“Salem!” Sabrina cố giật lại cái lồng chim đang nhốt con mèo từ tay gã người hầu của Libbeth, nhưng y đã bước tránh ra xa. Salem, giờ đã tỉnh dậy và kêu rít lên; cũng may là nó còn biết chỉ nên kêu chứ không nói thành lời. Harvard nhảy từ trên xe bò xuống, lấy thân mình chắn giữa Sabrina với Libbeth và Blackpoole. “Các ông kết tội vô căn cứ. Cô gái này đã làm trò phù thủy gì?”
“Tránh ra, anh thợ Kinklin kia,” Blackpoole ra lệnh. “Đương nhiên là anh đâu có biết nó phạm tội gì vì anh là nạn nhân của nó mà.”
Libbeth sấn người vào Harvard, làm một động tác mà Sabrina thấy giống kiểu của Scarlett O'Hara vốn trở thành một mẫu mực hai trăm năm sau đó. “Ồ, Harvard thân mến, rồi chúng tôi sẽ cứu anh thoát khỏi bùa phép quái ác của con phù thủy này, và khi anh trở lại bình thường, chúng mình sẽ kết hôn và bắt đầu một cuộc sống mới ở Boston.”
Câu trả lời của Harvard nghe bình thản và chắc nịch đến ngạc nhiên. “Nhưng tôi đâu bị bùa phép gì. Mà tôi không hề muốn đến sống ở Boston. Nếu tôi có muốn đi, thì sẽ đi về cực tây... tới Ohio kìa.”
“Việc anh muốn tránh xa người thân và bỏ rơi hôn thê của mình và không nghĩ mình bị trúng bùa phép chính là dấu hiệu rõ nhất cho thấy anh đã phải bùa!” Blackpoole kết luận với vẻ răn đe. “Bây giờ tránh sang một bên đi, cho tụi tôi đưa con phù thủy Sabrina này - cái tên nghe sặc mùi Hà Lan - vào trong kia để xử án, nó tiến hành nãy giờ rồi.”
“Cái gì?” Sabrina túm váy lại và nhảy từ xe bò xuống đất. Đám đông chung quanh choáng váng trước hành vi không chút nữ tính đó và đồng loạt lui lại, làm như sợ hãi trước cô gái. “Đứng nguyên đó!” Sabrina nạt, chăm chú nhìn Blackpoole. “Sao các ông dám đem xử tôi vì một chuyện tôi không hề làm mà lại xử khi vắng mặt tôi nữa?”
Blackpoole đẩy Sabrina vào trong quán rượu cứ như lùa súc vật. “Tội là tội, và chỉ cần có lời buộc tội là bắt đầu vụ xử được rồi. Trong trường hợp ngươi, vì tội làm phù thủy là khỏi biện hộ, nên đâu cần người có mặt khi truy tố. Và vì bản án luôn luôn là tử hình bằng cách thức nào đó hơi ghê rợn nhưng chính đáng, nên chỉ cần ngươi có mặt khi thi hành án thôi.” Hắn giật cái lồng sắt nhốt Salem trên tay gã người hầu. “Cực kỳ hợp lý và hoàn toàn hợp pháp.”
Salem gừ lên, đôi mắt vàng của nó nheo lại nhỏ xíu, nhìn Blackpoole với ánh khinh bỉ. Sabrina chỉ có thể đoán lờ mờ nó sẽ nói gì với quan tòa nếu lúc đó nó được quyền nói.
Không để ý đến con vât khác thường mình đang nhốt, Blackpoole bước vào quán tượu. Đám đông đẩy Sabrina vào theo sau lưng hắn.
Lần đầu tiên Sabrina đi từ ngoài nắng vào chỗ tối tăm của quán rượu thì cũng là một bước đi đơn giản vào một tòa nhà thôi. Nhưng lần này thì bước đi ấy như rơi vào một ác mộng thời Trung cổ. Ngọn lửa trong lò sưởi không phải là dấu hiệu của sự chào đón và tiện nghi thoải mái mà là một đe đọa của sự ngu muội, giận dữ và khổ hình.
Libbeth theo sát gót Sabrina khi Blackpoole đi qua gian phòng để vào đứng bên trong quầy. Hắn dằn mạnh cái lồng nhốt Salem xuống, móc trong túi ra một cái búa gỗ và gõ lên mặt quầy. “Phiên xử Sabrina Spellman, phù thủy, bắt đầu! Chúng tôi tuyên bố bị cáo có tội! Bây giờ bước qua giai đoạn xử tội...”
Cơn phẫn nộ của Sabrina chẳng sánh được với Libbeth. Tiếng cô kêu “Nhưng tôi có làm gì đâu!” bị tiếng gào của Libbeth át mất, “Tôi chưa đưa ra lời chứng mà!”
Mặt Blackpoole lộ vẻ bực bội. “Tôi thấy không cần kéo dài vụ xử này, cô Chestler ạ.”
“Thế thì bố tôi cũng thấy không cần kéo dài hạn trả nợ cho ông,” Libbeth nạt lại.
Cái búa của Blackpoole dao động khi hắn cân nhắc một bên là nỗi thèm khát muốn tuyên một bản án - bất kỳ bản án nào- với bên kia là lời đe dọa khủng khiếp của con quỷ cái kia dưới lớp vỏ một thiếu nữ ngây thơ. Hắn cũng ý thức một cách khó chịu về sự có mặt của đám đông trong quán rượu, họ có thể chống đối hắn nếu không được chứng kiến một cảnh ngoạn mục. West Bridge là một cộng đồng nhỏ bé, và một vụ xử phù thủy sẽ giữ cho lửa sưởi của họ được sinh động suốt trong mùa đông dài đăng đẳng. Đây không phải chuyện nhỏ. Vụ xử này sẽ xây dựng hoặc phá hủy uy tín của Blackpoole.
“Tòa nhóm họp để nghe bằng chứng của cô về các tội làm phù thủy!” hắn quyết định.
Mọi người hăm hở ngồi vào các bàn và băng ghế trong quán, trong khi Goody Watkins đi tới đi lui để ghi nhận mọi người kêu đồ ăn thức uống gì. Quan tòa Blackpoole lôi từ dưới quầy ra một cái rương cũ kỹ, rồi lấy trong đó ra một chiếc áo chùng đen của thẩm phán và một chồng sách luật nặng nề. Mớ sách được chất trên bàn cạnh cái búa gỗ, còn áo chùng được Blackpoole mặc vào. “Thẩm phán Blackpoole, công tố viên và quan tòa Hoàng gia, có mặt và chủ tọa.” Hắn ngân nga.
Libbeth sốt ruột đứng cạnh quầy khi khi gã người hầu lần lượt mang những chiếc ghế tới để cô ta lựa chọn. Qua năm lần, Libbeth tìm được chiếc ghế ưa thích, rồi xòe váy ra một cách hết sức ấn tượng, và ngồi xuống một cách đường bệ để đưa lời khai. “Cô Libbeth Chestler, nguyên cáo, nhân chứng, và nạn nhân khốn khổ, có mặt và kết tội,” cô ta nói một cách nghiêm trang.
Đám đông xì xào tán đồng.
Trong khi đó, Sabrina đứng đớ người trước quầy rượu chỗ gã người hầu đã đẩy cô tới. Con Salem khốn khổ chẳng giúp gì được, và nó chỉ ngồi bó tay trong lồng theo dõi diễn biến. Thế là Sabrina chỉ còn biết trông vào trí tuệ của chính mình. “Tôi không có luật sư biện hộ sao?” cô kêu lên.
“Tội phù thủy thì khỏi biện hộ,” Blackpoole nói thẳng thừng. “Mà ai dám hy sinh uy tín và đối mặt nguy cơ bị kết tội đồng phạm khi đứng ra biện hộ cho một phù thủy?”
“Tôi dám!” một giọng rõ ràng, tự tin vang lên trong đám đông. Với các em vây quanh, Juniper Kelleigh đứng dậy và nhìn trừng trừng vào thẩm phán Blackpoole.
“Bác bỏ!” Blackpoole nạt ngang.
“Sao tôi không được làm luật sư biện hộ?” Juniper hỏi.
“Cô không đủ tư cách trước tòa.”
“Vô lý,” Juniper phản đối, cô thấy nóng mắt lên. “Tôi là công dân có đầy đủ tư cách. Tôi làm ăn thành công với nghề in và làm giấy. Bộ tôi không đóng đủ các loại sưu thuế như một thần dân nghiêm túc của Nhà vua sao? Tại sao tôi lại không được phép biện hộ cho một người mà tôi tin rằng đang bị kết án một cách ác ý và xét xử một cách bất công?”
Blackpoole vỗ vào chồng sách luật trước mặt. “Bởi vì, theo luật và tập tục, những người đủ tư cách trước tòa phải là nam giới có sở hữu tài sản ở mức độ đáng kể. Cô chỉ là một phụ nữ. Theo hiến pháp và tập tục, cô không đủ trí thông minh để lý luận như nam giới. Ngoài ra, tôi cảm thấy cô nhiễm quá nhiều học vấn. Một phụ nữ chưa thành gia thất mà có quá nhiều suy nghĩ thì thật đáng tởm.”
“Tôi đã bảo bà là dẹp mớ sách đó đi và lấy một người chồng từ bao năm nay rồi,” Libbeth cười giả dối.
Juniper giận đến đỏ mặt tía tai. Nhưng cho dù không đồng ý với lời lẽ của Blackpoole, cô ta cũng không thể phủ nhận rằng luật pháp ủng hộ quan điểm của hắn. Cô ta đứng im lặng, hai tay nắm lại, nhìn Sabrina với vẻ đau khổ pha lẫn phẫn nộ khiến Sabrina lạnh cả sống lưng. Rồi, chịu thua, Juniper vẹt đám đông và đi ra khỏi cửa, những đứa em cũng đùng đùng theo chị bỏ ra.
Blackpoole gõ búa. “Thư ký tòa, ghi biên bản rằng cô Juniper bỏ ra để phản đối ý chí của tòa và sẽ bị phạt vì tội xúc phạm thẩm phán sau khi vụ xử này kết thúc!”
Một phụ nữ rụt rè giơ tay lên. “Ơ, thưa... Cô Juniper chính là thư ký tòa.”
“Ô.” Ngưng một lát, Blackpoole lại gõ búa. “Trong biên bản hãy ghi là vụ xử này không có biên bản gì cả!
Bây giờ bên công tố sẽ trình bày.”
“Khoan! Tôi muốn biện hộ cho Sabrina,” Harvard nói lớn và bước ra.
“Ông cần có thêm bằng chứng về chuyện anh ta bị bùa không?” Libbeth ca cẩm với Blackpoole. “Con nhỏ đó đã phù phép cho người yêu dấu của tôi liều hy sinh uy tín và mạng sống cho một phù thủy!”
Thẩm phán cau mày nhìn Harvard. “Nếu anh cứ ngoan cố đòi biện hộ cho mụ phù thủy này, tôi sẽ phải chỉ định anh làm mõ tòa.”
Harvard sựng lại. “Hả?”
“Thợ chính Harvard Kinklin,” thẩm phán Blackpoole nói dõng dạc, “Tôi chỉ định anh làm mõ tòa kể từ bây giờ để phục vụ tại pháp đình này, lo việc giữ trật tự trong phòng xử và trục xuất những người phá rối việc tố tụng tại tòa. Anh có thề tôn trọng nhà vua và luật pháp nước Anh khi hiểu rằng vi phạm công vụ này cũng tương đương với tội phản bội Vua và Quốc hội không?”
“Tôi không hiểu,” Harvard đáp, anh ta lộ rõ vẻ bối rối, “nhưng tôi không thua kém bất cứ ai về lòng trung thành và sự đáng tin cậy.”
“Vậy ta bổ nhiệm anh làm mõ tòa,” Blackpoole tuyên bố, “Nhiệm vụ đầu tiên của anh sẽ là trục xuất khỏi phòng xử này một kẻ đang phá rối trình tự tố tụng và cản trở guồng máy công lý. Mõ tòa, hãy trục xuất chính anh!”
Harvard há hốc miệng vì ngạc nhiên và choáng váng. Từ tử anh ta nhận ra cách Blackpoole lừa anh vào một vị thế mà trong đó anh không thể biện hộ cho Sabrina mà không vi phạm luật. Blackpoole nhỏ mọn và tham lam, nhưng hắn biết cách dùng luật để đạt được những gì hắn muốn. Nghiến răng lại, Harvard bước ra khỏi quán rượu, sập cửa cái rầm sau lưng mình.
“Rồi, bây giờ nếu không còn cản trở gì...” thẩm phán nói, đảo quanh gian phòng với tia mắt như tia laser. Những người dân cục cựa trên ghế và tránh nhìn vào mắt hắn. “Vậy chúng ta có thể tiến hành. Cô Chestler, hãy trình bày luận cứ buộc tội. Lần đầu tiên cô nhận ra rằng kẻ bị rủa, ơ, bị cáo kia là phù thủy từ khi nào?”
“Vâng, thưa quý tòa, ngoài sự kiện rằng cô ta ngang nhiên phủ nhận không có hợp đồng làm công nào cho tôi cả, như quý vị đều rõ, cô ta còn mưu toan đầu độc cha tôi, ngài Chestler.”
Đám đông ồ lên trước lời cáo buộc này.
“Tôi không hề đầu độc ông ta!” Sabrina phản đối. “Tôi chỉ pha trà dược thảo để làm dịu cơn ho của ông ta thôi!”
“Vậy là cô thừa nhận có chế ra một thức uống ma thuật!” Blackpoole kêu lên.
“Không có ma thuật gì trong đây cả,” Sabrina nhấn mạnh. “Chỉ là một ít bạc hà và quả tầm xuân trong vườn nhà ông ấy. Một bài thuốc của các bà mẹ già. Mấy bà cô của tôi vẫn thường làm như thế.”
“Mấy bà cô được nhắc tới đó có già không? Họ có làm mẹ không?”
Sabrina ngần ngừ. Zelda và Hilda Spellman quả là già - sự thực là đã vài trăm tuổi - nhưng cô thấy nói vậy chẳng ích gì. “Có thể nói là họ đã quá trưởng thành, nhưng họ chưa lập gia đình.”
Blackpoole gõ búa. “Hãy ghi trong biên bản rằng cô phù thủy này đã thừa nhận học được phép thuật
từ những mụ già không lập gia đình - mà họ có bản chất đáng nghi là những phù thủy - và thực hành những phép thuật ấy trên thân xác của công dân giàu có và uy thế nhất trong thị trấn của chúng ta.”
Sự ngu dốt của hắn khiến Sabrina thiếu điều muốn gào lên. Không những hắn công bằng và đáng kính chỉ bằng cỡ một tên bán rong mỡ trăn mà hắn còn diễn hoài cái trò ra lệnh cho một thư ký tòa đã vắng mặt lo ghi biên bản! “Đó không phải pháp thuật,” cô tự biện hộ, “mà là y học!”
“Cũng vậy thôi, nếu một người không phải là bác sĩ được triều đình cấp phép hành nghề sau khi đã đóng đủ các khoản lệ phí,” Blackpoole nhẹ nhàng phản bác. “Thì hãy ghi vào biên bản rằng cô phù thủy này chưa hề nộp đơn cho tôi, với tư cách đại diện triều đình, để xin một giấy phép như thế và cũng không hề đóng một khoản lệ phí nào cả. Ngoài ra, tôi cảnh báo cô một lần nữa về những hình phạt nghiêm trọng dành cho bất kỳ ai biện hộ cho một phù thủy, kể cả chính cô.”
Lý luận, hoặc phản lý luận, của Blackpoole làm đầu óc Sabrina quay mòng mòng. “Nếu ông cố kết tội tôi là phù thủy, thế thì tự biện hộ có gây rắc rối thêm gì cho tôi đâu?”
Rõ ràng là cái kiểu lý luận của Blackpoole cũng làm chính hắn lúng túng, vì hắn phải ngưng lại và suy nghĩ về câu nói của Sabrina đến mức tái cả mặt vì cố gắng quá sức. Hắn vượt thoát được vòng lý luận luẩn quẩn bằng cách lắc đầu quầy quậy và làm ra vẻ mặt nghiêm nghị để che đi sự bối rối. “Nó gây rắc rối cho ta thì có, vì ta phải tìm ra hình phạt cho từng tội danh và phải quyết định tội nào phải xử phạt trước và xử tới mức nào,” hắn nói cứ như đấy là suy luận sáng suốt không tưởng tượng được. “Nếu xử tử cô trước khi thi hành được mọi bản án thì có nghĩa lý gì nữa, nhất là khi có một số bản án đều cùng mức tử hình. Chết đi thì cũng không phải phương cách có thể tránh né được án tử hình?” Nói thế xong, hắn ra hiệu cho Libbeth. “Tiếp tục đi, cô Chestler.”
Libbeth trỏ tay vào bị cáo. “Tôi cũng tố cáo rằng Sabrina phù thủy đã dùng phương cách trái tự nhiên để tác động xấu đến tình cảm giữa tôi và tài sản... à, ý tôi muốn nói là, giữa tôi và người sẽ trở thành chồng tôi, thợ chính Kinklin.”
“Tôi chẳng làm cái gì dính tới Harvard cả,” Sabrina nói. “Này, tôi đã có bạn trai rồi mà.”
“Cô phủ nhận việc đi chơi trong rừng với anh thợ Kinklin mà không có ai tháp tùng?” Blackpoole hỏi.
“Tôi đưa báo cho anh ta và mang cho anh ta bữa trưa,” Sabrina giải thích. “Anh ta cho tôi quá giang về thị trấn trên chiếc xe bò, và tôi kể mấy chuyện vui cho anh ta nghe.”
“Hãy ghi biên bản rằng, như mọi phù thủy khác, phù thủy Sabrina đã không tuân thủ cách cư xử khiêm tốn của phụ nữ, trước mặt cả thị trấn nói chung cũng như thợ chính Kinklin nói riêng, xúi bẩy một công dân lành mạnh biến mình trò cười trước công chúng.”
Nỗi thất vọng của cô cao đến nỗi cô có thể nhai cái bảng số xe bằng răng hàm của mình. “Chuyện này thật vô lý!” cô gào lên. “Ông chỉ xuyên tạc các ý nghĩa. Tất cả mọi chuyên ông kết án tôi đều dựa trên những cáo buộc của cô tiểu thư nhà giàu kia vốn chỉ bực tức vì không đạt được mọi điều như mong muốn!”
Đám đông rầm rì tán đồng ý kiến này. Không ít người trong đó đã từng chịu đựng thói quá quắt của Libbeth, và tác phong kênh kiệu của cô đã khiến cô không có bạn bè nào trong thị trấn này.
Sabrina cố thổi nỗi bực bội nhỏ bé này thành một sức mạnh chống lại những điều mà Blackpoole và Libbeth cố áp đặt lên cô. “Tôi thách cái tòa án tự phong và tự tung tự tác này trưng ra được một mẩu bằng chứng cụ thể rằng có bất kỳ trò ma thuật mà các ông có thể tưởng tượng ra là có liên quan đến tôi!”
Trước sự ngạc nhiên của Sabrina, Libbeth vẫy tay ra hiệu cho gã người hầu, và gã này bày một tấm khăn vải trải giường ra trên mặt quầy trước mặt Blackpoole. Sabrina nhận ra đó là tấm khăn cô đã thấy trên giường của Libbeth, nhưng cô không nhận ra những vệt nâu đen bẩn thỉu chạy song song trên mặt vải.
“Hãy nhìn khăn trải giường của tôi đây,” Libbeth tuyên bố, sắp phát khóc. “Thứ vải Ái Nhĩ Lan tốt nhất, cha tôi đã nhập cảng về và định dùng cho giường tân hôn của tôi khi lập gia đình. Xem những dấu cháy nám của nó đấy - một kiểu cháy nám mà không có dụng cụ nào của loài người làm ra được. Một kiểu cháy nám ma thuật do phù thủy Sabrina thực hiện để báo thù chuyện cha tôi đuổi cô ta ra khỏi nhà!”
Đám đông đã ủng hộ lời kết án của Sabrina rằng Libbeth là một cô bé đỏng đảnh, nhưng vụ tấm khăn khiến họ hoang mang và sợ hãi. Chính Sabrina cũng hoang mang tự hỏi không biết chuyện gì đã xảy ra cho tấm khăn đẹp đẽ đó. Libbeth không thể tự mình làm chuyện đó chỉ để kết tội mình... phải không? cô thầm hỏi.
Libbeth vẫn chưa xong. Vung tay một cái rất điệu nghệ, cô ta trỏ thẳng ngón tay vào Salem, một hình ảnh khốn khổ bị nhồi nhét trong lồng chim bằng sắt đặt trên bàn của Blackpoole. “Và đây là bằng chứng cụ thể về pháp thuật phù thủy đủ để kết án nó! Một con mèo đen mà con phù thủy kia lúc nào cũng mang theo bên mình!”
Bằng chứng đó quá thuyết phục. Cả đám đông đồng thanh kêu lên, “Phù thủy! Phù thủy!”
Thẩm phán Blackpoole giơ tay tới trước và rống lên bằng giọng nghiêm trang nhất, “Sabrina phù thủy, ngươi bị kết tội thực hành ma thuật! Do bản chất phức tạp của các tội đã phạm, ta ra lệnh tống giam ngươi ngay lập tức trong khi ta nghiên cứu những phương thức và trình tự trừng phạt thích hợp để kết liễu cuộc đời ngươi mà không gây mâu thuẫn giữa các hình phạt. Bản án cuối cùng của ngươi sẽ được công bố vào bình minh ngày mai, trước giờ ăn sáng.
“Nhốt nó lại!”