Sự hoảng hốt của Frances biểu hiện rõ đến mức Rose không khỏi thốt lên:
“Lạy Chúa, có chuyện gì vậy ạ?”
“Khốn khổ thay, các tiểu thư yêu quý của tôi! Tôi không thể giấu các cô được nữa,” Frances nghẹn ngào bật khóc. “Từ hôm qua đến giờ tôi không thấy nó. Tôi ngóng con trai về ăn tối như mọi khi, thế mà nó chẳng hề xuất hiện; nhưng tôi không muốn để các cô thấy tôi đau khổ nhường nào. Tôi cứ ngóng nó hết phút này sang phút khác; suốt mười năm nay, chưa tối nào nó lên giường đi ngủ mà không ghé qua hôn tôi; thế nên tôi đã dành phần lớn thời gian ban đêm để ngồi sát bên cửa, lắng nghe xem có tiếng bước chân của nó không. Nhưng nó không đến; và cuối cùng, khoảng ba giờ sáng, tôi đứt ruột ngả mình xuống tấm nệm. Tôi vừa sang xem (vì tôi vẫn nhen nhóm một chút hy vọng mong manh), không biết sáng nay con tôi đã về chưa—”
“Thưa phu nhân!”
“Chẳng có tăm tích gì cả!” người mẹ khốn khổ vừa nói vừa lau nước mắt.
Rose và Blanche nhìn nhau đầy xúc động; cả hai cùng chung một nỗi niềm: nếu Agricola không trở về, gia đình này sẽ sống ra sao đây? Chẳng phải trong hoàn cảnh như thế, họ sẽ trở thành gánh nặng gấp bội hay sao?
“Nhưng thưa phu nhân, nhỡ đâu,” Blanche cất lời, “anh Agricola bận làm việc muộn quá nên tối qua không về nhà kịp thì sao.”
“Ồ! Không, không đâu! Nó thể nào cũng về giữa đêm, bởi vì nó thừa biết tôi sẽ lo lắng thế nào nếu nó ở lại ngoài. Hỡi ôi! Chắc chắn đã có tai họa gì giáng xuống đầu nó rồi! Hay nó bị thương ở xưởng rèn, vì nó vốn là đứa chăm chỉ làm việc đến cùng. Ôi, đứa con tội nghiệp của tôi! Và, như thể tôi chưa đủ lo lắng về nó, tôi lại còn bận lòng vì cô gái tội nghiệp ở căn gác trên nữa.”
“Sao vậy thưa phu nhân?”
“Khi rời phòng con trai, tôi đã sang phòng cô ấy để giãi bày nỗi buồn, bởi vì cô ấy chẳng khác nào con ruột của tôi; nhưng tôi lại không thấy cô ấy trong căn phòng nhỏ nơi cô ấy ở, và chiếc giường thậm chí còn chưa được nằm. Cô ấy có thể đi đâu mà từ sáng tinh sương thế chứ — một người vốn chẳng bao giờ ra khỏi nhà?”
Rose và Blanche lại nhìn nhau với một nỗi bất an mới, bởi vì họ đặt rất nhiều kỳ vọng vào Gù Nhỏ trong việc giúp đỡ họ thực hiện quyết định đã định. May mắn thay, cả hai tiểu thư và Frances chẳng mấy chốc sẽ được giải đáp thắc mắc này, vì họ nghe thấy hai tiếng gõ khe khẽ ngoài cửa, cùng giọng nói của nữ thợ may vang lên: “Em có thể vào được không ạ, thưa bà Baudoin?”
Theo một phản xạ tự nhiên, Rose và Blanche chạy vội ra cửa và mở toang cho cô gái trẻ. Mưa phùn lẫn tuyết đã rơi không dứt từ chiều hôm trước; chiếc áo vải chintz của nữ thợ may trẻ, chiếc khăn choàng bằng cotton mỏng manh, và chiếc mũ lưới màu đen che đi hai dải tóc dày màu hạt dẻ, viền quanh gương mặt nhợt nhạt đầy vẻ ưu tư của cô, tất cả đều ướt sũng; cái lạnh đã làm cho đôi bàn tay gầy guộc, trắng bệch của cô có màu tái xanh; chỉ có ngọn lửa trong đôi mắt xanh vốn dĩ rất dịu dàng và rụt rè ấy mới là nơi người ta nhận thấy thứ năng lượng phi thường mà một sinh sinh linh yếu ớt, sợ sệt này đã gom góp được từ hoàn cảnh cấp bách.
“Lạy Chúa tôi! Cháu từ đâu đến vậy, Gù Nhỏ ngoan ngoãn của tôi?” Frances thốt lên. “Ban nãy, khi đi xem con trai tôi đã về chưa, tôi đã mở cửa phòng cháu, và vô cùng ngạc nhiên khi thấy cháu ra ngoài từ sớm thế.”
“Cháu mang tin tức về anh Agricola đến cho bác đây ạ.”
“Về con trai tôi ư!” Frances kêu lên, toàn thân run rẩy. “Nó bị làm sao vậy? Cháu có gặp nó không?—Cháu có nói chuyện với nó không?—Nó đang ở đâu?”
“Cháu không gặp anh ấy, nhưng cháu biết anh ấy đang ở đâu.” Đoạn, nhận thấy Frances trở nên vô cùng tái mét, cô gái liền bồi thêm: “Anh ấy bình an; anh ấy không gặp nguy hiểm gì đâu.”
“Ngợi khen Thiên Chúa, Đấng xót thương một kẻ tội nhân khốn khổ!—Đấng ngày hôm qua đã trả lại chồng cho tôi, và hôm nay, sau một đêm đau đớn quằn quại, đã trấn an tôi về sự an toàn của đứa con thơ!” Nói đoạn, Frances quỳ rạp xuống sàn nhà và thành kính làm dấu thánh.
Trong khoảng lặng do hành động sùng đạo ấy mang lại, Rose và Blanche tiến đến bên Gù Nhỏ, khẽ nói với vẻ đầy quan tâm cảm động: “Em ướt đẫm quá! Chắc em lạnh lắm. Cẩn thận kẻo ốm đấy em. Bọn chị không dám xin phu nhân Frances nhóm lửa lò sưởi, nhưng bây giờ bọn chị sẽ làm việc đó.”
Ngạc nhiên và xúc động trước sự tử tế của các con gái Thống soái Simon, cô gái gù lưng vốn là người nhạy cảm hơn bất kỳ ai trước những cử chỉ ân cần nhỏ nhặt nhất, liền đáp lại họ bằng một ánh nhìn vô cùng biết ơn: “Cháu vô cùng cảm ơn các tiểu thư; nhưng cháu đã quen với cái lạnh rồi, vả lại cháu đang lo lắng quá nên chẳng cảm thấy lạnh nữa.”

“Thế còn con trai tôi?” Frances đứng dậy sau khi quỳ một lúc lâu; “sao nó lại ở ngoài suốt đêm? Và cháu có thể cho bác biết tìm nó ở đâu không, cô bé ngoan? Nó có sớm về không? Sao nó đi lâu thế?”
“Cháu xin đảm bảo với bác là anh Agricola vẫn khỏe; nhưng cháu phải báo cho bác biết rằng, đã từ một dạo—”
“Sao hả cháu?”
“Bác phải thật can đảm vào nhé, thưa bác.”
“Ôi! Máu trong người tôi như đông lại. Chuyện gì xảy ra vậy? Sao tôi lại không được gặp nó?”
“Hỡi ôi, anh ấy bị bắt rồi ạ.”
“Bị bắt ư!” Rose và Blanche hoảng hốt kêu lên.
“Lạy Cha! Xin vâng ý Cha!” Frances lẩm bầm; “nhưng đây là một tai họa lớn. Bị bắt! Vì tội gì chứ? Nó là một đứa tốt tính và lương thiện đến thế, chắc chắn phải có sự nhầm lẫn nào đó.”
“Hôm kia,” Gù Nhỏ tiếp lời, “cháu nhận được một bức thư nặc danh, trong đó thông báo rằng anh Agricola có thể bị bắt bất cứ lúc nào vì bài hát của anh ấy. Chúng cháu đã thỏa thuận với nhau rằng anh ấy nên đến gặp tiểu thư giàu có ở phố Rue de Babylone — người từng ngỏ ý giúp đỡ anh ấy — để nhờ cô ấy bảo lãnh cho anh ấy, nhằm tránh việc phải vào tù. Sáng hôm qua, anh ấy đã lên đường đến gặp vị tiểu thư đó.”
“Và cả hai đứa tụi cháu không hề hé răng nửa lời với tôi về chuyện này—sao lại giấu tôi chứ?”
“Để tránh làm bác lo lắng thôi ạ; vì trông cậy vào lòng quảng đại của vị tiểu thư ấy, cháu cứ đinh ninh anh Agricola sẽ về từng phút. Đến chiều tối qua mà anh ấy vẫn chưa về, cháu tự nhủ: ‘Chắc các thủ tục giấy tờ liên quan đến việc bảo lãnh đã giữ chân anh ấy lại rồi.’ Nhưng thời gian cứ trôi đi mà bóng dáng anh ấy chẳng thấy đâu. Thế nên, cháu đã thức trắng đêm để ngóng trông anh ấy.”
“Hóa ra cháu cũng chẳng hề chợp mắt suốt đêm ư, cô bé ngoan?”
“Vâng, cháu quá lo lắng nên nào ngủ được. Sáng nay, không sao kìm nén được nỗi sợ hãi, cháu đã ra khỏi nhà trước lúc bình minh. Cháu nhớ địa chỉ của vị tiểu thư ở phố Rue de Babylone, thế là cháu cắm cổ chạy đến đó.”
“Ồ, được lắm!” Frances lo lắng nói; “cháu đã làm đúng. Theo những gì con trai tôi kể, vị tiểu thư đó trông rất tốt bụng và hào phóng.”
Gù Nhỏ buồn bã lắc đầu; một giọt nước mắt lấp lánh trong khoé mi khi cô tiếp lời: “Trời hãy còn tối mịt lúc cháu tới phố Rue de Babylone; cháu đã đứng đợi cho đến khi trời hửng sáng.”
“Đứa trẻ tội nghiệp! Một đứa yếu ớt và rụt rè như cháu,” Frances xót xa nói, “lại lặn lội đi xa đến thế trong cái thời tiết khủng khiếp này!—Ôi, cháu chẳng khác nào con ruột của tôi vậy!”
“Anh Agricola chẳng phải cũng đối xử với cháu như anh em ruột thịt hay sao!” Gù Nhỏ khẽ đáp, đôi má thoáng ửng hồng.
“Khi trời đã rạng sáng,” cô tiếp lời: “cháu đánh liều gõ cửa căn nhà nhỏ mùa hè; một cô hầu gái xinh xắn nhưng có gương mặt buồn bã, nhợt nhạt đã ra mở cửa cho cháu. ‘Tôi đến đây vì một người mẹ bất hạnh đang tuyệt vọng,’ cháu nói ngay với cô ấy, vì trang phục của cháu quá tồi tàn khiến cháu sợ bị đuổi đi như một kẻ ăn mày; nhưng ngược lại, thấy cô ấy lắng nghe mình với vẻ tử tế, cháu bèn hỏi xem hôm qua có một người thợ trẻ đến khẩn cầu một ân huệ lớn từ chủ nhân của cô ấy không. ‘Khốn khổ thay, có chứ,’ cô hầu gái trả lời; ‘bà chủ của tôi đã định nhúng tay giúp đỡ anh ấy, và khi nghe tin anh ấy có nguy cơ bị bắt, bà đã giấu anh ấy ở đây; ngặt nỗi, nơi trú ẩn của anh ấy đã bị phát hiện, và chiều hôm qua, vào lúc bốn giờ, anh ấy đã bị bắt và tống giam vào ngục.’”
Dù hai vị tiểu thư mồ côi không xen vào câu chuyện đượm buồn này, nhưng nỗi sầu muộn và âu lo hằn trên nét mặt đã cho thấy họ thấu cảm sâu sắc nhường nào với nỗi thống khổ của vợ Dagobert.
“Thế còn vị tiểu thư đó?” Frances kêu lên. “Cháu lẽ ra phải tìm cách gặp mặt cô ấy, Gù Nhỏ ngoan ạ, và cầu xin cô ấy đừng bỏ rơi con trai tôi. Cô ấy giàu có như vậy chắc chắn phải có thế lực, và sự che chở của cô ấy có thể cứu chúng ta khỏi những thảm họa lớn.”
“Hỡi ôi!” Gù Nhỏ đau đớn thốt lên, “chúng ta buộc phải từ bỏ hy vọng cuối cùng này thôi.”
“Tại sao chứ?” Frances gặng hỏi. “Nếu vị tiểu thư này tốt bụng đến thế, cô ấy chắc sẽ rủ lòng thương khi biết con trai tôi là trụ cột duy nhất của cả một gia đình, và việc nó bị giam vào ngục còn tồi tệ hơn đối với người khác gấp bội, bởi điều đó sẽ đẩy tất cả chúng ta đến bước đường cùng khổ cực nhất.”
“Nhưng ngặt nỗi vị tiểu thư ấy,” cô gái đáp, “chiều tối qua, theo những gì cháu dò la được từ cô hầu gái đang sướt mướt của cô ấy, đã bị đưa vào nhà thương điên rồi ạ; xem chừng cô ấy hóa điên mất rồi.”
“Điên ư! Ôi, thật là kinh hoàng cho cô ấy, và cho cả chúng ta nữa—vì giờ đây chẳng còn chút hy vọng nào. Không có con trai tôi thì chúng ta sẽ ra sao đây? Ôi, lạy Chúa nhân từ!” Người đàn bà bất hạnh giấu khuôn mặt vào hai bàn tay.
Một sự im lặng tuyệt đối bao trùm sau tiếng nấc nghẹn ngào xé lòng ấy. Rose và Blanche trao nhau những cái nhìn ảm đạm, bởi họ nhận ra rằng sự hiện diện của mình càng làm chồng chất thêm gánh nặng cho gia đình này. Gù Nhỏ, kiệt sức vì mỏi mệt, làm mồi cho những cảm xúc đau đớn, và run lên bần bật vì cái lạnh trong bộ quần áo ướt sũng, liền khụy xuống chiếc ghế trong vẻ rã rời và ngẫm về tình cảnh tuyệt vọng của họ.
Quả thực đó là một tình cảnh vô cùng tàn nhẫn!
Thường thì, trong những thời kỳ nhiễu nhương chính trị, hay những phen chao đảo giữa tầng lớp lao động bắt nguồn từ việc thiếu thốn công ăn việc làm, hoặc từ sự cắt giảm tiền công bất công (hậu quả của liên minh hùng mạnh giữa giới tư bản) — thường thì toàn bộ các gia đình bị đẩy, bởi một biện pháp giam giữ phòng ngừa, vào một hoàn cảnh đáng thương chẳng kém gì gia đình Dagobert sau vụ bắt giữ Agricola — một vụ bắt giữ mà, như sau này sẽ rõ, hoàn toàn là do những thủ đoạn tinh vi của Rodin gây ra.
Giờ đây, liên quan đến cái gọi là “việc giam giữ mang tính phòng ngừa” này — mà nạn nhân hầu như luôn là những thợ thủ công lương thiện, cần cù, bị dồn vào chân tường buộc phải liên kết với nhau bởi tình trạng Tổ chức Lao động bất cập và Sự thiếu thốn Tiền công — thật đau đớn khi chứng kiến luật pháp, vốn dĩ phải công bằng với tất cả mọi người, lại từ chối đối với những công nhân đình công những quyền lợi mà nó sẵn sàng ban phát cho các ông chủ — đơn giản vì những kẻ sau có thể vung ra một khoản tiền lớn. Thế là, trong nhiều hoàn cảnh, kẻ giàu có thể dùng tiền bảo lãnh để thoát khỏi sự phiền toái và bất tiện của việc tống giam phòng ngừa; hắn chỉ việc đặt cọc một số tiền, hứa danh dự sẽ có mặt vào một ngày nhất định, rồi quay về với những cuộc vui chơi, công việc và sự ấm êm ngọt ngào bên gia đình. Chẳng có gì đáng trách; một kẻ bị buộc tội được coi là vô tội cho đến khi tội lỗi bị chứng minh; chúng ta không bao giờ nên quên triết lý khoan dung ấy. Thật may cho kẻ giàu vì hắn có thể tận dụng lòng nhân từ của pháp luật. Nhưng còn người nghèo thì sao?
Không những hắn chẳng có một đồng tiền bảo lãnh nào trong tay, bởi toàn bộ tài sản của hắn chỉ là sức lao động làm thuê ngày qua ngày; mà chính hắn mới là kẻ phải gánh chịu những đòn roi khốc liệt và chí tử nhất từ các biện pháp giam giữ phòng ngừa ấy.
Đối với kẻ giàu, việc ngồi tù chẳng qua chỉ là sự tước đoạt đôi chút tiện nghi thoải mái, những giờ phút chán chường, và nỗi đau khi phải xa cách gia đình — những nỗi niềm hoàn toàn đáng được quan tâm, bởi mọi sự thống khổ đều cần được xót thương, và nước mắt của kẻ giàu khi phải lìa xa con cái cũng cay đắng chẳng kém gì người nghèo. Nhưng sự vắng mặt của kẻ giàu không hề đẩy gia đình hắn đến cảnh đói rét, cũng chẳng gây ra những căn bệnh nan y do suy kiệt và khốn cùng.
Ngược lại, đối với người thợ thuyền, nhà tù đồng nghĩa với sự thiếu thốn, khốn cùng, và đôi khi là cái chết đối với những người thân yêu nhất của hắn. Chẳng có trong tay thứ gì, hắn chẳng thể tìm đâu ra tiền bảo lãnh, và thế là hắn bị tống giam. Nhưng nhỡ đâu hắn lại có — như tình cảnh thường thấy — một người cha già hoặc mẹ già yếu đau, một người vợ bệnh tật, hay những đứa con thơ hãy còn nằm nôi? Gia đình bất hạnh này rồi sẽ ra sao? Họ vốn dĩ đã chật vật lắm mới sống qua ngày nhờ vào đồng tiền công còm cõi của người đàn ông ấy — thứ tiền công hầu như lúc nào cũng thiếu thốn, để rồi đột nhiên nguồn sống duy nhất ấy biến mất ráo hoảnh suốt ba bốn tháng trời.
Gia đình này sẽ sống thế nào đây? Họ biết cầu cứu ai?
Chuyện gì sẽ xảy ra với những cụ già yếu đau, những người vợ bệnh hoạn, những đứa trẻ nhỏ dại không tài nào tự kiếm nổi miếng ăn qua ngày? Nếu lỡ may họ còn chút vải vóc hay dăm bộ quần áo dự trữ, chúng sẽ bị đem thế chấp hiệu cầm đồ, và nhờ thế họ sống lắt qua được dọn tuần — nhưng rồi sau đó thì sao?
Và nếu mùa đông lại chồng chất thêm cái khắc nghiệt của thời tiết vào thứ cơ hàn kinh hoàng và không thể tránh khỏi ấy?
Khi ấy, người thợ thủ công trong ngục tù sẽ phải hiện lên trong tâm trí, suốt những đêm dài đằng đẵng không tài nào chợp mắt, hình ảnh những người thân yêu của hắn: xanh xao, hốc hác, tiều tụy, kiệt sức, nằm trơ trọi gần như khỏa thân trên đống rơm bẩn thỉu hoặc túm tụm lại với nhau để sưởi ấm những chân tay đã tê cóng. Và giả như sau đó hắn được tuyên trắng án, thứ đập vào mắt hắn khi trở về túp lợ tồi tàn lại chỉ là đống đổ nát và hoang tàn.
Và rồi, sau quãng thời gian dài đằng đẵng phải ngưng trệ công việc, hắn sẽ vô cùng chật vật để xin quay lại làm cho những ông chủ cũ. Sẽ phải mất bao nhiêu ngày để lang thang tìm việc! Mà một ngày không có việc làm đồng nghĩa với một ngày không có bánh mì!
Chúng tôi xin được nhấn mạnh lại quan điểm của mình rằng, nếu trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, luật pháp không tạo điều kiện cho người giàu được nộp tiền bảo lãnh, thì chúng ta chỉ có thể ngậm ngùi thương cảm cho những nạn nhân của tai họa cá nhân và bất khả kháng ấy. Nhưng một khi luật pháp đã đưa ra phương án thả tự do có điều kiện cho những ai sở hữu một số tiền nhất định, thì cớ gì nó lại tước đoạt đi đặc ân đó khỏi chính những con người mà sự tự do đối với họ là vô cùng thiết yếu, bởi nó dính liền với sự sống còn của bản thân họ và gia đình?
Liệu có giải pháp nào cho thực trạng đáng buồn này không? Chúng tôi tin là có.
Luật pháp đã ấn định mức tiền bảo lãnh tối thiểu là năm trăm franc. Mà năm trăm franc, tính ra trung bình, bằng sáu tháng lao động của một người thợ cần cù.
Nếu hắn có vợ và hai con (đây cũng là con số trung bình), thì hiển nhiên hắn hoàn toàn không thể dành dụm nổi một khoản tiền như thế.
Do đó, việc đòi hỏi một người như vậy phải nộp năm trăm franc để được tiếp tục nuôi sống gia đình chẳng khác nào đẩy anh ta ra ngoài vòng pháp luật, dẫu cho anh ta — hơn bất kỳ ai hết — là người cần đến sự bảo vệ của pháp luật nhất, bởi những hậu quả tai hại mà việc ngồi tù của anh ta sẽ giáng xuống những người xung quanh.
Chẳng phải sẽ rất công bằng, nhân đạo, đồng thời là một tấm gương cao đẹp và lành mạnh hay sao, nếu trong mọi trường hợp được phép bảo lãnh (và khi lý lịch tốt của bị cáo được chứng thực một cách đáng tin cậy), chúng ta chấp nhận các bảo đảm về mặt đạo đức, thay thế cho những bảo đảm vật chất, đối với những ai chẳng có tài sản gì ngoài sức lao động và sự chính trực — chấp nhận lời hứa của một người lương thiện rằng anh ta sẽ có mặt vào ngày ra tòa? Chẳng phải sẽ rất vĩ đại và mang tính đạo đức biết bao khi vào thời đại này, chúng ta nâng cao giá trị của lời nói được thốt ra, đồng thời tôn vinh con người ngay trong tâm trí họ, bằng cách cho họ thấy rằng lời hứa của họ được coi là một thứ bảo chứng đủ trọng lượng?
Lẽ nào anh lại hạ thấp phẩm giá con người đến mức coi đề xuất này như một giấc mơ hoang đường và không tưởng? Xin hỏi, đã có bao nhiêu tù nhân chiến tranh từng nuốt lời hứa danh dự của mình, và chẳng phải các sĩ quan lẫn binh lính đều là anh em ruột thịt với người lao động đó sao?
Dù không hề phóng đại đức tính giữ lời hứa ở tầng lớp người nghèo lương thiện và chăm chỉ, chúng tôi vẫn vững tin rằng một lời cam kết ra hầu tòa do bị cáo đưa ra chắc chắn sẽ luôn được thực hiện, không chỉ bằng sự trung thực, mà còn bằng lòng biết ơn sâu sắc nhất — bởi vì nhờ có sự khoan dung của luật pháp, gia đình họ đã không phải chịu đựng đau khổ do sự vắng mặt của họ gây ra.
Cũng còn một thực tế nữa mà nước Pháp hoàn toàn có quyền tự hào. Đó là các thẩm phán của họ (dù được trả lương bèo bọt chẳng kém gì quân đội) nhìn chung đều rất minh triết, ngay thẳng, nhân đạo và độc lập; họ thấu triệt sâu sắc sứ mệnh thiêng liêng và hữu ích của chính mình; họ biết cách thấu hiểu những nhu cầu và khốn khó của tầng lớp lao động mà họ thường xuyên tiếp xúc; trao phó cho họ quyền phán quyết những trường hợp nào nên được chấp nhận sự bảo đảm về mặt đạo đức — thứ bảo đảm duy nhất mà một kẻ lương thiện nghèo khó có thể đưa ra — có lẽ là một điều hoàn toàn an toàn.(10)
Cuối cùng, nếu những kẻ đặt ra luật pháp mang cái nhìn quá thấp kém về nhân dân để rồi khinh miã bác bỏ những gợi ý mà chúng tôi vừa mạo muội đưa ra, thì ít ra họ cũng hãy hạ thấp mức bảo lãnh tối thiểu xuống, sao cho nó vừa tầm với những ai đang khao khát thoát khỏi gông xiềng vô ích của ngục tù nhất. Hãy lấy mức thấp nhất là tiền công một tháng của một người thợ thủ công — ví dụ như tám mươi franc.
Khoản tiền này suy cho cùng vẫn quá đỗi cắt cổ; nhưng với sự hỗ trợ từ bạn bè, hiệu cầm đồ và chút ít tiền ứng trước, người ta có lẽ vẫn có thể xoay sở được tám mươi franc — tuy không phải lúc nào cũng được — nhưng dẫu sao thì đôi khi vẫn khả thi, và chắc chắn rằng rất nhiều gia đình sẽ được cứu vớt khỏi cảnh khốn cùng kinh hoàng.
Sau khi đưa ra những nhận định ấy, chúng ta hãy quay trở lại với gia đình Dagobert — những kẻ giờ đây, hệ quả từ vụ bắt giữ phòng ngừa dành cho Agricola, đã bị đẩy đến bờ vực gần như tuyệt vọng.
Nỗi thống khổ của người vợ Dagobert càng lớn dần theo mức độ suy ngẫm của bà về hoàn cảnh hiện tại, bởi tính cả hai cô con gái của vị thống soái, có tới bốn con người đang phải trơ trọi chống chọi hoàn toàn không có lấy một chỗ dựa. Phải thừa nhận rằng, người mẹ tuyệt vời ấy ít nghĩ cho bản thân, mà phần nhiều bận lòng về nỗi đau mà đứa con trai sẽ phải gặm nhấm khi nghĩ về tình cảnh bi đát của bà.
Đúng lúc ấy, có tiếng gõ cửa.
“Ai đấy ạ?” Frances cất tiếng.
“Là tôi đây — Lão Loriot.”
“Vào đi ông,” vợ Dagobert đáp.
Gã thợ nhuộm, kẻ kiêm luôn nhiệm vụ gác cổng, hiện diện ở khung cửa phòng. Lần này, đôi tay hắn không còn mang màu xanh táo sáng chói nữa, mà chuyển sang một sắc tím lộng lẫy.
“Bà Baudoin ạ,” lão Loriot nói, “đây là bức thư mà người phục vụ nước thánh ở nhà thờ Saint Merely vừa mang tới từ chỗ Cha xứ Dubois, kèm theo lời nhắn nhủ rằng tôi phải đem lên cho bà ngay lập tức vì việc này cực kỳ khẩn cấp.”
“Thư của cha xứ thú tội gửi cho tôi ư?” Frances ngạc nhiên thốt lên, và vừa đón lấy lá thư, bà vừa nói: “Cảm ơn ông nhé, lão Loriot.”
“Bà có cần gì nữa không ạ?”
“Không đâu lão Loriot.”
“Tôi xin phép gửi lời chào các tiểu thư!” Và gã thợ nhuộm quay lưng bước đi.
“Gù Nhỏ ơi, cháu đọc hộ bác bức thư này được chứ?” Frances nóng lòng muốn biết nội dung của mảnh giấy đang cầm trên tay.
“Vâng, thưa bác,” — và cô gái trẻ đọc to như sau:
“‘BÀ BAUDOIN THÂN MẾN,— Ta vẫn thường nghe bà xưng tội vào thứ Ba và thứ Bảy, nhưng ta sẽ bận rộn vào ngày mai lẫn ngày cuối tuần; vậy nên bà phải đến gặp ta vào sáng nay, trừ phi bà muốn trải qua cả tuần lễ mà không được đến gần tòa cáo giải.’”
“Lạy Chúa tôi! Cả một tuần lễ ư!” vợ Dagobert kêu lên. “Hôi ôi! Tôi quá thấm thía sự cần thiết phải có mặt ở đó ngay ngày hôm nay, bất chấp những ruột rối và đau thương đang đè nặng lấy tôi.”
Rồi, quay sang hướng các tiểu thư mồ côi, bà tiếp lời: “Trời xanh đã thấu thấu những lời cầu nguyện mà tôi dành cho các cô, thưa các tiểu thư yêu quý; ngay trong ngày hôm nay tôi sẽ được thỉnh ý một vị tu sĩ đức hạnh về những mối hiểm nguy lớn lao đang bủa vây các cô. Những linh hồn ngây thơ tội nghiệp, vốn chẳng có tội tình gì mà lại mang vạ lây! Chúa là nhân chứng cho thấy lòng tôi đau thắt vì các cô chẳng kém gì con trai tôi.”
Rose và Blanche lúng túng nhìn nhau; họ chẳng tài nào hiểu nổi những nỗi sợ hãi mà tình trạng linh hồn họ gieo rắc vào tâm trí người vợ Dagobert. Không để mất thời gian, bà quay sang hướng nữ thợ may trẻ:
“Cô bé ngoan của bác, cháu có thể làm ơn cho bác thêm một việc nữa được không?”
“Dạ được chứ ạ.”
“Chồng tôi đã cầm theo tiền công cả tuần của Agricola để trang trải chi phí cho chuyến đi Chartres. Đó là toàn bộ số tiền tôi có trong nhà, tôi chắc chắn đứa con tội nghiệp của tôi chẳng dắt túi xu nào, và khi vào ngục chắc nó sẽ cần đến tiền tiêu vặt. Thế nên cháu hãy lấy chiếc cốc bạc, nĩa bạc, thìa bạc của tôi, hai bộ ga giường còn sót lại, cùng chiếc khăn choàng lụa nhồi bông mà Agricola đã tặng tôi nhân dịp sinh nhật, đem tất cả ra tiệm cầm đồ đi. Tôi sẽ tìm xem con trai tôi bị giam ở nhà tù nào, rồi gửi cho nó một nửa số tiền nhỏ kiếm được từ đống đồ đó; phần còn lại sẽ đủ cho chúng ta xoay sở cho đến khi chồng tôi trở về. Và rồi sau đó, chúng ta sẽ tính sao đây? Thật là một cú sốc quá lớn đối với ông ấy — và tương lai trước mắt toàn là khốn khó — khi mà con trai tôi đang ngồi tù, còn tôi thì đã lãng trí thế này. Hỡi Cha toàn năng!” người mẹ bất hạnh bật kêu lên với vẻ đau đớn đầy bực dọc và đắng cay, “tại sao Ngài lại giáng những đòn đau đớn lên tôi thế này? Chẳng lẽ tôi chưa đủ sức chịu đựng để xứng đáng nhận chút xót thương, nếu không phải cho bản thân tôi, thì ít ra cũng cho những người ruột thịt của tôi sao?” Nhưng ngay lập tức tự trách mắng bản thân vì phút giây bộc phát, bà nói thêm, “Không, không! Tôi phải hoan hỉ đón nhận mọi thứ do Ngài ban xuống. Xin hãy tha thứ cho những lời càu nhàu này của tôi, hoặc nếu phạt, xin chỉ giáng xuống một mình tôi thôi!”
“Bác hãy thật can đảm lên!” Gù Nhỏ động viên. “Anh Agricola vô tội, và anh ấy sẽ không phải ngồi tù lâu đâu.”
“Nhưng nghĩ lại thì,” vợ Dagobert tiếp lời, “việc chạy ra tiệm cầm đồ sẽ làm cháu mất khối thời gian đấy, cô bé ngoan ạ.”
“Em có thể tranh thủ làm bù vào ban đêm mà, thưa phu nhân Frances; em nào ngủ được khi biết bác đang gặp phiền muộn nhường này. Làm việc sẽ giúp em khuây khỏa đấy ạ.”
“Ừ, nhưng còn nến đuốc —”
“Không sao đâu, tiến độ công việc của em đang dôi ra một chút mà,” cô gái nghèo nói dối.