Adam Bede

Lượt đọc: 98 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 53
Bữa Tối Mừng Gặt

❊ ❊ ❊

Khi Adam đang trên đường về nhà vào chiều thứ Tư, dưới ánh nắng vàng sáu giờ chiều, anh thoáng thấy từ đằng xa chiếc xe chở bó lúa mạch cuối cùng đang từ từ tiến về phía cổng sân của Trại Hall, đồng thời nghe văng vẳng tiếng hát “Mừng mùa gặt về!” lúc bổng lúc trầm như những con sóng. Âm thanh ấy ngày một nhỏ dần, trở nên du dương hơn theo khoảng cách xa dần, vẫn vươn đến tai anh khi anh đến gần suối Willow. Ánh mặt trời ngả về tây chiếu thẳng lên sườn những ngọn đồi Binton cổ kính, biến những chú cừu vô tư thành những đốm sáng rực rỡ; nó cũng chiếu lên những khung cửa sổ của ngôi nhà tranh, làm bừng lên một vẻ rực rỡ vượt qua cả hổ phách hay thạch anh tím. Cảnh tượng ấy đủ khiến Adam cảm giác như mình đang đứng trong một ngôi đền lớn, và tiếng hát từ xa vọng lại chính là một khúc ca thánh thiện.

“Thật kỳ lạ,” anh thầm nghĩ, “sao mà thứ âm thanh ấy lại chạm thẳng vào trái tim người ta chẳng khác nào tiếng chuông tang, dù nó nói về khoảng thời gian vui tươi nhất trong năm và là lúc con người ta biết ơn nhất. Chắc là chúng ta thấy hơi khó khăn khi phải chấp nhận rằng có những thứ trong đời đã chấm dứt và qua đi; và ẩn sâu trong mọi niềm vui của chúng ta luôn có sự chia ly. Nó giống như cảm giác của tôi về Dinah vậy. Tôi sẽ chẳng bao giờ nhận ra rằng tình yêu của cô ấy sẽ là phúc lành lớn nhất đời tôi, nếu như điều mà tôi từng coi là phúc lành ấy không bị giật phăng và xé toạc đi, để lại trong tôi một nỗi khát khao lớn hơn, khiến tôi biết hướng lòng và khao khát một sự an ủi lớn lao và tốt đẹp hơn thế.”

Anh vốn mong sẽ gặp lại Dinah tối nay và xin phép được đồng hành cùng cô đến tận Oakbourne; rồi anh sẽ ngỏ lời xin cô ấn định một thời điểm nào đó để anh có thể đến Snowfield, qua đó biết được liệu niềm hy vọng lớn lao cuối cùng vừa nảy nở trong lòng mình có phải chịu chung số phận từ bỏ như những điều đã qua hay không. Công việc phải làm ở nhà, cộng thêm việc thay bộ quần áo đẹp nhất, khiến mãi đến bảy giờ anh mới có thể lên đường đến Trại Hall, và thật đáng ngờ liệu với những bước chân dài và nhanh nhất của mình, anh có kịp đến nơi ngay cả để ăn món thịt bò quay vốn được dọn ra sau món bánh pudding mận hay không, bởi bữa tối của bà Poyser luôn đúng giờ tuyệt đối.

Tiếng dao kéo, đĩa thiếc và lon thiếc va vào nhau kêu lanh keng khi Adam bước vào nhà, nhưng không hề có tiếng trò chuyện rì rầm nào đi kèm: việc thưởng thức món thịt bò quay hảo hạng được thết đãi miễn phí là một công việc quá đỗi nghiêm túc đối với những người làm thuê tốt bụng ấy, khiến họ không thể vừa ăn vừa phân tâm nổi, ngay cả khi họ có chuyện gì để nói với nhau đi chăng nữa—mà thực ra thì chẳng có gì cả. Còn ông Poyser, ở đầu bàn, thì quá bận rộn với việc thái thịt nên chẳng thể lắng nghe những lời nói thoăn thoắt của Bartle Massey hay ông Craig.

“Nào, Adam,” bà Poyser vừa đứng quan sát để chắc chắn rằng Molly và Nancy làm tròn trách nhiệm phục vụ vừa nói, “đây là chỗ chừa sẵn cho anh giữa ông Massey và mấy cậu thanh niên. Thật tiếc là anh không đến kịp lúc chiếc bánh pudding hãy còn nguyên vẹn.”

Adam lo lắng đảo mắt tìm kiếm bóng dáng người phụ nữ thứ tư, nhưng Dinah không có ở đó. Anh gần như e ngại không dám hỏi về cô; vả lại, sự chú ý của anh đã bị cuốn vào những lời chào hỏi, và anh vẫn nhen nhóm hy vọng rằng Dinah đang ở trong nhà, dẫu có lẽ cô không có tâm trạng tham gia tiệc tùng vào đêm trước ngày lên đường.

Đó là một khung cảnh đẹp đẽ biết bao — chiếc bàn dài với gương mặt tròn trịa đôn hậu cùng vóc dáng vạm vỡ của Martin Poyser ở phía đầu bàn, tận tình chia cho những người hầu món thịt bò quay thơm phức và vô cùng hài lòng mỗi khi những chiếc đĩa trống không được đưa trở lại. Martin, dù thường ngày vẫn nổi tiếng là người có sức ăn tốt, tối nay lại thực sự quên mất việc ăn cho xong phần thịt bò của mình — bởi ngắm nhìn mọi người thưởng thức bữa tối trong những khoảng nghỉ tay giữa việc thái thịt mang lại cho ông niềm vui sướng biết bao; chẳng phải họ đều là những người mà suốt ba trăm sáu mươi lăm ngày trong năm, ngoại trừ ngày Giáng sinh và Chủ nhật, vẫn phải ăn những bữa trưa đạm bạc một cách tạm bợ ngay dưới các hàng rào, uống bia từ những chiếc chai gỗ — dẫu vẫn thấy ngon miệng thật đấy, nhưng với cái miệng ngửa tận lên trời, một tư thế chỉ hợp với loài vịt hơn là con người chúng ta hay sao? Martin Poyser phần nào hình dung được hương vị tuyệt vời mà những người lao động ấy cảm nhận được từ món thịt bò quay nóng hổi cùng vại bia tươi rói. Ông nghiêng đầu sang một bên, nhếch miệng cười rồi huých khuỷu tay vào Bartle Massey, chăm chú nhìn Tom Tholer ngây ngô, hay còn được gọi là “Tom Khờ”, đang nhận đĩa thịt bò thứ hai. Một nụ cười rạng rỡ bừng lên trên khuôn mặt Tom khi chiếc đĩa được đặt xuống trước mặt cậu, nằm giữa con dao và chiếc nĩa mà cậu đang cầm đứng thẳng tắp như thể chúng là những ngọn nến thiêng. Nhưng niềm vui sướng quá lớn không thể cứ nén lại thành một nụ cười mỉm — nó bùng nổ ngay khoảnh khắc tiếp theo bằng một tiếng “hà, hà!” kéo dài, nối tiếp bằng sự khựng lại đột ngột để trở về vẻ nghiêm nghị tuyệt đối ngay khi con dao và chiếc nĩa lao phập xuống mồi ngon. Thân hình vạm vỡ của Martin Poyser rung lên vì tiếng cười thầm đầy khoái trí. Ông quay sang nhìn bà Poyser để xem bà có để ý đến Tom hay không, và ánh mắt của hai vợ chồng chạm nhau trong một cái nhìn đầy thiện cảm và thích thú.

“Tom Khờ” là một nhân vật rất được cưng chiều trong nông trại, nơi cậu đóng vai trò như một tên hề pha trò chuyên nghiệp, bù đắp cho những khiếm khuyết về mặt thực tế bằng sự sắc sảo trong những câu đáp trả nhanh nhạy. Những câu nói chí mạng của cậu, tôi tưởng tượng, cũng giống như cú vụt của chiếc néo đập lúa, rơi xuống hoàn toàn ngẫu nhiên nhưng thỉnh thoảng vẫn đập bẹp một con côn trùng nào đó. Chúng rất hay được nhắc lại vào những dịp xén lông cừu hay thu hoạch cỏ khô, nhưng tôi xin phép không ghi chép lại ở đây, kẻo trò hề của Tom hóa ra lại giống như vô số gã hề quá cố từng lừng lẫy một thời — mang tính chất nhất thời nhiều hơn, chẳng hề đả động gì đến những mối quan hệ sâu sắc và bền vững hơn của vạn vật.

Trừ Tom ra, Martin Poyser vốn khá tự hào về những người gia nhân và tá đày của mình, nghĩ ngợi với sự thỏa mãn rằng họ là những người xứng đáng với đồng tiền công hơn bất kỳ nhóm lao động nào khác trong điền trang. Chẳng hạn như Kester Bale (lẽ ra là Beale, nếu xét theo sự thật, nhưng ông được gọi là Bale và chẳng mảy may bận tâm đến việc mình bị thiếu mất chữ cái thứ năm), một lão già đội chiếc mũ da ôm sát với chằng chịt nếp nhăn hằn trên khuôn mặt rám nắng. Liệu có ai ở Loamshire am hiểu tường tận “bản chất” của mọi công việc nhà nông hơn ông không? Ông là một trong những người lao động vô giá, không chỉ biết xoay sở mọi việc mà còn xuất sắc trong bất cứ công việc gì tay chạm đến. Quả thực là đầu gối của Kester lúc này đã cong hẳn ra ngoài, và ông đi lại với dáng đi khom rạp liên tục, tựa hồ như một trong những người cung kính nhất trần đời. Quả đúng là ông cung kính thật; nhưng tôi buộc phải thừa nhận rằng đối tượng tôn kính của ông chính là sự khéo léo của bản thân, và ông thường dành cho nó những nghi thức tôn sùng đến mức cảm động. Ông luôn là người lợp mái tranh cho các đống rơm — vì nếu có sở trường nào vượt trội hơn tất cả, thì đó chính là lợp mái — và khi nét cọ cuối cùng (à nhầm, nhát tranh cuối cùng) được đặt lên đống rơm hình tổ ong cuối cùng, Kester, người có nhà ở cách xa nông trại, sẽ đi bộ đến khu vực chứa rơm trong bộ quần áo đẹp nhất vào một buổi sáng Chủ nhật, đứng ở lối đi cách đó một khoảng vừa đủ để ngắm nhìn công trình mái tranh của chính mình, rồi đi dạo quanh để ngắm từng đống rơm từ mọi góc độ thích hợp. Khi ông vừa đi vừa nhún chân khom lưng, ngẩng đầu nhìn đắm đuối lên những chóp rơm được vo tròn bắt chước hình dáng những quả cầu vàng trên đỉnh các đống rơm hình tổ ong — vốn thực chất là thứ vàng ròng hảo hạng — bạn hẳn sẽ tưởng tượng rằng ông đang tham gia vào một nghi lễ thờ cúng ngoại giáo nào đó. Kester là một lão bợm già độc thân và nổi tiếng là có những chiếc tất nhét đầy tiền xu, chuyện mà ông chủ thường đem ra trêu ghẹo vào mỗi tối trả lương: đó không phải là một lời trêu chọc mới mẻ hay nhàm chàm, mà là một trò đùa cũ rích nhưng hay ho, đã được thử nghiệm qua bao lần và vẫn giữ nguyên “độ bền”. “Lão chủ trẻ đúng là một gã vui tính,” Kester thường nhận xét như vậy; bởi vì bắt đầu sự nghiệp của mình bằng việc xua đuổi lũ quạ dưới thời người chủ Martin Poyser đời trước nữa, ông chưa bao giờ thôi coi vị Martin đương nhiệm là một ông chủ trẻ tuổi. Tôi chẳng có gì phải hổ thẹn khi ca tụng lão Kester. Cả bạn và tôi đều nợ những đôi bàn tay chai sạn của những con người ấy — đôi bàn tay từ lâu đã hòa lẫn vào lớp đất mà họ đã cày xới bằng sự tận tụy, tằn tiện chắt chiu từng thành quả của đất trời, để rồi chỉ nhận lại phần nhỏ nhoi nhất làm tiền công cho chính mình.

Rồi, ở phía cuối bàn, đối diện với ông chủ, là Alick, người gác cừu kiêm quản lý chính với khuôn mặt đỏ hồng và bờ vai rộng, vốn chẳng mấy ưa gì lão Kester; thực ra, sự tương tác giữa họ chỉ giới hạn trong những tiếng gầm gừ cộc cằn thỉnh thoảng phát ra, bởi dẫu họ có lẽ chẳng mấy bất đồng về chuyện làm hàng rào, đào hào hay chăm sóc cừu mẹ, giữa họ lại tồn tại một hố sâu bất đồng về tài năng của bản thân. Khi Tityrus và Meliboeus tình cờ làm việc chung một nông trại, họ thường chẳng màng đến sự lịch sự xã giao với đối phương. Quả thực, Alick hoàn toàn chẳng phải là một kẻ ngọt ngào gì cho cam. Lời ăn tiếng nói của ông thường mang theo sự cằn nhằn, và dáng vẻ vai u thịt bắp phảng phất nét mặt của một chú chó Pitbull — “Đừng có chọc vào ta, và ta cũng chẳng thèm nhòm ngó gì ngươi.” Nhưng ông lại là người trung thực đến mức sẵn sàng bẻ đôi cả một hạt yến mạch chứ dứt khoát không chịu lấy vượt quá phần được công nhận của mình, và “keo kiệt” với tài sản của ông chủ cứ như thể đó là của chính ông vậy — chỉ ném ra một nắm lúa mạch hư hỏng rất nhỏ cho lũ gà, bởi vì một nắm to sẽ tác động đến trí tưởng tượng của ông một cách đầy đau đớn với cảm giác hoang phí. Tim hiền lành, người đánh xe ngựa vốn rất mực yêu thương lũ ngựa của mình, cũng có hiềm khích với Alick trong chuyện phân phát ngô. Họ hiếm khi nói chuyện với nhau, và chẳng bao giờ thèm nhìn mặt nhau, ngay cả khi đang ăn chung đĩa khoai tây nguội; nhưng ngẫm lại, vì đây vốn là lối ứng xử quen thuộc của họ đối với toàn thể nhân loại, nên sẽ là một kết luận sai lầm nếu cho rằng họ chỉ có những cơn bất hòa thoáng qua. Bạn thấy đấy, tính cách bình dị của người dân Hayslope không hề mang cái vẻ đôn hậu, vui tươi, cười toe toét rộng rãi thường thấy ở hầu hết các vùng đất mà các họa sĩ hay ghé thăm. Ánh hào quang dị êm của một nụ cười là một cảnh tượng hiếm có trên khuôn mặt của một người lao động nông, và hiếm khi có sự chuyển biến nào uyển chuyển giữa vẻ nghiêm nghị như loài bò và một trận cười phá lên. Cũng chẳng phải người lao động nào cũng trung thực như người bạn Alick của chúng ta. Ngay tại chiếc bàn này, giữa những người làm của ông Poyser, có gã Ben Tholoway lực điền ấy, một kẻ đập lúa vô cùng khỏe mạnh nhưng đã bị bắt quả tang không chỉ một lần lén giút lúa mạch của chủ vào túi áo — một hành động mà, vì Ben không phải là một nhà triết học, khó có thể quy cho chứng đãng trí được. Dù sao đi nữa, ông chủ cũng đã tha thứ cho hắn và tiếp tục thuê mướn hắn, bởi dòng họ Tholoway đã sống ở vùng Common từ thủa hồng hoang và đời này qua đời khác đều làm việc cho nhà Poyser. Và suy cho cùng, tôi dám cá rằng xã hội cũng chẳng tồi tệ đi bao nhiêu chỉ vì Ben không phải trải qua sáu tháng tù khổ sai với chiếc máy quay tời, bởi tầm nhìn về tội phạm của hắn khá hẹp, và Nhà tù Cải huấn có khi lại làm nó mở rộng ra thêm ấy chứ. Cứ cho là thế đi, tối nay Ben vẫn thản nhiên thưởng thức món thịt bò quay với cảm giác thanh thản vì chẳng trộm cắp gì ngoài dăm hạt đậu cô-ve và đậu Hà Lan để làm giống cho khu vườn nhà từ sau bữa tối mừng gặt vừa rồi, và cảm thấy hoàn toàn có lý khi cho rằng ánh mắt nghi kỵ cứ dán chặt vào mình của Alick chính là một sự tổn hại đến sự ngây thơ vô số tội của hắn.

Nhưng giờ đây món thịt bò quay đã hết và khăn bàn được dọn sạch, để lộ ra chiếc mặt bàn gỗ thông dài phẳng phới bày những chiếc vại uống nước sáng loáng, những chiếc bình nâu sủi bọt, cùng những chân nến bằng đồng chói lọi trông thật thích mắt. Giờ thì buổi lễ lớn nhất trong buổi tối sắp sửa bắt đầu — khúc ca mừng mùa gặt mà bất kỳ ai cũng phải cất tiếng hòa giọng. Hắn có thể hát lệch tông nếu hắn thích tỏ ra khác người, nhưng tuyệt đối không được ngồi ngậm miệng im re. Nhịp điệu bắt buộc phải là nhịp ba; còn lại thì tùy nghi di tản.

Về nguồn gốc của bài ca này — không biết nó ra đời từ bộ óc của một thi sĩ ngẫu hứng đơn độc nào đó trong hình hài hiện tại, hay được trau chuốt dần dần qua nhiều thế hệ thi sĩ — tôi hoàn toàn mù tịt. Nó mang dấu ấn của sự thống nhất, của thiên bẫy cá nhân, điều nghiêng tôi về giả thuyết đầu tiên, dù tôi không hề mù quáng trước nhận định rằng sự thống nhất ấy rất có thể xuất phát từ sự đồng thuận của nhiều tâm trí vốn là điều kiện của tư duy nguyên thủy, xa lạ với ý thức hiện đại của chúng ta. Một số người có lẽ sẽ nghĩ rằng họ nhận ra trong bốn câu thơ đầu tiên dấu hiệu của một dòng thơ bị thất lạc, mà những thế hệ thi sĩ sau này, kém cỏi về mặt trí tưởng tượng, đã khỏa lấp bằng thủ pháp lặp từ yếu ớt. Tuy nhiên, những người khác lại có thể cho rằng chính sự lặp lại này lại là một nét duyên dáng nguyên bản, thứ mà không một tâm trí tầm thường nào có thể vô cảm trước nó.

Nghi lễ gắn liền với bài ca chính là một nghi lễ uống rượu. (Đó có lẽ là một sự thật đau lòng, nhưng dẫu sao đi nữa, bạn biết đấy, chúng ta đâu thể cải tạo lại tổ tiên của mình được.) Trong suốt bốn câu thơ thứ nhất và thứ hai, được cất lên với âm lượng cường độ mạnh dứt khoát, không một chiếc vại nào được phép rót đầy.

“Cùng nâng chén chúc mừng chủ nhân,

Kẻ đã dựng xây bữa tiệc này;

Cùng nâng chén chúc mừng chủ nhân

Và cả nữ chủ nhân của chúng ta!

Mong cho sự nghiệp ngài hưng thịnh,

Dù ngài làm bất cứ việc chi,

Bởi chúng ta đều là tôi tớ,

Và luôn tuân lệnh ngài dắt dìu.”

Nhưng giờ đây, ngay trước khổ thơ thứ ba hay phần điệp khúc, được cất lên với âm lượng cực mạnh, kèm theo những tiếng đập bàn dứt khoát tạo hiệu ứng vang dội như tiếng cồng chiêng và trống kết hợp, vại rượu của Alick được rót đầy, và anh buộc phải uống cạn sạch nó trước khi phần điệp khúc kết thúc.

“Nào uống đi hỡi mấy chàng trai!

Nhớ cẩn thận chớ để tràn ra nhé,

Nếu làm đổ, hai vại liền cạn sạch,

Bởi đó là mệnh lệnh chủ nhân ta.”

Khi Alick đã vượt qua thành công bài kiểm tra về bản lĩnh vững tay chấn này, đến lượt lão Kester ngồi ở bên phải anh — và cứ thế tiếp diễn, cho đến khi mọi người đàn ông đều đã uống xong vạc rượu khai mạc dưới sự kích thích của khúc ca điệp khúc. Gã Tom Khờ — cái đồ ranh con — đã cố tình làm tràn ra một chút; nhưng bà Poyser (hơi lo chuyện bao đồng, theo suy nghĩ của Tom) đã nhảy vào can thiệp để ngăn chặn việc bắt phạt.

Đối với bất kỳ ai đứng nghe ở phía bên ngoài cánh cửa, sẽ chẳng có chút lý do hiển nhiên nào giải thích tại sao câu hát “Nào uống đi hỡi mấy chàng trai!” lại nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình và lặp đi lặp lại nhiều lần đến thế; nhưng một khi đã bước chân vào trong, người ta sẽ nhận thấy rằng tất cả mọi gương mặt lúc này đều vô cùng điềm tĩnh, và phần lớn là rất nghiêm túc — đó là một nghi thức chuẩn mực và đáng kính trọng mà những người lao động nông trại ưu tú ấy phải làm, chẳng khác nào cách những quý ông quý bà tao nhã mỉm cười và cúi chào bên những ly rượu vang của họ. Bartle Massey, người có đôi thính giác hơi nhạy cảm, đã bước ra ngoài từ sớm để ngắm nghía thời tiết buổi tối ngay từ giai đoạn đầu của buổi lễ, và mãi đến khi sự im lặng kéo dài suốt năm phút đồng hồ báo hiệu rằng câu hát “Nào uống đi hỡi mấy chàng trai!” có lẽ sẽ không vang lên lần nữa trong suốt mười hai tháng tới, ông mới kết thúc việc tản bộ của mình. Sự tĩnh lặng ấy khiến lũ thanh niên và bé Totty tiếc nuối khôn nguôi: đối với họ, sự im ắng đột ngột này mang lại cảm giác hơi hụt hẫng sau màn đập bàn rền vang hào hứng hồi nãy, thứ mà bé Totty, khi đang ngồi nghễu nghện trên đùi cha, cũng đã góp phần đóng góp bằng hết thảy sức lực nhỏ bé và đôi bàn tay bé xíu của mình.

Tuy nhiên, khi Bartle bước trở vào, có vẻ như mọi người đều có chung một mong muốn thưởng thức những khúc ca đơn ca tiếp nối sau phần đồng ca. Nancy tuyên bố rằng Tim thợ đánh xe biết hát và “lúc nào cũng hót vang như một con chim sơn ca trong chuồng”, nhân cơ hội đó ông Poyser liền cất giọng khuyến khích: “Nào, cậu Tim, hãy cho chúng tôi thưởng thức đi nào.” Tim ra vẻ bẽn lẽn, rụt cổ lại và bảo rằng mình không biết hát, nhưng lời mời gọi đầy khích lệ của ông chủ đã được đồng loạt hưởng ứng vang lên khắp bàn. Đây chính là một cơ hội giao lưu: bất kỳ ai cũng có thể thốt lên “Nào, Tim đi chứ”, ngoại trừ Alick, kẻ chưa bao giờ buông lỏng bản thân vào cái sự phù phiếm của những lời thừa thãi. Cuối cùng, người ngồi sát cạnh Tim là Ben Tholoway bắt đầu dùng những cú huých khuỷu tay để tăng thêm sức nặng cho lời nói của mình, khiến Tim bắt đầu nổi đóa và cáu kỉnh đáp lại: “Mày có để yên cho tao không hả? Không thì tao sẽ bắt mày phải hát một bài mà mày chẳng ưa nổi đâu đấy.” Sự kiên nhẫn của một gã đánh xe hiền lành cũng có giới hạn của nó, và Tim quyết không để bản thân bị ép uổng thêm nữa.

“Thế thì, David, cậu chính là cái tên phù hợp để cất giọng đấy,” Ben nói, tỏ ý muốn chứng tỏ rằng hắn không hề bị nản lòng trước gáo nước lạnh này. “Hãy hát bài ‘Người tình ta là đóa hồng không gai’ xem nào.”

David, chàng thanh niên đa tình mang vẻ mặt ngẩn ngơ vô thức — thứ vốn có lẽ xuất phát từ tật lác mắt nặng độ hơn là bất kỳ đặc điểm tâm lý nào; bởi cậu hoàn toàn chẳng hề dửng dưng trước lời mời gọi của Ben, mà thay vào đó lại đỏ mặt, bật cười rồi lấy tay áo quẹt miệng theo cái điệu bộ bị coi là dấu hiệu của sự xuôi lòng. Và trong một khoảng thời gian, cả đám đông dường như tỏ ra vô cùng số sắng với mong mỏi được nghe giọng hát của David. Nhưng mọi nỗ lực đều hoài công. Khúc nhạc trữ tình của buổi tối hôm nay hiện đang nằm sâu dưới tầng hầm và chưa chịu ngoan ngoãn chui lên khỏi nơi ẩn nấy ấy đâu.

Trong khi đó, cuộc trò chuyện ở đầu bàn đã rẽ sang hướng chính trị. Ông Craig không phải là người ngại ngùng gì việc bàn chuyện chính trị thỉnh thoảng, dẫu ông ta tự hào về cái nhìn sâu sắc khôn ngoan hơn là những thông tin cụ thể. Ông ta nhìn thấu suốt đến mức vượt ra ngoài những sự kiện trần trụi của một vấn đề đến độ thực ra việc nắm bắt chúng trở nên hoàn toàn thừa thãi.

“Bản thân tôi chẳng mấy khi đọc báo,” ông ta lên tiếng tối nay trong lúc nhồi tẩu thuốc, “dù tôi có thể đọc nó nhanh chóng nếu muốn, vì ở đó có cô Lyddy thường mang về đọc xong là vứt xó ngay lập tức. Nhưng nhìn ông Mills mà xem, cứ ngồi ì một góc lò sưởi và đọc báo gần như từ sáng đến tối mịt, để rồi khi đọc xong trang cuối thì đầu óc ông ta lại càng mụ mẫm hơn lúc bắt đầu. Giờ thì hắn ta cứ lải nhải suốt về cái hiệp ước hòa bình gì mà người ta đang bàn tán ấy chứ; hắn đọc hết tờ này đến tờ khác và tưởng rằng mình đã thấu đáo tận gốc rễ vấn đề. ‘Trời quỷ thần ơi, ngài ban phước cho lão Mills,’ tôi bảo hắn thế, ‘anh chẳng nhìn thấu nổi chuyện này hơn là nhìn thấu vào giữa ruột một củ khoai tây đâu. Tôi nói cho anh hay nhé: anh tưởng rằng đó sẽ là một điều tuyệt vời cho đất nước này. Và tôi không phản đối đâu — hãy nhớ lấy lời tôi — tôi không phản đối gì sất. Nhưng theo ý kiến của tôi thì những kẻ đang nắm quyền đầu não đất nước này mới chính là kẻ thù tệ hại hơn đối với chúng ta so với Bony cùng toàn bộ lũ lính đánh thuê người Pháp mà hắn dắt lưng theo; bởi vì với lũ lính Pháp ấy, anh có thể xiên qua một lúc nửa tá đứa cứ như thể chúng chỉ là lũ ếch nhái ấy mà.’”

“Ừm, đúng thế, đúng thế,” Martin Poyser vừa lắng nghe với vẻ mặt đầy hiểu biết và thấm thía vừa đáp lời, “chúng đời nào biết đến một miếng thịt bò nào trong suốt cuộc đời. Chắc toàn ăn rau trộn không thôi, tôi đoán thế.”

“Và tôi đã bảo với lão Mills thế này,” ông Craig tiếp tục rôm rả, “‘Anh có cố làm tôi tin rằng những kẻ ngoại kiều như bọn chúng có thể gây hại cho chúng ta một nửa so với những gì đám bộ trưởng gây ra bằng chính sách cai trị tồi tệ của họ không? Nếu vua George chịu phế truất tất cả bọn chúng và tự mình nắm quyền cai trị, ngài sẽ thấy mọi thứ đâu vào đấy ngay thôi. Ngài có thể trọng dụng lại William Pitt nếu muốn; nhưng bản thân tôi chẳng thấy chúng ta cần khỉ gì ngoài Nhà vua và Quốc hội cả. Chính cái ổ lũ bộ trưởng đó mới là kẻ gây ra bao rắc rối, tôi nói cho anh biết đấy.’”

“À, nói thì hay lắm,” bà Poyser, lúc này đang ngồi cạnh chồng với bé Totty nằm gọn trong lòng, lên tiếng cắt ngang — “nói thì hay lắm. Thật khó mà nhận ra đâu là Quỷ Đứa nếu ai ai cũng mang giày cả.”

“Còn về chuyện hòa bình này,” ông Poyser vừa nghiêng đầu sang một bên với vẻ đầy nghi vấn vừa rít một hơi tẩu phòng ngừa giữa mỗi câu nói, “tôi cũng chẳng biết thế nào nữa. Cuộc chiến này vốn là một điều tuyệt vời cho đất nước, và anh làm sao có thể duy trì giá cả nếu thiếu nó chứ? Hơn nữa, bọn Pháp đó toàn là một lũ người độc ác, theo những gì tôi có thể hiểu được. Anh còn có thể làm gì tốt hơn là đánh chúng cơ chứ?”

“Anh nói có phần đúng đấy, Poyser,” ông Craig hưởng ứng, “nhưng tôi không phản đối chuyện hòa bình — để cho mọi người có dịp nghỉ ngơi chút đỉnh. Chúng ta có thể xé bỏ nó bất cứ khi nào chúng ta muốn, và tôi chẳng có chút sợ hãi nào đối với Bony cả, dẫu thiên hạ có ca tụng sự khôn ranh của hắn ta đến đâu đi chăng nữa. Đó là những gì tôi đã nói với lão Mills sáng nay đấy. Chúa ban phước cho anh ta, hắn chẳng nhìn thấu nổi con người Bony!... chà, tôi chỉ vạch mặt cho hắn thấy trong vòng ba phút mà chẳng bằng số kiến thức hắn thu lượm từ tờ báo suốt cả năm trời. Tôi bảo hắn rằng: ‘Này Mills, tôi có phải là một người làm vườn rành nghề hay không? Trả lời tôi đi.’ ‘Đương nhiên là anh phải thế rồi, Craig,’ hắn đáp — lão Mills ấy mà, tính ra thì cũng không đến nỗi tệ đối với một quản gia, chỉ có điều đầu óc hơi kém cỏi. ‘Vậy thì,’ tôi nói tiếp, ‘anh cứ mở miệng ra là bàn về sự khôn ranh của Bony; liệu có tích sự gì không nếu tôi là một tay làm vườn hạng nhất trong khi thứ duy nhất tôi có để canh tác chỉ là một vũng bùn lầy lội?’ ‘Không,’ hắn đáp. ‘Thế đấy,’ tôi bảo, ‘đúng là y chang trường hợp của Bony vậy. Tôi không phủ nhận rằng hắn ta có thể khôn vặt một chút — hắn vốn chẳng phải là người Pháp chính gốc, theo như tôi được biết — nhưng đằng sau lưng hắn có cái quái gì ngoài đám lính đánh thuê người Pháp chứ?’”

Ông Craig dừng lại một lát với một cái nhìn trừng trừng đầy quả quyết sau màn tranh biện theo lối Socrates đắc thắng ấy, rồi bồi thêm một cú đập bàn khá mạnh bạo: “Quả thực là một chuyện chắc như đinh đóng cột — và ở đây có khối kẻ có thể làm chứng cho điều đó — rằng trong một trung đội nọ bị thiếu mất một người, người ta đã mặc bộ quân phục của lính vào một con khỉ lớn, và thế quái nào mà nó vừa vặn như chiếc vỏ óc ôm trọn hạt nhân, khiến anh chẳng thể nào phân biệt nổi con khỉ đó với lũ lính Pháp mười phân vẹn mười!”

“Ái chà! Nghĩ lại xem nào!” ông Poyser thốt lên, vừa bị ấn tượng sâu sắc bởi những khía cạnh chính trị của sự việc vừa ngạc nhiên trước vẻ kỳ thú của nó như một giai thoại lịch sử tự nhiên.

“Nào, Craig,” Adam xen vào, “cậu hơi bị quá đà rồi đấy. Cậu không đời nào tin vào chuyện đó đâu. Toàn là những lời nhảm nhí khi cho rằng người Pháp là những kẻ vô tích sự. Mục sư Irwine đã từng tận mắt chứng kiến họ ngay trên đất nước của họ, và ngài ấy bảo rằng có rất nhiều con người xuất chúng trong số họ đấy. Còn về kiến thức, phát minh và kỹ nghệ, chúng ta còn thua xa họ ở rất nhiều mặt. Thật là một sự ngu ngốc đáng thương khi cứ đi bôi nhọ kẻ thù của mình. Chẳng phải Nelson cùng những người khác sẽ chẳng có chút công trạng gì trong việc đánh bại họ, nếu như họ thực sự chỉ là thứ cặn bã như thiên hạ hay đồn đại hay sao?”

Ông Poyser đầy vẻ ngờ vực nhìn ông Craig, bối rối trước sự đối lập của những nguồn thông tin uy tín này. Lời làm chứng của mục sư Irwine là điều không thể tranh cãi; nhưng mặt khác, Craig lại là một gã thông thạo, và quan điểm của hắn ta nghe có vẻ ít gây sốc hơn. Martin chưa bao giờ “nghe đồn” về việc người Pháp có tích sự gì lớn lao. Ông Craig chẳng tìm được câu trả lời nào khác ngoài việc ngửa cổ nốc một ngụm ale dài dằng dặc rồi đăm đăm nhìn xuống tỷ lệ cân đối của chính đôi chân mình, thứ mà ông ta hơi xoãi ra ngoài để phục vụ cho mục đích đó, đúng lúc Bartle Massey bước từ phía lò sưởi trở lại — nơi ông đã ngồi hút điếu tẩu đầu tiên trong yên lặng — và phá vỡ sự tĩnh lặng bằng cách thò ngón trỏ vào hũ đựng thuốc lá và cất lời: “Này Adam, sao cậu lại dám vắng mặt ở nhà thờ vào ngày Chủ nhật hả? Trả lời ta nghe nào, đồ ranh con kia. Bài thánh ca cứ thế mà khập khiễng thiếu mất sự góp mặt của cậu đấy. Cậu có định làm nhục người thầy giáo của mình lúc ổng đã già nua thế này không hả?”

“Thưa thầy Massey, không ạ,” Adam đáp. “Ông bà Poyser có thể kể cho thầy nghe cháu đã ở đâu mà. Cháu đâu có du sơn ngoạn thủy với đám người xấu nào đâu.”

“Con bé đi rồi, Adam — nó đã đi Snowfield rồi,” ông Poyser sực nhớ ra sự vắng mặt của Dinah lần đầu tiên trong tối nay và lên tiếng. “Ta cứ ngỡ cậu sẽ khuyên nhủ con bé được chu đáo hơn cơ đấy. Chẳng có gì cản nổi nó, vậy mà nó cứ khăng khăng đòi đi từ sáng hôm qua. Nhà tôi đây vẫn chưa hoàn hồn nổi vì chuyện đó đấy. Ta cứ tưởng bà ấy sẽ chẳng còn chút tâm trí nào để tham gia bữa tối mừng gặt nữa cơ chứ.”

Bà Poyser đã nghĩ đến Dinah vài lần kể từ khi Adam bước vào, nhưng bà chẳng có nổi một chút “tâm trạng” nào để nhắc đến tin buồn đó.

“Cái gì!” Bartle thốt lên với vẻ mặt đầy ghê tởm. “Lại dính dáng đến đàn bà nữa sao? Thế thì tôi xin chào thua cậu đấy, Adam.”

“Nhưng đó lại là một người phụ nữ mà chính ông từng hết lời khen ngợi cơ mà, Bartle,” ông Poyser phản bác. “Nào, ông không thể nuốt lời được đâu; chính ông đã từng phán một câu xanh rờn rằng phụ nữ sẽ chẳng phải là một phát minh tồi tệ gì nếu tất cả bọn họ đều được như Dinah cơ mà.”

“Tôi chỉ định nói đến giọng nói của con bé thôi, trời ạ — tôi chỉ muốn nói đến giọng nói của nó, thế thôi,” Bartle phân bua. “Tôi còn có thể chịu đựng được lúc nghe nó nói chuyện mà không cần phải nhét bông tai vào lỗ tai. Còn về những chuyện khác, tôi cá là nó cũng giống y như phần còn lại của đám đàn bà — cứ nghĩ rằng hai cộng hai sẽ thành năm nếu chúng cứ gào khóc và làm mình làm mẩy đủ điều về chuyện đó.”

“Ừm, đúng thế thật!” bà Poyser đốp chát lại; “nghe thiên hạ bàn tán thì khối kẻ lại tưởng đám đàn ông thông minh sắc sảo đến mức chỉ cần ngửi qua là đếm được số hạt trong một túi lúa mì ấy chứ. Bọn họ có thể nhìn thấu qua cả vách chuồng ngựa cơ mà. Có lẽ đó chính là lý do khiến họ chẳng thể nhìn thấu nổi những chuyện ngay trước mắt mình.”

Martin Poyser rung lên vì những tràng cười khoái chí và nháy mắt với Adam, ý muốn bảo rằng lão giáo làng phen này chết chắc rồi.

“Hừ!” Bartle cười nhạt mỉa mai, “đàn bà nhanh trí lắm chứ — nhanh trí phải biết. Chúng nắm thóp được đầu đuôi câu chuyện từ trước cả khi được nghe kể, và có thể nói cho một người đàn ông biết anh ta đang nghĩ gì trước cả khi chính bản thân anh ta kịp nhận ra điều đó cơ mà.”

“Chắc là thế rồi,” bà Poyser đáp trả, “bởi vì đàn ông thường chậm chạp đến mức ý nghĩ của họ cứ chạy băng băng vượt trước cả bản thân, để rồi cuối cùng họ chỉ có thể túm lấy được cái đuôi của chúng mà thôi. Tôi có thể đan xong một vòng cổ tất trong lúc một gã đàn ông đang chuẩn bị uốn lưỡi — và khi cuối cùng hắn ta cũng phun ra được một tràng lời lẽ thì chẳng có nổi một bát nước canh tử tế nào được nấu nên hồn từ đó cả. Chính mấy con gà chết yểu mới là lũ cần thời gian ấp lâu nhất. Dẫu vậy, tôi chẳng hề chối cãi chuyện đàn bà ngốc nghếch đâu: Thượng Đế toàn năng tạo ra họ chính là để làm kẻ xứng đôi vừa lứa với đàn ông mà.”

“Xứng đôi vừa lứa cơ á!” Bartle bật cười. “Ừ, giống như giấm chua xứng đôi với bộ răng của người ta vậy. Nếu một người đàn ông vừa hé răng nói một câu, vợ anh ta sẽ đáp trả ngay bằng một lời cãi chày cãi cối; nếu anh ta thích ăn đồ nóng, vợ anh ta sẽ đối phó lại bằng món thịt xông khói nguội ngắt; nếu anh ta cười ha hả, cô ta sẽ ném lại cho anh ta những tiếng sụt sùi nức nở. Sự xứng đôi vừa lứa của họ chẳng khác gì con ruồi trâu đối với con ngựa: cô ta mang sẵn thứ nọc độc hoàn hảo để chích cho hắn một vố — thứ nọc độc hoàn hảo để chích cho hắn một vố đích đáng.”

“Đúng thế,” bà Poyser đáp, “tôi thừa biết đàn ông thích cái gì — một kẻ ngốc nghếch mềm mỏng, thứ sẽ cười khúc khích nịnh bợ họ y như bức tranh hình mặt trời, bất kể họ làm đúng hay sai, và rối rít nói cảm ơn ngay cả khi bị ăn một cú đá, rồi ra vẻ ngây ngô không biết đầu mình hướng đi đâu cho đến khi được chồng bảo cho biết. Đó chính là những gì một người đàn ông chủ yếu mong mỏi ở một người vợ; anh ta muốn chắc chắn có được một đứa ngốc chuyên đi ca tụng sự khôn ngoan của mình. Nhưng dẫu sao vẫn có những gã đàn ông sống nổi mà chẳng cần đến thứ đó — bởi bản thân họ vốn đã tự mãn lắm rồi. Và đó chính là lý do tại sao trên đời này lại sinh ra mấy gã bợm già độc thân đấy.”

“Nào, Craig,” ông Poyser cười trêu chọc, “cậu mau chóng kiếm vợ đi thôi, kẻo lại bị gắn mác bợm già độc thân bây giờ; và cậu thấy đấy lũ đàn bà sẽ nghĩ gì về cậu cơ chứ.”

“Thì,” ông Craig lên tiếng, tỏ ý muốn giảng hòa với bà Poyser đồng thời đánh giá rất cao những lời khen ngợi của chính mình, “tôi vốn thích một người phụ nữ tháo vát — một người phụ nữ có khí chất — một người đàn bà biết cách xoay sở việc nhà.”

“Cậu lầm to rồi đấy, Craig,” Bartle khô khan ngắt lời; “cậu lầm to rồi. Cậu chọn rau củ trong vườn theo một tiêu chuẩn khôn ngoan hơn thế nhiều cơ mà. Cậu chọn chúng dựa trên những điểm mạnh vượt trội nhất của chúng — dựa trên những thế mạnh của chúng. Cậu đâu có đánh giá đậu Hà Lan qua phần rễ, hay củ cà rốt qua phần hoa của chúng đâu cơ chứ. Và đó mới chính là cách cậu nên áp dụng để chọn vợ. Sự tháo vát của họ đời nào vươn tới được đỉnh cao — chẳng bao giờ vươn tới được đâu — nhưng bù lại họ tạo ra những kẻ ngốc tuyệt hảo, chín muồi và đậm đà hương vị.”

“Cậu thấy thế nào hả?” ông Poyser ngả người ra sau, ném một cái nhìn vui vẻ về phía vợ mình.

“Thế nào ư!” bà Poyser đáp trả, ánh lên ngọn lửa nguy hiểm trong đôi mắt. “Thì, tôi xin nói rằng lưỡi của một số kẻ cứ lải nhải không ngừng nghỉ như mấy chiếc đồng hồ cứ điểm chuông liên hồi, chẳng phải để cho người ta biết bây giờ là mấy giờ, mà bởi vì có cái quái gì đó hỏng hóc ở ngay bên trong ruột gan bọn họ ấy mà...”

Bà Poyser có lẽ đã đẩy lời phản pháo của mình lên một cao trào mới, nếu như sự chú ý của mọi người không bị kéo lệch về phía đầu bên kia của chiếc bàn ngay lúc ấy, nơi mà âm hưởng trữ tình — ban đầu chỉ bộc lộ qua màn đồng ca khẽ khàng của David với bài “Người tình ta là đóa hồng không gai” — nay đã dần mang một sắc thái phức tạp và đinh tai nhức óc hơn hẳn. Tim, vốn chẳng coi trọng mấy khả năng ca hát của David, bị kích thích đến mức muốn lấn lướt cái thứ tiếng vo ve yếu ớt đó bằng màn cất giọng đầy hào hứng với bài “Ba chàng thợ gặt vui tính”, nhưng David nào có dễ dàng chịu thua kém, thế là cậu ta liền trổ tài trình diễn một đoạn crescendo hoành tráng khiến người ta bắt đầu hoài nghi liệu bông hồng có lấn lướt nổi những gã thợ gặt hay không, thì lão Kester, với một vẻ mặt hoàn toàn dửng dưng và bất động, đột ngột cất lên một giọng cao vút run rẩy — tựa như thể ông ta là một chiếc chuông báo thức, và đã đến giờ để khởi động.

Những con người ngồi ở khu vực bàn của Alick đón nhận hình thức giải trí ca hát này hoàn toàn như một lẽ tự nhiên, bởi họ vốn chẳng bị vướng bận bởi những định kiến âm nhạc nào; nhưng Bartle Massey thì đã đặt tẩu thuốc xuống và lấy hai ngón tay nhét chặt vào lỗ tai; còn Adam, người đã nóng lòng muốn ra đi từ khoảnh khắc nghe tin Dinah không có mặt trong nhà, liền đứng phắt dậy và thông báo rằng mình phải cáo từ.

“Ta đi cùng cậu, anh bạn trẻ,” Bartle nói; “ta đi trước khi đôi tai này bị xé toạc ra mất.”

“Nếu thầy thích, cháu sẽ đi vòng qua đường Common để đưa thầy về nhà, thưa thầy Massey,” Adam đề nghị.

“Được đấy, được đấy!” Bartle hưởng ứng; “thế thì chúng ta có thể trò chuyện đôi điều với nhau. Dạo này ta chẳng tài nào tóm được cậu để trò chuyện.”

“Chà! Thật tiếc khi cậu không ngồi lại cho trọn vẹn buổi tiệc,” Martin Poyser lên tiếng tiếc nuối. “Bọn họ sẽ sớm giải tán cả thôi, vì mụ vợ tôi chẳng bao giờ cho phép họ lưu lại qua mười giờ đêm cả.”

Nhưng Adam đã kiên quyết, thế là những lời chúc ngủ ngon được cất lên, và hai người bạn cùng sải bước bước vào màn đêm lấp lánh ánh sao.

“Lại có cái con chó ngốc nghếch Vixen đang tru tréo rên rỉ vì ta ở nhà kìa,” Bartle càu nhàu. “Ta chẳng đời nào dám mang nó theo đến đây vì sợ nó sẽ bị ánh mắt của bà Poyser hớp hồn, và con chó tội nghiệp đó có lẽ sẽ phải đi khập khiễng suốt phần đời còn lại mất.”

“Cháu chẳng bao giờ cần phải đuổi Gyp về cả,” Adam vừa cười vừa nói. “Nó luôn tự động quay đầu chạy về nhà ngay khi nhận ra cháu sắp đến đây.”

“Ừ, phải rồi,” Bartle lẩm bẩm. “Một người phụ nữ khủng khiếp! — làm toàn bằng kim tiêm, toàn bằng kim tiêm không đấy. Nhưng ta vẫn gắn bó với Martin — ta sẽ luôn gắn bó với Martin. Và ơn Chúa, hắn lại thích những chiếc kim ấy chứ! Hắn chính là một chiếc gối được làm ra riêng để dành cho chúng.”

“Nhưng dẫu sao thì bác ấy cũng là một người phụ nữ vô cùng tốt bụng, bác ạ,” Adam bênh vực, “và cực kỳ trung thực rạng ngời. Bác ấy có hơi chút cáu kỉnh với lũ chó khi chúng bén mảng bước vào nhà, nhưng nếu chúng thực sự phụ thuộc vào bác ấy, bác ấy sẽ đảm bảo chúng được chăm sóc ăn uống đầy đủ. Nếu miệng bác ấy sắc bén, thì trái tim bác ấy lại vô cùng mềm mỏng: cháu đã chứng kiến điều đó qua những thời gian hoạn nạn. Bác ấy là một trong số những người phụ nữ nói được làm được và thậm chí còn làm tốt hơn lời nói.”

“Thì, thì,” Bartle đáp gọn lỏn, “ta có chê quả táo ấy bị thối lõi bên trong đâu; chỉ là nó cứ làm ê buốt cả hàm răng của ta — làm ê buốt cả hàm răng của ta mà thôi.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

3 Trong Tổng Số 4 tác phẩm của George Eliot

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.