớp hơn với trang phục... của những thời đại mà các câu chuyện thường minh họa, so với khi ông chỉ dựa vào những mô tả thiếu sót mà tôi tìm thấy trong các tác phẩm Ả Rập. Ngoại trừ một vài trường hợp, khi tôi đưa ra những chỉ dẫn mà mình cho là cần thiết, các bản thiết kế gốc của ông đều đã được trình lên tôi; và khi đề xuất bất kỳ sự sửa đổi nào, tôi đã cố gắng hết sức để tránh việc kìm hãm trí tưởng tượng của ông, thứ vốn chẳng cần đến lời ca tụng nào từ tôi. Ông đã thu nhận được một khái niệm chung về kiến trúc Ả Rập từ công trình vĩ đại của Murphy về các dấu tích Ả Rập ở Tây Ban Nha, cùng công trình lộng lẫy và chính xác về cung điện Alhambra của hai ông Goury và Jones; và nhờ lòng tốt của người bạn tôi, ông Hay ở Linplum, ông đã được phép sử dụng một cách tương tự một bộ sưu tập các bản vẽ rất chính xác và tuyệt đẹp về vô số mẫu vật kiến trúc Ả Rập tinh xảo nhất ở trong và xung quanh Cairo, do ông Pascal Coste thực hiện, hiện thuộc quyền sở hữu của ông Hay. Ông cũng đã tham khảo một số bản vẽ phương Đông cùng nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Tôi đã bày tỏ lòng biết ơn đối với những cá nhân khác trong một số phần Chú thích."
"Phần bao gồm trong tập đầu tiên của bản dịch này kết thúc ở một phần của Đêm thứ một trăm ba mươi bảy: do đó, cần phải lưu ý rằng,—thứ nhất, có ít thứ phải lược bỏ hơn ở phần đầu của nguyên tác so với phần sau:—thứ hai, các Đêm ở phần đầu nhìn chung dài hơn rất nhiều so với phần tiếp theo; một trăm Đêm đầu tiên (không tính phần Giới thiệu) chiếm 213 trang trong ấn bản Cairo của nguyên tác; một trăm Đêm thứ hai, 149 trang; thứ ba, 107 trang; thứ tư, 106 trang; thứ năm, 94 trang:—thứ ba, một quan sát tương tự cũng áp dụng cho các Chú thích được chèn vào bản dịch của tôi; những chú thích đi kèm với các câu chuyện đầu tiên tất yếu phải phong phú hơn nhiều so với các phần khác."

