Adam Bede

Lượt đọc: 98 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 20
Adam Đến Thăm Trang Trại Hall Farm

❊ ❊ ❊

Adam từ nơi làm việc trở về trên chiếc xe ngựa trống không — đó là lý do anh đã thay quần áo — và đã sẵn sàng lên đường đến Hall Farm khi vẫn chưa đến bảy giờ kém mười lăm phút.

Lisbeth càu nhàu lên tiếng khi anh bước xuống lầu: “Mày mặc đồ Chủ nhật làm gì thế? Mày có định đến trường với cái áo đẹp nhất đấy phỏm?”

Adam điềm tĩnh đáp: “Thưa mẹ, không ạ. Con đến Hall Farm, nhưng có lẽ lát nữa con sẽ ghé qua trường, nên mẹ đừng ngạc nhiên nếu con về muộn một chút. Nửa tiếng nữa Seth sẽ về nhà — nó chỉ ra làng thôi mà; nên mẹ cứ yên tâm.”

“Ừ thì, mà sao mày lại mặc đồ đẹp nhất để đi Hall Farm thế? Ta cá là tụi nhà Poyser hôm qua đã thấy mày mặc chúng rồi đấy. Mày định biến ngày thường thành ngày Chủ nhật kiểu gì thế hả? Thật chẳng ra sao khi đi lại với những kẻ chẳng thích nhìn thấy mày trong chiếc áo làm việc.”

Adam đội mũ lên và bước ra ngoài, nói: “Con chào mẹ, con không thể ở lại được nữa.”

Nhưng anh vừa đi được vài bước qua khỏi cửa thì Lisbeth lại đâm ra bất an vì nghĩ rằng mình vừa làm con tức giận. Dĩ nhiên, ẩn sau sự phản đối của bà với bộ đồ đẹp chính là mối nghi ngờ rằng anh mặc nó vì Hetty; nhưng sâu thẳm hơn cả sự càu nhàu ấy là nỗi khát khao được con trai yêu thương. Bà vội vã đuổi theo, níu lấy tay anh trước khi anh xuống tới nửa đoạn đường dẫn ra con suối, và nói: “Thôi nào, con trai của mẹ, đừng bỏ đi với sự giận dỗi mẹ mình chứ, trong khi bà chẳng có việc gì làm ngoài việc ngồi một mình và nghĩ về con?”

Adam đứng lại, đặt tay lên vai mẹ và nghiêm nghị đáp: “Không đâu, thưa mẹ, con không giận đâu. Nhưng con ước gì vì chính mẹ, mẹ có thể thoải mái hơn để con được làm những gì mình đã định. Con sẽ mãi là một người con ngoan của mẹ chừng nào chúng ta còn sống. Nhưng một người đàn ông còn có những tình cảm khác ngoài bổn phận với cha mẹ, và mẹ không nên muốn cai quản cả thể xác lẫn tâm hồn con. Mẹ phải hiểu rằng con sẽ không nhượng bộ mẹ ở những chuyện con có quyền làm theo ý mình. Vậy nên chúng ta đừng bàn về chuyện này nữa nhé.”

Lisbeth không muốn tỏ ra mình đã hiểu thấu ý nghĩa thực sự trong lời nói của Adam, bèn nói: “À, mà ai lại chẳng thích nhìn mày mặc đồ đẹp hơn là mẹ mày chứ? Rồi khi mặt mày đã được rửa sạch sẽ như viên sỏi trắng mịn, tóc tai chải chuốt gọn gàng, và đôi mắt long lanh — còn gì trên đời này mà một người già như mẹ lại thích ngắm nhìn cho bằng nửa chừng ấy chứ? Mày thích mặc đồ Chủ nhật lúc nào cứ việc, mẹ chẳng phiền hà gì đến chuyện đó nữa đâu.”

Adam ôm hôn mẹ và vội vã bước đi, nói: “Thôi được rồi; con chào mẹ.” Anh thấy chẳng còn cách nào khác để chấm dứt cuộc trò chuyện này. Lisbeth đứng chết trân tại chỗ, đưa tay che mắt dõi theo bóng anh cho đến khi khuất hẳn. Bà cảm nhận trọn vẹn ý tứ đằng sau những lời Adam vừa nói, và khi bóng anh khuất dạng rồi chậm rãi quay bước vào nhà, bà lẩm bẩm một mình — vì đó là thói quen của bà mỗi khi nghĩ ngợi lớn tiếng trong những ngày dài chồng và các con đi vắng: “Ừ, chắc rồi nó sẽ báo tin chuẩn bị rước con nhỏ đó về làm vợ cho mà xem; rồi nó sẽ làm bà chủ trên đầu trên cổ ta, và có lẽ ta sẽ phải đứng nhìn nó dùng đĩa viền xanh, rồi có khi lại làm bể nữa chứ, dẫu rằng từ cái hồi ông già nhà tôi với tôi mua chúng ở hội chợ hồi Lễ Hiện Xuống hai mươi năm về trước tới giờ chưa từng bể cái nào. Chứ lị!” Bà càng nói lớn hơn khi với lấy đan lát trên bàn, “nhưng đố mà nó dám đan tất cho thằng bé, hay khâu gót cho nó suốt đời ta còn sống đấy; và khi ta chết rồi, nó sẽ nhận ra chẳng có ai vừa vặn cẳng và chân nó như người mẹ già này đâu. Ta cá là nó chẳng biết gì về chuyện thắt bớt hay khâu gót đâu, rồi nó sẽ đan cái mũi tất dài thoòng khiến con trai ta chẳng thét nổi đôi bốt vào chân cho xem. Đó là cái họa của việc lấy vợ trẻ. Tôi đây đã qua tuổi ba mươi, ông nhà tôi cũng thế, tụi tôi mới kết hôn; mà thế cũng còn sớm chán. Lấy vợ kiểu đó thì đến năm ba mươi tuổi nó chẳng khác gì một con mụ lôi thôi lếch thếch, khi mà răng cỏ còn chưa mọc kịp đầy miệng.”

Adam sải bước nhanh đến nỗi đã có mặt ở cổng sân trước bảy giờ. Martin Poyser và ông nội vẫn chưa từ ngoài đồng về: mọi người đều ở ngoài đồng, thậm chí cả con chó sủi lông khoang đen vàng — chẳng ai canh giữ trong sân ngoài con chó sủi; và khi Adam tới cửa nhà đang mở rộng toang hoác, anh thấy chẳng có ai trong căn phòng chính sáng sủa và ngăn nắp. Nhưng anh đoán được Mrs. Poyser cùng một người khác chắc chắn đang ở trong tầm nghe thấy; thế là anh gõ cửa và cất giọng vang dội: “Mrs. Poyser có nhà không ạ?”

Mrs. Poyser từ phòng chứa sữa vọng ra: “Vào đi, Mr. Bede, vào đi.” Bà luôn dùng cách gọi này mỗi khi tiếp đón Adam tại nhà mình. “Nếu muốn, anh cứ vào phòng chứa sữa, vì tôi không thể bỏ dở việc ép phô mai được.”

Adam bước vào phòng chứa sữa, nơi Mrs. Poyser và Nancy đang ép những mẻ phô mai đầu tiên của buổi chiều.

Khi anh đứng ở khung cửa đang mở, Mrs. Poyser cất lời: “Trông anh cứ như thể đến nhà ma không bằng ấy; bọn họ đều ra đồng cả rồi; nhưng thể nào Martin cũng về sớm thôi, vì tối nay họ gom cỏ khô lại thành đống để mai chở về sớm nhất. Tôi buộc phải gọi Nancy vào, vì con Hetty tối nay phải đi hái nho đỏ; đám trái cây lúc nào cũng chín tréo ngoe, cứ đúng lúc cần người thì lại chẳng có ai. Mà tin tưởng sao nổi lũ trẻ khi sai chúng hái, vì chúng bỏ vào mồm còn nhiều hơn là vào giỏ; thà anh sai lũ tò vò đi hái trái cây khéo lại còn hơn.”

Adam rất muốn nói rằng anh sẽ ra vườn đợi cho đến khi Mr. Poyser về, nhưng anh lại không đủ can đảm lắm, bèn nói: “Vậy con có thể xem chiếc xe kéo sợi của nhà cô, rồi xem nó cần sửa chữa gì không ạ? Có lẽ nó để trong nhà, chỗ con có thể tìm thấy chứ ạ?”

“Không, tôi cất nó ở phòng khách bên tay phải rồi; nhưng cứ để đấy đã khi nào tôi lấy ra rồi chỉ cho anh xem. Bây giờ nếu được thì tôi rất mong anh ra vườn bảo Hetty giục con Totty vào nhà hộ cái. Con bé nghe gọi sẽ chạy vào ngay, mà tôi biết Hetty đang để nó ăn quá nhiều nho. Tôi sẽ rất mang ơn Mr. Bede nếu anh ra bảo nó vào hộ; với lại mấy khóm hồng York và Lankester ngoài vườn bây giờ đang nở đẹp lắm — chắc anh thích ngắm chúng đấy. Nhưng có lẽ anh muốn uống một bát nước ván sữa trước nhỉ; tôi biết anh thích nước ván sữa, giống như hầu hết mọi người khi không phải tự tay vắt nó ra vậy.”

Adam đáp: “Cảm ơn cô Poyser; nước ván sữa lúc nào cũng là món quà tuyệt vời với con. Con thà uống nó còn hơn uống bia bất cứ lúc nào.”

Mrs. Poyser với lấy chiếc chậu nhỏ bằng sứ trắng đặt trên kệ, nhúng vào thùng nước ván sữa và bảo: “Ừ, phải rồi, mùi bánh mì thì ai ngửi cũng thấy thơm, trừ thợ bánh. Các cô nhà dòng Irwin lúc nào cũng bảo: ‘Ôi, Mrs. Poyser, chúng cháu thật ghen tị với phòng chứa sữa của cô; rồi lại ghen tị với đàn gà của cô; đúng là một trang trại mới tuyệt làm sao!’ Còn tôi thì đáp: ‘Vâng; trang trại thì tuyệt thật đấy cho mấy kẻ đứng ngoài ngắm nghía, chứ đâu biết cái sự vất vả, đứng mỏi cả chân với lại bao nhiêu thứ bực dọc bên trong của nó.’”

Adam cầm lấy chiếc chậu và nói: “Thôi nào Mrs. Poyser, cô giỏi giang tháo vát thế thì có cho tiền cũng chẳng chịu sống ở nơi nào khác ngoài trang trại đâu nhỉ; với lại chẳng có cảnh gì đáng yêu hơn hình ảnh một cô bò sữa tuyệt đẹp đứng ngập chân giữa đồng cỏ, dòng sữa tươi sủi bọt trong xô, bơ tươi sẵn sàng đem bán, rồi những chú bê con và lũ gia cầm nữa. Con xin chúc sức khỏe cô, và mong rằng cô luôn dồi dào sức khỏe để tự tay quản lý phòng chứa sữa của mình, làm gương cho tất cả các bà vợ nông dân trong vùng.”

Mrs. Poyser không hề mắc cái yếu lòng là mỉm cười trước một lời khen, nhưng vẻ thỏa mãn dịu dàng lan tỏa trên khuôn mặt bà tựa như một tia nắng sớm mai rọi qua, làm cho đôi mắt màu xanh xám của bà trở nên ôn hòa hơn thường lệ khi nhìn Adam uống nước ván sữa. Ồ! Tôi tưởng như mình đang nếm lại vị nước ván sữa ấy ngay lúc này — với hương vị tinh tế đến mức khó lòng phân biệt nổi đâu là vị đâu là mùi, cùng với cái ấm áp trôi êm đềm lấp đầy tâm tưởng người ta bằng một giấc mộng thanh bình, hạnh phúc. Và âm thanh rả rích nhẹ nhàng của dòng nước ván sữa nhỏ giọt văng vẳng bên tai tôi, hòa lẫn với tiếng chim hót ríu rít bên ngoài khung cửa sổ lưới thép — khung cửa sổ hướng ra khu vườn, được che bóng bởi những khóm hoa cẩm tú cầu cao lớn.

Khi Adam đặt chiếc chậu xuống, Mrs. Poyser liền hỏi: “Mr. Bede dùng thêm tí nữa chứ?”

“Dạ không, cảm ơn cô; giờ con ra vườn gọi cô nhóc vào đây ạ.”

“Ừ, đi đi anh; rồi bảo nó vào phòng chứa sữa với mẹ nó nhé.”

Adam đi vòng qua bãi dựng rơm — hiện đang trống trơn — đến cánh cửa gỗ nhỏ dẫn vào khu vườn — nơi từng là khu vườn rau được chăm chút kỹ lưỡng của một dinh thự; giờ đây, ngoại trừ bức tường gạch xinh xắn có gờ đá chạy dọc theo một bên, nó đích thực là khu vườn của một nhà nông, nơi các loài hoa lưu niên dai sức, cây ăn quả không được cắt tỉa và rau củ mọc chen chúc nhau trong sự um tùm có phần buông xuôi, lơ đễnh. Vào cái thời điểm rợp lá, rậm hoa và sum suê ấy, việc tìm kiếm ai đó trong khu vườn này chẳng khác nào chơi trò “trốn tìm”. Nào là những khóm thừng quân cao lớn bắt đầu trổ hoa làm lóa mắt người nhìn với sắc hồng, trắng và vàng; nào là hoa tử đinh hương và cẩm tú cầu, tất cả đều to lớn và xộc xệch vì thiếu bàn tay cắt tỉa; nào là những bức tường lá đậu ve và đậu Hà Lan muộn; nào là một hàng phỉ rậm rạp phía bên này, và phía bên kia là một cây táo khổng lồ tạo ra một khoảng đất trống cằn cỗi dưới những tán cây xòe rộng là đà. Nhưng dăm ba khoảng đất cằn cỗi ấy thì nhằm nhò gì? Khu vườn rộng lớn biết bao. Lúc nào cũng thừa thãi đậu rộng — Adam phải sải bước dài chín hay mười bước mới đi hết lối đi cỏ mọc um tùm chạy dọc theo luồng đậu; còn về các loại rau củ khác, khoảng đất trống còn dư dội đến mức trong chu kỳ luân canh, một luống cây tầm ma lớn tươi tốt năm nào cũng mọc lên ở góc này hay góc khác. Ngay cả những khóm hồng mà Adam dừng lại để ngắt một bông cũng trông như thể mọc hoang dã; chúng chen chúc thành từng búi rậm rạp, giờ đang đua nở với những cánh hoa bung xòe rộng, hầu hết là loại sọc hồng trắng, thứ vốn chắc chắn có từ thời liên minh giữa hai dòng họ York và Lancaster. Adam đủ khôn ngoan để chọn một bông hồng Provence gọn gàng đang lấp ló, gần như bị che khuất bởi những hàng xóm tỏa hương ngào ngạt nhưng vô tích sự của nó, và anh cầm nó trên tay — anh nghĩ mình sẽ thấy thoải mái hơn nếu cầm thứ gì đó trên tay — khi bước tiếp đến tận cùng khu vườn, nơi anh nhớ có hàng cây lý chua lớn nhất, nằm không xa cái vọng lâu cây thủy tùng to lớn.

Nhưng anh vừa đi được mấy bước qua khỏi khóm hồng thì nghe thấy tiếng rung cành và giọng một cậu bé vang lên: “Nào, Totty, chìa vạt áo ra xem nào — ngoan chưa kìa.”

Giọng nói phát ra từ tán của một cây anh đào cao lớn, nơi Adam dễ dàng nhận ra một bóng hình nhỏ xíu mặc tạp dề xanh đang vắt vẻo ở một vị trí thoải mái nhất, nơi trái sai trĩu cội. Không nghi ngờ gì nữa, Totty đang đứng ở bên dưới, đằng sau bức bình phong là luống đậu Hà Lan. Đúng vậy — với chiếc mũ trùm đầu thõng xuống lưng và khuôn mặt bầu bĩnh, lem luốc đầy nước quả đỏ lòe, ngẩng lên nhìn cây anh đào, trong khi con bé chúm chím cái miệng nhỏ tròn vo cùng chiếc tạp dề dính đầy màu đỏ để hứng lấy cơn mưa trái cây đã được hứa hẹn. Tôi lấy làm tiếc phải nói rằng, hơn nửa số quả anh đào rơi xuống là những quả cứng và ngả vàng thay vì mọng nước và đỏ au; nhưng Totty chẳng buồn tiếc nuối vô ích làm gì, và con bé đang mút dở trái thứ ba mọng nước nhất thì Adam cất giọng: “Nào, Totty, con đã có anh đào rồi đấy. Mang chúng vào nhà đưa cho mẹ đi — mẹ đang tìm con — mẹ ở trong phòng chứa sữa đấy. Chạy vào ngay lập tức đi nào — bé ngoan của anh.”

Vừa nói, anh vừa bế xốc con bé lên bằng đôi tay khỏe mạnh của mình và hôn nó, một nghi thức mà Totty coi là sự ngắt quãng đáng ghét đối với việc ăn anh đào; và khi anh đặt xuống, con bé cứ thế lủi thủi đi thẳng về phía nhà một cách lặng lẽ, vừa đi vừa mút anh đào.

Khi bước về phía những luống cây lý chua, Adam cất tiếng: “Tommy, này nhóc, cẩn thận kẻo bị bắn nhầm thành chú chim trộm vặt đấy nhé.”

Anh có thể nhìn thấy chiếc giỏ lớn ở cuối luống: Hetty chắc ở gần đây thôi, và Adam đã cảm thấy như thể nàng đang ngắm nhìn mình. Thế nhưng khi anh rẽ qua góc khuất, nàng đang đứng quay lưng về phía anh, cúi người hái những chùm quả là đà sát mặt đất. Thật lạ là nàng không nghe thấy tiếng bước chân anh tới! Có lẽ là vì nàng đang làm cho đám lá xào xạc. Nàng giật mình khi nhận ra có ai đó ở gần — giật mình đến mức đánh rơi cả chiếc chậu đựng lý chua, và rồi, khi nhận ra đó là Adam, khuôn mặt nàng từ tái nhợt bỗng chuyển sang đỏ bừng. Sắc hồng ấy khiến tim anh đập rộn lên với một niềm hạnh phúc mới mẻ. Trước đây Hetty chưa từng đỏ mặt khi gặp anh.

Với một cảm giác ngọt ngào ngập tràn rằng anh nói gì cũng chẳng quan trọng nữa, miễn là Hetty dường như cũng có cảm xúc giống mình, anh cất lời: “Anh làm em sợ à; để anh nhặt hộ chỗ quả lý chua nhé.”

Việc đó xong ngay thôi, vì chúng chỉ rơi thành một nhúm rối bù trên thảm cỏ, và Adam, khi đứng dậy trao lại chiếc chậu cho nàng, nhìn thẳng vào đôi mắt nàng với sự dịu dàng đằm thắm vốn có trong những khoảnh khắc đầu tiên của tình yêu đầy hy vọng.

Hetty không quay mặt đi; gò má nàng đã bớt ửng đỏ, và nàng đón nhận ánh nhìn của anh bằng một nỗi buồn tĩnh lặng, điều khiến Adam vô cùng mãn nguyện vì nó hoàn toàn khác với bất cứ biểu cảm nào anh từng thấy ở nàng trước đây.

Nàng lên tiếng: “Chẳng còn mấy quả phải hái nữa đâu; em sắp xong rồi đây.”

Adam bảo: “Để anh giúp một tay”; rồi anh xách chiếc giỏ lớn vốn đã gần đầy quả lý chua lại đặt sát bên cạnh họ.

Không một lời nào được thốt lên nữa trong lúc họ hái lý chua. Lòng Adam ngập tràn cảm xúc đến mức chẳng thể thốt nên lời, và anh đinh ninh rằng Hetty thừa hiểu mọi điều đang thổn thức trong đó. Rốt cuộc thì nàng không hề thờ ơ trước sự hiện diện của anh; nàng đã đỏ mặt khi trông thấy anh, rồi lại thêm nét thoáng buồn vương vấn ấy chắc chắn phải mang ý nghĩa của tình yêu, bởi nó trái ngược hoàn toàn với vẻ dửng dưng thường ngày từng khiến anh đôi phen chạnh lòng. Và anh có thể liên tục liếc nhìn nàng khi nàng cúi người bên những chùm quả, trong khi những tia nắng chiều nhạt nhòa len lỏi qua kẽ lá của những cành táo xum xuê, rọi lên gò má và chiếc cổ tròn lẳn của nàng như thể chính ánh nắng ấy cũng đang say đắm nàng. Đối với Adam, đó là khoảng thời gian mà một người đàn ông khó lòng quên được trong suốt phần đời còn lại, khoảng thời gian anh tin rằng người phụ nữ đầu tiên mà mình đem lòng yêu thương đang bộc lộ qua một chút thưa thớt nhỏ nhoi — một lời nói, một âm điệu, một ánh mắt, cái run rẩy của đôi môi hay hàng mi — rằng ít nhất nàng cũng đang bắt đầu đáp lại tình cảm của anh. Dấu hiệu ấy thật mong manh, gần như không thể nhận ra bằng tai hay mắt — anh chẳng thể diễn tả nó với bất cứ ai — đó chỉ là một cái chạm nhẹ tựa lông hồng, thế nhưng nó dường như đã làm thay đổi toàn bộ con người anh, hòa lẫn nỗi khao khát đầy trăn trở vào một trạng thái ngây ngất tuyệt diệu, nơi anh quên đi tất cả ngoại trừ khoảnh khắc hiện tại. Biết bao niềm vui thuở ban sơ phai mờ hoàn toàn khỏi ký ức chúng ta: ta chẳng bao giờ có thể gợi lại niềm hạnh phúc từng có khi nép đầu vào bầu ngực mẹ hay cưỡi trên lưng bố thuở ấu thơ. Chắc chắn niềm vui ấy đã hòa quyện vào bản chất ta, giống như ánh nắng của những buổi mai xa xưa đã thấm đượm vào độ ngọt ngào êm dịu của trái mơ, nhưng nó đã vĩnh viễn rời bỏ trí tưởng tượng của ta, và ta chỉ có thể tin vào niềm vui tuổi thơ mà thôi. Thế nhưng, khoảnh khắc hân hoan đầu đời trong mối tình đầu lại là một thứ ảo ảnh trở về với ta cho đến tận cuối đời, mang theo một nỗi xúc động mãnh liệt và đặc biệt, tựa như cảm giác quen thuộc của một mùi hương ngọt ngào từng phảng phất trong một giờ phút hạnh phúc xa xôi. Đó là thứ ký ức làm cho sự dịu dàng trở nên tinh tế hơn, nuôi dưỡng cơn cuồng nộ của sự ghen tuông và đẩy nỗi thống khổ của sự tuyệt vọng lên đến cực điểm.

Hình ảnh Hetty cúi mình bên những chùm quả đỏ rực, những tia nắng xiên qua màn lá táo rậm rạp, khoảng sân vườn rậm rạp trải dài phía xa, cùng cảm xúc của chính anh khi ngắm nhìn nàng, đinh ninh rằng nàng đang nghĩ đến mình và họ chẳng cần phải cất lời — Adam khắc ghi tất cả những điều ấy đến tận giây phút cuối đời.

Còn Hetty thì sao? Bạn thừa biết rằng Adam đã lầm về nàng. Giống như bao người đàn ông khác, anh lầm tưởng những dấu hiệu dành cho một người khác lại là biểu hiện của tình yêu hướng về phía mình. Khi Adam đến gần mà nàng không hề hay biết, Hetty cũng đang chìm đắm như thường lệ trong những suy tư và mường tượng về sự trở lại có thể có của Arthur. Tiếng bước chân của bất kỳ người đàn ông nào cũng sẽ tác động đến nàng y hệt như thế — nàng sẽ cảm thấy đó có thể là Arthur trước khi kịp ngước nhìn, và dòng máu rút khỏi gò má nàng trong sự xao xuyến của khoảnh khắc ấy sẽ lại ùa về khi trông thấy bất kỳ ai khác, y hệt như khi nhìn thấy Adam. Anh không hề sai khi nhận ra rằng Hetty đã thay đổi: những âu lo và sợ hãi của mối tình đầu mà nàng đang run rẩy mang theo đã trở nên mạnh mẽ hơn cả sự kiêu kỳ, trao cho nàng lần đầu tiên cái cảm giác phụ thuộc bất lực vào tình cảm của người khác — thứ thức tỉnh bản năng nữ tính đầy e ấp, nép mình ngay cả ở những cô nàng nông cạn nhất từng trải qua nó, đồng thời khơi dậy trong nàng một sự nhạy cảm đối với lòng tốt vốn trước đó hoàn toàn lạnh lùng, cứng nhắc. Lần đầu tiên Hetty cảm thấy sự dịu dàng đầy nam tính nhưng có phần rụt rè của Adam mang lại cho mình chút xoa dịu. Nàng muốn được đối xử bằng sự yêu thương — ồ, thật khó lòng chịu đựng cái khoảng trống của sự vắng bóng, sự im lặng và thái độ dửng dưng bề ngoài sau những khoảnh khắc nồng nàn yêu đương ấy! Nàng không sợ Adam sẽ trêu ngươi mình bằng những lời lẽ tán tỉnh hay đường mật như những kẻ theo đuổi khác; anh luôn giữ khoảng cách và kín đáo với nàng biết bao; nàng có thể tận hưởng trọn vẹn cảm giác an toàn rằng người đàn ông mạnh mẽ, can trường này yêu thương và đang ở ngay bên cạnh mình mà chẳng chút bận tâm lo lắng. Trong đầu nàng chưa từng nghĩ rằng Adam cũng đáng thương biết bao — rằng rồi có một ngày Adam cũng phải chịu đựng đớn đau.

Như chúng ta đã biết, Hetty chẳng phải là người phụ nữ đầu tiên đối xử dịu dàng hơn với người đàn ông yêu đơn phương mình chỉ vì bản thân cô ta đã bắt đầu đem lòng yêu một kẻ khác. Đó là một câu chuyện xưa cũ, nhưng Adam nào hay biết gì, thế nên anh cứ thế đắm chìm trong thứ ảo tưởng ngọt ngào ấy.

Một lúc sau, Hetty cất lời: “Thế là đủ rồi đấy. Dì muốn em để lại một ít trên cây. Bây giờ em mang chúng vào nhà đây.”

Adam bảo: “Anh đến xách giỏ hộ là phải lắm đấy, vì nó mà nặng thế này thì quá sức đối với đôi tay nhỏ bé của em rồi.”

“Không; em có thể xách bằng cả hai tay mà.”

Adam mỉm cười nói: “Ồ, anh dám cá là có đấy, nhưng chắc sẽ bò vào nhà lâu bằng một con kiến nhỏ xíu đang chở con sâu róm mất thôi. Em đã bao giờ nhìn thấy mấy chú tiểu yêu ấy tha những vật nặng gấp bốn lần cơ thể chúng chưa?”

Hetty hờ hững đáp: “Chưa,” nàng chẳng mảy may quan tâm đến những khó khăn trong đời sống loài kiến.

“Ồ, hồi còn bé anh hay ngồi ngắm chúng lắm. Nhưng giờ em thấy đấy, anh có thể xách chiếc giỏ bằng một tay cứ như nó chỉ là chiếc vỏ hạt dẻ rỗng, và để dành tay kia cho em bám vào. Không chịu à? Đôi tay to lớn thế này sinh ra là để cho đôi tay bé nhỏ như của em bám vào mà lị.”

Hetty mỉm cười nhàn nhạt rồi luồn tay vào cánh tay anh. Adam cúi xuống nhìn nàng, nhưng đôi mắt nàng lại đang mộng mơ hướng về một góc khác của khu vườn.

Khi họ chậm rãi bước đi, nàng cất lời: “Anh đã đến Eagledale bao giờ chưa?”

Adam đáp, vui mừng vì nàng hỏi chuyện về mình: “Rồi chứ. Mười năm trước, khi còn là một cậu nhóc, anh đi cùng bố đến đó để xem xét chút công việc. Thật là một khung cảnh tuyệt diệu — những vách đá và hang động mà đời nào em thấy được ngoài đời thực. Cho đến khi đặt chân tới đó, anh mới có hình dung chính xác về những vách đá.”

“Mất bao lâu để đến đó thế ạ?”

“À, bọn anh phải mất gần trọn hai ngày đi bộ. Nhưng đối với ai có một con ngựa chiến hạng nhất thì chuyến đi ấy chẳng thấm vào đâu. Cậu đại úy chắc chỉ đi mất chín hay mười tiếng là cùng, vì cậu ấy cưỡi ngựa cừ lắm. Và anh chẳng ngạc nhiên nếu ngày mai cậu ấy quay lại; cậu ấy quá năng nổ để có thể ở yên lâu trong cái chốn quạnh hiu ấy một mình, vì ở cái vùng cậu ấy đến câu cá chẳng có gì ngoài một quán trọ nhỏ xíu. Ước gì cậu ấy sớm tiếp quản cơ ngơi đó; thế thì mới đúng việc, vì nó sẽ mang lại cho cậu ấy bao việc để làm, và dẫu còn trẻ tuổi nhưng cậu ấy sẽ làm rất tốt; cậu ấy có tư duy nhạy bén hơn khối kẻ gấp đôi tuổi mình. Hôm nọ cậu ấy đã nói chuyện rất lịch sự với anh về việc cho anh mượn tiền để khởi nghiệp; và nếu mọi chuyện xoay vòng theo hướng đó, anh thà mang ơn cậu ấy còn hơn bất kỳ ai trên đời.”

Tội nghiệp Adam bị dẫn dắt để nói về Arthur vì anh nghĩ Hetty sẽ vui mừng khi biết vị thiếu gia trẻ tuổi rất sẵn lòng giúp đỡ mình; điều đó nằm trong những dự định tương lai của anh, thứ mà anh muốn nó trông thật xán lạn trong mắt nàng. Và quả thực Hetty đã lắng nghe với một sự quan tâm làm bừng lên thứ ánh sáng mới trong đôi mắt nàng cùng nụ cười mỉm trên môi.

Adam dừng lại ngắm nhìn và tiếp tục: “Mới hay hoa hồng đẹp làm sao! Nhìn kìa! Anh ngắt bông đẹp nhất đấy, nhưng anh đâu có định giữ lại cho mình. Anh nghĩ những bông hồng toàn một màu hồng, có bộ lá xanh mướt hơn trông đẹp hơn đám hồng sọc, em có nghĩ thế không?”

Anh đặt chiếc giỏ xuống và lấy bông hồng ra khỏi khuyết áo.

“Nó thơm lắm,” anh nói; “mấy bông sọc kia chẳng có mùi gì cả. Cắm nó vào vạt áo đi, rồi lát nữa em có thể cho vào lọ nước. Để nó héo thì tiếc lắm.”

Hetty đón lấy bông hồng, miệng mỉm cười với ý nghĩ dễ chịu rằng Arthur có thể trở lại sớm như vậy nếu anh muốn. Một tia hy vọng và hạnh phúc lóe lên trong tâm trí nàng, và với một nỗi niềm phấn khích bất chợt, nàng làm cái điều mà mình vẫn hay làm trước đây — cắm bông hồng lên mái tóc ngay phía trên vành tai trái. Sự ngưỡng mộ đìu hiu trên khuôn mặt Adam bị che khuất một phần bởi vẻ không mấy bằng lòng. Sở thích chưng diện của Hetty chính là thứ dễ làm mẹ anh nổi giận nhất, và bản thân anh cũng ghét điều đó hết mức có thể đối với bất kỳ thứ gì thuộc về nàng.

“À,” anh nói, “trông giống mấy bà phu nhân trong tranh ở dinh thự Chase quá; hầu hết họ đều cài hoa, lông vũ hoặc mấy thứ bằng vàng lên tóc, nhưng chẳng hiểu sao anh cứ không thích nhìn thấy chúng; chúng luôn làm anh liên tưởng đến những người đàn bà phấn son lòe loẹt đứng ngoài các gạp hát rong ở hội chợ Treddles’on. Một người phụ nữ có gì để tôn lên vẻ đẹp tốt hơn chính mái tóc của mình khi nó xoăn tít như tóc em chứ? Nếu một người phụ nữ trẻ trung và xinh đẹp, anh nghĩ trông cô ấy càng xinh xắn hơn gấp bội khi ăn mặc giản dị. Này nhé, Dinah Morris trông rất ưa nhìn, dẫu cho cô ấy đội cái mũ và mặc chiếc áo giản dị đến thế. Anh thấy khuôn mặt người phụ nữ chẳng cần đến hoa hòe hoa sói gì; bản thân nó gần như đã là một bông hoa rồi. Anh chắc chắn gương mặt em là thế.”

Hetty bĩu môi hờn dỗi pha chút nghịch ngợm, rút bông hồng ra khỏi tóc và nói: “Ồ, thế thì tốt quá nhỉ. Lát nữa vào nhà em sẽ trùm một cái mũ của Dinah vào, rồi anh sẽ xem em có trông khá hơn không nhé. Cô ấy bỏ quên lại một cái, nên em có thể mượn kiểu mà làm theo.”

“Không, không, anh không muốn em đội cái mũ theo lối Giám lý như của Dinah đâu. Anh dám cá đó là một cái mũ rất xấu, và hồi mới thấy cô ấy ở đây, anh từng nghĩ việc cô ấy ăn mặc khác biệt với mọi người là chuyện vớ vẩn; nhưng anh chưa từng thực sự để ý đến cô ấy cho đến khi cô ấy đến thăm mẹ tuần trước, và khi ấy anh thấy chiếc mũ hình như ôm khít lấy khuôn mặt cô ấy hệt như cái đài sồi ôm lấy quả sồi vậy, và anh chẳng thích nhìn thấy cô ấy thiếu đi chiếc mũ đó chút nào. Nhưng em lại có kiểu khuôn mặt khác; anh muốn em cứ giữ nguyên thế này, chẳng cần thứ gì che lấp đi nét đẹp tự nhiên của mình. Nó giống như khi một người cất lên giai điệu hay — em đâu cần nghe tiếng chuông reng leng keng làm nhiễu loạn âm thanh ấy.”

Anh lại luồn tay nàng vào tay mình, cúi xuống nhìn nàng đắm đuối. Anh sợ nàng nghĩ rằng mình đang lên lớp dạy đời, cứ đinh ninh rằng — như chúng ta hay mắc phải — nàng đã nhận ra tất cả những suy nghĩ mà anh mới chỉ diễn tả được một nửa. Và điều anh kinh sợ nhất là bất kỳ đám mây mù nào che khuất hạnh phúc của buổi chiều hôm nay. Đánh đổi cả thế giới này, anh cũng chẳng đời nào chịu thổ lộ tình cảm của mình với Hetty lúc này, cho đến khi sự quan tâm chớm nở dành cho anh ấy lớn dần thành một tình yêu không thể chối cãi. Trong trí tưởng tượng, anh nhìn thấy chuỗi năm tháng dài đằng đẵng của tương lai trải dài trước mắt, được ban phước với quyền gọi Hetty là của riêng mình: hiện tại anh có thể mãn nguyện với rất ít ỏi. Thế là anh xách lại giỏ lý chua, và họ tiếp tục bước về phía ngôi nhà.

Cảnh tượng đã thay đổi hoàn toàn trong nửa tiếng Adam ở ngoài vườn. Sân nhà giờ đây tràn ngập sự sống: Marty đang lùa đàn ngỗng kêu quàng quạc qua cổng, ác ý trêu ngươi con ngỗng đực bằng cách xì xào dọa nạt nó; cửa vựa thóc kêu kẽo kẹt trên bản lề khi Alick đóng lại sau khi phân phát ngũ cốc; những con ngựa được dắt ra suối uống nước giữa tiếng sủa inh ỏi của cả ba con chó và biết bao tiếng roi vút “whups” của anh thợ cày Tim, cứ như thể những sinh vật nặng nề đang cúi rạp cái đầu hiền lành, thông minh và nhấc những bước chân xuề xòa một cách từ tốn ấy lại có xu hướng lao điên cuồng về mọi hướng trừ hướng đúng vậy. Mọi người đều đã từ cánh đồng trở về; và khi Hetty cùng Adam bước vào gian nhà chính, Mr. Poyser đang ngồi trên chiếc ghế ba chân, còn ông nội ngồi trên chiếc bành lớn đối diện, háo hức chờ đợi bữa tối được dọn lên chiếc bàn gỗ sồi. Mrs. Poyser tự tay trải khăn bàn — một tấm khăn bằng vải lanh tự dệt, có họa tiết ca-rô sáng bóng cùng sắc nâu ngả trắng dễ chịu mà bất kỳ người nội trợ khôn ngoan nào cũng thích ngắm — chẳng phải loại vải “giẻ lau tiệm” tẩy trắng sẽ rách tơi tả chỉ trong chớp mắt, mà là vải dệt tay hảo hạng có thể dùng bền qua hai thế hệ. Món thịt bê nguội, rau diếp tươi và thịt thăn nhồi hẳn trông rất hấp dẫn đối với những người đàn ông bụng đói đã ăn trưa từ lúc mười hai rưỡi. Trên chiếc bàn gỗ linh sam lớn áp sát tường là những chiếc đĩa, thìa và ca bằng thiếc sáng loáng, sẵn sàng cho Alick và các bạn đồng hành; vì chủ nhân và gia nhân dùng bữa tối không cách nhau là mấy, điều đó càng tuyệt vời hơn bởi nếu Mr. Poyser có điều gì cần nhắc nhở về công việc sáng mai, Alick luôn ở ngay gần để lắng nghe.

Mr. Poyser cất lời: “Ồ, Adam, mừng là cậu đã tới. Chà! Cậu đã phụ Hetty hái lý chua cơ à? Nào, ngồi xuống đây, ngồi xuống nào. Chà, kể từ lần cuối cậu ăn tối cùng nhà ta cũng phải gần ba tuần nay rồi đấy; và mụ vợ tôi lại vừa làm một trong những mẻ thịt thăn nhồi tuyệt hảo. Mừng là cậu đã đến.”

Mrs. Poyser liếc nhìn vào giỏ lý chua để xem quả có ngon không, rồi bảo: “Hetty, chạy lên lầu gọi Molly xuống mau. Nó đang dỗ Totty đi ngủ, và tôi muốn nó ra rót bia, vì Nancy vẫn còn bận trong phòng chứa sữa. Con có thể trông nom con bé đó. Nhưng sao con lại để nó chuồn khỏi con đi với thằng Tommy, rồi nhồi nhét trái cây vào bụng đến mức chẳng nuốt nổi dù chỉ một miếng thức ăn tử tế thế hả?”

Câu này được nói với âm lượng nhỏ hơn bình thường trong lúc chồng cô đang trò chuyện với Adam; vì Mrs. Poyser luôn tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc phép tắc của mình, và cô cho rằng không nên chì chiết một thiếu nữ trước mặt một người đàn ông đứng đắn đang theo đuổi cô ấy. Làm thế thì chẳng công bằng tẹo nào: người phụ nữ nào rồi cũng có lúc trẻ trung, và ai cũng có cơ hội lấy chồng, việc không phá hỏng cơ hội của người khác là vấn đề danh dự đối với những người phụ nữ — giống như một người bán trứng ngoài chợ đã bán hết hàng của mình thì không được phép tìm cách cản trở khách hàng của người khác vậy.

Hetty vội vã chạy lên lầu, chẳng dễ dàng gì tìm ra câu trả lời cho câu hỏi của dì, còn Mrs. Poyser bước ra ngoài để xem xét Marty và Tommy rồi lùa chúng vào ăn tối.

Chẳng mấy chốc tất cả đã ngồi vào chỗ — hai cậu nhóc má đỏ hây hây ngồi hai bên người mẹ da xanh xao, một chỗ trống được chừa sẵn cho Hetty giữa Adam và cậu của con bé. Alick cũng đã vào nhà, ngồi thu lu ở góc khuất, dùng dao nhọn trong túi ăn đậu rộng nguội lấy ra từ chiếc đĩa lớn, và tìm thấy ở đó một hương vị mà anh chẳng thèm đổi lấy trái dứa ngon nhất.

Khi đang dọn từng lát thịt thăn nhồi, Mrs. Poyser cất lời: “Đúng là cái con nhỏ rót bia lâu khủng khiếp! Tôi nghĩ chắc nó đặt cái vại ở đấy rồi quên béng mất không khóa vòi, quả thực chẳng có thói hư tật xấu nào mà tụi con gái này không có: chúng dám đặt cả cái ấm không lên bếp lửa, rồi một tiếng sau mới lững thững quay lại xem nước đã sôi chưa ấy chứ.”

Mr. Poyser bảo: “Nó còn phải rót cho mấy người làm nữa chứ. Lẽ ra mình phải bảo nó mang vại của nhà mình lên trước mới phải.”

Mrs. Poyser đáp: “Bảo á? Vâng, có khi tôi tốn hết cả hơi sức trong người, cộng thêm cả cái ống bễ lò sưởi nữa, nếu phải dạy cho mấy con nhỏ ấy tất cả những điều mà sự khôn lỏi của chúng chẳng tự mách bảo. Mr. Bede, anh có dùng giấm với rau diếp không? Ờ, anh phải đấy, không dùng là phải. Theo tôi nghĩ thì giấm làm mất đi hương vị của thịt thăn đấy. Ăn uống thế nào mà vị của miếng thịt lại phải cậy nhờ vào mấy lọ gia vị trên bàn thì kém quá. Có những kẻ làm bơ dở tệ rồi cứ trông cậy vào muối để che giấu đấy thôi.”

Sự chú ý của Mrs. Poyser lúc này bị phân tán bởi sự xuất hiện của Molly, trên tay xách một chiếc vại lớn, hai chiếc ca nhỏ và bốn cái ca uống nước, tất cả đều đầy ắp bia — một minh chứng thú vị về khả năng cầm nắm của bàn tay con người. Miệng của tội nghiệp Molly há rộng hơn bình thường một chút khi con bé bước đi với đôi mắt dán chặt vào chùm đồ vật lỉnh kỉnh trên tay, hoàn toàn ngây thơ không hay biết gì về biểu cảm trong ánh mắt của bà chủ.

“Molly, tôi chưa từng thấy ai bì được với cô — nghĩ đến người mẹ góa bụa của cô xem, tôi đã nhận cô vào làm dẫu chẳng có lấy một tấm giấy giới thiệu tử tế nào, rồi biết bao nhiêu lần tôi đã dặn dò...”

Molly chưa từng nhìn thấy tia chớp, và tiếng sấm gầm vang càng làm thần kinh con bé thêm hoảng loạn vì thiếu đi sự chuẩn bị ấy. Với một cảm giác mơ hồ, hoảng sợ rằng mình phải cư xử khác đi theo một cách nào đó, con bé bước nhanh hơn một chút về phía chiếc bàn gỗ linh sam ở góc xa nơi nó có thể đặt mấy chiếc ca xuống — nào ngờ vấp phải vạt tạp dề bị tuột dây từ lúc nào, và ngã nhào một cú rõ kêu cùng tiếng nước bắn tóe tóe vào vũng bia; kéo theo đó là tràng cười khúc khích nổ tung từ Marty và Tommy cùng tiếng thốt lên nghiêm trọng “Ối chà!” từ Mr. Poyser khi chứng kiến vạc bia giải khát của mình bị hoãn lại một cách bất đắc dĩ.

Mrs. Poyser vừa đứng dậy tiến về phía chiếc tủ chén vừa cất giọng sắc lẹm trong lúc Molly bắt đầu lê lết nhặt những mảnh vỡ sành sứ: “Đấy, thấy chưa! Tôi đã bảo rồi cơ mà, chuyện này thể nào cũng xảy ra cho mà xem, hết lần này đến lần khác; và thế là mất toi tháng lương của cô, thậm chí còn hơn thế nữa, để đền cho cái vại mà tôi đã giữ trong nhà này chục năm trời chưa từng sứt mẻ gì; nhưng số đồ gốm mà cô làm bể từ ngày bước chân vào cái nhà này đủ khiến một ông mục sư phải thốt lời nguyền rủa — Chúa tha tội cho tôi vì đã nói thế — và giả sử đó là nước sôi từ trong cái vạc đồng thì cũng rứa thôi, thể nào cô cũng bị phỏng rồi có khi tàn phế suốt đời cho mà xem, chẳng biết chừng mai mốt cô cũng bị thế thật nếu cứ tiếp tục kiểu này; vì ai nhìn cách cô quăng quật đồ đạc cũng tưởng cô mắc chứng kinh phong St. Vitus ấy chứ. Thật tiếc là mấy mảnh vỡ không được chất đống lại cho cô tự ngắm lấy, dẫu rằng có nhìn hay nghe thì cũng chẳng lọt vào cái đầu cô được đâu — ai nhìn vào cũng tưởng da mặt cô dày như thớt rồi ấy chứ.”

Nước mắt của tội nghiệp Molly lúc này đã rơi lã chã, và trong cơn tuyệt vọng khi dòng bia đang chảy ào ạt về phía đôi chân của Alick, con bé đành dùng chính chiếc tạp dề của mình làm giẻ lau, trong lúc Mrs. Poyser mở tủ chén, ném cho nó một cái nhìn sắc lẹm.

Bà tiếp tục: “Hừ, cô có khóc lóc hay làm cho sàn nhà thêm ướt để mà lau thì cũng chẳng ích gì đâu. Toàn là do cái thói bướng bỉnh của cô thôi, tôi đã bảo rồi, chẳng ai phải làm vỡ thứ gì nếu họ chịu cẩn thận làm việc cho đúng cách. Đúng là cái đồ gỗ mới cần phải cầm đồ gỗ. Và giờ thì tôi phải lôi cái vại nâu-trắng chẳng dùng đến ba lần trong năm nay này ra, rồi tự mình xuống dưới hầm, có khi ngã bệnh mà chết toi, rồi nằm liệt giường vì viêm phổi cho xem...”

Mrs. Poyser vừa xoay người từ tủ chén với chiếc vại nâu-trắng trên tay thì bất chợt bắt gặp điều gì đó ở đầu bên kia của căn bếp; có lẽ vì bản thân đã sẵn run rẩy và căng thẳng nên hiện tượng ấy mới tác động mạnh mẽ đến cô như vậy; hoặc có lẽ việc làm vỡ vại, cũng giống như bao tội lỗi khác, mang tính lây lan chăng. Dù thế nào đi nữa, cô trân trân nhìn rồi giật nảy mình như thể vừa thấy ma, và chiếc vại nâu-trắng quý giá rơi xuống đất, vĩnh viễn lìa xa cái vòi và quai cầm.

Sau một thoáng ngẩn ngơ đảo mắt nhìn quanh phòng, cô cất giọng với âm lượng hạ thấp đột ngột: “Có ai đời lại thấy chuyện quái quỷ thế này bao giờ không cơ chứ? Chắc mấy cái vại này bị yểm bới rồi không biết chừng. Toàn mấy cái quai tráng men oái oăm ấy — cứ trơn tuột khỏi ngón tay như con ốc sên vậy.”

Chồng cô lúc này đã hùa theo tràng cười của đám trẻ, cất giọng trêu: “Thế là mày tự vả vào mặt mình còn gì.”

Mrs. Poyser đáp lại: “Đứng ngoài xem rồi nhe răng cười thì dễ lắm; nhưng có những lúc đồ đạc cứ như có linh hồn và tự văng khỏi tay mình như chim ấy. Nó giống như kính, có khi cứ đứng im đấy mà tự nứt ra. Cái gì phải vỡ thì khắc vỡ thôi, chứ đời nào tôi lại làm rơi thứ gì chỉ vì không chịu cầm cho chắc, bằng không thì tôi giữ sao nổi đống đồ gốm từ hồi cưới nhau đến giờ chừng ấy năm. Mà Hetty, con điên rồi à? Bộ con định làm gì khi xông vào theo cái kiểu ấy, khiến người ta cứ tưởng có ma đi loanh quanh trong nhà hả?”

Tràng cười tiếp theo nổ ra trong lúc Mrs. Poyser đang nói không phải do sự chuyển biến đột ngột sang quan niệm định mệnh về chuyện vỡ vại, mà là do tạo hình kỳ lạ của Hetty — thứ đã khiến bà dì giật mình hoảng hốt. Con ranh con đã kiếm được chiếc áo đen của dì, ghim chặt vào cổ cho giống Dinah, ép tóc phẳng lì hết mức có thể, và trùm lên đầu một chiếc mũ lưới không vành chóp cao của Dinah. Hình ảnh khuôn mặt nhợt nhạt, nghiêm nghị cùng đôi mắt xám hiền từ của Dinah mà chiếc áo và chiếc mũ mang lại khiến cho việc nhìn thấy chúng bị thay thế bởi đôi má bầu bĩnh, hồng hào cùng đôi mắt đen láy đầy vẻ đong đưa của Hetty trở thành một bất ngờ buồn cười không chịu nổi. Lũ nhóc nhảy phắt khỏi ghế vây quanh Hetty, vỗ tay rầm trời, và thậm chí Alick cũng phát ra một tiếng cười khục khục từ cổ họng khi ngẩng lên khỏi đĩa đậu. Nhân cơ hội mớ hỗn độn này, Mrs. Poyser lui xuống căn bếp phụ để sai Nancy xuống hầm với chiếc gáo thiếc lớn — thứ có chút hy vọng không bị yểm bới.

Mr. Poyser với cái điệu cười chậm rãi, thoải mái đầy sung sướng mà người ta chỉ thấy ở những kẻ mập mạp, cất lời: “Này Hetty, con nhóc kia, mi tính đổi sang đạo Giám lý đấy à? Mi phải xị mặt dài ngoẵng ra nữa thì mới hợp vai được chứ lị; phải thế không Adam? Sao tự nhiên lại bày đặt mặc mấy thứ này vào thế hả?”

Hetty ngoan ngoãn ngồi xuống đáp: “Adam bảo con thích mũ và áo của Dinah hơn quần áo của con. Anh ấy bảo trông người ta mặc đồ xấu lại đẹp hơn.”

Adam vừa ngắm nhìn nàng vừa nói: “Đâu có, đâu có; anh chỉ bảo chúng trông có vẻ hợp với Dinah thôi. Nhưng nếu anh có nói em mặc chúng trông xinh thì anh cũng chỉ nói sự thật mà thôi.”

Mr. Poyser quay sang vợ — người vừa quay lại và ngồi xuống — rồi hỏi: “Thế ra bậu tưởng Hetty là ma chứ gì? Trông bậu cứ gọi là sợ mất vía.”

Mrs. Poyser đáp: “Tôi trông thế nào thì chẳng quan trọng; mặt mũi thế nào cũng chẳng hàn gắn được cái vại nào đâu, mà cười cợt thì cũng thế thôi. Mr. Bede, xin lỗi vì anh phải đợi bia lâu thế, nhưng nó lên ngay đây. Cứ tự nhiên ăn khoai tây nguội đi nhé: tôi biết anh thích chúng mà. Tommy, nếu con không nín cười ngay lập tức thì tao bắt lên giường đi ngủ ngay bây giờ đấy. Có gì mà phải cười cơ chứ, tôi muốn biết lắm. Thà tôi khóc chứ chẳng thèm cười khi nhìn thấy cái mũ của tội nghiệp người ta; có những kẻ nên học cách làm sao để sống giống cô ấy ở nhiều mặt còn hơn là bắt chước đội cái mũ. Người trong cái nhà này chẳng ai lấy làm vinh dự gì khi đi chế giễu con của chị tôi, nhất là khi con bé vừa mới rời khỏi chúng tôi, khiến lòng tôi đau thắt khi phải xa nó. Và tôi biết một điều thế này, nếu tai họa ập đến, tôi ngã bệnh nằm liệt giường, đám trẻ lăn ra chết — chuyện quái gì chẳng thể xảy ra — rồi bệnh dịch lại hoành hành đàn gia súc, và mọi thứ tan hoang khánh kiệt, thì tôi nói thật là chúng ta có khi phải mừng rỡ khi được nhìn thấy lại cái mũ của Dinah, với khuôn mặt chính chủ bên dưới nó, dẫu có viền hay không viền đi nữa. Bởi vì con bé là một trong những thứ trông rạng ngời nhất vào ngày mưa, và yêu thương bạn nhất khi bạn cần điều đó hơn bao giờ hết.”

Bạn thấy đấy, Mrs. Poyser thừa hiểu rằng chẳng có gì xua tan sự hài hước hiệu quả bằng sự kinh hoàng. Tommy — một cậu nhóc vốn nhạy cảm, rất thương mẹ, lại thêm tội ăn quá nhiều anh đào khiến cảm xúc vượt ngoài tầm kiểm soát — đã bị tác động sâu sắc bởi bức tranh thảm khốc về một tương lai có thể xảy ra mà mẹ vẽ nên đến mức bật khóc; và người cha tốt bụng, người luôn bao dung với mọi điểm yếu ngoại trừ thói lười nhác của những kẻ làm nông, bèn bảo Hetty: “Con cởi mấy thứ đó ra đi con bé; trông thấy chúng làm dì con đau lòng đấy.”

Hetty lại lững thững lên lầu, và sự xuất hiện của vại bia đã tạo ra một sự chuyển hướng dễ chịu; vì Adam phải đưa ra đánh giá về mẻ bia mới, điều mà chắc chắn không thể chối từ những lời khen ngợi dành cho Mrs. Poyser; và tiếp sau đó là cuộc thảo luận sôi nổi về bí quyết nấu bia ngon, sự ngớ ngẩn của việc bủn xỉn “hoa bia”, cùng tính kinh tế bấp bênh khi nông dân tự nấu mạch nha. Mrs. Poyser có quá nhiều cơ hội để thể hiện quan điểm nặng ký của mình về những vấn đề này đến nỗi khi bữa tối kết thúc, vại bia được châm đầy và tẩu thuốc của Mr. Poyser đã ngút khói, bà một lần nữa trở lại với tâm trạng vui vẻ tuyệt vời, sẵn sàng — theo lời đề nghị của Adam — đi lấy chiếc xe kéo sợi bị hỏng ra cho anh kiểm tra.

Adam vừa tỉ mỉ quan sát vừa nói: “À, cần phải tiện lại một chút ở đây rồi. Đây là một chiếc xe đẹp đấy. Con phải mang nó lên xưởng tiện ngoài làng để sửa, vì nhà con không có đủ dụng cụ tiện. Nếu sáng mai cô gửi nó ra xưởng của Mr. Burge, con sẽ làm xong cho cô vào thứ Tư nhé.” Anh quay sang nhìn Mr. Poyser và tiếp tục: “Con vẫn đang nhẩm tính trong đầu về việc sắp xếp thêm chút tiện nghi ở nhà để làm mấy việc mộc thủ công cho đẹp. Từ trước đến nay con vẫn hay tranh thủ làm những việc lặt vặt như thế trong lúc rảnh rỗi, và chúng mang lại lợi nhuận khá, bởi tiền công làm ra chiếm phần lớn hơn nguyên liệu. Con tính cùng Seth tự gầy dựng chút công việc riêng theo hướng ấy, vì con quen một người ở Rosseter sẵn sàng nhận bao nhiêu món đồ bọn con làm ra tùy thích, chưa kể những đơn đặt hàng quanh vùng này nữa.”

Mr. Poyser tỏ ra vô cùng hào hứng với dự án vốn là bước đệm để Adam trở thành một “thợ cả”, và Mrs. Poyser cũng bày tỏ sự tán thành đối với kế hoạch làm chiếc tủ bếp di động — thứ có thể chứa đựng mắm muối, dồ ngâm chua, đồ sành sứ và vải vóc gia đình một cách gọn gàng nhất mà không hề bề bộn. Hetty, nay đã trở lại với bộ trang phục thường ngày, chiếc khăn choàng cổ được kéo xếch ra sau một chút trong buổi tối ấm áp này, đang ngồi nhặt lý chua gần cửa sổ, nơi Adam có thể ngắm nhìn nàng rõ mồn một. Và cứ thế thời gian trôi qua thật dễ chịu cho đến khi Adam đứng dậy cáo lui. Mọi người nài nỉ anh ghé chơi thường xuyên hơn, nhưng đừng ở lại quá muộn, bởi vào thời điểm bận rộn này, những người khôn ngoan sẽ không mạo hiểm để bản thân ngáy khò khò lúc năm giờ sáng.

Adam vừa bước đi vừa nói: “Con sẽ đi thêm một đọan nữa để ghé thăm Mester Massey, vì hôm qua ông ấy không đến nhà thờ, và tuần qua con cũng chưa gặp ông. Hầu như chưa bao giờ con thấy ông vắng mặt ở nhà thờ cả.”

Mr. Poyser bảo: “Ừ, tụi ta chẳng nghe ngóng được gì về ông ấy cả, vì dạo này đang là kỳ nghỉ của lũ trẻ, nên chẳng có tin tức gì để báo cho cậu đâu.”

Mrs. Poyser vừa cuộn len vừa nói: “Nhưng cậu đừng có mà tính mò đến đó vào cái giờ này trong đêm chứ?”

Adam cười đáp: “Ôi, Mester Massey thức khuya lắm. Với lại lớp học đêm vẫn chưa kết thúc. Vài người đến muộn vì phải đi bộ đường dài. Bản thân Bartle cũng chẳng bao giờ lên giường trước mười một giờ cả.”

Mrs. Poyser phán: “Thế thì tôi chẳng đời nào chịu sống chung với ông ta đâu, cứ làm rớt mỡ nến lung tung để rồi sáng sớm ra là người ta trượt ngã lăn quay ngay.”

Cụ Martin ngậm ngùi: “Ừ, mười một giờ là muộn — muộn thật đấy. Đời ta chưa từng thức khuya thế bao giờ, trừ những dịp cưới xin, rửa tội, hội hè hay tiệc mừng thu hoạch. Mười một giờ là muộn rồi.”

Adam cười lớn: “Chà, con thường xuyên thức quá mười hai giờ cơ mà, nhưng không phải để ăn uống linh đình, mà là để làm việc thêm. Chúc Mrs. Poyser ngủ ngon; chúc Hetty ngủ ngon.”

Hetty chỉ có thể mỉm cười chứ không bắt tay được, vì đôi tay nàng đã nhuốm màu và ươn ướt nước lý chua; nhưng tất cả những người còn lại đều bắt tay thật chặt với bàn tay to lớn mà anh chìa ra, miệng hô vang: “Lại đây chơi nữa nhé, lại đây nữa nhé!”

Khi Adam đã đi ra ngoài lề đường, Mr. Poyser cất lời: “Này cậu xem, thức đến quá mười hai giờ để làm thêm việc đấy! Cậu sẽ chẳng tìm được mấy thanh niên tuổi đôi mươi sáu chịu cày cuốc ngang ngửa với nó đâu. Nếu con tóm được Adam làm chồng, Hetty ạ, có ngày con sẽ được ngồi trên chiếc xe lò xo của chính mình cho mà xem, tao đảm bảo đấy.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

3 Trong Tổng Số 4 tác phẩm của George Eliot

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.