Chỉ với một giọt mực làm gương soi, pháp sư Ai Cập có thể hé lộ cho bất kỳ kẻ tình cờ nào những viễn cảnh sâu xa về quá khứ. Đó cũng là điều tôi muốn làm cho bạn, hỡi độc giả. Với giọt mực nơi ngòi bút này, tôi sẽ dẫn bạn đến xưởng mộc rộng rãi của ông Jonathan Burge, thợ mộc kiêm thầu xây dựng ở làng Hayslope, vào ngày mười tám tháng Sáu năm Chúa nhật 1799.
Nắng chiều ấm áp chiếu lên năm người thợ đang bận rộn với những cánh cửa ra vào, khung cửa sổ và vách ốp tường. Hương gỗ thông từ đống ván chất cao như lều dựng ngoài cửa mở quyện lẫn với hương hoa cơm cháy đang bung nở những chùm tuyết mùa hè sát khung cửa sổ đối diện; những tia nắng xiên chiếu xuyên qua lớp phào bào mỏng tang bay ra từ chiếc bào đều đặn, soi rỏ những đường vân tinh xảo của tấm ốp gỗ sồi dựng áp vào tường. Trên đống phào bào mềm mại ấy, một chú chó chăn cừu xù lông, xám xịt đã tự tạo cho mình một chỗ nằm thoải mái, đầu gối giữa hai chân trước, chốc chốc lại nhíu mày liếc nhìn người thợ cao nhất trong số năm người thợ, đang cạm trổ một chiếc khiên ở chính giữa chiếc bệ lò sưởi bằng gỗ. Chính chất giọng nam trung vang dội cất lên át cả tiếng bào và tiếng búa hát vang phát ra từ người thợ này:
Thức dậy đi hồn ta, cùng với ánh mặt trời
Bước trọn chặng đường phận sự hôm nay;
Rũ bỏ sự lười biếng nặng nề...
Đến đây, cần phải đo đạc một chút đòi hỏi sự tập trung cao độ hơn, và giọng ca vang dội ấy nhỏ dần thành tiếng huýt sáo trầm; nhưng rồi ngay sau đó, nó lại bùng lên với sức sống mới:
Nguyện mọi lời anh nói đều chân thành,
Lương tâm trong sáng như ánh dương ban trưa.
Một giọng nói như thế chỉ có thể phát ra từ một lồng ngực vạm vỡ, và lồng ngực vạm vỡ ấy thuộc về một người đàn ông cao lớn, gân guốc, cao gần sáu thước, với tấm lưng phẳng lì và cái đầu ngẩng cao đến mức khi đứng thẳng lên để ngắm nghía kỹ hơn tác phẩm của mình, ông ra dáng một người lính đang đứng nghỉ ngơi. Tay áo xắn cao trên khuỷu tay để lộ cánh tay có thừa khả năng giành giải về sức mạnh; thế nhưng bàn tay dài dẻo dai với những đầu ngón tay bè ra lại trông vô cùng khéo léo. Với vóc dáng cao lớn vững chãi ấy, Adam Bede mang đậm chất Saxon, hoàn toàn xứng đáng với cái tên của mình; nhưng mái tóc đen nhánh càng nổi bật hơn nhờ tương phản với chiếc mũ giấy nhẹ, cùng ánh nhìn sắc bén từ đôi mắt sẫm màu lấp ló dưới hàng lông mày rậm, nhô cao và linh hoạt, lại cho thấy sự pha trộn của dòng máu Celtic. Gương mặt ông lớn và thô kệch, khi ở trạng thái bình thừơng thì chẳng có vẻ đẹp nào khác ngoài nét biểu cảm của sự thông minh hào hiệp và chân chất.
Chỉ nhìn qua là đủ thấy người thợ tiếp theo chính là em trai của Adam. Cậu cao gần bằng anh, có những nét khuôn mặt tương tự, màu tóc và nước da cũng vậy; thế nhưng nét gia phong dường như càng làm nổi bật sự khác biệt rõ rệt về biểu cảm ở cả hình dáng lẫn gương mặt. Đôi vai rộng của Seth hơi gù xuống; đôi mắt cậu màu xám; lông mày ít nhô cao hơn và điềm tĩnh hơn của anh trai; còn ánh nhìn của cậu, thay vì sắc bén, lại mang vẻ tin cậy và hiền hậu. Cậu đã vứt chiếc mũ giấy đi, và ta có thể thấy mái tóc cậu không dày và thẳng như Adam, mà thưa và uốn lượn, cho phép ta nhận rõ đường nét của vòm đỉnh đầu nổi bật hẳn lên trên trán.
Những kẻ lang thang lười biếng luôn chắc mẩm có thể xin được chút tiền lẻ từ Seth; họ hầu như chẳng bao giờ nói chuyện với Adam.
Bản hòa tấu của những dụng cụ và giọng hát của Adam cuối cùng bị cắt đứt bởi Seth, người vừa nhấc cánh cửa mà cậu đang cày cục làm nãy giờ, dựng vào tường và nói: “Xong! Dù sao thì hôm nay tôi cũng làm xong cánh cửa của mình rồi.”
Tất cả thợ mộc đều ngẩng lên; Jim Salt, một người đàn ông lực lưỡng, tóc đỏ được gọi là Sandy Jim, dừng tay bào, và Adam cất lời với Seth, ánh mắt thoáng ngạc nhiên: “Gì chứ? Mày mà tưởng là đã làm xong cửa rồi phỏng?”
“Ừ, chắc chắn rồi,” Seth đáp lại với vẻ ngạc nhiên tương tự; “còn thiếu gì nữa đâu chứ?”
Một tràng cười lớn từ ba người thợ kia khiến Seth bối rối quay nhìn quanh. Adam không hùa vào trận cười đó, nhưng trên môi ông thoáng một nụ cười khi ông nói với giọng dịu dàng hơn lúc trước: “Thì mày quên mất mấy tấm pa-no rồi kìa.”
Tiếng cười lại bùng lên khi Seth đưa tay vỗ lên đầu, mặt đỏ bừng từ trán cho đến đỉnh đầu.
“Hoan hô!” một gã nhỏ con lanh lẹ tên là Wiry Ben hét lên, lao tới chộp lấy cánh cửa. “Chúng ta sẽ treo cánh cửa này ở tận cuối xưởng rồi viết lên đó ‘Seth Bede, theo phái Giám lý, tác phẩm của hắn đây.’ Nào Jim, cho tao mượn cái hũ đỏ xem nào.”
“Nói nhảm!” Adam bảo. “Đừng có táy máy, Ben Cranage. Có ngày chính mày cũng vấp phải cái sai ngớ ngẩn thế thôi; lúc đó thì mày cứ há hốc miệng ra mà cười đi.”
“Còn lâu tao mới thế nhé, Adam. Khướt lắm cái đầu tao mới đầy tư tưởng Giám lý được,” Ben nói.
“Không, nhưng mà đầu mày thì lúc nào chả đầy rượu, thế còn tệ hơn.”
Tuy nhiên, Ben lúc này đã cầm được “hũ đỏ” trong tay, và chuẩn bị viết dòng chữ của mình, mở đầu bằng cách vẽ một chữ S tưởng tượng trong không khí.
“Thôi ngay đi, chịu chưa?” Adam quát lớn, đặt dụng cụ xuống, sải bước tới chỗ Ben và túm lấy vai phải cậu ta. “Bỏ xuống ngay, không thì tao đánh cho tan xương bây giờ.”
Ben run lẩy bẩy trong cái siết tay bằng sắt của Adam, nhưng vốn là một kẻ nhỏ con gan lộn, hắn không đời nào chịu khuất phục. Bằng tay trái, hắn giật lấy cây cọ từ bàn tay phải đang bất lực, rồi làm động tác như thể vẫn sẽ thực hiện việc viết lách bằng tay trái. Trong chớp mắt, Adam xoay người hắn lại, túm lấy bả vai bên kia, rồi đẩy hắn ngã áp vào tường. Nhưng lúc này Seth mới lên tiếng.
“Thôi đi Addy, thôi nào. Ben nó đùa giỡn chút thôi mà. Hắn cười tôi là phải chứ sao—chính tôi còn không nhịn được cười mình đây này.”
“Tôi sẽ không buông nó ra cho đến khi nó hứa thôi phá cánh cửa này,” Adam nói.
“Nào Ben, bạn hiền,” Seth nói bằng giọng nài nỉ, “đừng có cãi nhau vì chuyện này chứ. Cậu biết là Adam đã muốn gì thì phải làm cho bằng được mà. Cậu có cố bẻ lái chiếc xe ngựa ở ngõ hẹp cũng vậy thôi. Nói là cậu sẽ không đụng đến cánh cửa nữa đi, cho xong chuyện.”
“Tao có sợ gì Adam đâu,” Ben nói, “nhưng vì mày mở lời đấy Seth, nên tao đồng ý để yên cho nó vậy.”
“Thế mới là khôn chứ, Ben,” Adam vừa cười vừa nới lỏng tay.
Tất cả lại quay về với công việc; nhưng Wiry Ben, vì đã thua cuộc trong vụ vật lộn vừa rồi, quyết tâm lấy lại thể diện bằng một câu châm chọc thành công.
“Cậu đang mải nghĩ cái gì thế, Seth,” hắn bắt đầu khơi mào—“khuôn mặt xinh xắn của mụ nữ mục sư hay là bài giảng của cô ta, mà đến nỗi quên cả mấy tấm pa-no cửa thế?”
“Đến nghe cô ấy giảng đi Ben,” Seth đáp lại một cách hòa nhã; “tối nay cô ấy sẽ giảng đạo trên bãi cỏ đấy; biết đâu cậu sẽ tìm được điều gì đó để suy ngẫm cho bản thân, thay vì mấy bài hát đồi phong bại tục mà cậu thích mê. Cậu có khi lại ngộ đạo ấy chứ, và đó sẽ là khoản kiếm chác hời nhất đời cậu đấy.”
“Còn lâu mới đến lúc đó nhé, Seth; để khi nào tao yên bề gia thất rồi hẵng hay; trai chưa vợ cần gì mấy cái món kiếm chác nặng nhọc ấy. Biết đâu tao vừa cưa cẩm vừa đi theo tôn giáo giống như mày ấy chứ, Seth; nhưng chắc mày không muốn tao cải đạo rồi nhảy vào hớt tay trên của mày với cô mục sư xinh đẹp, rồi cướp cô ấy đi chứ hả?”
“Không sợ đâu Ben; tôi e là cô ấy chẳng thuộc về cậu hay tôi đâu. Chỉ cần cậu ra nghe cô ấy giảng thôi, rồi cậu sẽ chẳng dám nói năng bất kính về cô ấy nữa đâu.”
“Ừ thì, tao cũng đang lửng lơ muốn đi ngó mặt cô ta tối nay đây, nếu như ở quán Holly Bush không có đám bạn nào vui hơn. Cô ta sẽ lấy câu gì làm kinh đề nhỉ? Chắc cậu biết chứ Seth, nhỡ tao đến muộn không kịp nghe thì sao. Sẽ là—các người ra chốn hoang vã để xem gì? Một nữ tiên tri ư? Phải, ta nói cho các ngươi biết, còn hơn cả một nữ tiên tri nữa—một cô nàng trẻ trung xinh đẹp tuyệt trần.”
“Này Ben,” Adam cất giọng có phần nghiêm khắc, “cậu thôi đem lời Kinh Thánh ra đùa cợt đi; đi quá đà lắm rồi đấy.”
“Gì chứ? Lại đổi giọng rồi hả Adam? Tưởng một dạo mày chì triết đám phụ nữ đi giảng đạo lắm cơ mà?”
“Không, tao chẳng đổi giọng gì sất. Tao có nói gì chuyện phụ nữ đi giảng đâu. Ý tao là: mày hãy để yên cho Kinh Thánh đi: mày có cuốn sách tiếu lâm mà mày tự hào lắm cơ mà? Cứ dính đôi tay dơ dáy vào cái thứ đó đi.”
“Chà, mày sắp thành thánh nhân đến nơi rồi đấy, hệt như Seth ấy nhỉ. Chắc tối nay mày cũng đi nghe giảng đạo luôn chứ gì. Mày mà dẫn ca đoàn thì cứ gọi là hợp ngút trời. Nhưng tao không biết ông Mục Sine sẽ nói sao khi thấy đứa con cưng Adam Bede lại đi theo phái Giám lý đâu.”
“Mày lo cái thân mày đi Ben. Tao chẳng thèm theo phái Giám lý như mày nghĩ đâu—dù có khi mày lại sắp sa chân vào thứ tồi tệ hơn ấy chứ. Cụ Irwine có thừa sự khôn ngoan để không xía vào chuyện người ta thích tuân theo tôn giáo nào. Đó là chuyện riêng giữa họ với Chúa, như cụ đã nói với tao bao nhiêu lần rồi.”
“Ừ thì ừ; nhưng dù sao cụ ấy cũng chẳng ưa gì đám bất đồng chính kiến của các người đâu.”
“Có thể thế; tao cũng chẳng ưa gì bia đặc của Josh Tod, nhưng tao có cấm mày uống vào rồi làm trò hề đâu.”
Một tràng cười vang lên trước cú châm chọc này của Adam, nhưng Seth rất nghiêm túc lên tiếng: “Không, không Addy, anh không được nói tôn giáo của ai lại giống bia đặc cả. Chẳng lẽ anh lại không tin là phái ly khai và phái Giám lý cũng nắm được cốt lõi vấn đề giống như người theo giáo hội sao.”
“Không đâu Seth em; anh đâu có chế giễu tôn giáo của ai. Cứ để họ làm theo lương tâm mình, thế thôi. Chỉ là anh nghĩ sẽ tốt hơn nếu lương tâm họ bảo họ cứ yên vị trong nhà thờ—có rất nhiều điều để học hỏi ở đó mà. Với lại, có cái gọi là quá ư sùng đạo; ở cái đời này chúng ta phải có những thứ bên cạnh Phúc Âm chứ. Hãy nhìn vào những con kênh, những máng dẫn nước, những cỗ máy ở mỏ than, và các nhà máy của Arkwright ở Cromford xem; anh tính ra con người ta phải học khối thứ ngoài Phúc Âm mới làm ra nổi những thứ đó đấy. Nhưng nghe một số vị mục sư giảng giải, cứ như thể đời người chẳng cần làm gì ngoài việc nhắm mắt lại và săm soi xem bên trong mình có chuyện gì xảy ra không. Anh biết một người phải có tình yêu của Chúa trong tâm hồn, và Kinh Thánh là lời của Chúa. Nhưng Kinh Thánh nói gì nào? Chà, sách nói rằng Chúa đã truyền thần khí của mình vào người thợ xây dựng đền tạm, để hắn làm được tất cả các công việc chạm trổ và những thứ đòi hỏi đôi tay khéo léo. Và đây là cách nhìn nhận của anh: có thần khí của Chúa trong muôn sự và mọi thời gian—ngày thường cũng như ngày Chủ nhật—và trong cả những công trình vĩ đại, những phát minh, trong cả tính toán lẫn cơ khí. Và Chúa giúp chúng ta từ khối óc cho đến đôi bàn tay cũng như tâm hồn ta; và nếu một người làm thêm mấy việc vặt ngoài giờ làm việc—xây lò nướng cho vợ để đỡ phải ra tiệm bánh, hay cuốc xới mảnh vườn nhỏ để trồng được hai củ khoai thay vì một, thì anh ta đang làm được nhiều việc thiện hơn, và cũng gần Chúa hơn là cứ chạy theo ông mục sư nào đó để cầu nguyện với rên rỉ.”
“Nói hay lắm, Adam!” Sandy Jim vừa nói vừa tạm ngưng việc bào để dịch chuyển đống ván khi Adam đang nói; “đó là bài giảng hay nhất mà tôi nghe được từ lâu nay đấy. Nhân tiện đây, vợ tôi cũng cứ cằn nhằn bắt tôi xây cho cô ấy cái lò nướng suốt mười hai tháng nay rồi.”
“Cậu nói có lý đấy, Adam,” Seth trầm ngâm nhận xét. “Nhưng chính cậu cũng biết việc nghe các mục sư giảng đạo mà cậu hay chê bai ấy đã biến bao kẻ lời nhác thành người chăm chỉ rồi còn gì. Chính mục sư là người làm vắng bóng quán rượu; và nếu một người ngộ đạo, công việc của anh ta sẽ chẳng vì thế mà tồi tệ đi đâu.”
“Chỉ là thỉnh thoảng hắn bỏ quên mấy tấm pa-no cửa thôi phải không, hở Seth?” Wiry Ben trọc ghẹo.
“À thì Ben, cậu giữ được một trò đùa để đời với tôi đấy nhỉ. Nhưng lỗi đó đâu phải tại tôn giáo; mà là do cái cậu Seth cứ hay thẫn thờ mộng mơ này đây, và tôn giáo thì chẳng chữa được tật đó cho cậu ta, thật đáng tiếc làm sao.”
“Đừng chấp tôi nhé Seth,” Wiry Ben nói, “cậu quả là một gã tốt bụng hết chỗ nói, có pa-no hay không thì mặc kệ; và cậu cũng chẳng bao giờ xù lông lên với mấy trò vui đùa, không như mấy kẻ cùng họ với cậu, dẫu có khôn ngoan hơn đi nữa.”
“Này Seth em,” Adam phớt lờ câu châm chọc nhắm vào mình, “em đừng nghĩ anh ác ý nhé. Lúc nãy anh có đá động gì đến em đâu. Mỗi người có một cách nhìn nhận sự việc khác nhau mà.”
“Không đâu, không đâu Addy, anh nào có ác ý gì với em,” Seth nói, “em thừa biết điều đó mà. Anh cũng giống như con chó Gyp của anh thôi—đôi khi anh sủa em đấy, nhưng rồi anh lại liếm tay em ngay.”
Tất cả mọi người lại cặm cụi làm việc trong im lặng suốt vài phút, cho đến khi chiếc đồng hồ nhà thờ bắt đầu điểm sáu giờ. Trước khi tiếng chuông đầu tiên dứt hẳn, Sandy Jim đã buông chiếc bào và với lấy chiếc áo khoác; Wiry Ben bỏ dở chiếc ốc vít vặn nửa chừng, ném chiếc tuốc-nơ-vít vào giỏ đồ nghề; Mum Taft, đúng như cái tên của mình, giữ im lặng suốt cuộc trò chuyện nãy giờ, đã vứt phắt chiếc búa xuống khi anh ta đang giơ lên; và Seth cũng thẳng lưng lại, đưa tay với lấy chiếc mũ giấy. Chỉ có một mình Adam vẫn tiếp tục công việc như thể chẳng có chuyện gì xảy ra. Nhưng nhận thấy mọi người đã dừng tay, anh ngẩng lên, nói với vẻ phẫn nộ: “Nhìn kìa! Tôi chẳng tài nào chịu nổi cảnh mấy người vứt bỏ dụng cụ kiểu đó, vừa nghe đồng hồ điểm chuông là buông tay ngay, cứ như thể chẳng thấy thú vị gì trong công việc và sợ làm quá sức một chút vậy.”
Seth có chút chột dạ, bắt đầu chuẩn bị ra về chậm hơn, nhưng Mum Taft phá vỡ sự im lặng và lên tiếng: “Ừ thì, này chú em Adam, chú nói năng cứ như bọn trẻ con ấy. Khi nào chú được sáu mươi sáu tuổi như tôi, thay vì mới sáu mươi sáu—à nhầm, sáu mươi tư, không, sáu mươi sáu—thôi, ý tôi là sáu mươi mươi... à mà sáu mươi lăm... thôi nói chung là bốn mươi sáu tuổi như tôi đi, chứ không phải sáu mươi sáu... à nhầm, bốn mươi sáu... thôi quên đi, ý tôi là khi bằng tuổi tôi ấy, chú sẽ chẳng còn hăng hái làm việc không công nữa đâu.”
“Nhảm nhí,” Adam vẫn giận dữ nói; “tuổi tác thì liên quan gì đến chuyện này chứ, tôi lấy làm lạ đấy. Chắc gì các anh đã cứng đờ cả người rồi. Tôi ghét cái cảnh cánh tay người ta buông thõng xuống như thể vừa dính đạn, trước cả khi đồng hồ điểm chuông rõ ràng, cứ như thể chưa từng có chút tự hào và niềm vui nào trong công việc vậy. Ngay cả hòn đá mài cũng còn quay tiếp một lúc sau khi anh buông tay ra cơ mà.”
“Lôi thôi lắm chuyện quá, Adam!” Wiry Ben quát lên; “tha cho thằng nhỏ này đi được không hả? Hồi nãy mày còn chê bai các mục sư cơ mà—thế mà mày cũng thích giảng đạo ra phết đấy chứ. Mày thích làm việc hơn chơi, còn tao thì thích chơi hơn làm; thế có phải vừa lòng mày không—mày sẽ có thêm việc để làm đấy.”
Nói xong câu kết đầy vẻ đắc ý đó, Wiry Ben quăng giỏ lên vai rồi bỏ ra khỏi xưởng mộc, theo sau là Mum Taft và Sandy Jim. Seth chần chừ, nhìn Adam với vẻ đìu hiu như thể mong đợi anh nói điều gì đó.
“Mày có về nhà trước khi đi nghe giảng không đấy?” Adam ngẩng lên hỏi.
“Không; tôi để mũ và đồ đạc ở nhà Will Maskery rồi. Chắc mười giờ tôi mới về nhà. Biết đâu tôi sẽ đưa Dinah Morris về nhà an toàn, nếu cô ấy đồng ý. Có ai đi cùng cô ấy từ nhà Poyser đâu, anh biết đấy.”
“Thế thì anh sẽ dặn mẹ đừng đợi em,” Adam nói.
“Chẳng lẽ tối nay anh cũng tính đến nhà Poyser à?” Seth hơi rụt rè hỏi khi quay người bước khỏi xưởng.
“Không, anh đến trường học.”
Nãy giờ Gyp vẫn nằm yên trong ổ ấm áp của nó, chỉ ngẩng đầu lên quan sát Adam kỹ hơn khi thấy những người thợ khác ra về. Nhưng ngay khi Adam đút chiếc thước kẻ vào túi và bắt đầu quấn chiếc tạp dề quanh eo, Gyp liền chồm dậy, ngước nhìn khuôn mặt chủ nhân với vẻ kiên nhẫn chờ đợi. Nếu Gyp có đuôi thì chắc chắn nó đã ngoẩy tít lên rồi, nhưng ngặt nỗi lại chẳng có cái bộ phận biểu lộ cảm xúc ấy, nên nó cũng giống như bao nhân vật đáng kính khác, số phận bắt phải ra vẻ điềm tĩnh hơn mức tự nhiên ban cho.
“Gì thế! Sẵn sàng mang giỏ rồi hả Gyp?” Adam nói, giọng dịu dàng hệt như lúc nói chuyện với Seth.
Gyp nhảy cẫng lên và sủa một tiếng ngắn, ra điều muốn nói: “Đương nhiên rồi.” Tội nghiệp chú ta, vốn từ vựng biểu cảm chẳng phong phú là bao.
Chiếc giỏ đó vào các ngày làm việc thường dùng để đựng bữa trưa của Adam và Seth; và chẳng có vị quan chức nào đi diễu hành lại có thể ra vẻ thờ ơ với mọi người xung quanh một cách quyết liệt hơn Gyp khi cắp chiếc giỏ lững thững bước sát gót chủ.
Rời xưởng mộc, Adam khóa cửa lại, rút chìa khóa ra và mang đến ngôi nhà nằm ở phía bên kia bãi gỗ. Đó là một ngôi nhà thấp tầng, mái tranh xám mượt và những bức tường màu vàng kem, trông thật ấm áp và dịu dàng trong ánh chiều tà. Những ô cửa sổ lắp chì sáng bóng không một vết nhợ, và bậc thềm cửa sạch bóng như một hòn đá cuội trắng lúc thủy điện rút. Đứng trên bậc thềm là một bà lão gọn gàng trong bộ váy vải lanh sọc tối màu, khăn quàng đỏ và chiếc mũ trùm đầu bằng vải lanh, đang nói chuyện với mấy con gà lốm đốm có vẻ như bị thu hút đến đây bởi một ảo tưởng về đám khoai tây nguội hay hạt đại mạch. Thị lực của bà lão hình như đã kém, nên mãi đến khi Adam cất lời bà mới nhận ra: “Chìa khóa đây hả Dolly; bà đặt nó vào trong nhà giúp cháu với nhé?”
“Ừ, chắc chắn rồi; nhưng chú không vào nhà uống chút nước sao, Adam? Cô Mary đang ở trong nhà đấy, và ông Burge cũng sắp về rồi; ông ấy chắc chắn sẽ rất vui nếu giữ được chú ở lại ăn tối cùng đấy, bà dám chắc thế.”
“Không đâu Dolly, cảm ơn bà; cháu phải về nhà đây. Cháu chào bà.”
Adam rảo bước dài, Gyp lẽo đẽo theo sau, rời khỏi bãi làm việc và đi dọc theo con đường lớn dẫn ra khỏi làng hướng xuống thung lũng. Khi anh đến chân dốc, một kỵ sĩ luống tuổi, với chiếc túi đựng đồ cột sau yên, liền dừng ngựa lại lúc Adam vừa đi qua, rồi quay đầu nhìn kỹ lại người thợ vạm vỡ đội mũ giấy, mặc quần da bó và đi tất len xanh thẫm.
Adam hoàn toàn không hay biết về sự ngưỡng mộ mà mình đang thu hút, chốc lát sau liền rẽ ngang qua các cánh đồng, và cất cao giai điệu cứ văng vẳng trong đầu anh suốt cả ngày nay:
Nguyện mọi lời anh nói đều chân thành,
Lương tâm trong sáng như ánh dương ban trưa;
Bởi vì ánh mắt soi thấu muôn đời của Chúa
Sẽ soi xét những suy nghĩ thầm kín, mọi việc làm và lối đi của anh.