Libbeth nóng nảy đứng đợi dưới chân cầu thang để sỉ vả Sabrina một trận, nhưng bài thuyết giảng của cô ta tắt ngúm trên môi khi trông thấy một khối đen thui trên tay cô hầu. “Cái... con đó ở đâu vậy?” cô ta hỏi.
“Mèo của tôi mà,” Sabrina đáp.
Libbeth nheo mắt lại. “Khi tôi đặt mua một cô hầu, tôi đâu đó mua kèm thứ ký sinh nào. vất thứ đó đi.”
Con vật đang được bàn tới đó quặp một móng chân vào cánh tay Sabrina. Cố nén tiếng kêu, Sabrina gãi gãi dưới cằm Salem cho nó bình tĩnh lại. “Thứ nhất, nó là nó, chứ không phải là thứ đó,” cô sửa lưng cô chú. Cái móng thả lỏng ra. “Thứ nhì, nó là bạn tôi, và tôi không vất nó đi đâu cả.” Lời lẽ thách thức của cô khiến mắt Libbeth càng nheo lại hơn cho đến khi chỉ còn là hai khe hẹp đầy thù ghét. Tuyệt vọng, Sabrina nói thêm, “Mà nó bắt chuột giỏi lắm.”
Ý kiến đó khiến Libbeth chú ý. Cô ta nghiêng đầu và Sabrina gần như có thể nghe thấy tiếng những guồng máy nho nhỏ đang chạy trong đầu cô ta. “Đúng,” cô ta kết luận với vẻ suy nghĩ chín chắn. “Vậy là có thể xem như ta có hai đầy tớ, chứ không phải một. Mà không phải tốn thêm xu nào.” Cô ta đứng thẳng người dậy, hài lòng với sự thông minh của mình. “Được, nó có thể lại đây. Nhưng ta không nuôi ăn nó đâu. Tống nó xuống hầm chứa khoai để nó bắt chuột.”
Salem vặn người như phản đối, nhưng Sabrina ôm nó chặt hơn và liếc nhìn nó răn đe. Rồi cô theo Libbeth vào nhà bếp. Khi họ đi, Libbeth tranh thủ làm một bài thuyết giảng về nhiệm vụ của Sabrina.
“Gà gáy là phải dậy, khơi lại than hồng và nhóm lại lửa sưởi trong phòng ta. Xuống nhà bếp xem bà bếp làm bữa sáng cho ta xong chưa. Mang nó lên phòng, đánh thức ta nhẹ nhàng, như tiếng chim gù thôi. Rồi mang bô đi đổ trong khi ta ăn sáng.”
Bô? Sabrina không nhớ ra rằng hồi đó chưa chế ra hệ thống ống dẫn trong nhà. Đối mặt với một thực tại tởm lợm như thế, cô vẫn cố giữ tinh thần phiêu lưu trong chuyến đi này, và làm lơ trước nụ cười quái quỷ của Salem. “Nghe vui dữ. Nhân nói chuyện ăn sáng, cô có gì ăn không? Tôi làm như chưa được ăn cả mấy thế kỷ rồi.”
Đang bước đi, Libbeth sựng lại và quay nhìn Sabrina cứ như cho một người đói được ăn là điều hoàn toàn mới mẻ trong thế giới của cô ta. “Tôi nghe như ba tôi sắp nói, nếu con sở hữu nó thì con phải cho nó ăn. “ Cô ta quay mặt và đi tiếp vào bếp. “Bà bếp sẽ làm bữa chính. Có thể bà ấy dành cho cô mấy thứ thừa thẹo nào đó.”
Bà bếp té ra là là một phụ nữ châu Phi to lớn, ăn mặc cũng giản dị như Sabrina. Bà ta rõ ràng là chúa tể nhà bếp, ngay cả Libbeth cũng phải dè chừng khi giao tiếp với bà. “Bà bếp, đây là người hầu mới của tôi, Sabrina. Nó quên mang thức ăn theo. Bà xem có gì cho nó không?”
“Hôm nay không có bữa chính đâu, vì bố cô nhắn là phải đến chạng vạng ông ấy mới về tới,” bà bếp nói. “Lúc đó ông mới ăn bữa tối còn nóng. Còn bây giờ có bánh mì mới nướng kia. Hai cô chia nhau một ổ đi. Để tôi đi lấy thêm bơ.” Bà ta lạch bạch đi ra cửa sau.
“Ôi, trời!” Libbeth rên rỉ. “Một bữa chính nguội rồi một bữa tối nóng! Thế giới này đảo ngược rồi sao?”
“Hay vậy ta?” Tuy Sabrina không nhìn thấy cái đồng hồ nào từ khi đến đây, nhưng xem ánh mặt trời thì biết đang khoảng giữa trưa, theo giờ địa phương. “Bữa chính hay bữa tối... còn lâu mới tới mà, phải không?”
“Cô nói vớ vẩn cái gì thế,” Libbeth nói. “Nghe cứ như cô không phân biệt được bữa chính với bữa tối vậy.”
“Có khác biệt sao?”
“Dĩ nhiên, đồ nhà quê. Bữa chính là bữa lớn trong ngày, đỉnh cao nhàn rỗi, có cả một buổi chiều để nghỉ ngơi. Bữa tối thì ăn nguội, để không cản trở một buổi tối khiêu vũ hay giao tế xã hội. Ở Boston cũng vậy.” Libbeth xao xuyến khi nhắc tới trung tâm đó của thế giới văn minh, rõ ràng cô muốn sống ở đó hơn là thị trấn hẻo lánh này. Thấy Sabrina bối rối, cô tiểu thư nhà giàu tạm quên nỗi xao xuyến và nở một nụ cười. “Cô ngốc nghếch coi mắc cười quá. Chắc tôi đi đâu cũng phải dẫn cô theo, để có chuyện cười.”
Mi chỉ lấy của ta được bốn mươi tám tiếng thôi, đồ chảnh ạ. Rồi ta... à, mi sẽ chỉ là... quá khứ. Với ý nghĩ thú vị ấy, Sabrina hỏi. “Ờ, cô gọi bữa ăn kế là gì cũng được, còn tôi thì đói rồi. Có miếng hamburger nào không?”
Libbeth nhíu mày bối rối. “Hamburger là cái gì?”
“Bánh mì, có nhét thịt bò băm viên rán lên, hành, rau diếp, đồ chua.”
Libbeth mất ngay vẻ cười cợt. “Cô đọc cái câu thần chú gì đó?” cô ta hỏi với vẻ khó chịu.
“Chỉ là thực đơn thức ăn nhanh thôi,” Sabrina trả lời ngay.
Libbeth chưa kịp nói gì thì bà bếp đã trở lại. Ôm theo một hũ bơ trên tay này, tay kia bưng một cái tô nhỏ, bà ta nói với Libbeth, “Tôi mang thêm miếng sữa cho con mèo nữa.”
“Bà phung phí sữa cho con quái đó à? Bố tôi không cho đâu!”
Giơ cái tô lên như sẵn sàng vất nó ra cửa, bà bếp nói, “Nó lỡ rót ra rồi. Ông ấy có chịu cho tôi hắt nó đi không? Hay cô có muốn uống không?”
“Éee!” Libbeth ré lên, chun mũi như ghê tởm. “Không uống bằng cái tô đó! Cho con mèo đi.” Rõ ràng ý nghĩ uống sữa trong một cái tô mẻ thay vì một tách sứ có vẻ xúc phạm đến độ nhậy cảm quý tộc tương lai của cô. Cô ta đến bên bàn và ngồi xuống, chờ được dọn cho ăn.
Sabrina bắt gặp một nụ cười khoái chí trên mặt bà bếp đàng sau lưng Libbeth. Rõ ràng bà người làm đứng tuổi ấy biết cách bấm nút nào để mọi chuyện diễn ra theo ý bà mà cô tiểu thư hư hỏng kia không nhận ra.
Sabrina đặt Salem xuống khi bà bếp đặt tô sữa xuống sàn. Nó tợp sữa rồn rột khiến Libbeth khó chịu và bao tử Sabrina sôi lục ục.
Bà bếp đặt hũ bơ lên bàn, quay đi và lấy ra một ổ bánh mì hình dáng kỳ lạ từ một cái thùng sắt trên bệ lò. Vài lát bánh đã cắt sẵn nhưng Sabrina thấy làm như họ nướng bánh trong cái thùng đó. Họ không có lò nướng bánh sao ta? Cô tự hỏi.
Con dao chạy thoăn thoắt trên tay bà bếp khi từng lát bánh mì cứ bắn ra trên dĩa trước mặt Libbeth và Sabrina. Lát sau ổ bánh được bỏ lại vào thùng và bà bếp đặt hai ly vại rượu táo trong tầm tay họ.
“Bà có nước không?”
“Uống nước không nấu chín là bị bệnh đó,” Libbeth nói cực kỳ nghiêm trọng. “Bộ cô muốn chết hả?”
“Ông chủ còn để lại bình trà,” bà bếp nói. “Chắc nó nguội rồi, nhưng tôi sẽ lấy đem xuống đây.”
“Hết sữa cho mèo rồi tới trà nguội!” Libbeth cứ liên tục càm ràm. “Tôi không hiểu sao cô nảy ra lắm ý nghĩ kỳ quái thế.” Mặt cô ta xụ ra một đống. “Tôi không chịu được, nhất là trong nhà của tôi!”
Cầm đĩa và ly của mình, cô chạy lên cầu thang về phòng mình, bỏ lại Sabrina trố mắt nhìn bà bếp dò hỏi. Bà ta chỉ nhún vai nói. “Ăn xong ra ngoài gặp tôi.” Rồi bà ta bỏ đi ra qua cửa sau.
Khi Sabrina ăn xong, bà bếp dẫn cô đi một vòng và nói cho cô nghe cung cách phục vụ trong ngôi nhà của ngài Chestler. Bắt đầu ở vườn sau bếp, nơi có rải rác vài bụi hoa hồng dại và một cây bạc hà mọc cao tranh chấp với các loại rau được chính thức gieo trồng ở đây, Sabrina hiểu ra mọi điểm quan trọng của công việc lao động thời thuộc địa này. Những người làm công nhật giặt giũ bằng cách đập quần áo trong những cái thùng bằng gỗ, rửa chuồng heo, chẻ củi và kéo từng xô nước từ giếng lên. Sabrina thấy ai cũng mệt mỏi và khổ sở.
Sau khi đi một vòng, Sabrina trở vào cảnh tù túng tối tăm trong nhà. Là hầu gái riêng của cô Libbeth, cô không phải làm việc với những lao động mướn ngoài mà chủ yếu là hầu hạ cô Libbeth. Sabrina xem ra chẳng thành thạo việc này lắm. Khi cố đoán ra ý Libbeth muốn gì, Sabrina hình như luôn làm không đúng chuyện và có mặt không đúng chỗ. Buổi chiều qua đi với đủ thứ món bị đánh rơi, trán va vào trán và chân dẫm lên chân.
Bữa tối là cả một đại họa.
Bắt đầu là chuyện một ông to dềnh dàng mặc áo choàng lấm bụi đường đi thẳng lên thềm nhà và thấy Sabrina đang rắc cánh hoa hồng lên những bậc tam cấp. Libbeth nghĩ thật là sang trọng khi có gia nhân rắc hoa trên lối mình đi.
Ông ta ho sù sụ nhưng nén lại để trừng mắt nhìn Sabrina. Ông ta giơ tay ra và gào lên, “Áo khoác!”
Sabrina không biết rằng mình phải chạy tới cúi chào. Cô chỉ nghiêng đầu và nói, “Chào ông.”
“Cô điên hả?” ông ta gầm lên. “Tôi là ngài Chestler! Đây là nhà tôi! Tới cất áo khoác cho tôi coi!”
Sabrina đỏ tía mặt mày cho đến tận chân tóc. Cô lầm bầm xin lỗi rồi lóng ngóng bước tới gỡ áo choàng trên vai ông ta. Nhưng khi kéo chiếc áo nặng chịch, cô làm nó vướng vào chiếc nơ thắt sau mái tóc giả rắc phấn của ông ta. Trước khi cô kịp gỡ nó ra khỏi chiếc áo thì chiếc áo đã rơi luôn xuống đất, lôi theo cả mái tóc giả.
Ông ta vội giơ tay ôm lấy cái đầu cạo nhẵn và rống lên như con bò. Sabrina hoảng vía và bỏ chạy lên lầu, suýt va phải Libbeth lúc đó đang chạy xuống. Cô ở lì trên lầu cho đến khi Libbeth gọi cô xuống phục vụ cô ta trong bữa tối.
Lúc bắt đầu bữa ăn thì trời đã tối hẳn. Hai giá nến trên bàn được thắp lên. Trên mặt tủ ly trong đã chất đủ thức àn cho hơn chục người trên mấy cái dĩa bàn. Ngài Chestler ho và khò khè liên tục khi bà bếp dọn hết món này tới món khác ra trước mặt ông ta.
Một dĩa sò hơn chục con là món khai vị cho ông ta. Quanh đó, trong tầm tay, là những dĩa chất tú hụ nào chim quay, giăm bông hun khói, và một thứ chỉ có thể tả là bánh bột mì luộc. Libbeth và bố cô ta món nào cũng dùng một ít nhưng chẳng thấm vào đâu so với khối lượng thức ăn bày ra. Sabrina bị sai phái chạy tới chạy lui từ bếp qua phòng ăn để bưng thêm nhiều món ly kỳ khác, như trứng vịt muối chẳng hạn, do bà bếp chế biến.
Ban đầu cô nghĩ bữa tiệc này là trò phung phí thức ăn khủng khiếp. Nhưng khi thấy thức ăn dư trên bàn được dọn xuống dưới, cô nhận ra rằng mọi người trong nhà sẽ dùng mớ ông chủ ăn còn dư đó. Số đó, khi chia cho nhiều người, thì cũng chẳng đủ mỗi người một miếng.
Câu chuyện trên bàn ăn cũng chẳng làm cô hào hứng hơn. Ông chủ trợn mắt nhìn cô và lầm bầm nói với con gái, “Ba không ưa con bé đó.”
“Kìa, ba! Con phải có người hầu riêng chứ!” Libbeth rên rỉ. “Ba hứa tặng con một người hầu nhân sinh nhật thứ mười sáu của con mà!”
“Còn con hứa với ba sẽ tìm ra một người chồng vào sinh nhật thứ mười sáu thì sao?” ông ta vặc lại. “Nó đâu?”
“Con đã để mắt tới một hai người.”
“Ối trời!” ông ta gừ lên. “Ba cứ phải năn nỉ là con phải đi mua sắm ở Boston. Ba thấy không có đứa nào ở đây xứng đáng để ba trao của hồi môn cả.”
“Kể cả anh thợ Kinklin sao?” Libbeth ỏn ẻn.
“Cái gì?” ông ta thấy không tin vào tai mình đến độ phát ho lên. “Thằng vai u thịt bắp đó hả? Sao ba phải để ý tới nó?”
“Ô, anh ấy vừa là thợ rèn vừa là thợ mộc.”
Cha cô ta có vẻ suy nghĩ tính toán. “Nó nói cũng có lý đây,” ông ta lầm bầm một mình. “Sau này nó sẽ thừa kế của cả hai ông bác.”
“Mà chẳng có ai trong thị trấn đẹp trai hơn.”
Ông Chestler nhìn con gái một cú sắc lẻm. “Đẹp trai đâu có đẻ ra tiền được. Nghề mộc kiêm nghề rèn - cũng ngang ngửa phí tổn cho con đó.” Ông trở lại với bữa ăn của mình, tiếp tục ho và lầm bầm.
Có lẽ Sabrina đã không gặp rắc rối gì nếu cô đừng thèm dính vào chứng ho của ngài Chestler. Nếu cô còn pháp thuật thì hẳn cô đã giải quyết các triệu chứng cảm lạnh này bằng một cái búng tay. Trong tình cảnh này, cô đành quyết định làm một thứ trà dược thảo để làm dịu cổ họng cho ông ta. Đi ra ngoài, cô hái một ít lá bạc hà và mấy trái tầm xuân trong vườn. Tầm xuân có nhiều sinh tố C, cô thầm nghĩ khi bỏ chúng vào bình trà, còn dầu bạc hà làm thông các xoang.
Cô rót thứ trà đó ra một tách sứ và mang cho ông chủ. Còn đang mải tính toán về tài sản có được sau này, ông ta lơ đãng nháp một hớp trà.
“Trời đất ơi!” ông ta phun phì phì. “Nó làm gì với bình trà vậy? Trà Đông Ấn, nó làm hư hết rồi! Mới tới làm ngày đầu là làm hư ngay thứ trà hảo hạng của ta! Không thể chịu được! Tống nó ra khỏi nhà ta!”