Sabrina ngồi phịch xuống gốc cây trước cửa nhà
Chestler, ngó gã người hầu đang lếch thếch vô lại trong nhà trong ráng chiều nhập nhoạng, cố thử phớt lờ những tiếng nức nở đầy kích động của Libbeth đang vang lên phía trên lầu. Oh, hay đáo để! Sabrina tuyệt vọng nghĩ. Ta sẽ tính làm gì đây? Mình đã phải chịu cái kiếp sâu bọ này suốt cả ngày, chỉ để cuối cùng bị tống cổ ra khỏi cửa! Giờ thì thất nghiệp, con mèo thì bị nhốt dưới hầm, còn mình dám bị bắt giữ vì tội lang thang vô gia cư hai trăm năm mươi năm trước khi mình được phép sinh ra! Mà dễ gớm hơn hết là cái váy bó này đang tính giết mình đây! Trong cơn giận dữ và thất vọng cô túm lấy bộ đồ và ra sức kéo giật, nhưng bộ váy đã bị cột chặt tới mức chẳng buồn nhúc nhích. “Mình thấy như bị bó giò!”, cô bé lầu bầu.
“Tôi đoán là cô có thể bỏ bớt vụ “quản gia” ra khỏi danh sách nghề nghiệp của mình rồi”, một giọng khô khan chợt váng lên sau gốc cây.
Sabrina quay ngoảnh lại và nhận ra hai con mắt vàng khè trong đám lông đen đang ngước lên nhìn mình. “Salem!”, cô kêu lên, “Mi đã thoát được rồi!”.
“Tất nhiên”, con mèo đáp, khẽ vểnh râu lên. “Không có một ngục tù nào có thể kìm hãm được tôi, Trước khi tôi bị biến thành mèo”. Hắn giơ chân trước lên, co duỗi mấy chiếc vuốt sắc. “Nhưng giờ tôi lại có mấy đồ mở khoá tuyệt vời này”.
“Ta ước là ta có thể mượn thứ đó của mi trong vài phút”. Sabrina chống tay lên đầu gối và tựa cằm vào lòng bàn tay. “Có một chiếc váy trên người cô con gái của một gã điền chủ mà ta muốn xé tung!”
“Thôi, thôi, bình tĩnh chút đi”, Salem đi quanh thân cây và ra đứng trước Sabrina. “Tình huống hiện nay còn có thể biến chuyển, nhưng ít ra thì cô chỉ phải chịu đựng vụ này có vài tiếng nữa thôi”.
“Ờ, có lẽ vậy, nhưng liệu ta sẽ làm gì trong mấy tiếng ấy đây? Mi thì có thể lang thang trong bờ bụi và nhậu mấy thứ côn trùng. Nhưng ta thì biết đi đâu?”
Mắt Salem nheo lại. “Tôi không hề - tôi lặp lại, tôi không hề ăn mấy thứ côn trùng. Trong thời của chúng ta, mấy thứ đó ăn như sáp ong còn chưa đủ hay sao? Nhưng thời này thì, chúng nó có vị như... à, thôi bỏ đi”. Lấy lại tư thế, hắn tiếp tục. “Thêm nữa, cô đã lầm về chuyện không biết đi đâu”.
Sabrina ngạc nhiên. “Ta hả?”
Salem trỏ một chân về con đường chạy phía dưới nhà Chestler. “Xuống quán trọ”.
Bởi nhà Chestler sống trên một ngọn đồi, Sabrina có thể nhìn thấy phần lớn thị trấn West Bridge bên dưới nếu cô đi vòng qua bên phải gốc cây. Nhưng cô vẫn không trông thấy quán trọ. “Salem, mi có chắc là 1 một cô gái trẻ đơn độc có được đón nhận vào một quán trọ ở qua đêm không?”
“Làm ơn đi,” Salem liếm lên sườn, làm mượt một túm lông bờm xờm. “Không có mấy thứ TV, siêu thị hay Golf mini ở chốn này đâu. Vậy cô có biết dân xứ này giải trí bằng cách nào không?”
Vạ vật chỗ quán trọ, Sabrina quyết định. Cô bế Salem lên và bước xuống con đường dẫn vào thị trấn.
Đêm mùa thu ấm áp thật dễ chịu, và cửa của quán trọ Woodcutter vẫn còn để ngỏ. Có ánh lửa và tiếng nhạc lọt ra, nghe cuồng nhiệt và hơi sai nhịp, vang vọng trong khu phố nhớp nhúa. Lúc Sabrina và Salem bước lên hàng hiên gỗ, con mèo nhận xét, “Đựợc rồi! Một hội vui thời thuộc địa đây! Ai mà biết cái thị xã tí hon này lại cũng biết chơi rock chớ?” Nó giật đầu tới lui theo điệu nhạc, chót đuôi quật qua quật lại theo hướng ngược chiều. Sabrina nghĩ là trông con mèo củng khá I hay trong dáng điệu này, nhưng nhạc thì khó có thể coi là rock’n’roll. Những người chơi nhạc nghe cũng hơi hướng như một số ban nhạc nhà xe mà đôi khi Sabrina vẫn nghe được tại Westbridge năm 1998 - một nhịp điệu thu hút, vài nốt đàn lạc điệu đây đó, và lòng nhiệt tình cao độ thế chỗ cho sự thiếu hụt kỹ năng âm nhạc.
Salem nhẩy phắt từ vai Sabrina lên biển hiệu của quán trọ. “Tôi sẽ lang thang trên mái, lánh mặt tụi chó và lắc lư theo mấy tiếng đàn này. Kiếm cô sau nghe, nhóc”, vẫn giữ nhịp, hắn phóng vọt đi khuất mắt.
Mau mắn sửa lại chiếc mũ trùm và kéo chiếc tạp dề xuống, Sabrina tự hình dung ra khung cảnh của một quầy rượu trong mấy bộ phim cao bồi cô đã từng xem. Nhưng khi cô bước qua ngưỡng cửa, hy vọng đó chợt tan biến.
Gian phòng chính đông đặc dân trong thị trấn đang ngồi quanh bàn và trên những chiếc ghế dài, tất cả đều dậm chân, đập bàn hay gõ thìa theo điệu nhạc lôi cuốn do sáu người đứng bên lò sưởi đang chơi. Sabrina ngạc nhiên khi nhận ra mấy nhạc cụ họ đang chơi - một ống tiêu, vài chiếc vĩ cầm, một cây còi thiếc, chiếc viola và thêm cây kèn bassoon. Cô còn ngạc nhiên hơn nữa khi nhận ra người chơi kèn bassoon chính là Harvard Kinklin.
Cậu thiếu niên tóc nâu đang dùng thứ nhạc cụ gần giống với kèn Oboa của mình hệt như mấy người chơi bass hiện nay - giữ nhịp cho mấy người khác. Thứ nhạc họ đang chơi gợi cho Sabrina một cảm giác pha trộn giữa minuet và folk-dance, còn lời ca rõ là đang được ưa chuộng - khi họ chơi xong, đám đông gào lên những tiếng tán thưởng.
Đám nhạc công treo nhạc cụ lên mấy chiếc móc sau quầy và tản về với gia đình, tất cả đều ngồi lộn xộn quanh mấy chiếc bàn. Mấy người phụ nữ chạy bàn chạy qua chạy lại, chất đầy bàn với những chiếc đĩa đang bốc khói: thịt, khoai luộc, bánh mỳ nóng... mũi Sabrina giật giật, và một cú quặn đau trong dạ dầy nhắc nhở cô là mình đã bị tống ra khỏi nhà Chestler mà chưa được ăn tối.
Hai chú nhóc chạy ngang cô, chen lấn nhau để tới chỗ thùng bia múc đầy cốc vại. Một cô gái tóc đỏ vội vã len qua phòng, túm tai cả hai thằng nhóc. “Jonas! Jordan! Cư xử như thế hả? Tụi mày chút nữa đã làm người này bị thương rồi!”. Cô Juniper Kelleigh quở trách tụi nhóc trước khi quay lại và xin lỗi với Sabrina. “Tôi mong cô thứ lỗi về việc làm của tụi nó, thưa cô...”, cô ta cố nhớ lại. “...Spellman? Người mà cô Chestler tuyên bố là người hầu của mình?”
“Tôi không phải là một quý cô như cô nói đâu,” Sabrina gượng gạo. “Mà có vẻ như tôi cũng không phải là người hầu nữa. Ông chủ Chestler đã sa thải tôi và tống ra khỏi nhà trong bữa tối”
Khuôn mặt Jenniper trông đầy thông cảm. “Biết rõ Pinchpence Chestler và con gái ông ta, cô công chúa không ngai, tôi đoán là cô vẫn chưa ăn gì tối nay. Mời cô, cô có thể chung bàn với chúng tôi”.
Dạ dầy của Sabrina gào lên đồng ý, đồng ý! Nhưng cô lại thấy không thoải mái khi dựa dẫm vào cô gái trẻ này. “Không, thực mà, tôi không...”
“Nếu cô từ chối”, Juniper ngắt ngang, cảm nhận được sự lưỡng lự của Sabrina, “cô sẽ làm phật lòng hai người đàn ông dễ mến của thị trấn này. Họ đã tổ chức buổi tiệc này để chúc mừng cậu cháu mình được chuyển từ học việc lên thợ chính”. Cô vẫy tay về phía một góc quán trọ, như để chỉ ra người cháu trai, nhưng Sabrina không hiểu cô muốn ám chỉ ai.
“Lại đây nào. Goody Watkins đang khui một thùng nước quả mới làm của William Williams”.
Mùi hương đậm đặc và ngào ngạt bốc lên khiến Sabrina phải há miệng để thở, tránh cho cơn đói buốt ruột khỏi kêu gào. Gật đầu cám ơn với Junniper, cô tự cho phép mình len xuống bên chiếc bàn, nơi ba cô gái trẻ và một cặp con trai song sinh đang ngồi yên lặng bên những chiếc đĩa trống không. Jonas và Jordan, giờ đang cư xử ngon lành nhất trong sự hiện diện của một người lạ, đã cẩn thận chia đều mấy chiếc cốc vại. Sabrina được dẫn tới ngồi cuối bàn, đối diện với Jenniper phía đầu bàn bên kia.
Jordan, chú nhóc mà Sabrina nhận xét khoảng chín hay mười tuổi, uống ừng ực đồ uống của mình. Một câu “Cẩn thận đó , quý ông!” sắc gọn của Jenniper đã khiến cậu dừng phắt lại giữa chừng. Có một lời trao đổi thầm lặng giữa Junniper và chú nhóc, rồi cô gái hất mặt từ chiếc cốc về phía chiếc dĩa trống không của Sabrina. Jordan đỏ mặt ngượng ngùng và xấu hổ đưa chiếc cốc của mình cho Sabrina. Cậu phóng thẳng ra khỏi bàn để tìm một chiếc cốc khác.
Sabrina lịch sự chờ đợi cho tới khi Jordan quay lại mới nếm thử món đồ uống. Những người khác trong bàn coi đó như tín hiệu chấp thuận và tất cả cùng nâng cốc. Mấy đứa nhỏ uống ừng ực, trong khi đứa lớn hơn chỉ nhắp từ từ, còn hai đứa con gái khác, chạc tuổi Jenniper, uống thật điệu đàng. Trong những tiếng nhép môi và ừng ực đó, Jenniper bắt đầu giới thiệu từng người.
Tụi nhỏ được ngồi theo lứa tuổi, bắt đầu từ bên phải của Juniper, và cô đọc liền một mạch tên của chúng. “Justina, mười bốn; John và James, mười ba; Jonas, mười một; Jordan, mười - nhà Kelleighs. Đây là Sabrina Spellman, một lữ khách và là khách trong thị trấn của chúng ta”.
“Cha đặt tên cho tụi em theo tên Vua George,” Justina giải thích.
“Nhưng ông ấy không biết đánh vần”, chú nhóc Jordan thổ lộ. “Em biết viết và đọc nữa. George bắt đầu bằng chữ G chứ không phải chữ J”.
“Im nào, Jordan. Còn chưa thấy vụ em phê phán thiếu sót của cha đó nghe. Chuyện em học hành nhiều hơn là may mắn của em chớ không phải thiếu sót của cha”, Juniper thở dài. “Nhất là khi ông ấy đã mất năm năm và không còn dịp để rèn miệng lưỡi cho em đó”.
Giờ đến lượt Sabrina đột ngột chen vào. “Cô phải thay cha mẹ nuôi cả sáu đứa sao? Nhưng cô cũng chưa quá mười sáu tuổi mà!”.
Juniper nhìn Sabrina với cái nhìn bình tĩnh và rất trưởng thành. “Mười sáu đã đủ lớn rồi. Cuộc sống khó khăn và ngắn ngủi hơn là chúng ta mong muốn. Thật khó kiếm ra một gia đình trong thị trấn còn đủ cả hai cha mẹ khi đứa con cả lên mười sáu. Ông chủ Chestler là người góa vợ, và thợ chính Harvard cho tới hôm nay vẫn trong bảo trợ của hai ông bác. Chúng tôi vẫn phải bền chí làm tất cả những gì có thể. Không lẽ cô không chung cảnh ngộ này sao?”
Sabrina cân nhắc điều này. “Tói nghĩ cô nói đúng. Tôi được hai bà cô nuôi nấng từ ngày cha mẹ mình... đi khỏi”. Nếu không có hai bà cô Zelda và Hilda, chắc Sabrina cũng đã tự thấy mình đơn độc đối mặt với cả thế giới, như Jenniper lúc này.
Một khoảng im lặng đó bị phá vỡ bởi hai cậu trai sinh đôi khi chúng thấy có cơ hội tự do nói chuyện, chúng bắt đầu lời qua tiếng lại, tay vung vẩy cho thêm phần hùng hồn.
“Kể chuyện cho tụi em nghe đi!” John yêu cầu.
“Chị du lịch có gặp người da đỏ không?” James hỏi.
“Cha thường gặp người da đỏ trong rừng lắm,” John xen vào.
“Suuuuỵt!” Juniper ra lệnh. “Chị Sabrina chỉ đi qua những thành phố thôi, New York và Boston, và không quan tâm lắm đến cuộc sống thị trấn nhỏ này.”
Sabrina nuốt một miếng bánh mì có phết thứ bơ ngọt lịm. “Sự thực, tôi rất muốn biết về thị trấn này,” cô nói dè dặt. “Có thể nói tôi rất muốn ghé lại chỗ này. Bạn có thể nói cho tôi nghe West Bridge được thành lập thế nào không?”
“Chị Juniper biết hết trơn đó,” Johanna tự hào nói. “Chị ấy còn viết lại thành sách nữa.”
Juniper khiêm tốn gật đầu. “Đó chỉ là nhật ký ghi lại những câu chuyện tôi nghe nhiều người như ông Watkins ở đây kể lại, ông ấy chạy một chiếc phà qua sông và biết rất nhiều chuyện, hay hai anh em nhà Kinklin, Stanford và Berkeley, họ là một trong những gia đình đầu tiên định cư ở đây.” Cô ta chỉ hai người đàn ông to con đứng ở quầy rượu cạnh Harvard Kinklin.
Giữa anh cháu với hai ông chú có nhiều nét giống nhau. Cả ba đều cao hơn đám đông, với mái tóc rậm rũ xuống trán và khuôn mặt dễ coi. Hai ông chú cười rổn rang và vỗ vào lưng Harvard. Rồi ông Stanford bước tới và la to lên để mọi người chú ý. “Các bạn và các khách hàng tương lai thân mến!” ông ta bật cười thân thiện. “Chúng tôi rất vui sướng và mãn nguyện được mời các bạn chung vui hôm nay trong ngày trọng đại này của thằng cháu chúng tôi, Harvard Kinklin. Rất buồn là nó phải sống với chúng tôi sau khi cha nó, ông anh cả Cambridge của chúng tôi, qua đời.”
“Và cũng buồn là Harvard không thể phân biệt sự ưu việt của nghể kim khí với nghề rèn,” Berkeley chen vào, người mà Sabrina đoán ngay là kẻ sở hữu lò rèn.
“...chúng tôi rất vui khi thằng cháu học nghề của cả hai chúng tôi,” Stanford tiếp. “Nó học cả hai nghề với niềm say mê và ý chí đến gấp đôi bất cứ thợ học việc nào và vượt ngoài sự mong đợi của chúng tôi.”
Hai ông nâng ly lên và Stanford nói. “Xin dùng bữa với chúng tôi và nâng ly để chúng tôi được giới thiệu Harvard Kinklin, hôm qua còn là thợ học việc nay đã là thợ chính!”
Đám đông hoan hô ầm ĩ cho cả bài diên văn lẫn anh chàng Harvard, và mọi người sôi nổi nhập tiệc. Họ tập trung quanh chủ quán và những người phục vụ đang hối hả bưng dọn thức ăn. Cũng như trong bữa tối của ngài Chestler, Sabrina thấy thịt chiên là món khoái khẩu của dân cư tại đây. Món chính của tiệc là một tảng thịt bò bự kèm hai con heo quay nguyên xi. Lại còn tăng cường hai xâu chim quay nữa - trông giống như bồ câu, trĩ và những loài chim rừng khác hơn là gà nuôi. Trong đời Sabrina chưa từng được thấy một lượng thịt nhiều đến thế cho một bữa ăn.
Các loại rau quả họ dùng chủ yếu là củ, trong đó Sabrina chỉ nhận ra được củ cải, và tất cả đều được nấu nhừ. Các con chim và heo quay đều được nhồi bánh mì xắt vụn, hành và các thứ rau thơm. Coi bộ ở đây không có món rau trộn nào cả, Sabrina thầm nghĩ, và cô nhận ra dân ở đây phải ăn nhiều thịt để đủ sức lao động cực nhọc suốt ngày..
Mỗi món dọn lên đều kèm rất nhiều bánh mì. Có khi bánh mì xắt lát được lót bên dưới thịt bày trên các đĩa lớn bằng gỗ, có nước sốt rưới lên. Hoặc nó được xé thoải mái thành từng miếng lớn và chấm vào những hũ bơ mặn.
Sabrina ngạc nhiên thấy mình sung sướng được hòa lẫn vào với những người dân quê mở đất có tác phong thoải mái này. Cô nhận phần ăn chung với gia đình Kelleigh rồi họ trở lại bàn của mình sau khi rót thêm rượu táo vào hết các ly. Một số người khác thích thứ bia nặng độ hơn. Sau khi an vị, Sabrina chí thú thưởng thức các món ăn sau khi đã phải chịu đói khá lâu.
Sau một lúc im lặng khi mọi người chú tâm ăn uống, câu chuyện lại tiếp tục, khởi đầu từ bàn chủ tiệc nơi Stanford và Berkeley kể cho Harvard nghe nhiều câu chuyện vui của ba anh em nhà họ khi mới lớn lên ở West Bridge. Sau đó ông Watkins, chồng của bà chủ quán và là người chạy phà trên sông, đi một vòng quanh các bàn để chuyện trò hay chọc cười.
Khi ông ta bưng khay phục vụ tới bàn nhà Kelleigh,
Juniper kéo tay áo ông ta “Cô khách của chúng tôi muốn nghe chuyện về thị trấn mình, nhất là hồi nó mới thành lập ở mé sông. Ông giúp vui cho cô ấy được không?”
“Đương nhiên,” Watkins nói và đặt khay xuống và xoa hay tay vào nhau. “Con sông của tôi”
“Ông chiếm nó rồi thu tiền cũng dữ à nghe!” một người khách la lên.
“...con sông là lý do hình thành thị trấn này, và tôi rất vui được kể rằng” ông Watkins nháy mắt. Cố ghi nhớ chi tiết cần cho bài luận, Sabrina vừa ăn vừa lắng nghe.
“Hai thế hệ trước,” Watkins nói, “một nhóm dân Boston bất mãn với kiểu cách điều hành thành phố. Họ đã đến châu Mỹ này mong tìm sự tư do nhưng hóa ra chỉ gặp những kẻ cai trị mới và luật lệ mới cũng gò bó không kém thứ ở Anh họ đã bỏ trốn. Họ quyết định đi về phía tây và lập một thị trấn mới nơi họ có thể sống hoàn toàn bình đẳng. Than ôi, đó là điều cuối cùng họ có thể nhất trí với nhau.”
Cả quán cười ồ lên. Câu chuyện rõ ràng là rất phổ biến, và ai cũng biết nó diễn tiến ra sao.
“Họ rời Boston, mỗi đêm dừng chân lại bàn cãi xem nên đi tiếp theo hướng nào. Sau hai tuần họ đi được hai mươi dặm và có nguy cơ cạn lương thực. Họ quyết định chọn một người dẫn đạo tạm thời để dẫn đầu cuộc hành trình. Người được bầu là Hezekiah Collins, ông ta có được hai phiếu - của chính ông ta và con trai- những người còn lại chỉ có được một phiếu của chính họ.”
Sabrina không ngăn được nụ cười khi mường tượng ra cuộc bầu cử buồn cười đó. Watkins tiếp tục câu chuyện còn hứng chí hơn trước.
“Thế là Collins dẫn họ đi tiếp, họ đi nhanh hơn vì được ngủ ngay khi dừng lại nghỉ đêm. Số còn lại tiếp tục tranh cãi đến khuya, nhưng mỗi sáng Collins thức dậy khoẻ khoắn hơn và dẫn họ đi tiếp, bất chấp mọi ý kiến tranh luận. Tuy vậy, mỗi ngày cả nhóm lại muốn biết mình đến miền tây chưa. Collins thấy các bạn bè và đồng hành quả là một nhức nhối.
“Sau cùng khi họ đến một con sông và thấy một đầm lầy ở bờ bên kia, Collins bèn tuyên bố đây là miền tây, và thị trấn được thành lập ở đó. Ban đầu nó được gọi là West (miền tây), con sông cũng mang cùng tên đó, nhưng khi có phà chạy qua sông và đầm lầy được thoát nước có thể trồng trọt được, tên thị trấn phải thay đổi để thể hiện chuyện này. Nên nó được gọi là West Ferry (Chuyến phà tây), nghĩa là chuyến phà về miền tây. Sau đó có một dự án bắc cây cầu qua sông. Rút kinh nghiệm quá khứ và để dự báo trước chuyện này, chúng tôi đã đổi tên thị trấn thành West Bridge (cây cầu miền tây) luôn.”
“Khoan đã,” Sabrina nói. “Cây cầu không làm hỏng chuyện làm ăn của ông sao? Sao ông tỉnh bơ về chuyện đó vậy?”
Anh mắt Watkins lấp lánh tinh quái. “Đại khái là thế này, cô ạ: người chạy phà đưa khách qua sông bằng cách chống chèo và kéo dây mỗi ngày nhiều bận tới hết sức lực của mình. Cuộc sống như vậy rất cực nhọc.” Ông ta mỉm cười tự hào. “Cây cầu chính là ý kiến của tôi. Khi xây nó xong, tôi có thể ngồi ở đầu cầu thu tiền mà không cần ướt át tay chân. Đó là cách tốt nhất tôi nghĩ ra để nghỉ nghề chạy phà của mình!” Khoái chí trước trò khôn ngoan đó, ông ta cười rống lên “Ho - ho - ho!” như ông già Noel đánh xe chạy rông vậy.
Sabrina cười khúc khích, vì cái cười cũng như câu chuyện của Watkins. “Hay quá! Tôi chưa từng nghe chuyện nào như vậy trong giờ học...à...trong cách sách sử tôi được đọc trong thời đại của tôi.”
Ở bàn bên cạnh, một ông to lớn đã theo dõi câu chuyện nãy giờ, quay sang Sabrina và nói. “Rất nhiều người mong muốn quá khứ của mình phải vĩ đại, vinh quang và có kế hoạch.”
“Chuyện đó đầy rẫy!” Một bà ngồi bên cạnh chen vào.
“Và họ đi khắp nơi để thuyết phục người khác tin như thể,” ông ta nói tiếp. “Nhưng nên nhớ, ngay cả bông hồng đẹp nhất cũng ngóc đầu lên từ bùn đất.”
Một giọng lạnh lùng chen ngang. Sabrina nhận ra giọng của thẩm phán Blackpoole. “Thật tiếc là tôi phải phá hỏng cuộc vui của quý vị”
“Lười ông có quyền lực lắm đấy, Osbert Miller,” ai đó ở cuối phòng rít lên. “Ông nói tới một cái đầu dưới bùn chui lên và nó xuất hiện liền!” Sabrina toan bật cười trước câu chế riễu đó, nhưng cả đám đông chẳng ai cười cả. Không khí vui vẻ trong quán chợt dừng lại.
Blackpoole nhìn quanh nhưng không biết ai là kẻ vừa phát biểu câu đó. “Nhiệm vụ của tôi là nhắc nhở quý vị rằng phung phí của cải - trong trường hợp này là nến - là có thể bị phạt vạ. Quý vị có thể tiếp tục chè chén, nhưng rồi sẽ phải trả giá cho cuộc vui này.”
Ngay lập tức, mọi ngọn nến trong phòng đều bị thổi tắt. Ánh sáng duy nhất còn lại là từ lửa trong lò sưởi. Trong bóng tối, có tiếng đồng xu rơi xuống sàn gỗ ngay bên chân Blackpoole. Có tiếng ai dó lầm bầm. “Một xu cầu mong được thấy ông té lộn cổ xuống cầu tiêu.”
Lần này Sabrina biết câu nói đùa không phải để cười. Cô nhận ra ngay nỗi thù ghét của cư dân đối với Blackpoole và tự hỏi không biết tay thẩm phán có nhận ra điều đó không.
Nếu nhận ra, hắn ta hoặc khoái trá hoặc chả thèm quan tâm. Hắn quét ánh mắt khắp phòng mong tìm ra kẻ táo tợn, nhưng lúc này phòng quá tối không nhìn nổi nét mặt của ai. Hắn cau có cúi xuống nhặt đồng xu dưới chân, rồi bước tới quầy thì thào với Goody Watkins.
Bầu khi buổi tối đã ẩm hơn, mọi người cài lại sống áo và bắt đầu bỏ ra về. Sabrina nhìn Juniper điều hành các em, cho chúng đem ly dĩa chất lên quầy ngay ngắn. Trông họ sống sống với nhau thật hạnh phúc, Sabrina nghĩ, hơi ghen tị. Ở thời mình thì Juniper cũng chỉ là một học sinh, nhưng ở đây cô ấy nuôi được cả gia đình! Cô mỉm cười khi nhìn Jordan cứ nhất định xếp tất cả ly thành một chồng trên đĩa và cố giữ thăng bằng khi bưng nó đi.
Khi Jordan tới được bên quầy, Sabrina thấy Blackpoole và Goody đang nhìn về phía mình. Ruột cô thót lại. Mình gặp may được một bữa ăn miễn phí, nhưng không biết hai người kia có chịu cho mình rửa chén để có được chỗ ngủ ở đây không. Nỗi lo sợ của cô tăng thêm khi Blackpoole đứng thẳng người dậy và nghiêm trang đi về phía cô.
Cô quay lại bàn và thấy Juniper đang chăm chú theo dõi tấn kịch, vẻ mặt cô ta cho thấy cô ta không có thiện cảm gì với tay thẩm phán thối tha nọ. “Tôi nghĩ cô nên nghỉ qua đêm ở nhà tôi, nếu cô muốn,” cô ta thì thầm với Sabrina.
Nhẹ nhõm cả người, Sabrina đưa hai tay cầm lấy bàn tay Juniper. “Tôi hoan hỉ lắm,” cô đáp. “Tôi thậm chí không muốn nghĩ đến giải pháp nào khác.”
“Tôi cũng vậy,” Juniper nói. “Không nên để bất kỳ ai phải chịu đựng cái thứ công lý của Blackpoole.” vẫn cầm tay Sabrina, cô ta kéo Sabrina ra khỏi quán rượu, dứt khoát không thèm lý tới tia nhìn lạnh tanh của tay thẩm phán cao kều kia.