Adam Bede

Lượt đọc: 98 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 21
Lớp Học Ban Đêm Và Người Thầy Giáo

❊ ❊ ❊

Nhà của Bartle Massey là một trong số ít những ngôi nhà nằm rải rác bên rìa một bãi đất chung, nơi bị con đường dẫn đi Treddleston cắt đôi. Adam đến đó chỉ vỏn vẹn một phần tư giờ sau khi rời trang trại Hall Farm; và khi đặt tay lên chốt cửa, anh có thể nhìn qua khung cửa sổ không rèm, thấy tám hoặc chín cái đầu đang cúi gằm trên những chiếc bàn học, được soi sáng bởi những ngọn nến mỏng manh.

Khi anh bước vào, một bài học đọc đang diễn ra và Bartle Massey chỉ khẽ gật đầu, mặc cho anh tự tìm chỗ ngồi tùy ý. Đêm nay anh không đến vì bài học, và tâm trí anh đang quá bận rộn với những chuyện riêng tư, quá ngập tràn trong hai giờ đồng hồ vừa qua bên Hetty, đến mức anh chẳng thể dùng một cuốn sách để khuây khỏa cho đến khi buổi học kết thúc; thế là anh ngồi xuống một góc và thẫn thờ nhìn ngắm xung quanh. Đó là một khung cảnh mà Adam đã chứng kiến gần như hàng tuần suốt bao năm qua; anh thuộc lòng từng đường nét hoa văn uốn lượn trên bức tranh chữ viết tay được đóng khung của Bartle Massey treo trên đầu người thầy giáo, nhằm giữ vững một lý tưởng cao cả trước mắt học trò; anh thuộc lòng gáy của tất cả các cuốn sách trên kệ chạy dọc theo bức tường quét vôi trắng phía trên những chiếc móc treo bảng con; anh biết chính xác có bao nhiêu hạt ngô đã rụng khỏi bắp ngô treo lủng lẳng trên một thanh xà nhà; từ lâu, trí tưởng tượng của anh đã cạn kiệt khi cố hình dung chùm rong biển dai như da kia trông ra sao và đã sinh trưởng thế nào trong môi trường sống tự nhiên của nó; và từ chỗ ngồi của mình, anh chẳng thể nhìn ra điều gì từ tấm bản đồ nước Anh cũ kỹ treo trên bức tường đối diện, bởi thời gian đã nhuốm cho nó một màu nâu vàng đẹp đẽ, trông tựa như một chiếc tẩu bọt biển đã được dùng lâu năm. Vồ kịch đang diễn ra cũng quen thuộc gần như khung cảnh ấy, thế nhưng thói quen vẫn chưa khiến anh trở nên dửng dưng với nó, và ngay cả trong tâm trạng chìm đắm vào bản thân lúc bấy giờ, Adam vẫn cảm thấy một chút rung động thoáng qua của tình cảm đồng loại thuở nào, khi anh nhìn những người đàn ông thô kệch đang nhọc nhằn cầm bút mực hoặc bút chì bằng đôi bàn tay chai cứng, hay khiêm nhường vật lộn với bài tập đọc của họ.

Lớp học đọc hiện đang ngồi trên chiếc ghế băng phía trước bàn làm việc của thầy giáo gồm ba học trò kém nhất lớp. Adam chỉ có thể nhận ra điều đó qua gương mặt của Bartle Massey khi ông nhìn qua cặp kính, thứ đã được đẩy lên sống mũi vì hiện tại ông chẳng cần dùng đến chúng. Gương mặt ấy mang biểu cảm hiền từ nhất: đôi mày rậm điểm bạc đã chùng xuống theo góc độ dịu dàng và đầy trắc ẩn hơn, còn đôi môi vốn thường mím lại với cái bọng ở môi dưới nay đã dãn ra, sẵn sàng thốt lên một từ hoặc một âm tiết giúp đỡ bất cứ lúc nào. Biểu cảm dịu dàng này càng trở nên thú vị hơn bởi chiếc mũi của thầy giáo – một chiếc mũi khoằm lệch lạc hơi ngoẹo sang một bên – lại mang nét gì đó khá đáng sợ; hơn thế nữa, vầng trán của ông còn hằn lên thứ căng thẳng đặc trưng luôn khiến người ta có cảm giác đó là dấu hiệu của một tính khí sắc sảo và thiếu kiên nhẫn: những mạch máu xanh nổi lên như những sợi thừng bên dưới lớp da vàng trong trẻo, và vầng trán dễ gây e dè ấy lại chẳng hề được làm dịu đi bởi bất kỳ dấu hiệu hói nào, bởi mái tóc xám cứng như lông nhím, được cắt ngắn chỉ chừng một inch, vẫn mọc dày đặc xung quanh như trước.

“Nào, Bill, nào,” Bartle cất giọng dịu dàng khi gật đầu chào Adam, “đọc lại từ đầu đi, rồi có lẽ cậu sẽ nhớ ra d-r-y đánh vần là gì. Đó chính là bài học tuần trước cậu đã đọc đấy thôi, cậu biết mà.”

“Bill” là một chàng trai vạm vỡ, tuổi hai mươi tư, một thợ cưa đá xuất sắc có thể kiếm được mức lương cao chẳng kém bất kỳ thợ nào cùng trang lứa trong nghề; thế nhưng cậu lại thấy một bài tập đọc toàn những từ đơn âm khó đối phó hơn cả khối đá cứng nhất mà cậu từng cưa. Cậu phàn nàn rằng các chữ cái quá “giống nhau đến kỳ lạ, chẳng thể phân biệt nổi chữ này với chữ kia,” bởi công việc của thợ cưa vốn chẳng liên quan gì đến những khác biệt nhỏ nhặt như giữa một chữ cái có đuôi vểnh lên và một chữ cái có đuôi quặp xuống. Nhưng Bill có quyết tâm sắt đá rằng cậu phải học đọc, xuất phát chủ yếu từ hai lý do: thứ nhất, Tom Hazelow, họ hàng của cậu, có thể đọc trôi chảy bất cứ thứ gì, dù là bản in hay chữ viết, và Tom đã gửi cho cậu một bức thư từ cách đó hai mươi dặm, kể về việc cậu ta đang làm ăn phát đạt ra sao và đã giành được một chân giám thị; thứ hai, Sam Phillips, người làm chung nghề cưa với cậu, đã học đọc khi đã qua tuổi hai mươi, và Bill cho rằng những gì một kẻ vóc dáng nhỏ bé như Sam Phillips làm được thì bản thân cậu cũng làm được, xét thấy cậu có thể giã Sam lún vào bùn nhão nếu hoàn cảnh đòi hỏi. Thế là cậu ngồi đó, chĩa ngón tay cái vào cùng lúc ba từ, và nghiêng đầu sang một bên để có thể dán mắt thật chặt vào từ duy nhất cần phải tách ra khỏi nhóm. Mức độ hiểu biết mà Bartle Massey sở hữu thực sự quá mờ hồ và to lớn khiến trí tưởng tượng của Bill phải chùn bước: cậu hầu như chẳng dám phủ nhận chuyện thầy giáo có thể góp phần mang lại sự trở lại đều đặn của ban ngày và những đổi thay của thời tiết.

Người đàn ông ngồi cạnh Bill lại thuộc một tuýp người hoàn toàn khác: đó là một thợ gạch theo phái Giám lý, sau khi đã dành ba mươi năm cuộc đời để hoàn toàn thỏa mãn với sự dốt nát của mình, thì gần đây đã “ngộ đạo,” và cùng với đó là khao khát được đọc Kinh Thánh. Nhưng với ông ta, việc học hành cũng là một gánh nặng lớn, và trên đường đến lớp tối nay, ông ta đã cẩn thận dâng lên một lời cầu nguyện đặc biệt để xin được giúp đỡ, bởi ông đã dán mắt vào nhiệm vụ gian khổ này với một tâm niệm duy nhất là nuôi dưỡng tâm hồn mình – để có thể tích lũy thật nhiều đoạn kinh và thánh ca nhằm xua đuổi những ký ức tội lỗi cùng những cám dỗ của thói quen cũ – hay nói gọn lại là con quỷ dữ. Bởi vì người thợ gạch từng khét tiếng là một kẻ săn trộm, và bị nghi ngờ – dù chẳng có bằng chứng xác thực nào chống lại ông ta – chính là kẻ đã bắn vào chân một người canh rừng hàng xóm. Dù thế nào đi nữa, chắc chắn rằng chẳng lâu sau tai nạn được nhắc tới ấy, vốn trùng hợp với sự xuất hiện của một nhà truyền giáo phái Giám lý đầy sức lay động tại Treddleston, một sự thay đổi lớn đã được nhận thấy ở người thợ gạch; và dù ông ta vẫn được người trong vùng gọi bằng biệt danh cũ là “Brimstone” (Diêm Sinh), chẳng có thứ gì khiến ông ta khiếp sợ bằng việc dính líu thêm lần nữa đến cái thứ nguyên tử bốc mùi khét lẹt đó. Ông ta là một người đàn ông ngực nở với tính khí nồng nhiệt, điều này giúp ông ta tiếp thu các tư tưởng tôn giáo dễ dàng hơn là cái tiến trình khô khan để lĩnh hội tri thức thuần túy của con người về bảng chữ cái. Thật vậy, quyết tâm của ông ta đã từng bị dao động đôi chút bởi một đạo hữu cùng phái, người đã cả quyết rằng con chữ chỉ là vật cản đường đối với Thánh Thần, đồng thời bày tỏ nỗi lo rằng Brimstone đang quá ham muốn thứ tri thức chỉ tổ làm cho kiêu ngạo.

Học trò vỡ lòng thứ ba là một gương mặt có triển vọng hơn nhiều. Đó là một người đàn ông cao nhưng gầy và gân guốc, tuổi suýt soát Brimstone, với gương mặt tái nhợt và đôi bàn tay nhuộm một màu xanh thẫm. Ông ta là một thợ nhuộm, trong quá trình nhúng len tự dệt và váy áo cũ của mấy bà già đã bị khơi dậy tham vọng tìm hiểu sâu hơn nữa về những bí ẩn kỳ lạ của màu sắc. Ông ta đã có tiếng tăm lừng lặt trong vùng về những mẻ nhuộm của mình, và đang quyết tâm tìm ra phương pháp nào đó để có thể cắt giảm chi phí cho các sắc đỏ thắm và đỏ tươi. Người bán dược phẩm ở Treddleston đã gợi ý cho ông rằng ông có thể tiết kiệm được rất nhiều công sức lẫn tiền bạc nếu học được cách đọc, và thế là ông bắt đầu dành những giờ rảnh rỗi của mình cho lớp học ban đêm, với quyết tâm rằng “thằng cu con” của ông sẽ không bỏ lỡ thời gian đến trường ban ngày của ngài Massey ngay khi nó đủ tuổi.

Thật cảm động khi chứng kiến ba người đàn ông lực lưỡng ấy, mang trên mình dấu ấn của những giọt mồ hôi lao động vất vả, đang lo lắng cúi đầu bên những cuốn sách đã mòn và nhọc nhằn đánh vần từng chữ: “Cỏ màu xanh,” “Cây gậy khô,” “Ngô đã chín” – một bài học thực sự khó nhằn khi phải chuyển sang sau những cột từ đơn giống hệt nhau chỉ khác mỗi chữ cái đầu tiên. Trông họ gần như ba con thú hoang đang nỗ lực một cách khiêm nhường để học cách trở thành con người. Và điều đó chạm đến sợi dây tình cảm mềm mại nhất trong bản tính của Bartle Massey, bởi những đứa trẻ đã lớn phổng phao như thế này chính là những học trò duy nhất mà ông không dành cho những từ ngữ cay nghiệt hay giọng điệu thiếu kiên nhẫn. Ông không được phú cho một tính cách điềm tĩnh bất biến, và vào những đêm học nhạc, hiển nhiên sự kiên nhẫn chẳng bao giờ là một đức tính dễ dàng đối với ông; thế nhưng tối nay, khi liếc nhìn qua tròng kính về phía Bill Downes, người thợ cưa đang nghiêng đầu sang một bên với nỗi hoang mang tuyệt vọng trước mấy chữ cái d-r-y, ánh mắt ông lại ánh lên vẻ dịu dàng và khích lệ nhất.

Sau lớp học đọc, hai thanh niên từ mười sáu đến mười chín tuổi bước lên mang theo những tờ hóa đơn tưởng tượng mà họ đã tập viết trên bảng con và giờ đây được yêu cầu tính nhẩm ngay lập tức – một bài kiểm tra mà họ vượt qua với kết quả đầy thiếu sót đến nỗi Bartle Massey, người đã trừng mắt nhìn họ đầy vẻ gườm gườm qua cặp kính suốt mấy phút, cuối cùng đã bùng nổ bằng một giọng chua chát và cao vút, dừng lại sau mỗi câu để đập gậy xuống sàn bằng một cây gậy có núm được đặt giữa hai chân ông.

“Giờ thì các cậu thấy đấy, các cậu làm việc này chẳng khá hơn tẹo nào so với cách đây nửa tháng, và tôi sẽ nói cho các cậu biết lý do vì sao. Các cậu muốn học tính toán – điều đó rất hay và phải phép. Nhưng các cậu lại nghĩ rằng tất cả những gì cần làm để học tính toán chỉ là đến chỗ tôi và giải mấy bài toán trong khoảng một tiếng đồng hồ, hai hoặc ba lần một tuần; và vừa mới đội mũ lên rồi bước chân ra khỏi cửa là các cậu quét sạch sành sanh mọi thứ ra khỏi đầu. Các cậu cứ huýt sáo vang dội khắp nơi, chẳng mảy quan tâm đến điều mình đang nghĩ ngợi cứ thể đầu óc các cậu là mấy cái cống rãnh để mặc mọi thứ rác rưởi trôi qua; và nếu có một ý tưởng hay ho nào lọt vào đó, thì nó cũng bị rửa trôi đi chẳng mấy chốc. Các cậu nghĩ tri thức có thể mua được với giá rẻ bèo – các cậu đến và trả cho Bartle Massey sáu xu một tuần, rồi ông ta sẽ biến các cậu thành những kẻ giỏi tính toán mà các cậu chẳng tốn chút công sức nào. Nhưng xin nói cho các cậu biết, tri thức không đời nào có được chỉ bằng việc trả sáu xu đâu. Muốn hiểu về các con số, các cậu phải nghiền ngẫm chúng trong đầu và giữ cho tư tưởng bám chặt lấy chúng. Chẳng có thứ gì trên đời mà các cậu không thể biến nó thành một bài toán, vì chẳng có thứ gì là không mang trong mình những con số – ngay cả một tên ngốc. Các cậu có thể tự nhủ rằng: ‘Ta là một tên ngốc, còn Jack là một tên ngốc khác; nếu cái đầu ngốc nghếch của ta nặng bốn cân, còn đầu của Jack nặng ba cân ba lạng ba phần tư, thì đầu ta nặng hơn đầu Jack bao nhiêu đồng cân?’ Một người đã đặt cả tâm huyết vào việc học tính toán sẽ tự đặt ra cho mình những bài toán và giải chúng ngay trong đầu. Khi ngồi làm giày, cậu ta sẽ đếm các mũi khâu của mình theo nhóm năm, rồi định giá cho từng mũi khâu, giả sử là nửa đồng farthing, sau đó tính xem mình kiếm được bao nhiêu tiền trong một giờ; rồi tự hỏi với tốc độ đó thì kiếm được bao nhiêu tiền trong một ngày; rồi mười người thợ làm việc trong ba, hai mươi, hoặc một trăm năm với tốc độ đó sẽ thu về bao nhiêu – và suốt khoảng thời gian ấy, cây kim của cậu ta vẫn cứ lướt đi nhanh hệt như thể cậu ta để trống trơn cái đầu cho quỷ dữ vào nhảy múa. Nhưng tóm lại là thế này – tôi sẽ không giữ lại bất kỳ ai trong lớp học ban đêm của tôi nếu kẻ đó không nỗ lực học những gì mình đến học, cố gắng hết sức hệt như đang tìm cách ngoi lên từ một cái hố tối thui ra nơi ánh sáng ban mai rực rỡ. Tôi sẽ không đuổi bất cứ ai đi chỉ vì họ đần độn: nếu Billy Taft, đứa khờ khạo đó, muốn học bất cứ thứ gì, tôi cũng chẳng từ chối dạy cậu ta. Nhưng tôi sẽ không vung vãi tri thức quý giá cho những kẻ nghĩ rằng họ có thể mua nó với giá sáu xu, rồi mang đi gọn lỏn như thể mua một lạng thuốc lào. Thế nên đừng bao giờ bén mảng đến đây nữa, nếu các cậu không chứng minh được rằng mình đã tự động não làm việc, thay vì cứ đinh ninh có thể trả tiền để bắt cái đầu của tôi làm việc thay các cậu. Đó là lời cuối cùng tôi muốn nói với các cậu.”

Dứt câu nói cuối cùng ấy, Bartle Massey nện một cú gậy mạnh hơn bao giờ hết vào chiếc gậy có núm, và những cậu thanh niên đang thất thểu bèn đứng dậy ra về với vẻ mặt hậm hực. May mắn thay, những học trò khác chỉ phải mang theo vở tập viết của họ, với các mức độ tiến bộ khác nhau từ nét móc đến chữ viết thường; và những nét bút thuần túy, dù có nguệch ngoạc đến đâu, cũng ít khiến Bartle bực bội hơn là tính toán sai bét nhè. Ông khắt khe hơn bình thường một chút với những chữ Z của Jacob Storey, thứ mà tội nghiệp Jacob đã viết kín cả một trang giấy, với tất cả các đỉnh chữ đều bị quay ngược hướng, cùng một nỗi hoang mang lờ mờ rằng chúng “có gì đó” không đúng. Nhưng ông đã lên tiếng bào chữa rằng đó là một chữ cái chẳng bao giờ mấy khi dùng đến, và ông nghĩ nó chỉ xuất hiện ở đó “cho đủ bộ bảng chữ cái mà thôi, mặc dù theo những gì hắn thấy thì dùng dấu và (&) cũng tốt chán.”

Cuối cùng thì tất cả học trò cũng đã đội mũ và chào “Chúc ngủ ngon,” và Adam, vốn hiểu rõ những thói quen của người thầy cũ, bèn đứng dậy và hỏi: “Con thổi nến nhé, thưa thầy Massey?”

“Ừ, con trai, ừ, thổi hết đi, chừa lại ngọn này để thầy mang vào nhà; sẵn tiện khóa luôn cửa ngoài lại nhé, dù gì con cũng đang đứng gần đó mà,” Bartle nói, vừa xoay chiếc gậy vào đúng góc để nó hỗ trợ ông bước xuống ghế đẩu. Vừa chạm chân xuống đất là người ta thấy ngay lý do vì sao chiếc gậy lại cần thiết đến vậy – chân trái của ông ngắn hơn chân phải rất nhiều. Thế nhưng vị thầy giáo lại tỏ ra vô cùng nhanh nhẹn với cái chân thọt của mình đến mức người ta hầu như chẳng xem đó là một sự bất hạnh; và nếu bạn từng chứng kiến ông băng qua sàn lớp học rồi bước lên bậc thềm vào nhà bếp, có lẽ bạn sẽ hiểu vì sao những đứa học trò nghịch ngợm đôi khi có cảm giác rằng tốc độ của ông có thể được gia tăng vô thời hạn và rằng ông cùng cây gậy của mình hoàn toàn có thể bắt kịp chúng ngay cả trong những cú chạy nhanh nhất.

Khoảnh khắc ông xuất hiện ở cửa nhà bếp với cây nến trên tay, một tiếng rên rỉ khe khéo vang lên từ góc sưởi, và một con chó cái lông màu nâu pha vàng, thuộc giống chó khôn ngoan có chân ngắn thân dài mà thế hệ chưa am hiểu về máy móc thường gọi là chó quay thịt, lủi thủi bò dọc theo sàn nhà, ve vẩy cái đuôi và ngập ngừng sau mỗi bước đi, như thể tình cảm của nó đang bị xé đôi một cách đau đớn giữa chiếc giỏ ở góc sưởi và người chủ mà nó không thể rời đi mà không cúi chào.

“Nào Vixen, thế nào rồi, mấy đứa nhỏ ra sao rồi?” thầy giáo vừa cất lời vừa vội vã tiến về phía góc sưởi, giơ cao ngọn nến soi vào chiếc giỏ thấp, nơi hai chú chó con mù tịt đang ngẩng đầu hướng về phía ánh sáng từ ổ lót vải nỉ và len. Vixen thậm chí không thể nhìn chủ nhân ngắm nhìn chúng mà không bị kích động đến đau thắt: nó nhảy tót vào giỏ rồi lại nhảy ra ngay khoảnh khắc tiếp theo, cư xử đúng với sự ngớ ngẩn của giống cái, dẫu cho trông nó lúc nào cũng khôn ngoan hệt như một tên lùn với cái đầu to kiểu cổ cùng thân hình trên những chiếc chân ngắn ngủn.

“Ồ, thầy có một bầy con rồi cơ à, thưa thầy Massey?” Adam mỉm cười nói khi bước vào nhà bếp. “Sao lại thế được nhỉ? Con tưởng ở đây luật cấm nuôi mà.”

“Luật lệ à? Luật lệ có tích sự gì khi một tên đàn ông đã dại dột rước đàn bà vào nhà cơ chứ?” Bartle vừa nói vừa quay phắt đi khỏi chiếc giỏ với chút ít cay đắng. Ông luôn gọi Vixen là đàn bà, và dường như đã hoàn toàn quên bén mất việc mình đang dùng một phép ẩn dụ. “Biết thế Vixen là đàn bà, tôi đã chẳng ngăn lũ trẻ dìm chết nó rồi; nhưng khi đã cầm nó trong tay, tôi đành phải chịu trách nhiệm. Và giờ thì cậu thấy đấy nó đẩy tôi đến nông nỗi nào rồi đấy – cái con mụ ranh xảo và giả tạo này” – Bartle nói những từ cuối bằng một giọng trách móc rít qua kẽ răng, và nhìn Vixen, con chó cúi gằm đầu ngước đôi mắt lên nhìn ông đầy vẻ tội lỗi – “lại còn bày đặt đẻ đái đúng vào ngày Chủ nhật lúc giờ đi lễ. Đã bao nhiêu lần tôi ước mình là một kẻ máu lạnh, để có thể bóp cổ cả con mẹ lẫn lũ ranh con ấy bằng đúng một sợi dây.”

“Con rất mừng vì không phải vì lý do tồi tệ nào khác mà thầy bỏ buổi lễ nhà thờ,” Adam nói. “Con đã sợ rằng có khi thầy bị ốm lần đầu tiên trong đời. Và con đặc biệt tiếc vì hôm qua không có thầy ở nhà thờ.”

“À, con trai ạ, ta biết lý do, ta biết chứ,” Bartle ân cần nói, tiến đến chỗ Adam và giơ tay chạm vào bờ vai vốn đã gần ngang bằng với đầu ông. “Con đã phải trải qua một đoạn đường gập ghềnh kể từ lần cuối ta gặp con – một đoạn đường gập ghềnh. Nhưng ta hy vọng những ngày tươi sáng hơn đang chờ đón con. Ta có vài tin tức muốn kể cho con nghe. Nhưng trước tiên ta phải kiếm gì ăn đã, vì ta đói lắm, đói lắm rồi. Ngồi xuống đi, ngồi xuống nào.”

Bartle bước vào phòng chạn nhỏ của mình, mang ra một ổ bánh mì nướng lò tại nhà tuyệt ngon; bởi sự xa hoa duy nhất của ông trong thời buổi đắt đỏ này là ăn bánh mì một lần một ngày thay vì bánh mì dẹt làm từ yến mạch; và ông biện minh cho điều đó bằng cách nhận định rằng thứ mà một ông giáo cần là bộ não, trong khi bánh mì yến mạch chỉ sinh ra xương nhiều hơn não. Tiếp theo là một miếng phô mai và một vại bia lớn sủi bọt trắng xóa trên miệng. Ông đặt tất cả lên chiếc bàn tròn bằng gỗ thông đặt sát chiếc ghế bành lớn của ông ở góc sưởi, với chiếc giỏ của Vixen ở một bên và kệ cửa sổ chất đống vài cuốn sách ở bên kia. Chiếc tạp dề sạch sẽ hệt như thể Vixen là một bà nội trợ tài giỏi; sàn nhà lát đá cũng thế; và chiếc tủ đựng đồ bằng gỗ sồi chạm trổ cổ kính, thứ mà vào thời đại này có thể được mua với giá cao ngất ngưởng ở các dinh thự quý tộc, dẫu cho vào cái thời kỳ của những chiếc chân nhện và hình thần vệ nữ chạm khảm, Bartle chỉ mua được nó với giá rẻ như cho, nay sạch bóng bụi bẩn hệt như mọi vật vào cuối một ngày mùa hè.

“Nào, con trai, kéo ghế vào đây. Chúng ta sẽ không bàn chuyện làm ăn cho đến khi ăn xong đã. Chẳng ai có thể khôn ngoan nổi khi bụng đói meo cả. Nhưng,” Bartle nói, lại đứng phắt dậy khỏi ghế, “ta cũng phải cho Vixen ăn đã, cái con quỷ sứ này! Dù rằng nó ăn vào cũng chỉ để nuôi mấy cái bọn nhãi rnh không cần thiết ấy. Thói đời của đám đàn bà là thế đấy – chúng chẳng có bộ não nào để mà nuôi dưỡng, thế nên mọi thứ thức ăn đều đổ dồn vào mỡ hoặc vào đám con đàn cháu đống.”

Ông mang từ phòng chạn ra một đĩa đồ ăn thừa, thứ mà Vixen lập tức dán mắt vào và nhảy tót khỏi giỏ để hốc sạch với tốc độ nhanh nhất có thể.

“Con ăn tối rồi, thưa thầy Massey,” Adam nói, “nên con sẽ ngồi nhìn thầy ăn vậy. Con vừa ở trang trại Hall Farm về, và như thầy biết đấy, họ luôn ăn tối sớm; họ đâu có thức khuya như thầy.”

“Ta ít khi để ý giờ giấc của họ lắm,” Bartle đáp một cách khô khan, vừa cắt bánh mì mà chẳng hề chê bai phần vỏ cứng. “Đó là cái nhà mà ta hiếm khi bước chân vào, dù ta rất quý lũ trẻ, và Martin Poyser là một gã tốt tính. Có quá nhiều đàn bà trong cái nhà đó đối với ta; ta căm ghét âm thanh của giọng đàn bà; chúng lúc nào cũng cứ vo ve hoặc éc éc – lúc nào cũng vo ve hoặc éc éc. Bà Poyser lúc nào cũng chĩa mũi nhọn vào cuộc trò chuyện giống như một cây sáo piccolo; còn mấy cô ả trẻ tuổi thì tớ thà nhìn mấy con bọ nước còn hơn. Ta biết sau này chúng sẽ biến thành thứ gì – mấy con muỗi đốt, mấy con muỗi đốt. Nào, uống ngụm bia đi con: người ta rót sẵn cho con đấy – rót sẵn cho con rồi đấy.”

“Thôi thưa thầy Massey,” Adam nói, người tối nay có phần để tâm đến những cơn cộc cằn của người thầy cũ hơn mọi khi, “xin đừng quá cay nghiệt với những sinh linh mà Thượng đế đã tạo ra để làm bạn với chúng ta. Một người lao động sẽ cực khổ biết bao nếu không có vợ lo cho nhà cửa và cơm nước, dọn dẹp mọi thứ sạch sẽ và ngăn nắp.”

“Lãng nhách! Đó là lời nói dối ngớ ngẩn nhất mà một người khôn ngoan như cậu từng tin tưởng khi cho rằng đàn bà làm cho nhà cửa ngăn nắp. Đó là câu chuyện bịa đặt cốt vì mấy người đàn bà cứ ở ì đấy và người ta buộc phải tìm việc gì đó cho họ làm. Ta nói cho cậu hay, chẳng có một việc gì dưới ánh mặt trời cần phải làm mà đàn ông lại không làm tốt hơn phụ nữ, ngoại trừ việc sinh con đẻ cái, và họ cũng chỉ làm việc đó theo một cách tồi tệ, tạm bợ; đáng lẽ việc đó nên để cho đàn ông làm – đáng lẽ nên để cho đàn ông làm thì hơn. Ta nói cho cậu hay, một người đàn bà có thể nướng cho cậu một chiếc bánh nướng mỗi tuần trong suốt cuộc đời mà chẳng bao giờ thèm để ý rằng lò càng nóng thì thời gian nướng càng ngắn. Ta nói cho cậu hay, một người đàn bà có thể nấu cháo cho cậu mỗi ngày suốt hai mươi năm mà chẳng hề nghĩ đến việc đong đếm tỷ lệ giữa bột và sữa – mụ ta sẽ nghĩ bớt một chút hay nhiều hơn một chút chẳng có nghĩa lý gì. Bát cháo thỉnh thoảng sẽ dở chứng: nếu nó hỏng, chắc chắn là do bột có vấn đề, hoặc do sữa có vấn đề, hoặc do nước có vấn đề. Nhìn ta đây này! Ta tự làm bánh mì lấy, và chẳng có chút khác biệt nào giữa mẻ này với mẻ khác từ đầu năm cho đến cuối năm; nhưng nếu trong nhà ta có thêm bất kỳ người đàn bà nào khác ngoài con Vixen, chắc ta phải cầu xin Chúa ban cho sự kiên nhẫn mỗi lần nướng bánh nếu chẳng may bánh bị đặc quánh. Còn về độ sạch sẽ, nhà ta sạch hơn bất kỳ ngôi nhà nào trên bãi đất chung, dẫu cho một nửa số nhà ở đó nhung nhúc đàn bà. Thằng bé nhà Will Baker đến giúp ta vào buổi sáng, và chúng ta dọn dẹp sạch sẽ chỉ trong một tiếng đồng hồ mà chẳng cần ồn ào gì sất, bằng một nửa thời gian mà một người đàn bà làm, thế mà suốt buổi mụ ta cứ xối những xô nước suýt ngập mắt cá chân cậu, rồi để cái chắn lò sủi và đụng cụ sưởi lốc nhốc giữa nhà suốt nửa ngày để cậu vấp phải mà gãy cả ống chân. Đừng có nói với ta chuyện Chúa tạo ra những sinh linh như thế để làm bạn với chúng ta! Ta không phủ nhận Ngài có thể tạo ra Eva để làm bạn với Adam ở Vườn Địa Đàng – ở đó chẳng có việc nấu nướng nào bị hỏng, và cũng chẳng có người đàn bà nào khác để mà lải nhải gây chuyện thị phi, dẫu cho cậu thấy đấy, mụ ta đã gây ra biết bao rắc rối ngay khi có cơ hội. Nhưng đó là một quan điểm bất kính và trái với kinh thánh khi cho rằng đàn bà ngày nay là một phước lành đối với đàn ông; cậu cũng có thể nói rằng rắn lục, ong bắp cày, cáo và dã thú là phước lành vậy, trong khi chúng chỉ là những tai ương thuộc về cõi thử thách này, mà con người được phép tránh xa chừng nào hay chừng ấy trong cuộc đời này, với hy vọng rũ bỏ được chúng vĩnh viễn ở một thế giới khác – với hy vọng rũ bỏ được chúng vĩnh viễn ở một thế giới khác.”

Bartle trở nên kích động và tức giận đến mức trong bài diễn văn của mình, ông đã quên bẵng cả bữa tối, và chỉ dùng con dao để gõ mạnh phần cán xuống bàn. Nhưng về cuối, những nhịp gõ trở nên dồn dập và sắc bén hơn, còn giọng nói thì gắt gỏng hơn, khiến Vixen cảm thấy nó có trách nhiệm phải nhảy ra khỏi giỏ và sủa vu vơ vài tiếng.

“Im nào, Vixen!” Bartle gầm gừ, quay phắt lại quát nó. “Mày cũng y như mấy người đàn bà khác – lúc nào cũng chõ mõm vào trước khi biết đầu đuôi ra sao.”

Vixen lủi thủi quay lại chiếc giỏ trong nỗi tủi nhục, và chủ nhân của nó tiếp tục bữa tối trong sự im lặng mà Adam không muốn ngắt lời; anh biết ông già sẽ có tâm trạng tốt hơn khi đã ăn xong và châm tẩu thuốc. Adam đã quen nghe ông nói những điều kiểu này, nhưng chưa bao giờ biết rõ quá khứ của Bartle để hiểu xem liệu quan điểm của ông về sự thoải mái trong hôn nhân có được đúc rút từ trải nghiệm thực tế hay không. Về điểm đó, Bartle hoàn toàn kín tiếng, và thậm chí việc ông từng sống ở đâu trước khoảng thời gian hai mươi năm đến định cư ở đây để làm người thầy giáo duy nhất – thật may mắn cho nông dân và thợ thủ công vùng này – cũng là một bí mật. Nếu có ai vô tình đặt câu hỏi về chủ đề này, Bartle sẽ luôn đáp gọn lỏn: “Ồ, tôi đã đi qua nhiều nơi – tôi từng ở miền Nam rất lâu,” và người dân vùng Loamshire thà đi hỏi về một thị trấn hay ngôi làng cụ thể nào đó ở châu Phi còn hơn là hỏi về “miền Nam.”

“Nào con trai,” cuối cùng Bartle cũng lên tiếng sau khi rót vại bia thứ hai và châm tẩu thuốc, “giờ thì chúng ta trò chuyện một lát nhé. Nhưng trước tiên hãy nói cho ta hay, hôm nay con có nghe ngóng được tin tức gì đặc biệt không?”

“Dạ không,” Adam đáp, “hình như là không có ạ.”

“À, họ sẽ giấu kỹ lắm cho mà xem, ta dám cá thế. Nhưng ta tình cờ phát hiện ra; và đó là tin tức có liên quan đến con đấy, Adam ạ, nếu không thì ta chẳng khác nào kẻ chẳng phân biệt nổi diện tích bề mặt với thể tích khối.”

Đến đây, Bartle phì phèo những hơi thuốc dữ dội và dồn dập, trong khi vẫn đăm đăm nhìn Adam. Một kẻ thiếu kiên nhẫn và hay huyên thuyên chẳng bao giờ biết cách giữ cho tẩu thuốc cháy đều bằng những hơi hút dịu dàng có chừng mực; hắn luôn để tẩu suýt tắt ngúm, rồi sau đó lại trừng phạt nó vì sự lơ đễnh ấy. Cuối cùng ông nói: “Satchell bị tai biến mạch máu não rồi. Ta biết chuyện này từ đứa bé mà họ phái đi Treddleston mời bác sĩ trước bảy giờ sáng nay. Hắn ta đã hơn sáu mươi tuổi rồi còn gì; liệu có qua khỏi được hay không còn phải xem xét.”

“Ồ,” Adam nói, “con dám cá là người trong giáo xứ sẽ mừng nhiều hơn buồn khi lão ta ngã bệnh. Lão ta là một kẻ ích kỷ, chuyên đi máy lẻo và gây chuyện thị phi; nhưng suy cho cùng, người mà lão ta gây hại nhiều nhất lại chính là cụ đại địa chủ. Dù rằng chính cụ đại địa chủ mới là kẻ đáng trách – khi giao phó cho một tên ngốc nghếch thứ công việc làm-tất-cả như thế, chỉ để tiết kiệm chi phí thuê một quản gia tử tế lo bề gia thất. Và con dám cá là việc quản lý rừng bát nháo của lão ta đã khiến ngài ấy mất số tiền còn lớn hơn cả chi phí thuê hai người quản gia ấy chứ. Nếu lão ta đã phải nằm một chỗ, thì hy vọng lão sẽ nhường chỗ cho một người tử tế hơn, nhưng con chẳng thấy việc đó có liên quan hay làm thay đổi gì đến mình cả.”

“Nhưng ta thì thấy, ta thấy rõ đằng khác,” Bartle nói, “và nhiều kẻ khác ngoài ta cũng thấy. Đại úy sắp đến tuổi thành niên rồi – con thừa biết chuyện đó cũng rõ như ta vậy – và người ta kỳ vọng cậu ấy sẽ có tiếng nói nhiều hơn trong mọi việc. Hơn nữa, ta biết và con cũng rõ, nguyện vọng của viên đại úy về khu rừng sẽ ra sao nếu có cơ hội thuận lợi để thay đổi. Cậu ấy đã nói cho rất nhiều người nghe rằng cậu ấy sẽ cất nhắc con lên làm quản lý khu rừng ngay ngày mai nếu cậu ấy có quyền lực. Chính Carroll, quản gia của mục sư Irwine, đã nghe cậu ấy nói điều đó với ngài mục sư cách đây chưa lâu. Carroll đã ghé qua khi chúng ta đang hút tẩu vào tối thứ Bảy ở quán Casson, và hắn kể cho chúng ta nghe chuyện đó; và hễ có ai nói tốt cho con, ngài mục sư sẵn sàng đứng ra hậu thuẫn, ta dám bảo đảm như vậy. Chuyện đó đã được bàn tán xôn xao ở quán Casson rồi đấy con ạ, và hết người này đến kẻ khác đều ném đá giấu tay châm chọc con; bởi nếu lũ lừa mà tập cất tiếng hát, con hoàn toàn có thể đoán chắc giai điệu sẽ ra sao rồi đấy.”

“Ồ, thế họ bàn tán chuyện đó trước mặt ông Burge à?” Adam hỏi; “hay là hôm thứ Bảy ông ấy không có ở đó?”

“À, ông ta đi về trước khi Carroll tới; và Casson – gã đó lúc nào cũng thích dạy đời kẻ khác mà – khăng khăng cho rằng Burge mới là người thích hợp để quản lý khu rừng. ‘Một người có máu mặt,’ hắn ta nói thế, ‘với ngót nghét sáu mươi năm kinh nghiệm về gỗ lạt: Adam Bede làm việc dưới quyền lão ta thì được, chứ đời nào đại địa chủ lại đi bổ nhiệm một tên choai choai như Adam, trong khi ngay bên cạnh có bao nhiêu bậc trưởng bối lão luyện hơn!’ Nhưng ta đã bẻ lại rằng: ‘Đó là một ý kiến hay ho thật đấy, Casson nhỉ. Này nhé, Burge là kẻ chuyên đi mua gỗ; thế cậu có dám giao khu rừng vào tay hắn để hắn tự mặc cả mua bán không? Chẳng lẽ cậu thả cho khách hàng tự ghi sổ tiền rượu của họ hay sao? Còn về tuổi tác, giá trị của nó phụ thuộc vào chất lượng của thứ rượu đó. Ai cũng thừa biết ai mới là xương sống trong công việc làm ăn của Jonathan Burge.’”

“Con rất cảm ơn lời khen ngợi của thầy, thưa thầy Massey,” Adam nói. “Nhưng dẫu vậy, lần này Casson lại nói đúng một phần. Chẳng có mấy hy vọng rằng cụ đại địa chủ sẽ đồng ý thuê múa con đâu. Con đã làm ô ấy mồi lòng từ khoảng hai năm trước, và ngài chưa bao giờ tha thứ cho con cả.”

“Ồ, sao lại thế nhỉ? Con chưa bao giờ kể cho ta nghe chuyện đó,” Bartle nói.

“À, chỉ là một chuyện vặt vãnh thôi ạ. Con đã làm một cái khung bình phong cho cô Lyddy – cô ấy lúc nào cũng hì hục thêu thùa len dạ mà thầy biết đấy – và cô ấy đã dặn dò con rất kỹ về cái bình phong này, chúng con đã bàn bạc và đo đạc nhiều đến mức cứ như đang chuẩn bị dựng nhà vậy. Dù sao đi nữa, đó là một tác phẩm khá đẹp và con rất thích làm nó cho cô ấy. Nhưng thầy biết đấy, mấy thứ tỉ mỉ lặt vặt đó tốn rất nhiều thời gian. Con chỉ tranh thủ làm nó ngoài giờ làm việc – thường là vào tận đêm khuya; và con đã phải chạy đi chạy lại Treddleston không biết bao nhiêu bận chỉ vì mấy chiếc đinh đồng nhỏ xíu cùng mầy thứ linh tinh ấy; con đã tiện mấy cái núm nhỏ, mấy cái chân bàn, rồi chạm trổ phần hoa văn thoáng theo đúng mẫu, đẹp hết chỗ chê. Và con cực kỳ ưng ý khi nó hoàn thành. Khi con mang nó đến nhà, cô Lyddy đã sai người gọi con vào phòng khách để cô hướng dẫn con cách đính phần thêu lên – đó là một tác phẩm thêu thùa rất tinh xảo, hình ảnh Jacob và Rachel đang hôn nhau giữa bầy cừu, trông y như một bức tranh – và cụ đại địa chủ đang ngồi đó, vì ngài hầu như lúc nào cũng ngồi với cô ấy. À, cô ấy cực kỳ hài lòng với chiếc bình phong, rồi cô muốn biết con lấy tiền công bao nhiêu. Con không nói bừa đâu – thầy biết đó không phải tính cách của con; con đã tính toán khá kỹ lưỡng dẫu chưa lập hóa đơn, và con nói: ‘Một bảng mười ba xu.’ Đó là tiền mua vật liệu và tiền công của con, nhưng hoàn toàn không quá đáng cho công sức của con. Cụ đại địa chủ ngẩng đầu lên nghe, liếc nhìn cái bình phong theo cách của cụ, rồi phán: ‘Một bảng mười ba xu cho cái đồ dở hơi thế này á! Lydia con gái ta, nếu con cứ phải vung tiền cho mấy thứ vớ vẩn này, sao không ra Rosseter mà mua, thay vì trả gấp đôi cho cái thứ tay nghề thô kệch ở đây? Mấy thứ đó không phải việc dành cho một thợ mộc như Adam. Đưa cho hắn một đồng guinea là đủ, không hơn không kém.’ Chà, cô Lyddy chắc là tin lời cụ, với lại cô ấy cũng không mấy hào phóng khi móc hầu bao – bản chất cô ấy không phải người xấu, nhưng từ bé đã bị cụ kìm kẹp; thế là cô ấy bắt đầu ngập ngừng lục ví, mặt đỏ lựng lên như dải ruy băng. Nhưng con cúi đầu chào và thưa rằng: ‘Dâng thưa cô, không ạ; xin phép được biếu cô chiếc bình phong này vậy. Con đã tính giá tiêu chuẩn cho công sức của mình, và con biết nó được làm rất chỉn chu; con cũng biết, xin mạn phép tha lỗi cho tiểu vương, là cô không thể mua được một chiếc bình phong như thế ở Rosseter với giá dưới hai đồng guinea. Con sẵn lòng tặng cô sản phẩm này – con làm nó trong thời gian rảnh rỗi của mình và chẳng ai có quyền can thiệp ngoài con; nhưng nếu đã nhận tiền công, con không thể lấy thấp hơn số tiền con đã đòi, bởi làm thế chẳng khác nào tự nhận mình đã hô giá quá cao. Xin phép cô, con xin chào cô buổi sáng.’ Con cúi chào và chuồn ra ngoài trước khi cô ấy kịp nói thêm câu nào, vì cô ấy đứng cầm ví trên tay, trông ngơ ngác chẳng khác gì kẻ khờ. Con không hề có ý vô lễ, và con đã nói lịch sự nhất có thể; nhưng con không thể nhượng bộ bất cứ ai, nếu họ muốn bịu biệm rằng con đang cố chèn ép họ. Đến chiều tối, người hầu mang cho con đúng một bảng mười ba xu được gói trong giấy. Nhưng kể từ dạo đó, con nhận thấy khá rõ là cụ đại địa chủ căm ghét con ra mặt.”

“Khả năng cao là thế, rất có khả năng,” Bartle trầm ngâm nói. “Cách duy nhất để khiến ngài ấy thay đổi thái độ là chỉ cho ngài thấy đâu là lợi ích thiết thực của bản thân, và điều đó thì viên đại úy có thể làm được – viên đại úy hoàn toàn có thể làm được.”

“Dạ, con không biết nữa,” Adam nói; “cụ đại địa chủ rất ranh ma nhưng để nhận ra điều gì mang lại lợi ích cho bản thân về lâu về dài thì cần phải có những thứ khác chứ không chỉ sự khôn vặt. Cả một chút lương tâm và niềm tin vào đúng sai nữa, con thấy điều đó khá rõ. Thầy khó lòng mà thuyết phục được cụ đại địa chủ tin rằng đi đường hoàng sẽ kiếm được nhiều lợi ích chẳng kém gì mấy trò mưu mẹo lắt léo. Hơn nữa, con cũng không mặn mà lắm với việc làm việc dưới quyền ngài: con không muốn gây gổ với bất kỳ vị quý tộc nào, đặc biệt là một ông lão đã qua tuổi tám mươi, và con biết chúng ta chẳng thể hợp nhau lâu dài. Nếu đại úy là chủ nhân thực sự của dinh cơ này thì lại là chuyện khác: cậu ấy có lương tâm và ý chí làm điều đúng đắn, và con thà làm việc cho cậu ấy còn hơn bất kỳ ai trên đời này.”

“Thôi nào con trai, nếu vận may gõ cửa nhà con, đừng có thò đầu ra cửa sổ mà xua đuổi nó đi nơi khác, thế thôi. Con phải học cách đối phó với cả số chẵn lẫn số lẻ trong cuộc đời, hệt như trong tính toán vậy. Ta bảo con thế này, hệt như mười năm trước khi con đấm cho thằng Mike Holdsworth một trận tơi bời vì nó dám dùng đồng xu giả tiêu xài trước khi con kịp tìm hiểu xem nó đùa hay thật – con quá bồng bột và cao ngạo, lại hay nhe răng bấu víu vào những kẻ không chịu sống theo khuôn phép của con. Ta có hơi nóng nảy và cứng đầu cũng chẳng sao – ta chỉ là một lão giáo làng, và chẳng bao giờ muốn trèo lên cái sào cao hơn nữa. Nhưng ngần ấy thời gian ta dạy con viết lách, vẽ bản đồ và đo đạc có ích gì, nếu con không chịu tiến thủ trong thế giới này và cho người ta thấy rằng việc có một cái đầu trên cổ tốt hơn hẳn một củ cải là có lợi thế nhường nào? Lại định tiếp tục bĩu môi trước mọi cơ hội chỉ vì nó thoang thoảng chút mùi mà chẳng ai ngửi thấy ngoài con đấy phỏng? Ngu ngốc hệt như cái ý nghĩ của con rằng một người vợ sẽ mang lại sự thoải mái cho người lao động vậy. Toàn những chuyện vớ vẩn nhảm nhí! Toàn chuyện nhảm nhí! Hãy để mặc những thứ đó cho mấy kẻ ngốc chưa bao giờ học vượt qua nổi phép cộng đơn giản. Cộng đơn giản tột cùng! Cộng một thằng ngốc với một thằng ngốc khác, rồi sáu năm sau lại thêm sáu thằng ngốc nữa – chúng đều cùng một phường một hạng, lớn hay nhỏ chẳng ảnh hưởng gì đến phép tính!”

Trong suốt bài tràng giang đại hải đầy vẻ hào hứng nhằm khuyên nhủ sự điềm tĩnh và thận trọng ấy, ngọn tẩu đã tắt ngúm, và Bartle kết thúc bài diễn văn của mình bằng cách quẹt diêm nổi lửa một cách giận dữ, sau đó phì phèo rít thuốc với vẻ kiên quyết hằn học, ánh mắt vẫn dán chặt vào Adam – người đang cố kìm nén không bật cười.

“Những điều thầy vừa nói có rất nhiều lý lẽ, thưa thầy Massey,” Adam bắt đầu lên tiếng ngay khi cảm thấy mình đã nghiêm túc trở lại, “như mọi khi vậy. Nhưng thầy cũng phải thừa nhận rằng việc xây mộng trên những cơ hội chưa chắc đã xảy ra vốn không phải việc của con. Điều con phải làm là làm việc tốt nhất có thể bằng những công cụ và vật liệu đang nằm trong tay. Nếu một cơ hội tốt thực sự đến với con, con sẽ suy nghĩ về những gì thầy vừa dạy; nhưng cho đến lúc đó, con chẳng có việc gì khác ngoài việc đặt trọn niềm tin vào đôi tay và khối óc của chính mình. Con đang nung nấu một kế hoạch nhỏ để em Seth và con tự mở xưởng đóng đồ mộc riêng, và kiếm thêm một hoặc hai đồng từ cách đó. Nhưng trời cũng đã muộn rồi – suýt soát mười một giờ con mới về đến nhà, và có lẽ Mẹ vẫn chưa ngủ; dạo này bà hay trằn trọc hơn bình thường. Thế nên con xin phép chúc thầy ngủ ngon.”

“Được rồi, được rồi, chúng ta sẽ tiễn con ra cổng – đêm nay trăng thanh gió mát lắm,” Bartle nói, với lấy cây gậy. Vixen lập tức đứng phật dậy, và chẳng cần nói thêm lời nào, cả ba bước ra ngoài khoảng không ngập ánh sao, đi dọc theo những luống khoai tây của Bartle để ra đến chiếc cổng nhỏ.

“Đến nghe buổi hòa nhạc tối thứ Sáu nhé, nếu con có thể, con trai ạ,” ông cụ nói khi khép cổng lại sau lưng Adam và tựa người vào đó.

“Vâng, vâng,” Adam đáp, sải bước dài hướng về phía dải đường nhạt màu. Anh là sinh vật duy nhất đang chuyển động trên bãi đất rộng lớn. Hai chú lừa xám, chỉ vừa vờn hiện ra phía trước những bụi thạch nam, đứng im lìm như những bức tượng đá vôi – tĩnh lặng hệt như mái nhà lợp tranh xám xịt của túp lều đất sét cách đó không xa. Bartle dán mắt theo bóng hình đang di chuyển cho đến khi nó khuất hẳn vào màn đêm, trong khi Vixen, với tâm trạng giằng xé giữa lòng yêu mến, đã hai lần chạy ngược về nhà để ban phát một cái liếm tình cảm cho mấy đứa con.

“Vâng, vâng,” thầy giáo lầm bầm khi Adam đã khuất dạng, “cứ bước đi đi, cứ sải bước kiêu hãnh thế đi; nhưng con sẽ chẳng thể trở thành con người như bây giờ nếu trong người không có chút dáng dấp của lão Bartle què quặt này. Con bê khỏe mạnh nhất cũng phải bú mớm thứ gì đó chứ. Khối gã vạm vỡ cục mịch ngoài kia chẳng bao giờ biết nổi chữ cái A B C nếu không nhờ có Bartle Massey. Thôi nào, Vixen, cái mụ ranh ngốc nghếch này, cái gì thế hả? Lại phải vào nhà chứ gì? Vâng, vâng, đời nào ta còn được tự ý làm theo ý mình nữa. Còn lũ cún con ấy – mày nghĩ ta phải làm gì với chúng khi chúng to gấp đôi mày? Vì ta chắc chắn bố chúng chính là con chó sục bò vạm vỡ của thằng Will Baker – có đúng thế không hả, cái quân lẳng lơ này?” (Đến đây Vixen cụp đuôi kẹp giữa hai chân rồi ba chân bốn cẳng chạy tót vào nhà. Có những chủ đề đôi khi được một giống cái thuần chủng phớt lờ đi.)

“Nhưng nói chuyện với một mụ đàn bà đang bận nuôi con thì được tích sự gì chứ?” Bartle lầm bầm tiếp. “Mụ ta chẳng có tí lương tâm nào cả – chẳng có lương tâm; tất cả đã biến hết thành sữa rồi còn đâu.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

3 Trong Tổng Số 4 tác phẩm của George Eliot

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.