Vầng trăng khuyết ló dạng sau những tàn cây phía đông, chiếu vừa đủ cái thứ ánh sáng lạnh lẽo để chị em Kelleigh có thế quay lại nhà mà ít vấp ngã. Nhà của họ là một ngôi nhà hai tầng, trông chắc chắn tuy không sơn phết. Ngôi nhà gần phía bờ sông hơn là trung tâm thị trấn.
Ngay khi Juniper vừa mở cửa, Jordan đã phóng vọt vào để châm một mồi lửa từ đống than hồng. Che mồi lửa trong tay, cậu cẩn thận châm một cây nến trên chiếc bàn lớn bằng gỗ sồi
Trong ánh chập chờn của cây nến mỡ, Sabrina trông thấy một căn phòng ngăn nắp những khá là trống trải với những chiếc ghế treo trên móc tường và vài tấm ván gỗ được kê lên thành chiếc bàn ở giữa. Công việc hàng ngày đã được thu dọn khỏi mặt bàn trước khi cả gia đình tới quán trọ, và căn phòng đã sẵn sàng cho buổi nghỉ đêm.
Chẳng hề so bì, và với kỹ năng đã được tôi luyện hàng ngày, đám trẻ tản ra khắp phòng, ai làm việc nấy. Mấy chú nhóc dỡ bàn ra, lấy mấy tấm ván và đòn kê xếp thành ghế dài quanh lò sưởi. Đám con gái chạy lên gác, lôi trong rương ra nào chăn nào gối, đưa phần của tụi con trai xuống dưới, còn tự mình trải nệm trên tầng hai.
Juniper châm thêm cây nến thứ hai và đi ngang phòng lại mở cửa gian phòng xép phía sau. “Tôi thật tiếc là không thể tìm cho cô một chiếc giường như trong quán trọ”, cô nói với Sabrina, “Mấy thằng bé ngủ dưới này, còn tôi ngủ trên gác với mấy con nhỏ. Những đây vẫn còn một chiếc ghế dài trong bếp, và tôi tin cô có thể ngả lưng qua đêm trong ấm cúng và riêng tư”.
Sabrina theo bà chủ nhà vào bếp, nơi duy nhất trong nhà Kelleigh được xây bằng gạch. “Bếp thường dễ gây cháy, cô biết rõ mà”, Juniper nói khi cô lôi chiếc ghế dài ra trước lò sưởi. “Nhưng than vẫn được giữ kỹ để sưởi ấm cho cô”.
Giống như một thiên thần, Joanna - cô gái nhỏ nhất vụt hiện ra bên tay phải Juniper, tay ôm chiếc mền lông và một chiếc gối ôm. “Em tự làm đấy, từ mấy thứ đồ lượm được chỗ nhà xay”, cô bé ngượng nghịu nói.
“Điều đó còn làm chị thấy ấm áp hơn”, Sabrina nói với cô bé. Joanna đỏ mặt và chạy vụt khỏi phòng.
Juniper mỉm cười trước sự ân cần của Sabrina. “Cứ ngủ bình yên, ít nhất là trong đêm nay”. Mang cây nến theo, cô ra khỏi bếp, khép cửa lại phía sau.
Sabrina xếp chăn và gối trên ghế rồi ngồi xuống. Anh trăng vẫn lọt qua mấy khe cửa , chỉ đủ rọi sáng căn phòng để cô nhận ra những bát sành và hộp nhỏ chất đầy trên kệ. Một quầng sáng đỏ hắt lên từ dưới bếp lò.
“Không đúng điệu Hilton lắm, phải không?', Salem hỏi vọng ra từ bóng tối.
Sabrina cố nén xúc động trước khi quay lại với con mèo vĩnh viễn khó ưa này. “Họ đã thật tốt bụng , và tôi thấy thích chốn này hơn là một đêm ngủ trong cung điện”.
“Còn tôi vẫn khoái dùng dàn sưởi trung tâm bất cứ lúc nào”, Salem xì ra. “Tôi ghét để lông ướt”. Hắn nhẩy lên ghế chỗ một mảng ánh trăng đang rọi sáng và ngước nhìn cô bé. Cái nhìn hiểu biết của loài người trong đôi mắt vàng của con mèo khiến Sabrina rùng mình. Giữa đôi mắt ấy và vệt sáng trăng trên bộ lông, Salem trông đúng là một loài vật ma quái. Nhưng chỉ một giây thôi. Khi hắn nằm nghiêng xuống và thè lưỡi liếm bụng, tất cả cảm giác kinh dị chợt tan biến.
“Ta xin lỗi là đã không kiếm cho mi chút đồ dư trong bữa tối”, Sabrina nói.
“Đừng lo”, Salem nói giữa hai cú liếm, “Tôi đã kiếm được đường lọt vô kho của quán trọ rồi. Tôi ăn nhiều tới mức dám lên ký quá”. Hắn ợ ra và Sabrina thấy mùi hôi nồng nặc.
“Eww, tanh ói! Nếu vậy mi sẽ phải nằm bên dưới ghế”-
Salem vươn thẳng dậy, hài lòng với cái bụng sạch tinh. “Tôi sẽ ngủ trên mặt lò, cám ơn nhiều nghe. Mà này, tôi từng thấy mấy thứ vải lau sàn dầy hơn cái chăn đó”.
Sabrina phớt lờ thói trưởng giả của con mèo, cô duỗi tay dọc tấm chăn trong bóng tối. Những ngón tay cô sờ thấy những đường khâu nối các tấm vải vụn. Đường chỉ khâu thật ngay ngắn và khít, hệt như may trên máy vậy. Cô nhớ tới chiếc giường ngủ trải vải lanh của Libbeth “Không hiểu nổi”, cô lẩm bẩm.
“Không hiểu cái gì?” Salem ngáp.
“Vì sao Juniper, người có một gia đình thiệt lớn và không sở hữu thứ gì đang giá, lại có thể dịu dàng và rộng rãi như thế, trong khi Libbeth, người có mọi vật có thể dùng tiền tài mua được, lại là một loại người dễ sợ như thế chứ”
“Nếu có thứ gì vĩnh cửu xuyên suốt thời gian, thì đó là những thứ tương tư như thế”, Salem nói. “Mà nói chuyện thời gian, cô tính dùng thời gian còn lại ở đây để làm gì?”
Sabrina đã từng nghiền ngẫm câu hỏi đó trong suốt tối nay. Cô lựa lời đáp. “Libbeth và cha nó biến ta thành thứ đần trong cả ngày nay. Ta nghĩ chắc ta không thể làm gì hơn được”.
“Ờ, đừng coi là cô mắc nợ gì nhà đó nghe. Họ thực ra muốn nô lệ cô đó”.
“Nhưng tôi thấy mắc nợ với chị em Kelleigh về lòng tốt của họ”.
“Và cô nghĩ là...”
Một quyết tâm chợt tràn ngập trong Sabrina. “Tôi tới đây để học mọi thứ. Tôi sẽ dùng ngày mai để giúp Juniper và gia đình cô ấy trong mọi chuyện. Đó là những thứ tối thiểu tôi có thể làm cho họ”.
“Sao không kiếm lấy thứ tối đa?”
Sabrina đây Salem rớt khỏi ghế. “Lại chỗ lò sưởi của mi đi, đồ hỗn xược”.
Mặt trời mới vừa lên tiếng chân rậm rịch và tiếng thì thào đã khiến Sabrina thức giác, cố giương cặp mắt ngái ngủ, cô bé thấy Justina và Johanna đang nhón chân đi vào bếp, thử nhóm lửa mà không làm cô thức giấc. Sabrina ngáp và cười với hai cô bé, co ro ngồi dậy trên chiếc ghế.
Với vẫn thứ kỹ năng thành thục đó, chẳng bao lâu sau một nồi cháo bột đã được treo trên ngọn lửa hồng; một chiếc ấm nhỏ hơn đựng trà loãng cũng được đun sôi. Bữa sáng trong nhà Kelleigh diễn ra với đủ những chuyện chòng ghẹo vui vẻ.
Sabrina luôn được đón chào khi tham dự cuộc vui, nhưng không ai xâm phạm sự riêng tư của cô, hay để câu chuyện đi xa ngoài mức cô mong muốn.
Cũng như tại nhà Chestler, đồ ăn ê hề vượt mức dùng cho cả một gia đình. Ngay cả sau khi tám cái bụng đói đã dùng xong bữa, cháo trong nồi vẫn còn vô khối và được hắt ra sân cho tụi lợn đang đào bới phía sau nhà. Sabrina thấy trứng gà được thu lượm từ mấy chiếc ổ rơm, nhưng Justin đã kể cô hay là họ không ăn trứng, họ sẽ mang xuống phố để đổi lấy những thứ mình cần.
Sạbrina lẩn quẩn quanh Cô Juniper trong khi cô ta rửa chiếc nồi cháo bột. “Để mình làm cho,” Sabrina nói. “Tôi muốn làm việc trong lúc cư ngụ tại đây”.
“Vậy sao, bây giờ hả?”. Juniper đáp, có vẻ thắc mắc trong giọng nói.
Ngay lúc đó có một bàn tay to lớn đấm mạnh vào cửa ra vào. Juniper chạy vội ra đón, có Sabrina lẽo đẽo theo sau. Bàn tay đó hoá ra là của gã người hầu trong nhà Chestler, người vừa quăng hành lý của Sabrina xuống trước cửa nhà Kelleigh. Phía sau gã là Libbeth Chestler và Thẩm phán Blackpole.
Libbeth nói, hướng lại gã thẩm phán nhiều hơn là với Sabrina. “Để tất cả cùng biết là Sabrina Spellman, một người hầu tồi tệ, đã bị thôi việc tại chỗ tôi. Tôi sẽ huỷ bỏ hợp đồng với cô ta và sẽ yêu cầu người môi giới lao động hoàn trả lại tiền”. Cô ta chậm rãi chuyển hướng cái nhìn của mình từ Blackpole sang Sabrina. “Tôi lặp lại, cô gái Spellman này không còn trong hàng ngũ người hầu của tôi. Nói cho gọn cô ta là một kẻ lang thang”.
Mắt Blackpole sáng lên khi gã tiến tới túm lấy tay Sabrina.
“Cô Spellman không phải là một kẻ lang thang,”
Juniper nói bình tĩnh. “Cô ấy vừa nhận vào làm công cho tôi trong sáng nay”.
Blackpole thở rít lên như loài rắn, tức giận vì sự can thiệp của cô gái nhà Kelleigh. Hắn không phải là kiểu người chấp nhẫn sự kháng cự. Cái nhìn chết chóc của hắn lướt qua ba cô gái, lộ rõ sự tàn độc mà lời nói không mô tả hết. Rồi hắn bỏ đi.
Libbeth khịt mũi và ngó khắp xung quanh, rồi cũng biến nốt.
“Cám ơn,” Sabrina nói với Juniper. “Tôi sẽ làm việc cật lực cho cô”.
“Tôi cũng không chờ đợi ít hơn đâu”, cô gái đáp.
Phần lớn buổi sáng hôm đó được dùng vào việc học hỏi nghề làm giấy. Cha Juniper đã mang nghề này qua đây từ Ái Nhĩ Lan và dựng lên cả một xưởng giấy trên đất của mình. Ông đã truyền nghề cho tụi nhỏ, và tất cả tụi nhỏ đều làm việc như một cỗ máy trơn tru.
Trong một chái kho áp vô nhà, Juniper đã chỉ cho Sabrina coi niềm tự hào và vui thú của cô - một chiếc máy in dập tay. Nó đòi hỏi cả hai cô em hoặc ba cậu nhỏ đu mình lên bàn đạp, nhưng thói quen làm việc lâu dài đã giúp cho họ có thể in được khoảng một trăm bản mỗi ngày - nhanh hơn nhiều so với số giấy họ có thể chế ra.
Xoay chốt máy vài vòng sẽ giúp cho bản in rời ra khỏi máy. Cẩn thận núm lấy góc tờ giấy, Juniper xếp tờ giấy lên chồng bản in kế bên, làm lộ ra những trái thông được in mầu hồng nhạt. “Mấy bản in này do Thợ cả Kinklin khắc đó. Nhưng mầu mực thì do tôi chọn. Tôi phải gửi cho anh ấy vài bản in để kiểm tra. Liệu cô có vui lòng mang lại cho anh ấy chăng?”.
Sabrina kinh ngạc khi thấy Juniper đề nghị người làm chuyển đồ giúp. Dù tỏ ra tin cậy nhưng cô chủ nhỏ này lại muốn tìm kiếm sự hợp tác hơn là mệnh lệnh.
Tình yêu của cô gái với công việc thật dễ thấy, nhưng Juniper còn rạng rỡ hơn khi chỉ cho Sabrina xem kho báu của mình. Mở chiếc rương nặng nề ra, cô tự hào giơ lên hết tấm bản in này tới tấm bản in khác. “Đồ cha tôi mang theo đó, trước khi ông ấy rời khỏi quê cũ. Dưới thời Anh quốc, dân in ấn Ai Nhĩ Lan chẳng có mấy người thuê. Khi nào không phái in giấy bồi tường hay thảm trải giường, tôi vẫn thực tập bí quyết nghề in. Tôi đã có vài thử nghiệm xấu tệ cho cô xem, vào lúc thích hợp”. Mắt cô gái hướng vào tương lai chưa xác định. “Tôi mong là một ngày kia có thể tiếp nối công việc của cha mình và in ra những thứ khiến ai cũng muốn đọc”. Cô im lặng, chìm đắm trong mộng tưởng.
Mặt trời đã chiếu giữa đỉnh đầu và tiếng trao đổi khàn khàn của mấy đứa em đang dọn bữa trưa đánh thức Juniper khỏi giấc mơ. “Mơ ngủ giữa ban ngày vậy đủ rồi,” cô nói nhanh, “tôi còn phải chuẩn bị bữa trưa, còn sau đó cô sẽ đi giao hàng”.
Xưởng rèn nhà Kinklin nằm trên bờ sông ngược với hướng West Bridge, nơi dòng nước ồn ào của sông West chảy xuống vùng đồng bằng bên dưới. Thay vì dựng thành những cửa hàng riêng dưới phố, dòng họ Kinkilin dã quyết định tiết kiệm tiền và xây đựng một khu xưởng nhỏ, bao gồm cả lò rèn và xưởng mộc.
Sân trước tấp nập những người trong lúc Sabrina lựa đường tới chỗ lò rèn. Ngoài việc chế gỗ và đồ kim khí để bán trong thị trấn, dân thị trấn và đám dân quê còn kéo tới đây, mang theo gỗ súc để xẻ hoặc bào nhẵn. Sabrina buộc phải chen lấn để tìm đường qua những xe bò kéo chất đầy gỗ đã phơi khoảng một hai năm, và giỡ sẵn sàng được xẻ ra làm ván thay cho bộ sàn nhà cũ. Vài chiếc xe khác chất đầy củi, để nuôi cái lò rèn luôn đói củi này, mấy ông chủ xe đang bàn bạc lớn tiếng với dân nhà Kinklin hay với mấy bà vợ về chất lượng và giá cả của mấy món hàng.
Lò rèn nhà Kinklin đang vang lên những tiếng kim loại đập vào nhau và những tiếng rít xèo xèo khi miếng kim loại nóng bỏng được tôi trong nước. Dù toà nhà mở rộng cửa sang bên nhưng tiếng ồn và khói bụi mịt mù không cho phép Sabrina nhìn thấy hay nghe thấy Harvard. Cô túm lấy một thằng nhóc khoảng mười hai tuổi vừa ra khỏi lò rèn, mang trên tay mấy miếng thép mỏng đi lại chỗ nhà kho.
“Chị biết tìm Harvard Kinklin ở chỗ nào đây?” cô gào át tiếng ồn. “Chị cần mang giấy tới cho anh ấy”
“Không có ở đây đâu, mum”, thằng bé hét lại, “Ông chủ Berkeley đã sai anh ấy đi nhận than củi rồi, trong rừng ấy”.
Bất chấp ngôn từ kỳ lạ của chú nhóc, Sabrina vẫn hiểu chú nói gì. “Vậy có ai khác nhận hàng không?”
“Hàng cậu ấy đặt hay hàng của mấy ông bác đây?”
“Chị nghĩ chắc là cậu ấy đặt”.
“Chắc chẳng ai nhận được đâu”, thằng nhỏ tuyên bố. “Thợ cả đi rồi. Chuyện cậu ấy là chuyện của cậu ấy, ai mà biết được.”
“Em có thể mang tới chỗ anh ấy không?” Sabrina bắt đầu thấy ngợp vì tiếng ồn và khói.
“Xin lỗi, mum, nhưng không đâu”, thằng nhỏ đáp. “Còn làm ở đây nè, em còn phải làm - không thể bỏ đi nhởn được. Mà nữa, cậu ấy chắc đang bực mình, không ghé về ăn. Vậy đó”. Cậu ta chỉ về phía một gói vải để trên kệ cạnh cửa.
Sabrina không muốn làm hư nhiệm vụ đầu tiên Cô Juniper giao cho mình. Đúng là một cách tệ hại để thực thi công việc, ngay cả khi cô chỉ đi làm có một ngày. Chợt có một ý tưởng thoáng qua. “Chỗ người đốt than có gần đây không? Có lẽ chị xe đem bữa trưa cho Harvard và giao chỗ giấy này cho anh ấy luôn”.
“Gần lắm mà”, chú thợ nhỏ la lên. “Rẽ vào lối mòn Founder Collins sau khi đi qua đường chỗ rừng sồi. Không lạc được đâu”. Chuyện này có vẻ đã khiến cậu nhỏ an tâm, và cậu ta bỏ đi làm việc, không nói thêm một lời nào nữa.
Nửa giờ sau Sabrina có vẻ không tin chắc vào điều đó lắm. Cô chưa thể đi xa hơn một dặm sau khi rẽ từ đường Collins xuống, nhưng chung quanh chỉ có rừng vây đặc khắp tứ bề. Nói cho đúng thì đây chỉ là một khoảnh rừng yên tĩnh, với những khoảng trống dưới tàn cây ngút ngát. Nhưng những khoảng trống như vậy không có nhiều, và không có lấy một bóng dáng của con người cư ngụ, ngoại trừ chính con đường mòn này. Cô vừa mới đánh động cả một bầy chim lớn bay từ mấy bụi rậm tán loạn lên trời. Còn có tiếng sột soạt trong lùm cây, và cô mong đó là một con thỏ hoặc hoẵng chứ không phải là gấu hay chó sói.
Chợt tiếng sột soạt đó tiến thẳng về hướng của Sabrina. Có một con gì đó phía sau bên trái đang lên lỏi qua những lùm cây, đôi lúc dừng lại, nhưng rồi lại phóng qua đám cây khô để rượt theo. Như cô nghĩ, đó có thể là một con chuột khổng lồ hay một con gấu xám nhanh nhẹn.
Sabrina chuyển cả hai món đồ của mình – giấy của Juniper và bữa trưa của Harvard sang tay trái và trỏ ngón tay phải vào đúng chỗ tiếng động đang phát ra.
Chẳng có gì xẩy ra.
Chết tiệt! Sẽ chẳng còn dịp nào cho một phù thuỷ không có quyền năng! Cô hối hả tìm một phương thức khác để tự vệ. Phóng ngang đường mòn, cô ngó thấy một cành cây khô có thể dùng làm một cây chuỳ chắc chắn. Cô bé bỏ mấy bao đồ xuống, nhặt khúc cây lên, lường thử sức nặng của khúc cây. Nó khá nặng, nhưng khi nắm bằng cả hai tay cô biết mình sẽ cho kẻ tấn công nếm đòn đau. Được rồi, mày là ai cũng vậy, coi thử coi mày chịu chơi tới đâu khi con mồi đã được vũ trang! Vũ khí trong tay, cô tiến lại chỗ tiếng động.
“Ooh, cô không phải là hình ảnh hoàn hảo của Những người khai phá sao?”, Salem lè nhè, nhẩy ra khỏi bụi và đứng khéo léo trên gói giấy của Juniper. Hắn khịt khịt đánh hơi bữa trưa của Havard.
“Salem!”, Sabrina bỏ cây chuỳ xuống và chống tay lên nạnh. “Mi nghĩ mi đang làm gì đó?”
Salem làm dáng. “Không có ai thoát được khả năng theo vết chưa từng thấy của Mèo Hoang xứ Rừng Già. Tôi biết vị trí của từng vật sống trong vòng một dặm quanh đây”.
“Đó chính là con mèo vẫn không tìm được con chuột cao su của mình ư?”
Đuôi Salem cụp xuống. “Cứ mỉa mai đi, nếu cô thích thế, nhưng cái cơ thể này có những bản năng đã được trui rèn sau biết bao thế hệ”.
“Và mập ù lên nhờ biết bao hộp cá ngừ Perky Pet.
Nói đến thời gian,” - Sabrina hất Salem ra khỏi mấy túi đồ - “mi làm ta trễ rồi đó. Ta cần tìm Harvard”. Ôm mấy chiếc túi trong tay, Sabrina quay lại đi theo lối mòn. Lối đi vòng qua một dẫy sồi, chạy thẳng vào một bãi trống quang đãng có một cây sồi lớn cư ngụ.
Có điều gì đó chỗ bãi đất này trông thật quen thuộc với cô nhưng cô vẫn chưa nhìn ra. Cô đã đi theo lời chỉ dẫn của chú nhỏ phụ việc và chỉ để ý sao cho khỏi lạc. Đây chính là nơi cô cần tới. Nhưng vì sao cô lại có cảm giác mình đã từng thấy chốn này rồi nhỉ? Cuộc truy tìm Harvard chợt bị lãng quên, cô đi dọc theo bãi trống, ngước mắt nhìn lên thân sồi.
Chờ chút đã! Sabrina kinh ngạc. Đó chính là cái cây trong vườn nhà mình, chỉ có điều bé hơn thôi!
Cái cây vẫn chưa lớn và chưa tạo được ấn tượng lâu năm như cô vẫn nhớ, và nó cũng không có những mấu lồi chỗ mấy cành cây đã bị chặt đi - hay là sẽ bị chặt đi - nhưng nó vẫn có bốn cành lớn chìa ra như vậy. Cái cây đang trong thời kỳ tráng niên, và hình vương miện của tán sồi trông còn ấn tượng hơn thời của Sabrina. Bốn cành nhỏ vươn ra mạnh mẽ từ thân chính, với những chiếc lá vàng và đỏ do mùa thu để lại, trông nó hệt như một vương miện của tự nhiên.
Chuyện này thật kỳ lạ! Sabrina nghĩ. Có một quyền năng gì đó thật dễ cảm nhận, ngay cả với những người thường. Hilda và Zelda nói đúng, có một ma thuật trong những thứ gì mọc dưới đất lên. Suy nghĩ đó làm cô nhột nhạt. Chắc mình sẽ giúp mấy cô làm vườn, khi đã quay trở lại. Cô hình dung cảnh mấy bà cô đang làm việc trong vườn, hệt như những hồn ma chen giữa cô và cây sồi có thực kia. Nơi đây có hoa hồng, và có chim tắm nắng, và có ...
Cho tới lúc này, Sabrina vẫn nghĩ về chuyến đi của mình tới West Bridge như một buổi du ngoan tới công viên giải trí hay tới tham quan một dự án trùng tu. Nhưng nơi đây, trước mặt cô, là phiên bản trẻ trung của một điều gì đó cô đã biết trong thời của mình.
Cô nhìn xuống đầy kính sợ. Mình đang đứng đúng vào nơi ngôi nhà của mình sẽ được xây nên- hai trăm bẩy mươi năm sau! Hơi thở của cô gấp gáp vì nỗi kinh nghi, cố thoát ra khỏi chiếc áo ngực bó chặt. Cả thế giới xoay tròn quanh cô và tối sầm đi.