_003.jpg)
“Muôn năm!” Phóng tới cái chân lông lá, Salem ngoạm nó bằng những chiếc răng mèo nhọn sắc và ném nó qua đầu. Có những điều chắc chắn mà không một con mèo có lòng tự trọng nào bỏ qua được, hắn nghĩ khi dùng vuốt tát vào món đồ chơi đó và nhìn nó bay lăn trên sàn phòng ăn. Những vật màu hồng có lông rõ ràng rơi vào loại này. Miễn là chúng không còn sống, màu hồng và không thuộc về bầy thú yêu quý của Drell.
Ngồi xổm xuống với cặp mắt không dao động tập trung vào con mồi tưởng tượng, Salem ngọ ngoạy mông với vẻ đề phòng, rồi phóng lên. Ngoạm rách vật đầy lông bất hạnh này lần nữa, Salem quăng nó qua đầu.
Zelda chụp lấy và ném trả lại.
Không thoát khỏi bản chất mèo, Salem ngồi xổm và tát vào cái chân thỏ đang bay trong không khí. Nó gào và phóng lên, vồ lấy khi món đồ chơi này vừa chạm đất. “Wahoo!”
“Ít nhất thì trong nhà này cũng có ai đó đang vui.” Zelda có vẻ bực tức lê bước đến cửa bếp.
“Tốt nhất là nên gõ cửa trước khi vào,” Salem cảnh báo.
“Sao vậy? Bộ Hilda đang thử nấu ăn lại từ đầu hả?” Salem cười hĩnh hích. Lần cuối cùng Hilda thử làm bữa tối theo kiểu người thường, phải mất cả tiếng đồng hồ chỉ trỏ để dọn dẹp mớ bừa bộn. “Cứ cho là bà ta đang nấu ăn đi. Dù tin hay không, manh nha một mối tình với quý ông đúng mẫu có thể đang sôi trong đó, theo kiểu ta thường nói.”
“Mi đùa đấy hả?” Zelda nhìn qua kẹt cửa, rồi vội lùi lại. “Mi không hề đùa. Ông này ở đâu ra vậy?”
“Arizona. Hắn bị lạc khi đi tìm gặp tay chỉ huy dàn nhạc giao hưởng ở trường đại học và đến đây hỏi đường. Hắn chơi đàn xelô và dạy nhạc.” Salem gõ đầu mình với vẻ suy tư. “Bà có cho đây là một sự trùng hợp hoàn toàn ngẫu nhiên không?”
“Phải. Một sự trùng hợp hoàn hoàn ngẫu nhiên. Ước gì ta cũng may mắn như vậy trong việc tìm cuốn Các Nguyên Lý Khoa Học Cơ Bản của Tiến Sĩ Peavey.”
“Vậy chứ trong thư viện lâu đài của ông công tước người Áo kia không có sao?”
“Không.” mặt Zelda sầm lại đầy bất mãn khi bà lắc đầu. “Ta nghĩ là ông ấy giữ ta lại với hy vọng ta sẽ tặng một món tiền cho quỹ bảo quản lâu đài.”
Bất ngờ nhảy dựng lên, Salem giữ thăng bằng trên hai chân sau trong vài giây, rồi quất mạnh cái chân ngang phòng lần nữa. Nhảy tưng tưng sau nó, con mèo ngoạm chặt cái chân trong miệng.
Chuông cửa sau reo vang.
Chìm trong suy tư, Zelda không nhúc nhích.
Salem chạy lon ton vào nhà bếp với chiến lợi phẩm của mình, nhưng phớt lờ chuông cửa khi chuông reo lần thứ hai. Nó là mèo. Nó không thể mở cửa.
Ngồi ở bàn, tay nắm tay Gabe, Hilda rời mắt khỏi ông ta và nhăn mày với cái cửa sau. “Zelda!”
Zelda bước tới ngưỡng cửa. “Chị ở ngay đây, Hilda. Em không cần phải hét lên như vậy.”
Chuông cửa lại reo.
“Chị ra mở nghen?” Hilda hỏi khi ánh mắt say đắm của bà quay lại Gabe. “Và nếu đó là một người lạ to, đen, đẹp trai nữa, thì làm ơn nói là anh ta đã trễ mười lăm phút rồi.”
“Tôi thích một phụ nữ có óc hài hước,” Gabe nói.
Chịu thua, Zelda sải bước ra cửa và mở toang. “Gì thế này?”
“Hàng chuyển cho Salem Spellman dưới sự chăm sóc của Zelda Spellman.”
Cho mình? Salem ngước lên với vẻ quan tâm bất ngờ.
Người đàn ông mặc đồng phục thấy một hộp giấy nhỏ vào hai tay Zelda và chìa ra một bìa cứng. “Xin ký vào đây.”
“Chờ chút.” Zelda giơ tay lên. “Cái gì trong này vậy?”
Người giao hàng nhún vai. “Đừng hỏi tôi, quý bà. Tôi chỉ là người giao hàng.”
Zelda nhìn Salem. “Bộ mi đặt hàng mà không báo với ta hả?”
Không thể nói trước mặt người thường hoặc kêu meo meo với cái miệng đầy lông, Salem lắc đầu ra hiệu không.
Gabe cười to hồn nhiên. “Tôi cũng nói chuyện với lũ chó củà tôi kiểu như tôi đang chờ chúng trả lời mình vậy.”
“Nghe tuyệt không, Zelda?”
“Quyến rũ.” Zelda lẩm bẩm khi bà xem xét nhãn gói quà. “Ô, của tôi. Tôi quên là mình đã đặt hàng cái này.”
Tò mò vì bà ta có đặt hàng thứ gì đó cho mình, Salem cố nhả cái chân thỏ ra để xem coi đó là cái gì, nhưng không thể. Răng nó bị dính chặt vào cái lỗ nhỏ xíu của móc khóa kim loại này.
“Ký tên chưa bà?” người giao hàng chìa miếng bìa cứng ra và bỏ đi ngay khi Zelda nguệch ngoạc tên bà vào đó.
“Cái gì trong đó vậy?” Hilda tò mò hỏi.
Ôi trời! Salem điên cuồng cố bứt cái dây khóa. Cái chân thỏ hồng đung đưa quất vào mặt nó khi nó lúc lắc dầu.
“Một sự trùng hợp ngẫu nhiên khó tin nữa.” Đặt cái hộp lên bàn Zelda cười với Gabe. “Tôi là Zelda. Còn anh?”
“Đây là Gabe Hawkins.” Hilda cất tiếng du dương đầy hối tiếc. “Anh ấy dạy nhạc và chơi đàn xelô.”
“Tôi cũng nghe nói vậy.”
“Cô nghe chuyện đó ở đâu vậy, Zelda?” Gabe hỏi, thực sự tò mò. “Tôi vừa mới đến Westbridge tối hôm qua mà!”
“Ơ...” Zelda khéo léo khỏa lấp lỗi lầm này bằng việc nói thật và một cái nháy mắt khôi hài. “Con mèo đã nói cho tôi biết!”
Gabe hài hước. “Con mèo dấu đầu hở đuôi hả?”
“Phải! Một cái gì đại loại như thế!”
“Cô ấy vui tính thiệt.” Cười ầm, Hilda nhìn Zelda với vẻ cảnh cáo. “Chắc chị ấy đứng ngoài cửa nghe lén tụi mình nói chuyện.”
Salem cúi thấp đầu, tập trung dùng vuốt giữ cái chân thỏ và kéo. Các móc khóa tách rời ra và cái chân màu hồng bay vút lên cao. Nó rớt trên đồng quần áo cũ vẫn còn nằm cạnh cửa-sau.
“Ta thú nhận, ta đã ...” Zelda giật mình khi Salem nhảy phóc lên bàn. “Salem! Đàng hoàng coi nào!”
Phớt lờ theo kiểu mèo, Salem khịt mũi khi nó đọc thật lẹ cái nhãn trên chiếc hộp bí ẩn. Nó trợn mắt kinh ngạc và mũi giật giật trong trạng thái đề phòng! Cái gói chứa sáu mẫu hàng của một sản phẩm mới dành cho mèo hiệu King Kitty. Và có một hộp đựng món trứng cá hồi! Việc chơi với cái chân thỏ đã khiến nó tạm quên đi điều ám ảnh hồi sáng, nhưng bây giờ sự toại nguyện đó sắp xảy ra, nên cơn thèm khát lại trỗi dậy. Kêu meo meo om sòm, Salem cào vào cái hộp.
“Nó làm sao vậy?” Hilda hỏi.
“Mơ ước hôm nay của nó đã được chấp nhận,” Zelda nói với vẻ vừa bối rối vừa bực bội. “Có một lon trứng cá hồi dành cho mèo trong hộp giấy đó.”
Hilda giật mình. “Chuyện lạ đây.”
Zelda nhìn Gabe đầy thận trọng, rồi nhìn thẳng vào Hilda. “Chị cũng nghĩ y như vậy.”
“Nhưng em không giải thích được,” Hilda khẳng định.
Zelda búng tay. Gabe đông cứng với ly cà phê lưng chừng.
“ Vậy là em không hề giở trò ma thuật với một cái bùa may mắn hoặc niệm một câu thần chú thèm khát hả?” Zelda hỏi.
“Không hề! Em xin lấy danh dự phù thuỷ của mình ra thề đấy. Chị còn nhớ là em đã muốn có một cuộc gặp gỡ lãng mạn thực sự không?”
“Đừng nhìn, tôi!” Salem rúm lại khi Zelda dán chặt vào nó với cái nhìn dò hỏi. “Tôi đã mất hết quyền lực từ khi Drell biến tôi thành một con mèo!”
Thở dài, Zelda vò đầu. “Theo ta tất cá chuyện này có thể chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên.”
“Vậy tôi ăn hộp trứng cá hồi đó được không?”
“Đôi khi thực tế lại kỳ lạ hơn cả ma thuật,” Hilda nói. “Bây giờ chị có định cho Gabe cử động lại để em có thể thuyết phục anh ấy rằng anh ấy thực sự yêu quý em không? Em chỉ còn có năm tiếng đồng hồ thôi đấy!”
Zelda thận trọng nói. “Em biết là em không hề thuyết phục ông Kraft yêu em. Mà ông ta đã yêu.”
“Willard là một tên già hủ lậu và em không muốn gặp lại ông ta.” Đôi mắt Hilda long lên. “Vậy đã rõ chưa.”
“Rất rõ.” Thở dài, Zelda giơ tay lên.
“Ê!” Salem rít lên. “Còn cái vụ ...”
Zelda búng ngón tay, thời gian bình thường hoạt động trở lại.
Điên tiết, Salem tấn công cái hộp, lần này thì dữ dội hơn.
“Tôi bị lac đường.” Nhấp ngụm cà phê và để tách xuống, Gabe nhìn hết người này sang người kia đầy bối rối, rồi dán mắt vào con mèo đang kích động.
“Không, anh không hề lạc,” Hilda quả quyết với ông ta. “Tôi đã tìm thấy anh.”
“Tìm thấy tôi? Ô!” Cười to, Gabe lấy thêm một ổ bánh mì quế nữa. “Tôi tới đây vì tôi bị lạc và cô tìm thấy tôi! Đó là một ý tưởng hay tuyệt.”
Cuối cùng móc được một vuốt vào bên dưới băng dán, Salem kéo mở nắp hộp giấy và lật nghiêng cái hộp. Một lon trứng cá hồi lăn ra. Salem vồ ngay lấy.
“Bộ hôm nay chị không có kế hoạch nào hết sao, Zelda?” Hilda hỏi đầy hy vọng.
“Không, trừ việc đem mớ quần áo này đến trường Sabrina. Mà chuyện này chị có thể làm ngay bây giờ, và xong ngay thôi.”
Ớ, không!. Thò vuốt ra Salem quấu rách tay áo Zelda.
“Sau khi chị cho con mèo thấy ghét này ăn!” cầm lon trứng cá hồi lên, Zelda nhìn con mèo đầy cảnh giác khi nó co vuốt lại, rồi cọ vào người bà.
“Một quyết định sáng suốt.” Gabe nháy mắt nói. “Đó là con mèo mè nheo nhất tôi từng gặp.”
Mi chưa từng có mặt ở đây khi cái ổ của ta bẩn đâu. Salem nghĩ.
Bụng Salem càng lúc càng sôi ùng ục khi nó nhìn Zelda cố mở nắp lon. Quả là chán đời khi họ có một vị khách người phàm và nó phải chờ thêm vài phút nữa bởi vì bà ta không thể sử dụng ma thuật để mở tung phần thưởng đó cho nó.
Sabrina nhìn ông Kraft chằm chằm. “Chịu phạt! Nhưng ...”
“Nhưng cái gì hả, em Spellman?” Ông hiệu phó lạnh lùng nhìn cô.
“Em không hề có ý gian lận! Em đang tìm ... một cây viết khác và ba lô của em rớt xuống sàn.”
“Hồi nãy em đâu có nói như vậy với thầy Rathbone.” Ngồi trên mép bàn, thầy Kraft hơi chồm tới. “Em nói với ông ta là em đang tìm cái chân thỏ may mắn của em mà.”
“Phải, em cũng tìm cái đó nữa.” Càng lúc càng lún sâu vào sự hiểu lầm tai hại, Sabrina cố hết sức để thoát ra.
“Nhưng trong ba lô của em đâu có cái chân thỏ nào.” Thầy Kraft ngửa người ra, mỉm cười đắc thắng và chỉnh lại chiếc kính trên sống mũi.
“Em biết. Vậy mới rắc rối.”
“Không. Những thứ này mới gây rắc rối.” Ông Kraft vẫy vẫy những trang ghi chép môn lịch sử đã gấp lại mà ông nhận từ tay thầy Rathbone, trước khi ông đẩy Sabrina vào văn phòng của mình.
Sabrina thở dài khi tình huống ngày càng bất lợi cho cô. Nghĩ lại, cô nhận ra rõ ràng vận số của cô càng lúc càng tệ hại từ khi cô lỡ chuyến xe bus. Thậm chí càng bối rối hơn khi các sự kiện cứ dồn dập tới mức báo động. Harvey đã thấy cô nói chuyện có vẻ thân mật với Jason và bỏ đi mất trước khi cô có thể giải thích. Val đã đồng ý thế chỗ cho Benjamin Heller trong buổi bán hàng từ thiện, trước khi cô kịp nhờ cô
ta thế chỗ mình. Một loạt những cuộc gặp gỡ bất ngờ với những người bạn và thầy Pool đã làm mất nửa giờ học ôn của cô và bây giờ là cái này đây!
“Đây là bom của em, đứng không nào?” Ông Kraft hỏi.
“Không.” Sabrina đáp một cách bình tĩnh và thong thả, cố không lộ vẻ lo lắng như cô đang cảm thấy. Cô vô tội nhưng rõ ràng rằng có một điều gì đó hoàn toàn bất ổn về chiếc bùa may mắn của cô. Hoảng hốt vì mất nó. Điều đó khiến cô lo lắng và sự lo lắng thái qúa của cô khiến cô có vẻ phạm tội. “Chúng là những tờ ghi chép khi em học bài. Và nó chỉ ghi về ba trang đầu của chương, trong khi câu hỏi của bài kiểm nằm ở phần cuối chương mà.”
“Nhưng em đã không biết chuyện đó khi em viết chúng ra.”
“Bộ em khờ sao mà lận tài liệu chỉ dính có mười phần trăm bài giảng?” giọng Sabrina đầy tuyệt vọng.
Ông Kraft cau mày, hít sâu vào, nín thở, rồi từ từ thở ra trước khi dán cái nhìn nghiêm khắc vào cô. “Từ đó tới giờ tôi chẳng thấy bọn nhóc các em làm trò gì khôn ngoan cả.”
“Nhưng em không hề gian lận! Mấy tờ giấy đó rớt ra khỏi ba lô của em! Thậm chí em chẳng nhìn tới chúng nữa.”
“Phải.” Ông Kraft gật đầu. “Đó là lý do tại sao tôi sẽ khoan thứ và cho em một tuần chịu phạt, thay vì đình chỉ việc học của em.”
“Một tuần!”“Bắt đầu từ hôm nay. Chiều nay thầy Pool trực.” Sabrina chớp mắt. “Nhưng em không thể ...” “Em phải xem như mình may mắn khi tôi đã nương tay với em.” Nhét mấy tờ giấy ghi ghú của cô vào túi áo khoác của mình, ông Kraft tuột khỏi bàn và trở về chỗ ghế của mình. “Còn năm phút nữa chuông mới reo. Em có thể chờ ở phòng ngoài.”
“Nhưng...”
Chỉnh lại kính và xem xét giấy tờ trên bàn, ông Kraft nói lời cuối cùng mà không nhìn cô. “Ra ngoài.”
Biết rõ có tranh cãi nữa cũng vô ích, Sabrina đi ra và ngồi xuống bàng ghế phòng ngoài. Bây giờ cô có ba chỗ để đến sau giờ học. Phòng cấm túc này, bán đồ cũ này, và trận đấu bóng tay tại hội quán Slicery. Than thầm vận xui tận mạng của mình, cô tự hỏi không biết mình có thể biến thành ba bản sao không! Cô cần phải xem lại cuốn sách ma thuật...
Và đọc dòng chú thích chữ nhỏ đó!
Đứng lên, Sabrina bước đến gần quầy.
Đứng canh chừng chiếc máy photocopy, vốn có thói quen tệ hại là làm nhăn những bản sao vừa mới ló ra nếu tờ giấy ra trước chưa được lấy khỏi khay, bà thư ký trường không thấy Sabrina khi cô hắng giọng.
“Xin lỗi?”
“Làm ơn chờ một chút.” Bà Atherton không ngoái lại mà vẫn dán mắt vào khay khi cẩn thận lấy từng tờ giấy một ra khỏi đó.
Sabrina không có nhiều thời gian. Trong chín phút nữa cô phải học tiết kế tiếp, chỉ vừa đủ thời gian để tạt về nhà, tìm cái bùa may mắn bị mất, và quay lại trường. Vì vận may vẫn còn khi cô tìm thấy cái chày của Hilda dưới gầm bàn, và nó rời bỏ cô trước khi cô đến bến xe bus, nên Sabrina tin chắc cái chân thỏ được yểm bùa đã văng ra khi cô làm rớt ba lô xuống sàn.
“Em chỉ cần một thẻ vào nhà vệ sinh,” Sabrina nài nỉ.
“Một phút thôi.” Bà Atherton giơ lên một ngón tay khi cái máy photo từ từ và miễn cưỡng cho ra một bản sao nữa.
Vận may vẫn không cho cô một cơ hội nào. Và dù vận may đang trôi qua, Sabrina vẫn không dám rời khỏi văn phòng trước khi chuông reo mà không có giấy phép do văn phòng cấp. Cô tin chắc ông Kraft sẽ nhận ra sự vắng mặt sớm của cô, hay một giáo viên nào đó sẽ thấy cô, nếu như cô đi đến nhà vệ sinh mà không có thẻ hồng, có chữ ký. Nhìn vào cửa phòng của ông ta để chắc rằng ông hiệu phó khó tính này không thấy, Sabrina chỉ vào máy photocopy cà khổ. Cái máy lập tức hoạt động với một hiệu quả, tốc độ và sự chính xác trước nay chưa từng có.
Bà thư ký giật lùi lại khi cái máy cà khổ này đưa những nguyên bản vào khay và búng ra một mớ bản sao gọn gàng trong vài giây. Nhún vai, bà lấy những bản sao và và quay sang Sabrina với cái nhìn dò hỏi. “Em cần gì?”
“Xin cô cho em một cái thẻ vào nhà vệ sinh.” “Còn ba phút nữa chuông reo rồi.”
“Ơ ... em không thể chờ được nữa. Thật mà.”
Không tin, bà thư ký nhìn cô cau có.
Sabrina gập người lại. “Chắc em chết mất.”
“Không! Đừng!” bà Atherton lẹ làng viết ngoáy ngày giờ và ký tên, rồi xé tờ thẻ màu hồng khỏi cuốn và trao cho Sabrina. “Nhanh lên!”
Gật đầu, Sabrina chạy lẹ tới cửa và hy vọng đại sảnh không có ai để cô có thể biến đi tức khắc.
Thật xui xẻo.
Người lao công đang bò toài ra đó lau những vết ố trên tường.
Sabrina phóng tới nhà vệ sinh gần nhất.