Do Thái Lưu Lạc — Toàn Tập

Lượt đọc: 531 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Samuel Mở Cửa Đón Gabriel Và Rodin.

❊ ❊ ❊

Người sau lên tiếng bảo vị Do Thái: “Này ông, ông là người coi giữ ngôi nhà này phải không?”

Samuel đáp: “Vâng, thưa ông.”

Rodin vừa nói vừa giới thiệu người đi cùng: “Đây là Cha xứ Gabriel de Rennepont, một hậu duệ trong dòng họ Rennepont.”

Vị người Do Thái thốt lên như vô thức, bị cuốn hút bởi khuôn mặt tựa thiên thần của Gabriel: “Tôi rất vui khi được biết điều đó, thưa ông” — bởi vẻ cao thượng và sự thanh thản trong tâm hồn hiện rõ trong ánh mắt vị linh mục trẻ, ngự trị trên vương miện vầng trán trắng ngần, thanh khiết của ngài, dường như đã được đội chiếc vòng nguyệt quế của hàng tử đạo. Samuel nhìn Gabriel với ánh mắt tò mò và lòng nhân ái đầy thiện cảm; nhưng nhận thức rằng sự ngắm nhìn lặng lẽ ấy có thể gây chút bối rối cho vị khách, ông liền thưa: “Thưa cha xứ, vị công chứng viên sẽ chưa có mặt ở đây trước mười giờ đâu.”

Gabriel quay sang nhìn ông với vẻ ngạc nhiên và đáp lời: “Công chứng viên nào vậy, thưa ông?”

Rodin vội vã tiếp lời: “Cha d’Aigrigny sẽ giải thích tất cả những điều này cho ngài.” Đoạn, quay sang hướng Samuel, hắn nói thêm: “Chúng tôi đến sớm hơn giờ hẹn một chút. Ông có phiền nếu chúng tôi chờ vị công chứng viên tới không?”

Samuel đáp: “Dĩ nhiên là được chứ, nếu các vị muốn bước vào nhà tôi.”

Rodin đáp: “Xin cảm tạ ông, và chúng tôi xin nhận lời mời.”

Lão ông liền bảo: “Vậy xin mời các ngài theo tôi.”

Chỉ ít phút sau, vị linh mục trẻ và tay chân tín cẩn của dòng hội, đi trước là Samuel, bước vào một trong những căn phòng do lão quản lý ở tầng trệt của tòa nhà, có cửa sổ hướng ra khoảng sân trong.

Rodin nói thêm: “Cha xứ d’Aigrigny, người từng là giám hộ của cha Gabriel, sẽ sớm đến để gặp chúng tôi; phiền ông có lòng tốt dẫn ngài vào căn phòng này nhé?”

Samuel vừa bước ra vừa đáp: “Tôi xin vâng lời, thưa ông.”

Tay chân tín cẩn của dòng hội và Gabriel ở lại một mình trong phòng. Sự dịu dàng đáng yêu vốn thường mang lại cho những đường nét thanh tú của vị thừa sai một sức hút đầy cảm động, giờ đây đã nhường chỗ cho một nét biểu cảm rõ rệt của nỗi buồn, sự kiên quyết và vẻ nghiêm nghị. Đã mấy ngày không gặp Gabriel, Rodin vô cùng sửng sốt trước sự thay đổi ở con người ngài. Hắn đã lặng lẽ quan sát ngài trên suốt đoạn đường từ phố Rue des Postes đến phố Rue Saint-Francois. Vị linh mục trẻ vẫn mặc chiếc áo thầy dòng đen dài quen thuộc, làm nổi bật thêm sắc thái nhợt nhạt trong suốt của khuôn mặt. Khi người Do Thái đã rời khỏi phòng, Gabriel liền cất giọng kiên quyết hỏi Rodin: “Thưa ông, rốt cuộc ông có chịu cho tôi biết vì sao suốt mấy ngày qua, tôi lại bị ngăn cản không được diện kiến Cha xứ d’Aigrigny không? Vì sao ngài lại chọn ngôi nhà này để ban cho tôi một buổi gặp mặt?”

Rodin lạnh lùng đáp: “Tôi không thể trả lời những câu hỏi này được. Cha xứ sẽ sớm đến thôi và ngài sẽ lắng nghe ngài. Tất cả những gì tôi có thể nói với ngài là, vị cha kính yêu cũng coi trọng cuộc gặp này ngang ngợi ngài vậy. Nếu ngài chọn ngôi nhà này để gặp gỡ, ấy là bởi ngài có lợi ích khi ở đây. Ngài thừa biết điều đó — dẫu cho ngài có ra vẻ ngạc nhiên khi nghe người quản lý nhắc đến một vị công chứng viên đi chăng nữa.”

Nói đoạn, Rodin đăm đăm nhìn Gabriel bằng ánh mắt dò xét, đầy lo âu, trong khi nét mặt ngài chỉ ánh lên vẻ ngạc nhiên.

Đáp lại Rodin, ngài nói: “Tôi không hiểu ông đang nói gì. Ngôi nhà này thì có liên quan gì đến tôi chứ?”

Rodin vẫn chăm chú quan sát ngài và đáp: “Ngài không thể nào không biết được.”

Người kia đáp lại, có phần chạnh lòng trước sự cố chấp của tay phụ tá: “Tôi đã nói với ông rồi, tôi không hề biết gì sất.”

“Thế thì, hôm qua mẹ nuôi của ngài đến để báo cho ngài điều gì? Vì sao ngài lại cả gan tiếp đón bà ấy mà không có sự cho phép của Cha d’Aigrigny, như tôi đã hay tin vào sáng nay? Chẳng lẽ bà ấy không bàn với ngài về một số giấy tờ gia đình, thứ đã được tìm thấy trên người ngài khi bà ấy nhận nuôi ngài sao?”

Gabriel đáp: “Không, thưa ông; những giấy tờ đó vào thời điểm ấy đã được giao cho cha xứ giải tội của mẹ nuôi tôi, rồi sau đó lọt vào tay Cha d’Aigrigny. Đây là lần đầu tiên sau một thời gian dài tôi lại nghe nhắc đến những giấy tờ đó đấy.”

Rodin vẫn ngoan cố, nhấn mạnh từng tiếng: “Vậy là ngài quả quyết rằng Frances Baudoin đã không đến để bàn với ngài về vấn đề này ư?”

Vị linh mục trẻ dịu dàng đáp, cố nén một thoáng thiếu kiên nhẫn: “Thưa ông, đây là lần thứ hai ông tỏ ý hoài nghi lời quả quyết của tôi. Tôi xin đảm bảo rằng tôi nói sự thật.”

“Hắn chẳng biết gì sất,” Rodin thầm nghĩ; bởi hắn quá rõ sự chân thành của Gabriel để mà nuôi chút hoài nghi sau một lời tuyên bố chắc nịch nhường ấy. Hắn tiếp lời: “Tôi tin ngài. Ý nghĩ đó chỉ xuất hiện trong đầu tôi khi tôi tự hỏi điều gì có trọng lượng đến mức khiến ngài dám cả gan trái lệnh Cha d’Aigrigny về việc tuyệt đối ẩn tu theo ngài ấy sai bảo, điều vốn cấm tiệt mọi giao thiệp với thế giới bên ngoài. Hơn thế nữa, trái với mọi quy tắc của dòng chúng ta, ngài lại dám khép cửa phòng mình lại, trong khi lẽ ra nó phải luôn hé mở để việc giám sát lẫn nhau mà chúng ta phải tuân thủ được thực hiện dễ dàng hơn. Tôi chỉ có thể giải thích những tội lỗi chống lại kỷ luật ấy bằng nhu cầu có một cuộc trò chuyện cực kỳ quan trọng với mẹ nuôi của ngài.”

Gabriel đáp với giọng điệu vô cùng nghiêm túc: “Đó là cuộc trò chuyện với một vị linh mục, chứ không phải với người mẹ nuôi, mà phu nhân Baudoin muốn hướng đến. Tôi đóng cửa phòng lại vì tôi chuẩn bị nghe một lời xưng tội.”

“Và Frances Baudoin có điều gì quan trọng đến thế để xưng tội?”

“Rồi ông sẽ sớm biết điều đó khi tôi thưa chuyện với cha xứ — nếu ngài ấy bằng lòng để ông lắng nghe tôi.”

Những lời ấy được thốt lên vô cùng kiên quyết, khiến một khoảng lặng kéo dài bao trùm. Thiết tưởng cũng nên nhắc lại cho độc giả hay rằng, bấy lâu nay Gabriel vẫn bị các bề trên che giấu hoàn toàn về tầm quan trọng của những lợi ích gia tộc đòi hỏi sự hiện diện của ngài tại phố Rue Saint-Francois. Hôm trước, Frances Baudoin vì quá chìm đắm trong nỗi đau buồn riêng đã quên mất không dặn ngài rằng hai đứa trẻ mồ côi cũng phải có mặt trong buổi gặp gỡ này, và giả sử bà có nghĩ tới đi chăng nữa, thì Dagobert cũng sẽ ngăn cản bà đả động đến tình tiết đó với vị linh mục trẻ.

Do đó, Gabriel hoàn toàn không hề hay biết về những mối quan hệ gia tộc đã gắn kết ngài với các tiểu thư con của Nguyên soái Simon, với tiểu thư de Cardoville, với ông Hardy, Hoàng tử Djalma và Sleepinbuff. Tóm lại, nếu lúc bấy giờ có ai vén màn cho ngài biết rằng ngài chính là người thừa kế của Marius de Rennepont, ngài sẽ đinh ninh mình là hậu duệ duy nhất của dòng họ. Trong khoảnh khắc thinh lặng tiếp nối cuộc trò chuyện với Rodin, Gabriel hướng tầm mắt qua những khung cửa sổ để quan sát tốp thợ nề đang bận rộn tháo dỡ bức tường bịt kín cánh cửa. Khi đã hoàn tất công đoạn đầu tiên ấy, họ bắt đầu chuyển sang việc gỡ bỏ những thanh sắt dùng để cố định tấm chì che chắn lên chính lối ra vào này.

Đúng lúc ấy, Cha d’Aigrigny theo chân Samuel bước vào phòng. Trước khi Gabriel kịp quay người lại, Rodin đã kịp thì thầm vào tai vị cha xứ: “Hắn chẳng biết gì sất — và chúng ta không còn phải sợ gã người Ấn Độ nữa.”

Bất chấp vẻ bình thản ra mặt, gương mặt Cha d’Aigrigny vẫn tái mét và co rút lại, tựa hồ bộ dạng của một tay cược chuẩn bị dốc hết vốn liếng vào ván bài quyết định cuối cùng. Từ trước đến nay, mọi sự đều xuôi chèo mát mái theo mưu đồ của dòng hội; thế nhưng ngài không khỏi thắt ruột khi nghĩ đến bốn tiếng đồng hồ hãy còn lại trước thời khắc định mệnh. Khi Gabriel quay người về phía mình, Cha d’Aigrigny liền mỉm cười đưa tay ra và cất giọng ân cần, trìu mến: “Con trai thân mến của ta, ta vô cùng đau lòng vì buộc phải khước từ thỉnh nguyện được diện kiến ta bấy lâu nay của con. Việc bắt con phải chịu cảnh giam mình suốt mấy ngày qua cũng là một nỗi dằn vặt lớn đối với ta. Dù ta không thể đưa ra bất kỳ lời giải thích nào cho những việc ta xét thấy cần phải ra lệnh, ta chỉ muốn lưu ý con rằng ta hành xử hoàn toàn vì lợi ích của chính con mà thôi.”

Gabriel cúi đầu đáp: “Con xin vâng theo lời cha.”

Bất giác, vị linh mục trẻ dấy lên một nỗi sợ hãi mơ hồ, bởi cho đến tận trước ngày lên đường thực hiện sứ mệnh tại châu Mỹ, Cha d’Aigrigny — người mà dưới chân ngài, Gabriel từng cất tiếng đọc những lời thệ nguyện đáng sợ ràng buộc ngài vĩnh viễn với Dòng Tên — đã luôn đè nặng lên ngài thứ quyền lực kinh hoàng mang tính chuyên chế, vùi dập và đe dọa, thứ bóp nghẹt mọi sinh lực của tâm hồn khiến nó trở nên tê liệt, run rẩy và khiếp đảm. Những ấn tượng thuở thiếu thời là thứ chẳng thể phai mờ, và đây là lần đầu tiên kể từ khi từ châu Mỹ trở về, Gabriel mới lại giáp mặt Cha d’Aigrigny; dẫu ngài không hề nao núng trước quyết tâm đã định, ngài vẫn tiếc nuối vì không thể, như hằng mong ước, tìm kiếm thêm sức mạnh và lòng can đảm từ một cuộc gặp gỡ với Agricola và Dagobert. Cha d’Aigrigny quá từng trải nhân tình thế thái nên thừa sức nhận ra niềm xúc động của vị linh mục trẻ và tìm cách lý giải nguyên nhân của nó. Nỗi xúc động ấy hiện lên trong mắt ngài như một điềm lành; thế nên ngài càng nhân đôi vẻ quyến rũ, điệu bộ trìu mến và nhã nhặn của mình, dẫu trong lòng vẫn dự trù sẵn việc đổi sang một bộ mặt khác nếu cần thiết. Ngài ngồi xuống, trong khi Gabriel và Rodin vẫn đứng ở tư thế cung kính, rồi cất lời với vị linh mục trẻ: “Con trai thân mến, con rất muốn có một cuộc trò chuyện quan trọng với ta phải không?”

Gabriel vô thức hạ mắt trước tròng mắt xám to lớn và lấp lánh của vị bề trên: “Vâng, thưa cha.”

“Và ta cũng có những vấn đề vô cùng hệ trọng muốn trao đổi với con. Hãy lắng nghe ta trước; con có thể phát biểu sau.”

“Con xin kính cẩn lắng nghe, thưa cha.”

Cha d’Aigrigny ân cần mở lời: “Tính ra cũng đã mười hai năm rồi, con trai thân mến ạ, kể từ ngày cha xứ giải tội của mẹ nuôi con thông qua ông Rodin đã hướng sự chú ý của ta đến con, khi tường thuật lại những tiến bộ kinh ngạc mà con đạt được ở trường của các Sư huynh. Quả thật, ta sớm nhận thấy rằng hạnh kiểm tuyệt vời, bản tính dịu dàng, khiêm nhường cùng sự thông minh sớm nở của con hoàn toàn xứng đáng nhận được sự quan tâm trìu mến nhất. Kể từ giây phút ấy, ta luôn dõi theo con, và sau một thời gian, thấy rằng con không hề sa sút, ta nhận ra ở con có nhiều tiềm năng hơn là tố chất để làm một người thợ thủ công bình thường. Chúng ta đã bàn bạc với mẹ nuôi con, và qua sự can thiệp của ta, con được nhận vào học miễn phí tại một trong các ngôi trường thuộc dòng hội chúng ta. Nhờ thế, gánh nặng đè lên vai người phụ nữ tuyệt vời đã cưu mang con được vơi bớt phần nào, và dưới sự chăm bẵm như cha con của chúng ta, con đã thụ hưởng toàn bộ lợi ích của một nền giáo dục tôn giáo. Có đúng thế không, con trai thân mến?”

Gabriel hạ mi mắt đáp: “Thưa cha, đúng là như vậy.”

“Khi con lớn khôn, những đức tính cao đẹp và hiếm có bắt đầu bộc lộ trong con. Tính vâng lời và sự ôn hòa của con trên hết là những tấm gương sáng. Con đạt được những bước tiến vượt bậc trong học tập. Khi ấy ta chưa rõ con muốn hiến dâng cuộc đời cho sự nghiệp nào, nhưng ta đoan chắc rằng ở bất kỳ cương vị nào trong đời, con cũng sẽ mãi là một người con ngoan đạo của Giáo hội. Ta đã không đặt niềm tin lầm chỗ, hay nói đúng hơn, con trai thân mến ạ, con đã vượt xa mọi kỳ vọng của ta. Qua một thông điệp thân tình, khi hay tin mẹ nuôi con hằng tha thiết mong mỏi con thọ giới, con đã quãng đại và tôn kính đáp ứng ước nguyện của người phụ nữ tuyệt vời mà con mang ơn sâu sắc ấy. Nhưng nguyền vì Chúa luôn chí công trong những phần thưởng Người ban, Ngài định đoạt rằng nghĩa cử biết ơn cảm động nhất mà con có thể dành cho mẹ nuôi của mình, đồng thời cũng sẽ mang lại ân huệ thiêng liêng khi đưa con trở thành một trong những chiến sĩ của Giáo hội thánh thiện chúng ta.”

Nghe đến đây, Gabriel không sao kìm nén được một cái giật mình đầy ngụ ý khi nhớ lại những lời tâm sự đượm buồn của Frances. Nhưng ngài vội kìm chế lại, trong khi Rodin vẫn đang chống khuỷu tay lên góc bệ lò sưởi, tiếp tục quan sát ngài với sự chú ý kỳ lạ và ngoan cố.

Cha d’Aigrigny tiếp lời: “Ta không giấu giếm con đâu, con trai thân mến, rằng quyết định của con đã tràn ngập trong ta niềm hoan hỉ. Ta nhìn thấy ở con một trong những ngọn hải đăng tương lai của Giáo hội, và ta khát khao được nhìn thấy ánh sáng ấy tỏa rạng giữa lòng Dòng hội chúng ta. Con đã can đảm vượt qua những thử thách gian khổ và cam go của chúng ta; con đã được phán quyết là xứng đáng thuộc về chúng ta, và sau khi đọc lên trước mặt ta lời thệ nguyện linh thiêng, bất biến trói buộc con đời đời với Dòng hội của chúng ta vì vinh quang lớn lao hơn của Chúa, con đã đáp lại tiếng gọi của Đức Thánh Cha(14) dành cho những tâm hồn sẵn lòng, và tự nguyện dâng mình làm một thừa sai đi rao giảng đức tin Công giáo độc nhất cho những kẻ man rác. Dù việc phải chia tay người con thân yêu khiến chúng ta đau đớn, ta vẫn không thể khước từ những ước nguyện thành kính nhường ấy. Con đã lên đường làm một vị thừa sai khiêm nhường và trở về như một bậc thánh tử đạo vinh quang — và chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào khi được xướng tên con giữa hàng ngũ của mình. Bản phác thảo chớp nhoáng về quá khứ này là điều vô cùng cần thiết, con trai thân mến ạ, để chúng ta bước sang phần tiếp theo, bởi giờ đây chúng ta muốn, nếu có thể, thắt chặt hơn nữa những mối dây liên kết chúng ta lại với nhau. Hãy lắng nghe ta, con trai thân mến; những gì ta sắp sửa thổ lộ đây đều mang tính bảo mật và có tầm quan trọng tối thượng, không chỉ đối với riêng con, mà còn cho toàn thể Dòng hội.”

Bấy giờ, Gabriel vội vã cắt ngang lời Cha d’Aigrigny và kêu lên: “Thế thì, thưa cha, con không thể — con không được phép lắng nghe cha.”

Vị linh mục trẻ tái xanh mặt cắt; nhìn sự biến sắc trên gương mặt ngài, người ta hiểu rằng một cuộc giao tranh dữ dội đang diễn ra trong tận tâm can. Thế nhưng, lấy lại quyết tâm ban đầu, ngài ngẩng cao đầu, ném cái nhìn đầy quả quyết về phía Cha d’Aigrigny và Rodin — hai kẻ đang nhìn nhau trong sự ngạc nhiên câm lặng — rồi tiếp lời: “Con xin nhắc lại với cha, nếu đó là những vấn đề cơ mật của Dòng hội, con tuyệt đối không thể lắng nghe cha được.”

“Thật tình, con trai thân mến, con đang khiến ta ngạc nhiên đến tột cùng đấy. Có chuyện gì thế? — Nét mặt con thay đổi, sự xúc động của con lộ rõ cả ra ngoài. Cứ mạnh dạn nói ra đừng sợ; vì cớ gì mà con không thể lắng nghe ta?”

“Con không thể thưa với cha điều đó, cho đến khi chính con, đổi lại, cũng phác thảo thật nhanh về quá khứ — theo cách mà dạo gần đây con đã học được cách thấu đáo nó. Khi ấy cha sẽ hiểu rằng, thưa cha, con không còn xứng đáng nhận được sự tín nhiệm của cha nữa, bởi một vực thẳm chắc chắn sẽ sớm chia cắt đôi bên chúng ta.”

Trước những lời ấy, thật không bút mực nào tả xiết cái nhìn mà Rodin và Cha d’Aigrigny trao nhau trong chớp mắt. Gã phụ tá bắt đầu cắn móng tay, trừng trừng ném ánh mắt sắc lạnh như loài bò sát về phía Gabriel đầy giận dữ; Cha d’Aigrigny chuyển sang tái mét, vầng trán đẫm mồ hôi lạnh. Ngài tự hỏi trong nỗi khiếp hoàng rằng, liệu ngay tại thời điểm chạm tay vào đích đến, vật cản lại sắp sửa xuất hiện từ phía Gabriel — nhân vật mà vì sự có mặt của hắn, mọi chướng ngại khác đều đã được dọn sạch. Ý nghĩ ấy phủ ngập tâm can ngài bằng sự tuyệt vọng khôn cùng. Thế nhưng, vị bề trên vẫn kiềm chế bản thân một cách xuất sắc, giữ nguyên vẻ điềm tĩnh và cất giọng với vẻ ân cần đượm thấm tình thầy trò: “Thật không thể tin nổi, con trai thân mến ạ, rằng con và ta lại có lúc bị chia cắt bởi một vực thẳm — ngoại trừ vực thẳm của nỗi đau thương, thứ sẽ do bất kỳ hiểm họa nghiêm trọng nào đe dọa sự cứu rỗi của con gây ra mà thôi. Nhưng con cứ nói đi; ta đang lắng nghe đây.”

Gabriel tiếp tục cất giọng kiên quyết, càng lúc càng sôi nổi hơn: “Thưa cha, đúng là mười hai năm về trước, qua sự nhúng tay của cha, con đã bước chân vào một trường cao đẳng của Dòng Tên. Con bước vào đó với tâm hồn đầy ắp tình yêu thương, sự chân thật và lòng tin tưởng. Thế nhưng họ đã mài giũa những bản năng trong sáng thuở thiếu thời ấy ra sao? Con xin thưa với cha. Ngay ngày đầu con đặt chân đến, vị Bề trên đã chỉ tay về phía hai đứa trẻ lớn hơn con một chút và bảo rằng: ‘Đây là những người bạn đồng hành mà con sẽ gắn bó. Các con sẽ luôn đi ba người với nhau. Quy định của nhà trường nghiêm cấm mọi sự giao du chỉ giữa hai người đơn độc. Chúng cũng đòi hỏi các con phải chú ý lắng nghe những gì bạn mình trò chuyện, để rồi tường thuật lại cho ta; bởi những đứa trẻ đáng yêu này đôi khi có thể, mà chẳng hay biết gì, nảy sinh những ý nghĩ đen tối hoặc mưu đồ xấu xa. Giờ đây, nếu con quý mến các bạn mình, con phải báo cho ta hay những khuynh hướng bất lương ấy, để những lời quở trách mang tình cha con của ta có thể cứu rỗi chúng khỏi hình phạt; ngăn chặn cái ác bao giờ cũng tốt hơn là trừng phạt nó.’”

Cha d’Aigrigny đáp: “Quả thực, con trai thân mến ạ, đó chính là những quy tắc trong nhà trường của chúng ta, và cũng là lời lẽ chúng ta dành cho mọi học sinh mới nhập trường.”

Gabriel cay đắng đáp: “Con biết chứ, thưa cha; ba ngày sau, dẫu chỉ là một đứa trẻ tội nghiệp, dễ bảo và cả tin, con đã trở thành một kẻ chỉ điểm bám đuôi các bạn mình, lắng nghe và khắc ghi từng mẩu chuyện trò của họ để rồi đem mách lại với bề trên — người đã không tiếc lời khen ngợi sự nhiệt thành của con. Những việc họ sai khiến con làm thật đáng hổ thẹn, thế mà, Chúa thấu tỏ lòng con! Con cứinh đinh rằng mình đang hoàn thành một bổn phận đầy lòng bác ái. Con thấy hạnh phúc khi được tuân lệnh một vị bề trên mà con kính trọng, và trước những lời lẽ của ngài, trong đức tin non nớt của tuổi thơ, con đã lắng nghe chẳng khác nào đang lắng nghe thánh chiếu từ Thiên đàng. Có một bận, vì phạm phải một quy chế nào đó của nhà trường, vị bề trên đã bảo con rằng: ‘Này con, con đáng phải chịu một hình phạt nghiêm khắc; nhưng con sẽ được dung tha, nếu con thành công trong việc bắt thưa một người bạn cùng lớp phạm phải chính lỗi lầm mà con vừa gây ra.’ Và để xua tan đi cảm giác gớm ghiếc có thể trỗi dậy trong con đối với hành vi khích lệ tố giác người khác vì tư lợi cá nhân ấy — dẫu cho đức tin và sự vâng lời mù quáng đến đâu đi nữa — vị bề trên còn bồi thêm rằng: ‘Ta nói với con điều này, hỡi con trẻ, là vì sự cứu rỗi của bạn con. Nếu hắn trốn tránh được hình phạt, những thói hư tật xấu ấy sẽ hóa thành bản tính thứ hai của hắn. Nhưng bằng cách bắt quả tang hắn phạm lỗi và đẩy hắn đến sự sửa phạt mang tính cứu rỗi, con sẽ vừa vẹn toàn đôi đường khi vừa góp phần cứu rỗi linh hồn hắn, lại vừa trốn tránh được một hình phạt đáng đời, thứ đã được xóa bỏ nhờ vào sự nhiệt thành của con đối với tha nhân—’”

Cha d’Aigrigny càng lúc càng khiếp đảm trước lời lẽ của Gabriel, liền đáp: “Chắc chắn rồi; và quả thực, con trai thân mến ạ, tất cả những điều đó đều hoàn toàn phù hợp với tôn chỉ được tuân thủ tại các trường cao đẳng của chúng ta, cũng như với lề thói của các thành viên trong Dòng hội chúng ta, những người ‘có thể tố cáo lẫn nhau mà không hề tổn hại đến tình bác ái và lòng yêu thương đồng loại, và điều đó chỉ nhằm mưu cầu sự thăng hoa tâm linh lớn lao hơn của họ, đặc biệt khi được bề trên tra vấn, hoặc khi nhận lệnh vì vinh quang lớn lao hơn của Chúa,’ y như hiến pháp của chúng ta đã định.”

Gabriel thét lên: “Con biết chứ! Con biết rõ điều đó lắm chứ. Chính nhân danh những gì thiêng liêng nhất chốn trần gian, chúng ta lại được khích lệ để làm điều ác.”

Cha d’Aigrigny tìm cách che giấu sự hoảng sợ ngấm ngầm đang lớn dần bên dưới vẻ ngoài của một người bị tổn thương lòng tự trọng, liền lên tiếng: “Con trai thân mến, từ miệng con thốt ra những lời này với ta thì quả là ít nhiều kỳ cục đấy.”

Đến lúc này, Rodin rời khỏi bệ lò sưởi nơi hắn nãy giờ vẫn tựa lưng, bắt đầu bước qua bước lại căn phòng với vẻ đăm chiêu, tay không ngừng cắn móng tay.

Cha d’Aigrigny nói thêm: “Thật là cay đắng khi phải nhắc nhở con rằng, con mang ơn chúng ta về nền giáo dục mà con đã thụ hưởng đấy, con trai ạ.”

Gabriel đáp: “Trái ngọt của nó chính là đây thưa cha. Cho đến tận lúc ấy, con vẫn chỉ là một kẻ chỉ điểm bám đuôi những đứa trẻ khác, xuất phát từ một thứ tinh thần vị tha nào đó; thế nhưng mệnh lệnh của bề trên đã đẩy con tiến thêm một bước nữa trên con đường nhơ nhớp ấy. Con đã trở thành một kẻ phản bội, chỉ để trốn chạy một hình phạt đáng đời. Thế mà, với đức tin, sự khiêm nhường và lòng tin tưởng tột độ thuở ấy, con đã diễn trọn cái vai trò đáng khinh bỉ gấp đôi ấy bằng sự ngây thơ và lòng thành khẩn. Có một dạo, bị dằn vặt bởi những mối hoài nghi mơ hồ — những tia hy vọng cao thượng cuối cùng hãy còn sót lại bị họ bóp nghẹt trong tâm hồn — con đã tự hỏi liệu mục đích tôn giáo và bác ái có thể biện minh cho phương tiện hay không, và con đã đem những mối nghi ngờ ấy bộc bạch với bề trên. Ngài đáp rằng con không có quyền phán xét, mà chỉ phải vâng lời, và rằng gánh nặng trách nhiệm cho hành vi của con thuộc về một mình ngài mà thôi.”

Cha d’Aigrigny đành bất lực nhượng bộ trước nỗi buồn chán vô tận: “Cứ nói tiếp đi, con trai thân mến. Than ôi! Ta đã đúng khi phản đối chuyến đi châu Mỹ của con.”

“Thế nhưng, đó lại là ý muốn của Đấng Quan Phòng, khi đặt chân đến vùng đất mới mẻ, trù phú và tự do ấy, được soi sáng bởi một cơ duyên kỳ lạ nhìn lại quá khứ lẫn hiện tại, đôi mắt con cuối cùng cũng đã mở ra. Phải!” Gabriel cất cao giọng: “Chính tại nước Mỹ, được giải thoát khỏi chốn ngục tù u ám nơi con đã phung phí biết bao năm tháng tuổi trẻ, và lần đầu tiên được giáp mặt với sự uy nghi thần thánh của Tự nhiên giữa lòng những hoang mạc bao la mà con đi qua — chính tại nơi ấy, bị choáng ngợp trước biết bao vẻ kỳ vĩ và vĩ đại, con đã thề nguyện rằng—” Đến đây Gabriel chợt ngưng lời, rồi tiếp tục: “Chút nữa đây, thưa cha, con sẽ giải thích cho cha nghe về lời thệ nguyện ấy; nhưng xin cha hãy tin con,” vị thừa sai cất giọng nghẹn ngào nỗi buồn sâu thẳm, “đó là một ngày định mệnh đối với con, khi con lần đầu học được cách sợ hãi và lên án tất cả những gì bấy lâu nay mình vẫn tôn kính và ca tụng nhất. Ồ, con xin đảm bảo với cha,” Gabriel nói, đôi mắt rưng rưng ngấn lệ, “rằng khi ấy con không chỉ khóc thương cho riêng mình.”

Thấy Gabriel xúc động và thoáng thấy một tia hy vọng, Cha d’Aigrigny liền đáp: “Ta thừa hiểu sự nhân hậu trong trái tim con, con trai thân mến ạ; ta chỉ e rằng con đã bị dẫn dụ đi lầm đường lạc lối. Nhưng hãy phó mặc bản thân cho chúng ta, như cho những người cha tinh thần của con, và ta tin chắc rằng chúng ta sẽ củng cố lại đức tin đang chao đảo đầy tiếc nuối của con, đồng thời xua tan màn đêm đang che mờ tầm mắt con lúc này. Than ôi, con trai thân mến, giữa chốn ảo ảnh hão huyền, con đã nhầm tưởng một thứ ánh sáng lóa mắt nào đó là ánh ban mai thanh khiết. Nhưng con cứ nói tiếp đi.”

Trong lúc Cha d’Aigrigny đang cất lời, Rodin dừng bước, rút từ trong túi áo ra một cuốn sổ tay và hí hoáy ghi chép lại mấy dòng. Gabriel càng lúc càng tái mét và kích động. Phải mang một sự can đảm không nhỏ, ngài mới dám thốt lên những lời nhường ấy, bởi kể từ sau chuyến hành trình đến châu Mỹ, ngài đã học được cách đánh giá thế lực khủng khiếp của Dòng hội. Thế nhưng, việc nhìn nhận lại bức tranh quá khứ từ đỉnh cao của một hiện tại được soi chiếu thấu đáo hơn đã trở thành cái cớ, hay đúng hơn là nguyên nhân cho quyết định mà vị linh mục trẻ vừa tuyên bố trước bề trên; và ngài muốn thành thực giãi bày tất cả, bất chấp hiểm nguy mà ngài thừa biết mình đang dấn thân vào. Do đó, ngài tiếp tục với giọng điệu đầy xúc động:

“Thưa cha, cha thừa biết rằng những năm tháng cuối cùng của tuổi thơ con, cái lứa tuổi hồn nhiên đầy niềm vui trong sáng ấy, đã trôi qua trong bầu không khí ngập tràn sợ hãi, nghi kỵ và gông cùm. Than ôi! Làm sao con có thể phó mặc bản thân cho dù chỉ là một thoáng tin tưởng chân thành, khi mà con từng được dặn dò phải tránh né ánh mắt của kẻ đang trò chuyện với mình nhằm che giấu ấn tượng mà lời lẽ của họ có thể gây ra — phải giấu tiệt mọi cảm xúc, đồng thời quan sát và lắng nghe mọi thứ chứ? Cứ thế, con bước sang tuổi mười lăm; dần dà, những chuyến ghé thăm hiếm hoi được phép thực hiện — dẫu luôn có sự hiện diện của một trong các cha xứ — đến thăm mẹ nuôi và em trai con, bị cấm tiệt hoàn toàn, nhằm đóng sầm cánh cửa tâm hồn con trước mọi tình cảm dịu êm và trìu mến. Buồn bã và đầy sợ hãi trong ngôi nhà to lớn, cổ kính, tĩnh mịch và u ám ấy, con cảm thấy bản thân ngày càng bị tách biệt khỏi tình thân và sự tự do của thế giới bên ngoài. Thời gian của con bị xé nhỏ giữa những bài học chắp vá, chẳng đầu chẳng cuối và chẳng mục đích, cùng những giờ phút cầu nguyện dài đằng đẵng, vụn vặt. Con xin hỏi cha, họ đã bao giờ tìm cách sưởi ấm những tâm hồn trẻ thơ chúng ta bằng những lời lẽ dịu ngọt hay tình yêu thương phúc âm chưa? Than ôi, không hề! Thay cho lời của vị Cứu Thế thiêng liêng — Hãy yêu thương nhau đi, họ đã thay bằng mệnh lệnh: Hãy nghi kỵ lẫn nhau. Họ đã bao giờ, thưa cha, nhắc nhở chúng ta về tổ quốc hay sự tự do chưa? — Không! à, không bao giờ! Bởi những từ ngữ đó khiến tim ta đập rộn ràng; và với họ, trái tim không được phép đập dù chỉ một nhịp. Nối tiếp những giờ phút học tập và cầu nguyện dài dằng dặc ấy chỉ là vài buổi dạo chơi hiếm hoi, đi theo nhóm ba người — tuyệt đối không bao giờ đi hai người — bởi đi ba người thì việc giăng bẫy chỉ điểm dễ thực hiện hơn, còn đi hai người thì dễ bề thân thiết; và từ đó có thể nảy sinh những tình bạn cao thượng khiến trái tim đập mạnh hơn mức cho phép(15). Cứ thế, qua sự kìm nén thường trực mọi cảm xúc, đã có lúc con hoàn toàn tê liệt chẳng thể cảm nhận được gì nữa. Suốt sáu tháng trời, con không hề gặp lại mẹ nuôi và em trai; họ đến thăm con tại trường; dăm năm trước, con chắc chắn sẽ đón tiếp họ bằng sự phấn khích và những giọt nước mắt; thế nhưng lần này đôi mắt con khô khốc, trái tim con lạnh băng. Mẹ và em trai con rời đi trong dòng nước mắt. Cảnh tượng đau lòng ấy giáng vào con một cú sốc, và con chợt nhận thức được sự vô cảm lạnh lẽo đã ngấm ngầm bám rễ trong con kể từ khi con đặt chân vào ngôi mộ chôn sống này. Hoảng sợ trước chính mình, con ao ước được rời khỏi nơi đây, khi trong người vẫn còn chút sức lực. Rồi thì, thưa cha, con đã thưa chuyện với cha về việc lựa chọn một nghề nghiệp; bởi đôi khi trong những khoảnh khắc bừng tỉnh, con ngỡ như bắt gặp từ đằng xa âm thanh của một cuộc đời năng động và hữu ích, lao động trong tự do, ngập tràn tình cảm gia đình. Ồ! Khi ấy con khao khát biết bao sự chuyển động và tự do, khao khát những xúc cảm cao thượng và nồng nàn — khao khát nhịp đập của tâm hồn đang vụt chạy khỏi tầm tay con. Con đã thổ lộ điều đó với cha, quỳ rạp dưới chân cha và đầm đìa nước mắt thấm ướt đôi bàn tay cha. Cuộc đời của một người thợ hay một người lính — ngành nghề nào cũng được, miễn sao phù hợp với con. Thế nhưng chính lúc ấy, cha đã cho con hay rằng người mẹ nuôi — người mà con mang ơn cứu mạng, bởi khi con thoi thóp vì đói khát, chính bà dẫu nghèo khó vẫn chia sẻ với con từng mẩu bánh mì ít ỏi của con mình — một sự hy sinh thật cao cả của người mẹ! — rằng bà,” Gabriel chắp tay ngập ngừng, hạ mi mắt xuống, bởi những tâm hồn cao thượng thường hay đỏ mặt trước tội lỗi của kẻ khác và cảm thấy hổ thẹn vì những sự nhơ nhớp mà chính họ là nạn nhân, “rằng bà, rằng người mẹ nuôi của con, chỉ có một ước nguyện, một khát khao duy nhất—”

Cha d’Aigrigny cất tiếng ngắt lời Gabriel bằng một cử động mang vẻ phẫn nộ không kìm nén được: “Đủ rồi, thưa cha! Thật đau đớn cho con khi phải nghe cha khăng khăng một điều sai trái. Frances Baudoin chưa bao giờ có suy nghĩ đó.”

Cha d’Aigrigny ôn tồn đáp: “Con trai thân mến, con quá vội vàng trong những phán xét của mình rồi. Ta khẳng định với con, đó chính là ước muốn duy nhất của mẹ nuôi con.”

“Hôm qua, chính miệng cha đã nói với con tất cả. Cả bà ấy và con đều bị lừa dối như nhau.”

Cha d’Aigrigny nghiêm giọng đáp: “Thế thì, con trai thân mến, con tin lời của mẹ nuôi hơn là lời của ta sao?”

Gabriel hạ mi mắt xuống: “Xin cha hãy tha thứ cho con vì một câu trả lời gây tổn thương cho cả đôi bên.”

Cha d’Aigrigny đầy lo âu hỏi dồn: “Giờ thì con có chịu nói cho ta hay, ý định của con là—”

Vị bề chưa kịp dứt lời thì Samuel đã bước vào phòng và thưa: “Có một cụ già muốn gặp ông Rodin.”

Gã phụ tá ngạc nhiên đáp: “Đó là tên tôi, thưa ông; cảm ơn ông nhiều lắm.” Thế nhưng, trước khi đi theo người Do Thái, hắn kịp thì thầm vào tai Cha d’Aigrigny mấy chữ được viết vội bằng bút chì trên một trang sổ tay.

Rodin bước ra với tâm trạng đầy bất an, muốn tìm xem kẻ nào lại cất công tìm kiếm mình tận phố Rue Saint-Francois. Cha d’Aigrigny và Gabriel bị bỏ lại trong phòng một mình.

(14) Giáo hội Công giáo chỉ thừa nhận quyền tối cao của Giáo hoàng trong các vấn đề liên quan đến Hoạt động Thừa sai.

(15) Quy tắc này ngặt nghèo đến mức trong các trường của Dòng Tên, nếu một trong ba học sinh bỏ đi chỗ khác, hai người còn lại sẽ tách ra ngoài tầm với tới của giọng nói cho đến khi người đầu tiên quay trở lại.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.