Một tiếng gõ rền vang khắp căn phòng nhỏ xíu xây tường gạch và có cửa sổ lắp song sắt. Một chìa khóa cọt kẹt trong ổ khóa bằng sắt, và chốt cửa từ từ, miễn cưỡng mở ra.
Sabrina và Salem đã bị nhồi trong một căn phòng nhỏ tách khỏi gian chính của quán rượu suốt mấy giờ rồi. Một chiếc đôn ba chân, trong đó có một chân hơi ngắn, được đưa vào cho Sabrina ngồi, nhưng Salem vẫn bị nhét trong cái lồng chim. Một ổ khóa nặng nề khớp chặt cửa lồng không cho con mèo thoát ra.
Sabrina ngạc nhiên và bực bội khi thấy Salem lập tức ngủ ngon sau khi cả hai bị kết án. Và từ khi bị nhốt vào đây nó không thèm cục cựa một tí nào. Goody Watkins đã dọn bữa tối cho mọi người ngay sau phiên xử, khai thác tối đa cơ hội làm ăn này, nhưng sau đó quán rượu trở nên im ắng. Ánh sáng vẫn vào được phòng giam qua ô cửa chấn song cho đến khi mặt trời lặn hẳn, và bây giờ phòng giam vừa tối tăm vừa im lặng.
Cánh cửa gỗ nặng nề hé ra một chút rồi kẹt cứng lại. Sabrina không biết chắc họ sắp đưa cái gì vào nên cô lui vào một góc và chờ đợi.
Ai đó bên ngoài cố đẩy vào cánh cửa. Nó xịch vào vài phân. Thêm một cú đẩy, lại mở được vài phân. Kẻ đó sau cùng tống cho cánh cửa một đạp, và nó mở tung hết cỡ, đập luôn vào tường. Sabrina giật mình nép sát hơn vào góc phòng, lòng mừng thầm vì đã quyết định thu mình vào một góc xa khỏi cánh cửa.
Một bàn tay cầm cái chân đèn trên đó có cắm một cây nến thò vào trong phòng. Rồi, Sabrina ngạc nhiên nhìn thấy Harvard Kinklin thò đầu vào, anh ta chợt nhận ra lúc mở cửa quá mạnh anh ta đã có thể va phải Sabrina. “Xin lỗi,” anh ta lầm bầm, vén mớ tóc trên trán. “Có khi tôi không ý thức về sức vóc của mình.”
“Anh làm gì ở đây vậy?” Sabrina hỏi, hạ giọng xuống hết cỡ. “Tôi tưởng không ai được phép vào thăm tử tù chứ, nếu Blackpoole không chịu.”
“Lỗi tại ông ấy,” Harvard bối rối mỉm cười. “Chính ông ấy chỉ định tôi làm mõ tòa. Nên tôi có quyền thu xếp đem bữa tối vào cho cô.”
“Ô, tuyệt quá,” Sabrina thở dài. “Tôi có được một bữa cuối cùng theo truyền thống, nhưng tôi cũng chưa kịp kêu món gì cả.”
“Tôi rất tiếc nếu bạn muốn ăn một món nào đó,” Juniper nói khi cô bước vào xà lim bưng theo một cái khay có phủ khăn. “Tôi mang những món mà nhà tôi có thể kiếm được... Goody Watkins hoảng hồn khi nghe chuyện tiếp thức ăn cho một phù thủy.”
“Tôi phải nói với mọi người bao nhiêu lần rằng tôi không phải là...” Sabrina sựng lại giữa chừng. Nói thật tình thì cô là phù thủy thiệt! Nhưng không thể công nhận điều đó trong thời điểm này, kể cả với những người bạn như họ đây. “Tôi bảo đảm với hai bạn rằng tôi không làm trò phù thủy với bất kỳ ai trong thị trấn này.” Đây là sự thật trăm phần trăm, các quyền lực của cô đã bị thư ký của Mobius Trip niêm phong trước khi cô khởi hành đi ngược thời gian.
“Ô, chúng tôi tin cô mà,” Juniper nói. “Chúng tôi đã sống với tính tai quái của Libbeth và sự dốt nát của Blackpoole nhiều năm nay rồi.”
“Chúng tôi chẳng làm được gì cả,” Harvard tiếp lời và đặt cây nến xuống sàn, “ngoài việc làm cho những giờ phút cuối cùng của cô được dễ chịu hơn.”
“Các bạn chu đáo quá,” Sabrina nói, cố gắng để đừng lộ ra giọng chua chát. Juniper và Harvard đã làm hết sức của họ trong tình cảnh này. Sau cùng, Sabrina vẫn là kẻ lạ đối với họ. Họ mới là người phải đối mặt với dân trong thị trấn suốt cuộc đời họ. Dĩ nhiên, điều đó cũng áp dụng cho mình luôn, cô thầm nghĩ. ít nhất là cho đến sáng mai!
Harvard rời phòng giam rồi trở lại với một cái đôn khác, anh ta đặt hai cái đôn cạnh nhau thành một cái bàn cho Juniper đặt khay lên. Juniper giở khăn ra, bên dưới là cái dĩa lớn bày nửa con gà rô ti, một ít rau luộc, một cốc vại, và một cái chai đất nung đựng nước táo lên men.
Cô ta lấy trong túi của chiếc tạp dề ra một cuốn sách nhỏ và dày, một cuộn giấy và một cái hộp trong đó có bút và mực. Cô ta dúi những thứ đó vào tay Sabrina. “Theo phong tục thì tử tù được phép viết lời vĩnh biệt nếu họ muốn. Tôi rất vinh dự nếu những sản phẩm của tôi giúp bạn được việc ấy. Ngoài ra, tôi còn đem cho bạn một thành quả nghề in của tôi.” Cô ta vỗ vào cuốn sách. “Đây là bản in nhật ký của tôi về lịch sử thị trấn này. Bạn có vẻ quan tâm đến miền đất này, dân cư ở đây và những ý kiến của họ, nên tôi nghĩ cuốn sách có thể làm bạn dễ chịu trong những giờ cuối cùng. Xin bỏ qua cho công trình thô thiển này; tôi hứa sau này sẽ in đẹp hơn.”
Sabrina chưa kịp bày tỏ mình xúc động đến mức nào thì cái bóng dáng như thằng bù nhìn của thẩm phán Blackpoole hiện ra ở khung cửa. Hắn đưa con mắt hắc ám nhìn khung cảnh trong phòng và cáu kỉnh nói, “Nếu ta cần thêm bằng chứng vế ma thuật của ngươi thì ta đã có đây rồi. Nhờ cái gì khác nếu không phải ma thuật mà ngươi dẫn dụ được những công dân lương thiện đem lại cho ngươi những món này trong khi theo luật ngươi phải sống trong và chịu dói cho đến lúc bị xử tử? Ra khỏi đây ngay!” hắn ta ra lệnh cho hai người kia.
Harvard trừng mắt nhìn tay thấm phán, anh ta chỉ còn một sợi tóc nữa là nổi nóng và đập cho hắn ta một trận rồi. Blackpoole thầm so sánh mình với dàn cơ bắp của anh thợ nọ, vốn đã săn cứng qua bao năm lao động. Hắn ta thấy rằng thận trọng là thái độ tốt nhất và hắn không phản đối gì nữa khi Juniper nói với Sabrina, “Lát nữa chúng tôi sẽ trở lại thu dọn. Dù thế nào bạn cũng nên cố ăn một chút. Justina đã nấu riêng bữa này cho bạn đó.”
Juniper xúc động dữ dội, và nước mắt tuôn xuống má cô. Đưa tạp dề lên lau mắt, cô ta quay đi và rời khỏi phòng giam. Dưới cái nhìn lạnh gáy của Blackpoole, Harvard kéo cửa đóng lại, buộc tay thẩm phán trở ra phòng ngoài và để yên cho Sabrina.
Được rồi, mình sẽ bị xử tử, Sabrina nghĩ, nhưng ít nhất mình cũng có ánh sáng, thức ăn và sách để đọc... cho dù mình không hề thấy thèm ăn.
Salem đã thức dậy ngay khi ngửi thấy mùi gà rô ti. “Ô, quá ngon,” nó ngáp và nói. “Sau cùng cũng đến bữa tối. Cho tôi một miếng được không? Tôi ghét cái thời của chúng mình, ở đó chỉ có một loại thịt trắng. Đó là bởi vì bọn gia cầm không có tập thể dục, cô biết đấy.”
Sabrina thấy tức mình như sắp vỡ tung mạch máu. “Sao ông có thể tỉnh bơ lo chuyện ăn uống khi sáng mai là mình bị chết ráo vậy?”
“Ô, thứ nhất,” Salem ngáp dài và nói, “Tôi đói bụng thiệt tình. Thứ nhì, hai ta sẽ chẳng ai chết cả... ít nhất là ở đây.”
“Tại sao không? Hay là mi biết được điều gì trong tương lai... tức là quá khứ... ý ta là tương lai của chúng ta... mà ta không được biết?”
Salem nhìn Sabrina bằng kiểu nửa con mắt chỉ có được ở loài mèo. “Cho tôi miếng thịt gà đi, được không?”
Sabrina bực bội xé nguyên cái đùi và nhét qua nan lồng cho nó. Salem đón lấy và thong thả xé ra, ăn sạch miếng đó trước khi xé miếng khác.
Cô phù thủy trẻ đã sống với nó đủ lâu để biết rằng không thể đọ với Salem về thói tỉnh bơ được. Salem sẽ tiếp tục nói chuyện khi nó đã ăn xong chứ không phải trước khi ăn. Đồ mèo! cô tức tối nghĩ.
Để giết thời gian, cô lật cuốn sách của Juniper ra xem dưới ánh nến chập chờn. Tuy cô bạn làm giấy nói rất khiêm tốn về công trình của mình, nhưng Sabrina thấy cuốn sách được in và khâu rất tử tế, lại đóng bìa da chắc chắn nữa. Bên trong, in bằng chữ nhỏ, là sưu tập những câu chuyện về West Bridge, mỗi chuyện có ghi chú tên người kể, lai lịch của người đó, và thời điểm ghi lại câu chuyện.
Đúng là thứ mình cần cho bài luận... nếu như mình còn sống để viết nó lại. Cô lấy chân hất vào lồng nhốt Salem. “Ăn nhanh lên, mi làm ta điên mất!”
Với thói khinh bỉ của loài mèo đối với những cung cách của con người, Salem ợ hơi và dựa lưng lùi xa khỏi mẩu đùi gà còn lại. Tuy nhiên nó vẫn giữ miếng đùi đó bằng hai chân trước hất qua hất lại. “Câu trả lời rất hợp luận lý, cô bé ạ,” nó nói. “Chẳng có chuyện gì xảy ra cho chúng ta đâu. Ô, tôi công nhận rằng lý do của vụ xử cũng làm tôi cáu lên chút đỉnh, nhưng sự thực vẫn là sự thực- không hề có tài liệu nào ghi chép về một vụ xử hay hành hình phù thủy nào ở Westbridge cả.”
Hiểu ra những lời của Salem, Sabrina thấy nhẹ nhõm đến suýt ngã khỏi chiếc đôn. Sao mình không nghĩ ra điều đó nhỉ? Sau cùng, ta chỉ mới nghiên cứu chuyện này hôm qua. Nhưng khoan đã., thực ra là mới từ sáng nay. Ý thức về sự đảo lộn thời gian làm đầu óc cô quay mòng mòng. Thiệt kỳ cục khi nghĩ rằng mình đã ở đây gần hai ngày, nhưng ở nhà thì nó vẫn còn là ngày mình lên đường. Từ hồi mình ngồi trong lớp nghe cô Hetch giảng bài tới bây giờ cứ như đã mấy tuần lễ rồi.
Rồi chợt cô giật mình la lên một tiếng khiến Salem cũng bật tưng lên trong lồng. “Cái gì? Ở đâu? Ai? Thế nào?”
“Salem!” Sabrina run run. “Cô giáo dạy sử của ta nói người ta không biết gì nhiều về giai đoạn lịch sử này của thị trấn! Nếu như có một vụ xử và hành hình nhưng không được ghi chép lại thì sao?”
Salem thở ra cái phèo. “Ôi trời, đừng có hù tôi. Kiểu đó làm tôi khó tiêu.” Nó thò vuốt tới cuốn sách trong tay Sabrina. “Cô ngốc quá. Cô bạn Juniper của cô đã ghi mọi chuyện trong thị trấn này vào nhật ký đấy, phải chưa? Cô còn biết cô ấy là thư ký tòa án nữa mà.”
“Mà mi có thấy Juniper đã rời phiên xử và không có mặt để ghi chép phải chưa?” Sabrina vạch ra. “Vụ xử đã xảy ra với chúng ta nhưng không có ghi trong lịch sử thị trấn để sau này cô Hetch có thể kể lại phải không? Nếu có một phù thủy và một con mèo đã bị xử tử nhưng không được ghi chép lại thì sao?” Thái độ thiếu tin cậy Juniper và các phụ nữ có học của Blackpoole hiện ra trong óc cô và khiến miệng cô khô khốc. “Hoặc nếu như nó đã được ghi lại nhưng tay thẩm phán địa phương sau đó đã tiêu hủy đi ... có thể là tiêu diệt luôn người ghi chép, thì sao đây?”
Salem cố phản bác lại lý luận này. Vẫn hất hất mẩu xương gà giữa hai chân, nó nói, “thôi nào, đừng có hoảng lên như thế. Tay thư ký hãng Mobius Trip có thể sẽ tới bất cứ lúc nào để đón chúng ta trở về, và chúng ta sẽ bật cười về chuyến du hành dựng tóc gáy này.”
“Hi vọng là mi đúng.”
“Đúng là cái chắc. Đưa khách đi du hành rồi để họ bị giết thì đâu phải cách làm ăn của một hãng du lịch có lãi, phải chưa?”
Sabrina đành bật cười. “Đúng rồi, ta cũng chắc thế?'
“Thấy chưa?” Ngáp thêm một phát, Salem lại nằm xuống. “Chẳng có gì phải lo. Cứ thưởng thức sự bất công lịch sử khi có cơ hội.”
Nhìn bụng con mèo phập phồng khi nó dần ngủ thiếp, Sabrina cũng cố làm theo nó. Nhưng trí óc cô cứ thấp thỏm. “Salem, khi mi làm một chuyến du hành vượt thời gian trong hai ngày thì thực sự nó kéo dài bao lâu?”
Nằm nguyên một chỗ, Salem đáp, “Tôi đoán... là hai ngày.”
“Chính xác chứ?”
Salem ngóc đầu lên. “Đúng boong bốn mươi tám tiếng. Dân điều hành du lịch chính xác trong mấy vụ này lắm - việc của họ là ghi chép giờ giấc mà.”
“Không bao giờ kết thúc sớm hơn?”
“Dĩ nhiên là không! Cô trả tiền trước mà. Nếu kết thúc sớm hơn là lừa gạt khách hàng. Nè, sao cô hỏi mấy vụ này vậy?”
“Bởi vì nếu mình tới đây khoảng giữa trưa hôm qua, giờ địa phương, thì họ sẽ đón mình đi vào giữa trưa... ngày mai!” Sabrina tái mặt. “Salem, sáng sớm ngày mai mình đã là tử tù rồi! Mình đâu còn sống tới trưa mai được!”
Một cảm giác ớn lạnh trùm lấy Salem. Nó đẩy cái xương chân gà ra mép lồng. “Cô muốn ăn khúc đùi gà này không? Tự nhiên tôi hết thấy thèm ăn.”
“Ồ, kinh quá! Sabrina nói, đi tới đi lui trong phòng. “Kinh thật! Mình sẽ làm gì đây, Salem? Chúng ta không cách chi liên lạc được với tay thư ký hãng du lịch! Ông ta không hề biết ta đang gặp chuyện gì! ta phải làm gì đi chứ, nhưng lại chẳng làm gì được! Vậy ta phải làm gì đây?”
“Chúng ta không được hoảng lên,” Salem gắt. “Chẳng ích gì.”
“Thế thì cái gì mới có ích?” Sabrina hỏi, rầu rĩ nhìn ngón trỏ của mình. “Phải chi ta còn quyền lực...”
“Nhưng cô đâu còn, nên ta phải nghĩ đến chuyện khác.”
“Đúng. Một điều gì khác.” Sabrina tiếp tục đi đi lại lại và bực bội suy nghĩ. “Một điều gì khác, một điều gì khác, một điều gì...” Cô ngừng lại. “Tất cả là do lỗi ở mi. Chính mi đã bảo đảm không xảy ra chuyện gì tệ hại.”
Salem có vẻ choáng váng. “Lỗi của tôi? Chính cô mới là người không muốn bỏ đợt cuối tuần đào bới khu vườn với các bà cô!”
Nếu Libby không ve vãn Harvey trong lớp thì mình đâu bị phạt phải viết bài luận lịch sử này! “ta lẽ ra phải ở nhà. Có thể ta sẽ bị bẩn tay chân nhưng chuyện tồi tệ nhất mà tôi có thể gặp cùng lắm cũng chỉ là đào trúng một cái chai hay một cái tách bể thôi.” Một cách vô thức, Sabrina thò tay cầm chai rượu táo trên khay lên và uống ừng ực.
Khi đặt chai xuống khay cô chợt sựng lại, mắt cô nhìn chăm chăm vào đó, miệng cô há ra. “Salem...”
Salem đang nằm quay lưng về phía Sabrina, nhưng đuôi nó cũng nhúc nhích và nó đáp, “Gì?”
“Tay thư ký nói rằng chuyện gì xảy ra trong quá khứ thì đã xảy ra, đúng chưa? Nên nếu tôi, thí dụ như, viết tên mình trên tường mà không có ai chùi nó đi, thì dưới lớp vữa trong căn phòng chơi trò chơi điện tử của hội quán Slicery bây giờ sẽ vẫn còn tên ta ở đó. Và nếu như, chẳng hạn, Harvey phải cạo lớp sơn trên tường đó để xông thuốc trừ côn trùng gì đó, cậu ấy có thể thấy tên của ta 250 năm sau, cho dù bây giờ ta mới viết nó ra, phải không?”
“Cô làm tôi vừa đau bụng vừa nhức đầu,” con mèo trả lời, “nhưng đúng thế, theo nguyên tắc thì nó sẽ như vậy.”
“Vậy ta nghĩ ta có cách đưa mình về nhà mà không bị chết rồi.”
Salem quay lại nhìn Sabrina, đôi mắt to của nó lộ vẻ tuyệt vọng. “Vậy sao? Vậy mình phải làm gì? Tôi chỉ là một con mèo! Tôi không chết ở đây được! Tôi còn cả một thế giới phải chinh phục nữa!”
Sabrina trải cuộn giấy của Juniper ra rồi mở nắp lọ mực. “Đến lượt ta làm mi sốt ruột đây, ông mèo ạ,” cô nói. “Nếu cách này hiệu quả thì ta sẽ có khối thời gian để giải thích. Nếu nó không hiệu quả... ồ, thì cũng chẳng thành vấn đề gì.”
Mèo là loài cực kỳ tò mò, cứ khều gãi mọi thứ chung quanh ít nhất một lần để thấy nó ra làm sao. Cách hay nhất để hành hạ một con mèo là không thỏa mãn óc tò mò của nó. Với Salem, việc nhìn Sabrina viết lách gì đó trên tờ giấy mà không hiểu cô viết gì là đủ khiến nó điên lên rồi. Rồi khi thấy cô cẩn thận lấy tạp dề lau khô cái chai đất nung, cuộn mảnh giấy lại và nhét vào trong chai, thì quả là một cực hình đối với nó.
“Coi là thấy thối rồi,” nó lầm bầm, và miễn cưỡng ngồi đó chờ đợi.
Ổ khóa rổn rảng, và cánh cửa từ từ được đẩy vào, lần này thì chậm rãi và chắc chắn. Harvard đã kiểm soát được sức lực của mình khi mở đường để anh ta và Juniper bước vào phòng giam. Anh ta trông nghiêm trọng và có dấu nước mắt trên má Juniper. “Chúng tôi phải đem khay đi,” Harvard nói lặng lẽ, “và cả cây nến nữa. Thẩm phán Blackpoole sẽ coi đây như chuyện phung phí nến. Tôi cũng sẵn lòng nộp khoản phạt vạ đó, nhưng dù vậy ông ta cũng đem nến đi như thường. Tôi thực sự rất tiếc.”
Juniper tránh không nhìn Sabrina khi thu dọn bữa ăn, và chẳng nói gì về chuyên phần ăn hầu như còn nguyên xi. “Bạn có thể giữ cuốn sách lại nếu thích, cho dù có thể bạn không muốn đọc nó,” cô lầm thầm. “Ước gì tôi làm được nhiều việc cho bạn hơn.”
“Có một chuyện bạn có thể giúp tôi,” Sabrina nói, giọng cô có vẻ bí mật.
“Bất cứ chuyện gì,” Juniper và Harvard đồng thanh nói.
Sabrina đưa cái chai ra. “Niêm kín chai này lại và chôn sâu khoảng năm tấc cách gốc sồi vương miện khoảng hai thước về phía nam.” Cô chỉ vào Harvard. “Anh biết chỗ đó mà. Nhưng các bạn phải làm ngay trong tối nay!”
“Tối nay hả?” Harvard kêu lên.
“Tối nay,” Sabrina nhấn mạnh. Thấy họ có vẻ bối rối, cô nói thêm, “Làm ơn đi mà! Các bạn nói sẽ làm cho tôi bất cứ điều gì trong khả năng mà.”
Harvard trả lời trước. “Tuy tôi nghĩ cô tốt và thực sự đau khổ vì số phận của cô, nhưng tôi sẽ làm như cô yêu cầu. Đó là việc nhỏ mà tôi có thể làm để cứu vãn những sai trái mà thị trấn này gây ra cho cô. Tôi nghĩ tôi cũng chẳng ở lại đây lâu nữa đâu.”
Juniper đã nhìn vào chai và thấy mảnh giấy cuộn lại. “Tôi thấy bạn đã viết hết ý nghĩ của mình ra, nếu tôi ở địa vị của bạn thì tôi cũng làm vậy. Nếu bạn muốn những suy nghĩ cuối cùng của mình được chôn ở đâu đó, thì tôi, người yêu quý chữ nghĩa trên giấy hơn mọi thứ trên đời, sẽ bảo đảm làm được việc đó cho bạn.”
Cô ta đặt chai lên khay. Không nói thêm lời nào, cô cầm cây nến lên đưa cho Harvard rồi bước lui ra khỏi phòng giam, mắt cứ đăm đăm nhìn Sabrina.
Có tiếng của vật gì đó cào lên kim loại. Sabrina nghĩ tới tất cả bọn ký sinh sống dưới hầm hội quán Slicery - ý nghĩ về những thứ ở bên dưới lớp ván này làm cô rùng mình. Có tiếng sắt lảng cảng rồi có tiếng rít. “Mẹ kiếp!” con mèo trong lồng kêu lên khi nó nhảy từ trong lồng ra và rơi tọt vào lòng Sabrina. “Gẫy mất một móng rồi.”
Sabrina ôm lấy nó, cảm thấy hơi ấm và nhịp tim dồn dập của nó. “Hi vọng mấy bà cô của ta nói đúng, Salem ạ,” cô thì thầm trong bóng tối “Hi vọng có một phép màu trong việc làm vườn còn mạnh hơp pháp thuật phù thủy.”
Tuy không hề ngờ nhưng Sabrina vẫn ngủ được, bất chấp bóng tối, bất chấp nỗi lo sự và bất chấp móng vuốt của Salem cứ cắm vào da thịt cô mỗi khi nó trở mình.
Cô hẳn đã ngủ say khi tiếng lách cách trên chấn song cửa sổ đánh thức cô dậy.
“Shiii! Shiiit!” một giọng trầm đục gọi qua chấn song.
Cửa sổ nằm hơi cao hơn đầu Sabrina một chút và rộng bằng vóc người cô. Nó có chấn song hình chữ thập chôn sâu vào tường gạch. Bên ngoài cửa, vầng trăng khuyết đã lên đủ cao để soi lờ mờ những bóng cây và nhà cửa trong thị trấn.
Sabrina đẩy Salem khỏi lòng mình, kéo cái đôn lại sát tường và cẩn thận bước lên đó để nhìn qua cửa sổ. Hai bóng người trùm y phục đen, một cao một thấp đang tựa sát vào tường quán rượu. “Ai đó?” Sabrina thì thào.
“Tốt nhất là không nói tên ra,” giọng đáp lại rõ ràng là của Harvard Kinklin. “Nhưng hãy tin rằng chúng tôi là bạn, đến để giúp cô.”
Bóng người thấp hơn nói đúng giọng của Juniper. “Xin thứ lỗi là chúng tôi đã không quyết tâm từ đầu. Chúng tôi không ngủ được vì số phận của bạn đè nặng lương tâm. Chúng tôi định cứu bạn ra và đưa bạn khỏi thị trấn trước lúc trời sáng.”
“Các bạn đã chôn cái chai chưa?” Sabrina hạ giọng hỏi.
Harvard giật mình. “Chúng tôi...? Ờ, phải, đương nhiên là chôn rồi.” Anh ta giơ một khúc sắt lên và vẫy tay ra hiệu cho Sabrina. “Lui lại để tôi bẩy chấn song ra.”
“Chuyện đó đương nhiên là không được!” một giọng khác vang lên lanh lảnh trong bóng tối. “Soi đèn đi, thẩm phán Blackpool, và tóm lấy những tay bị bùa mê thuôc lú này!”
Từ vùng bóng tối đối diện quán rượu, tấm chắn của một cây đèn được kéo lên và rọi một chùm sáng và Harvard và Juniper đang dứng dựa tường quán rượu. “Cô thật khôn ngoan khi cảnh báo tôi về âm mưu giải cứu cho con phù thủy tôi nay, cô Chestler ạ.” Tay thẩm phán nịnh. Quay sang bọn phá ngục, hắn quát, “Bó tay chịu trói hay chờ tôi phải đánh thức cả thị trấn dậy để săn chúng bay như săn chuột?”
Ước muốn đem lại công lý cho Sabrina trong họ thì rất mạnh nhưng cả hai vẫn là bộ phận của cộng đồng West Bridge, và mối đe dọa bị bêu riếu trước công chúng là đủ để làm cạn sạch quyết tâm của họ. Sabrina tuyệt vọng nhìn Blackpoole và Libbeth dẫn hai người bạn đi vòng ra phía trước quán rượu.
Lát sau, cánh cửa rên rỉ mở ra. Ánh sáng từ ngọn đèn đã tháo tấm chắn chiếu qua bóng Harvard và Juniper khi Blackpoole dẫn họ vào. Sabrina vẫn đứng nguyên tại chỗ để che cái lồng nhốt Salem. Con mèo đã chui trở lại vào trong đó, nhưng chân Sabrina che giấu việc ổ khóa đã bị biến mất.
“Nếu các ngươi muốn đi chung với con phù thủy,” tay thẩm phán cáu kỉnh nói với các tù nhân mới, “thì hãy theo nó vào tù và tới lúc kết liễu!”
Libbeth mở tròn mắt. “Tôi không cần biết chuyện gì sẽ đến cho con thư ký kia, nhưng tôi không cho phép ông cướp Harvard của tôi.” Cô ta phản đối.
Blackpoole giơ cao ngọn đèn , như ánh sáng công lý. “Bạn trai của cô đã thách đố triều đình, phong tục và ý chí chính đáng của tôi!” hắn gầm lên. “Khi âm mưu hỗ trợ một phù thủy, anh ta đã tự kết án mình phải chịu chung số phận với nó.”
“Ông không được giết anh ấy,” Libbeth tuyên bố, “nếu không tôi sẽ bảo bố tôi rút món nợ lại ngay lập tức! Ông sẽ trắng tay!”
“Mẹ kiếp!” Blackpoole kêu lên. “Ông ấy có thể tước tất cả tiền bạc ta có, nhưng ta vẫn là thẩm phán, và không điều xấu nào thoát khỏi sự trừng phạt chừng nào ta vẫn là tiếng nói luật pháp tại thị trấn này!”
Libbeth suy nghĩ rất nhanh, tìm cách cứu Harvard thoát khỏi cái chết dưới tay Blackpoole. “Nếu ông muốn kết tội Harvard trợ giúp cho phù thủy, thì tôi sẽ rút lại lời buộc tội của tôi: Sabrina không phải phù thủy! Tôi đã kết tội oan cho nó! Nó chẳng làm gì hại bố tôi, chỉ có điều là phục vụ vụng về thôi. Tôi tuyên bố rằng nó bỏ bùa Harvard chỉ vì anh ta không chịu dựa dẫm vào ai và không chịu cưới tôi.”
Sabrina giật lui lại, nhờ bức tường và hai người bạn kia trong phòng giam chật chội mà cô không té xuống đất. Cô ta thừa nhận đã tố cáo láo về mình! Chúng ta có thể thoát khỏi toàn bộ sự vụ ngốc nghếch này, và chẳng còn ai nói tới chuyện xử tử bất cứ ai nữa! A, mình thoát rồi!
Mặt Blackpoole sa sầm lại. “Vậy thì, thưa cô Chestler, cô đã dối trá trước tòa. Cô sẽ bị trừng phạt vì tội đó, của cải và địa vị của cha cô cũng không
cứu được cô đâu! Dù gì đi nữa, con phù thủy kia cũng không thể được tha bổng bởi vì cô đã nói dối. Vì cô không thể phủ nhận rằng những vết nám trên vải trải giường của cô là do ma thuật. Cô đã nói rằng con người không có cách chi tạo được những vết nám đó.”
“Vết nám trên vải trải giường nào?” Harvard hỏi.
“Trên vải trải giường nhập cảng từ Ái Nhĩ Lan của cô ta có những vết cháy nám,” Sabrina nói, “nhưng tôi không làm chuyện đó!”
“Chắc chắn tôi cũng không,” Libbeth nói. “Sự thực, nó còn nguyên vẹn sạch sẽ trên giường từ khi cha tôi tặng tôi, nhưng ngay trong cái đêm...” cô ta vẫy ngón tay về phía Sabrina, không biết có nên gọi cô là phù thủy nữa hay không, “nhân vật này bị đuổi đi thì tấm vải bị cháy nám. Tôi phải nghĩ sao bây giờ?”
Harvard chen vào. “Chắc là do khung kính mới, cô Chestler à. Tôi tin rằng tấm vải đó bị nám vì ý tốt của tôi.”
“Anh muốn thú nhận có áp dụng ma thuật sao, anh thợ Kinklin?” Blackpoole kinh hoàng kêu lên. “Ma thuật lan tràn khắp nơi trong thị trấn này sao? Phải chăng West Bridge là sào huyệt của bọn phù thủy?”
“Đó không phải ma thuật,” nó là quang học mà ngài Isaac Newton bên Anh đã viết thành sách,” Harvard nói thẳng thừng. “Khi tôi mài khung kính cửa sổ phòng cô Chestler để ánh sáng lọt nhiều hơn, tôi đã tạo ra cái mà ngài Newton gọi là thấu kính. Những tấm kính như thế có thể tập trung sức nóng mặt trời và làm cháy những vật dễ bén lửa. Chính nắng chiều chiếu qua khung kính đã làm cháy nám vải - mỗi thấu kính tạo thành một vạch, tôi đoán như vậy.”
“Tôi cũng nghe nói tới những chuyên như thế” Juniper hào hứng chen vào. “Báo in bên Anh đã vượt biển tới Boston và được in lại bán ở đây. Trong đó có giải thích hiện tượng này, họ gọi là một hiện tương khoa học.”
Blackpoole tức muốn nổ tung ra. “Báng bổ! Tà đạo! Khoa học là một sự dối trá phải bị loại bỏ, cùng với bọn phụ nữ không biết giữ địa vị của mình qua việc đọc sách và bày đặt suy nghĩ! Tất cả các người đều bị bùa phép của con phù thủy này rồi Và ta sẽ thiêu rụi máy in của cô Juniper, để không ai trong thị trấn này bị nó đầu độc nữa! Ta sẽ thanh tẩy ma thuật khỏi thị trấn này bằng bất cứ giá nào!”
Như để đáp lại lời hăm dọa của Blackpoole, một điểm trên tường phòng giam đột nhiên lóa lên, soi sáng căn phòng hơn mọi cây đèn trên đời. Từ điểm đó, một chùm sáng lớn lên dần. Tuy nó chủ yếu là ánh sáng xanh nhưng cũng có những màu khác uốn lượn thành vòng tròn, làm như đang nhấp nhô từ cõi xa thẳm nào đó, cho đến khi thành một cái đĩa xoay tròn xé toang bức tường gạch.
Ở giữa cái dĩa đó, hai hình bóng nhỏ xíu tiến tới thật nhanh từ một khoảng cách như vô tận. Giây lát sau hai phụ nữ bình thường bước từ đĩa xuống phòng giam chật chội, một bà cầm cái chai đất nung bám đầy bùn đất và trông rất cổ xưa.
“Cô Zelda! Cô Hilda!” Sabrina kêu lên sung sướng. “Cô đã nhận được lời nhắn và đến để cứu cháu!”
Zelda Spellman búng ngón tay, và những người dân West Bridge đông cứng tại chỗ. Rồi bà quay sang Sabrina, nét mặt bà có vẻ cau có miễn cưỡng. “Ta rất tiếc, cháu cưng. Chuyện không đơn giản như thế.”
Vốn kém ăn nói, Hilda buột ra liền, “Chúng ta tới để bắt giữ cháu.”