Tuyển Tập Tác Phẩm Edgar Allan Poe — Tập 5

Lượt đọc: 526 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hop-frog

❊ ❊ ❊

Tôi chưa từng thấy ai lại mê trò đùa như đức vua. Người dường như sống chỉ để bông lơn. Kể được một câu chuyện hài hước, lại kể thật khéo, chính là con đường chắc chắn nhất để lấy lòng ngài. Thế nên mới có chuyện cả bảy vị đại thần đều nức tiếng với tài pha trò. Họ cũng giống hệt hoàng đế ở chỗ: ai nấy đều to bè, béo tốt, nhẫy mỡ, đồng thời là những kẻ khôi hài có một không hai. Người ta béo ra nhờ cười cợt, hay chính lớp mỡ lại khiến người ta dễ sinh tính bông lơn, điều này tôi chưa từng dám đoan chắc; nhưng có một sự thật không thể chối cãi: một kẻ thích đùa mà lại gầy gò thì quả là chuyện xưa nay hiếm trên đời.

Về cái duyên ngầm tinh tế, hay như ngài vẫn gọi là “phần hồn” của sự hóm hỉnh, đức vua chẳng bận tâm mảy may. Ngài đặc biệt chuộng những trò đùa thô thiển, lộ liễu, và sẵn lòng chịu đựng sự dông dài chỉ cốt đạt được cái đích ấy. Mọi sự quá đỗi thanh tao đều làm ngài mệt mỏi. Ngài ắt sẽ thích pho “Gargantua” của Rabelais hơn là “Zadig” của Voltaire; nhìn chung, những trò chơi khăm bằng hành động thực tế hợp khẩu vị ngài hơn nhiều so với những câu đấu trí mỉa mai đơn thuần bằng lời nói.

Vào thời điểm câu chuyện này diễn ra, các chú hề cung đình chuyên nghiệp vẫn chưa hoàn toàn lỗi thời. Vài “cường quốc” lớn ở lục địa khi ấy vẫn giữ bên mình những “gã hề” vận áo quần sặc sỡ, đội mũ gắn chuông, những kẻ luôn phải sẵn sàng buông lời pha trò sắc sảo bất cứ lúc nào để đổi lấy những mẩu bánh vụn rơi rớt từ bàn tiệc vương giả.

Lẽ dĩ nhiên, đức vua của chúng tôi cũng nuôi một “gã hề”. Thực tình, ngài rất cần đôi chút điên rồ ngốc nghếch—dẫu chỉ để cân bằng lại trí tuệ nặng nề của bảy bậc hiền triết dưới quyền, chưa kể đến chính bản thân ngài.

Tuy nhiên, gã hề chuyên nghiệp của ngài không chỉ đơn thuần là một gã ngốc. Giá trị của gã tăng lên gấp bội trong mắt nhà vua bởi gã còn là một kẻ lùn tịt và què quặt. Vào thuở ấy, người lùn nơi cung cấm cũng nhiều chẳng kém gì những chú hề; biết bao bậc quân vương sẽ thấy những chuỗi ngày đằng đẵng (ngày ở chốn hoàng cung thường trôi chậm hơn mọi nơi) thật khó lòng qua nổi nếu thiếu một chú hề để cùng cười, và một chú lùn để mà cười nhạo. Nhưng như tôi đã nhận xét, trong một trăm gã hề thì có tới chín mươi chín kẻ béo núc, tròn vo và nặng nề—thế nên việc nắm giữ trong tay Hop-Frog (đó là tên của gã hề), tức sở hữu một kho báu “ba trong một”, là niềm tự đắc khôn xiết đối với đức vua.

Tôi ngờ rằng cái tên “Hop-Frog” chẳng phải do cha mẹ đỡ đầu đặt cho gã lúc rửa tội, mà là do bảy vị đại thần đồng thanh gán cho gã vì gã không thể bước đi như những người bình thường. Thực tế, Hop-Frog chỉ có thể di chuyển bằng một dáng đi đứt đoạn kỳ quặc—nửa như nhảy choi choi, nửa như trườn ngọ nguậy—một cử động mang lại nguồn vui vô tận, và dĩ nhiên là cả sự an ủi cho đức vua; bởi lẽ (dù bụng phệ như cái trống và đầu to một cách bệnh tật), ngài vẫn luôn được cả triều đình ca tụng là có vóc dáng tuyệt mỹ.

Thế nhưng, dẫu đôi chân vặn vẹo khiến gã bước đi trên đường hay trên sàn nhà vô cùng đau đớn và khó nhọc, thì bù lại, tạo hóa dường như đã ban cho đôi tay gã một sức mạnh cơ bắp phi thường để bù đắp cho phần chi dưới khuyết tật. Nhờ đó, gã có thể thực hiện nhiều màn biểu diễn khéo léo đến kinh ngạc mỗi khi đụng đến cây cối, dây thừng, hoặc bất cứ thứ gì có thể leo trèo. Trong những trò vận động như thế, trông gã giống một chú sóc hay một con khỉ nhỏ hơn nhiều so với một con ếch.

Tôi không thể nói chính xác Hop-Frog nguyên quán ở xứ nào. Chỉ biết đó là một vùng man di mọi rợ chưa từng ai nghe tên—nằm cách xa kinh đô của hoàng đế chúng tôi muôn trùng dặm thẳm. Hop-Frog cùng một thiếu nữ chỉ nhỉnh hơn gã đôi chút (nhưng hình thể lại vô cùng cân đối và là một vũ nữ tuyệt vời) đã bị bắt cóc khỏi quê hương thuộc hai tỉnh liền kề, rồi bị một viên tướng bách chiến bách thắng dâng lên làm cống phẩm cho nhà vua.

Trước cảnh ngộ ấy, chẳng có gì khó hiểu khi một tình cảm gắn bó sâu sắc nảy nở giữa hai thân phận tù đày bé nhỏ. Chẳng bao lâu sau, họ đã trở thành đôi bạn vào sinh ra tử. Dù chọc cười thiên hạ rất nhiều, Hop-Frog tuyệt nhiên chẳng được ai ưa, và bản thân gã cũng chẳng có thực quyền để giúp đỡ Trippetta được bao lăm; thế nhưng nàng, nhờ nét duyên dáng và vẻ đẹp kiều diễm (dẫu mang thân phận người lùn), lại được mọi người hết mực nâng niu, chiều chuộng. Nàng có tiếng nói đáng kể, và hễ có cơ hội, nàng không bao giờ bỏ lỡ việc dùng chút ảnh hưởng ấy để che chở cho Hop-Frog.

Nhân một đại lễ triều đình—tôi đã quên khuấy mất là dịp gì—nhà vua quyết định mở dạ vũ hóa trang. Mà hễ chốn cung đình diễn ra vũ hội hóa trang hay những trò tương tự, ắt tài nghệ của cả Hop-Frog lẫn Trippetta sẽ được trưng dụng tối đa. Nhất là Hop-Frog, gã có tài sáng tạo vô song trong việc bày biện cảnh trí, nghĩ ra những nhân vật mới lạ và chuẩn bị trang phục cho các đêm vũ hội, đến mức dường như thiếu gã thì chẳng việc gì thành.

Đêm hội đã điểm. Dưới sự trông nom của Trippetta, một gian đại sảnh lộng lẫy đã được bài trí với đủ mọi thủ pháp nhằm tạo nên vẻ huy hoàng tột bậc cho đêm dạ hội. Toàn bộ triều đình đang nóng lòng sốt ruột. Về phần trang phục và nhân vật hóa trang, người ta ngỡ ai nấy hẳn đã chọn xong cho mình. Nhiều kẻ thậm chí đã quyết định vai diễn từ trước đó cả tuần, thậm chí cả tháng trời; thực tế là chẳng thấy ai còn chút phân vân nào—ngoại trừ đức vua cùng bảy vị thượng thư. Vì cớ gì họ lại chần chừ thì tôi chịu, họa chăng là để trêu đùa. Nhưng có lẽ đúng hơn là vì quá béo tốt nên đầu óc họ hóa ra chậm chạp. Dẫu sao thì thời gian cứ vùn vụt trôi; và như một giải pháp cứu cánh cuối cùng, họ bèn cho vời Trippetta cùng Hop-Frog đến.

Khi hai người bạn bé nhỏ vâng lệnh diện kiến, đức vua đang ngồi uống rượu cùng bảy cận thần trong hội đồng nội các; có điều vị quân vương xem chừng đang hết sức bực bội. Ngài thừa biết Hop-Frog chẳng ưa gì rượu chè, bởi men cay sẽ kích động chú lùn tội nghiệp đến mức gần như hóa dại; mà cơn điên loạn thì chẳng dễ chịu chút nào. Nhưng hoàng đế vốn mê những trò chơi khăm, và ngài lấy làm khoái chí khi ép Hop-Frog phải uống để (theo cách nói của ngài) “cho nó vui”.

“Lại đây, Hop-Frog,” ngài cất tiếng khi chú hề cùng cô bạn bước vào phòng; “hãy cạn chén rượu đầy này để chúc sức khỏe cho những người bạn vắng mặt của ngươi, [nghe đến đây Hop-Frog thở dài sườn sượt,] rồi hiến kế cho chúng ta. Bọn ta cần nhân vật—nhân vật độc đáo, này gã kia—phải cái gì thật mới lạ, thật quái chiêu vào. Bọn ta phát ngấy với những trò đơn điệu muôn thuở này rồi. Nào, cạn đi! Rượu vào ắt lời ra, trí óc ngươi sẽ sáng láng lên đấy.”

Hop-Frog gắng gượng pha trò đáp lại những lời phủ dụ ấy của hoàng đế như lệ thường; nhưng gã lực bất tòng tâm. Hôm ấy trớ trêu thay lại đúng vào ngày sinh nhật của chú lùn khốn khổ, và cái lệnh phải uống mừng “những người bạn vắng mặt” đã làm trào dâng dòng lệ nơi khóe mắt gã. Từng giọt đắng chát, to tròn thi nhau rơi lã chã vào chén rượu khi gã khép nép đón lấy từ tay kẻ bạo chúa.

“Ái chà! Ha! Ha! Ha!” Nhà vua gầm lên một tràng cười khoái trá khi thấy chú lùn miễn cưỡng nốc cạn chén rượu. “Thấy chưa, một chén rượu ngon công hiệu dường nào! Trông kìa, mắt ngươi đã sáng quắc lên rồi đấy!”

Tội nghiệp gã biết bao! Đôi mắt to tròn của gã rực lửa căm hờn hơn là tỏa sáng; bởi tác động của rượu lên bộ não dễ bị kích động của gã diễn ra vừa mãnh liệt lại vừa tức thì. Gã run rẩy đặt chén rượu xuống bàn, rồi đưa mắt nhìn quanh căn phòng bằng một cái nhìn thất thần, nửa như điên dại. Đám người nọ thảy đều tỏ ra vô cùng thích thú trước thành công của ‘trò đùa’ hoàng gia.

“Giờ thì vào việc thôi,” viên tể tướng, một gã đẫy đà, lên tiếng.

“Phải đấy,” nhà vua bảo; “Nào, Hop-Frog, giúp bọn ta một tay. Nhân vật nào, anh bạn cừ khôi; tất cả chúng ta đều đang cần nhân vật hóa trang đây—ha! ha! ha!” và vì câu này thực sự được ngài xem là một lời nói đùa, bảy gã cận thần liền đồng thanh cười phụ họa theo.

Hop-Frog cũng gượng cười, nhưng nụ cười yếu ớt và có phần ngơ ngác.

“Nhanh lên chứ,” nhà vua sốt ruột, “ngươi chẳng nghĩ ra được cái gì à?”

“Thần đang cố nghĩ ra điều gì đó mới lạ,” chú lùn lơ đãng đáp, bởi đầu óc gã lúc này đã hoàn toàn mụ mị vì men rượu.

“Cố à!” Kẻ bạo chúa quát lên đầy giận dữ; “Ý ngươi là sao? À, ta hiểu rồi. Ngươi đang dỗi và muốn uống thêm rượu chứ gì. Đây, uống cạn chén này đi!” Ngài rót đầy một chén nữa rồi chìa ra trước mặt gã què; gã chỉ biết trố mắt nhìn chén rượu, hơi thở nghẹn ứ nơi lồng ngực.

“Uống đi, ta bảo!” Con quái vật gầm lên, “bằng không thì quỷ tha ma bắt—”

Chú lùn do dự. Mặt nhà vua tím ngắt lại vì giận dữ. Đám triều thần nhoẻn miệng cười cợt. Trippetta, mặt mày tái mét như xác chết, vội bước tới trước ngai vàng của bậc đế vương, quỳ sụp xuống chân ngài mà van xin tha cho bạn mình.

Kẻ bạo chúa nhìn nàng chằm chằm suốt mấy giây, lộ rõ vẻ kinh ngạc trước sự to gan của ả đàn bà. Ngài dường như lúng túng chẳng biết nên làm gì hay nói gì—làm thế nào để trút cơn thịnh nộ cho xứng với uy nghi. Cuối cùng, chẳng buồn buông một lời, ngài thô bạo đẩy phắt nàng ra, rồi hắt cả chén rượu đầy ắp vào mặt nàng.

Cô gái đáng thương gượng hết sức lồm cồm bò dậy, chẳng dám thở dài lấy một tiếng, lầm lũi quay về đứng nép nơi góc bàn.

Một khoảng lặng chết chóc bao trùm chừng nửa phút, đến mức một chiếc lá hay một cọng lông vũ rơi xuống cũng có thể nghe thấy. Bầu không khí ấy bị xé toang bởi một âm thanh kèn kẹt trầm đục, gay gắt và kéo dài, dường như cùng lúc phát ra từ mọi xó xỉnh trong phòng.

“Cái... cái... cái quái gì mà ngươi lại gây ra cái tiếng động đó hả?” Nhà vua quay phắt sang chú lùn, hầm hầm quát hỏi.

Chú lùn dường như đã tỉnh rượu phần lớn; gã nhìn thẳng nhưng đầy bình thản vào mặt kẻ bạo chúa, chỉ buột miệng đáp:

“Thần... thần ư? Làm sao có thể là thần được ạ?”

“Âm thanh đó dường như vọng lại từ bên ngoài,” một viên cận thần nhận xét. “Thần đồ rằng đó là con vẹt bên cửa sổ đang mài mỏ vào nan lồng sắt.”

“Phải rồi,” nhà vua đáp, giọng nhẹ nhõm hẳn đi trước lời phỏng đoán; “nhưng ta lấy danh dự của một hiệp sĩ mà thề rằng, ta cứ ngỡ là tiếng nghiến răng ken két của cái thằng vô lại này.”

Nghe vậy, chú lùn bật cười (nhà vua vốn là tay nghiện đùa cợt nên chẳng bao giờ cấm đoán ai cười), để lộ một hàm răng to bản, sắc nhọn và nom vô cùng gớm ghiếc. Hơn thế nữa, gã còn khẳng khái tuyên bố sẵn sàng nốc bao nhiêu rượu tùy ý bề trên. Cơn giận của đức vua liền tan biến; và sau khi cạn thêm một chén rượu đầy nữa mà không thấy biểu hiện gì bất thường, Hop-Frog lập tức hăng hái bước vào việc bàn tính cho đêm dạ hội.

“Thần chẳng rõ vì cớ gì mà lại liên tưởng như thế,” gã điềm nhiên nhận xét, giọng thản nhiên như thể đời gã chưa từng nhấp một giọt men cay, “nhưng ngay sau khi bệ hạ đánh thị và hắt rượu vào mặt ả—ngay sau lúc bệ hạ làm vậy, và giữa lúc con vẹt phát ra cái tiếng kêu kỳ quặc bên ngoài khung cửa, thì trong đầu thần bỗng nảy ra một trò tiêu khiển tuyệt hảo—một trò đùa vui nơi quê hương thần—vốn thường được diễn trong các đêm dạ hội; nhưng ở chốn này, nó ắt sẽ hoàn toàn mới lạ. Ngặt một nỗi, trò này cần phải có một nhóm tám người và—”

“Thì bọn ta đây chứ đâu!” Nhà vua cười phá lên, đắc ý trước phát hiện trùng hợp tài tình của mình; “Tròn trặn tám người không thừa không thiếu—ta và bảy viên đại thần. Nhanh lên! Trò tiêu khiển ấy là gì?”

“Chúng thần gọi trò đó,” gã què đáp, “là ‘Tám con đười ươi bị xích’, và nếu diễn khéo thì quả là một trò tiêu khiển tuyệt diệu.”

“Bọn ta sẽ diễn trò đó,” nhà vua tuyên bố, ngực ưỡn ra và khẽ nheo mắt lại.

“Cái hay của trò chơi này,” Hop-Frog nói tiếp, “nằm ở nỗi kinh hoàng mà nó gieo rắc cho đám đàn bà con gái.”

“Tuyệt hảo!” Hoàng đế cùng toàn thể nội các đồng thanh gầm lên tán thưởng.

“Thần sẽ trang bị cho các ngài thành đười ươi,” chú lùn tiếp tục; “cứ để hết việc đó cho thần. Đảm bảo sẽ giống đến mức toàn thể tân khách trong dạ hội sẽ tưởng các ngài là lũ dã thú thực sự—và lẽ dĩ nhiên, họ sẽ vừa kinh hãi lại vừa kinh ngạc khôn xiết.”

“Ôi, thật là tuyệt diệu!” Nhà vua thốt lên. “Hop-Frog! Ta sẽ trọng thưởng cho ngươi ra trò.”

“Những sợi xích sắt là để tạo thêm sự hỗn loạn bằng tiếng kêu loảng xoảng của chúng. Người ta sẽ ngỡ rằng các ngài đã đồng loạt trốn thoát khỏi tay những kẻ trông coi. Bệ hạ không thể tưởng tượng nổi hiệu ứng sẽ chấn động nhường nào đâu, khi trong một vũ hội hóa trang, tám con đười ươi bị xích—mà hầu hết mọi người đều ngỡ là thú dữ xổng chuồng—lao ầm ầm vào đám đông những nam thanh nữ tú đang vận xiêm y lộng lẫy, vừa chạy vừa gầm rú man dại. Sự tương phản ấy thì không gì sánh bằng.”

“Chắc chắn là vậy rồi,” nhà vua gật gù; rồi cả hội đồng vội vã đứng dậy (vì trời đã khuya) để bắt tay vào thực hiện mưu kế của Hop-Frog.

Cách gã hóa trang cho cả nhóm thành đười ươi rất đỗi đơn giản, nhưng lại thừa hiệu quả cho mục đích của gã. Vào thời điểm câu chuyện này diễn ra, loài thú ấy hầu như rất hiếm khi được nhìn thấy ở thế giới văn minh; và bởi những hình nhân do chú lùn tạo ra đủ giống dã thú và thừa phần gớm ghiếc, người ta cứ ngỡ thế là đã lột tả được trọn vẹn sự chân thực của tự nhiên.

Đầu tiên, nhà vua và các đại thần bị ních chặt vào những bộ quần áo bó sát bằng vải dệt kim. Kế đó, họ bị quét đẫm nhựa đường lên người. Đến công đoạn này, một kẻ trong nhóm đề xuất dùng lông vũ; nhưng gợi ý ấy bị chú lùn gạt phắt đi ngay tức khắc, gã nhanh chóng chứng minh cho cả tám người thấy tận mắt rằng lông của loài dã thú như đười ươi thì dùng sợi lanh mô phỏng sẽ giống hơn nhiều. Thế là một lớp lanh dày cộp được trát đè lên lớp nhựa đường. Kế tiếp, người ta mang đến một sợi xích dài. Đầu tiên, xích được quấn quanh eo nhà vua rồi buộc chặt lại; sau đó quấn sang một người khác, cũng buộc lại; rồi lần lượt quấn quanh tất cả theo cách thức y hệt. Khi công đoạn xích người đã hoàn tất và mọi người đứng tản ra xa nhau hết mức có thể, họ tạo thành một vòng tròn; để mọi chuyện trông thật tự nhiên, Hop-Frog luồn phần xích còn lại thành hai đường chéo vuông góc vắt ngang vòng tròn, phỏng theo cách mà người ta thường dùng ở đảo Borneo thời nay để bắt giữ tinh tinh hoặc các loài vượn lớn.

Đại sảnh đường nơi dạ hội diễn ra là một căn phòng hình tròn, trần rất cao, và ban ngày chỉ nhận ánh sáng mặt trời qua một ô cửa kính duy nhất trên đỉnh vòm. Về đêm (thời điểm căn phòng được thiết kế riêng để sử dụng), nó được thắp sáng chủ yếu bởi một chiếc đèn chùm khổng lồ, treo lơ lửng bằng dây xích từ tâm vòm trần, và có thể nâng lên hạ xuống nhờ một hệ thống đối trọng như thường lệ; nhưng (để tránh gây mất mỹ quan) sợi dây đối trọng này được luồn ra phía ngoài mái vòm và chạy trên nóc nhà.

Mọi sự sắp xếp trong phòng đều được giao cho Trippetta trông nom; nhưng xem chừng ở vài chi tiết, nàng đã nghe theo sự chỉ dẫn đầy thấu đáo của người bạn lùn. Chính theo lời gợi ý của gã mà trong dịp này, chiếc đèn chùm đã được tháo bỏ. Những giọt sáp nến chảy ròng ròng (vào tiết trời oi ả thế này thì tuyệt đối không thể tránh khỏi) ắt sẽ làm hỏng những bộ cánh đắt tiền của quan khách, những người mà giữa cảnh sảnh đường chen chúc đông đúc, khó lòng có thể tránh né khu vực trung tâm, tức là khoảng không gian ngay dưới ngọn đèn chùm. Thay vào đó, người ta bố trí thêm những chân đèn gắn tường ở khắp các góc khuất trong sảnh, và tay phải của mỗi bức tượng thiếu nữ nâng xà đứng dựa tường—có chừng năm hay sáu mươi pho tượng như thế—đều được đặt một ngọn đuốc tỏa hương thơm ngát.

Nghe lời Hop-Frog, tám con đười ươi kiên nhẫn đợi đến nửa đêm (khi căn phòng đã nêm chặt những người hóa trang) mới chịu xuất đầu lộ diện. Đồng hồ vừa dứt tiếng điểm chuông, bọn họ liền lao ùa vào, hay nói đúng hơn là lăn lông lốc vào cùng nhau—bởi sự vướng víu của những sợi xích khiến hầu hết cả bọn ngã nhào, và ai nấy đều vấp dúi dụi ngay từ bậc cửa.

Sự phấn khích lẫn kinh hoàng lan tràn khắp đám đông dạ hội, khiến lòng nhà vua tràn ngập hoan hỉ. Đúng như dự đoán, không ít tân khách đã lầm tưởng những sinh vật dữ tợn kia là một loài ác thú có thật, dẫu không hẳn là đười ươi. Nhiều phụ nữ ngất xỉu vì sợ hãi; và nếu nhà vua không cẩn thận cấm tiệt mọi loại vũ khí mang vào đại sảnh từ trước, thì nhóm của ngài có lẽ đã phải trả giá cho trò đùa bằng chính mạng sống của mình. Tình thế hỗn loạn khiến mọi người túa ra xô đẩy về phía các cửa ra vào; nhưng ngài đã hạ lệnh khóa chặt chúng ngay khi vừa bước vào; và theo lời chú lùn hiến kế, chìa khóa đã được giao cho chính gã cất giữ.

Giữa lúc cơn náo loạn lên đến đỉnh điểm, ai nấy chỉ lo thân nấy (bởi thực sự có mối nguy hiểm rình rập từ sự xô đẩy của đám đông hoảng loạn), thì sợi xích vốn dùng để treo chiếc đèn chùm, vốn đã được kéo tít lên cao khi tháo đèn, bỗng từ từ hạ xuống, cho đến khi đầu móc của nó chỉ còn cách mặt sàn chừng ba bộ.

Ít lâu sau, nhà vua cùng bảy bạn hữu sau một hồi lảo đảo khắp gian phòng rốt cuộc cũng dạt vào chính giữa sảnh, và dĩ nhiên, chạm ngay vào sợi xích treo. Đúng lúc họ đứng vào vị trí ấy, chú lùn—kẻ vẫn lặng lẽ bám sát gót chân họ để kích động cơn hỗn loạn—liền túm lấy đoạn giao nhau của hai đường xích bắt chéo vuông góc giữa vòng tròn. Nhanh như chớp, gã móc sợi xích của họ vào chiếc móc đèn chùm; và chỉ trong chớp mắt, bởi một lực vô hình nào đó điều khiển, sợi xích đèn chùm bị kéo giật ngược lên cao, khiến chiếc móc vượt khỏi tầm với, và hệ quả tất yếu là kéo ghì tám con đười ươi dính chùm vào nhau, mặt đối mặt.

Đến lúc này, đám đông dạ hội đã phần nào hoàn hồn sau cơn hoảng hốt; và bắt đầu nhận ra đây chỉ là một trò đùa tinh quái được sắp đặt khéo léo, họ liền rộ lên những tràng cười sảng khoái trước tình cảnh trớ trêu của lũ vượn người.

“Cứ để mặc chúng cho tôi!” Hop-Frog bấy giờ the thé hét lên, giọng gã lanh lảnh át cả tiếng huyên náo trong phòng. “Cứ để mặc chúng cho tôi. Tôi ngờ là mình biết bọn này đấy. Chỉ cần nhìn kỹ một chút là tôi nhận ra ngay chúng là ai thôi.”

Nói đoạn, gã trèo qua đầu đám đông, thoăn thoắt tiến về phía vách tường; đoạn giật lấy một ngọn đuốc từ tay một bức tượng, gã thoắt cái đã quay trở lại giữa phòng—rồi với sự nhanh nhẹn của một con khỉ, gã nhảy phốc lên đầu đức vua, từ đó leo thoăn thoắt lên sợi xích chừng vài bộ; gã chúc ngọn đuốc xuống để soi rõ bầy đười ươi, miệng vẫn không ngừng gào to: “Ta sẽ tìm ra ngay chúng là ai!”

Và rồi, giữa lúc cả đại sảnh (kể cả lũ vượn) đang cười nghiêng ngả, chú hề bỗng cất lên một tiếng huýt sáo chói tai; tức thì sợi xích giật mạnh vút lên cao chừng ba mươi bộ—lôi theo bầy đười ươi đang kinh hoàng giãy giụa, bỏ mặc họ lơ lửng giữa lưng chừng trời, khoảng giữa vòm trần và mặt sàn. Hop-Frog, bám chặt vào sợi xích khi nó vọt lên, vẫn giữ nguyên tư thế so với tám kẻ hóa trang, và vẫn (như thể chẳng có chuyện gì can hệ) tiếp tục chúc ngọn đuốc về phía họ, dường như vẫn cố công dòm xem họ là ai.

Cả căn phòng kinh ngạc đến sững sờ trước màn bay lên ấy, đến nỗi một sự im lặng như tờ kéo dài suốt chừng một phút. Bầu không khí tĩnh mịch bị phá vỡ bởi đúng cái âm thanh kèn kẹt, trầm đục và gay gắt từng lọt vào tai nhà vua và các đại thần khi ngài hắt rượu vào mặt Trippetta. Nhưng lần này, chẳng còn ai phải hoài nghi âm thanh ấy phát ra từ đâu nữa. Nó phát ra từ hàm răng nhọn như nanh thú của chú lùn; gã đang nghiến răng trèo trẹo, miệng sùi bọt mép, và trừng trừng nhìn xuống những khuôn mặt đang ngửa lên của nhà vua cùng bảy cận thần bằng một ánh mắt điên cuồng tột độ.

“A, ha!” Cuối cùng gã hề nổi cơn thịnh nộ cũng cất tiếng. “A, ha! Giờ thì ta bắt đầu nhận ra lũ người này là ai rồi!” Vừa dứt lời, giả vờ như muốn soi kỹ nhà vua hơn, gã liền dí ngọn đuốc vào lớp áo bằng sợi lanh đang bọc kín người ngài; tức thì ngọn lửa bùng lên dữ dội thành một biển lửa ngút trời. Chưa đầy nửa phút sau, cả tám con đười ươi đã bốc cháy rừng rực, giữa những tiếng thét xé lòng của đám đông bên dưới đang ngước nhìn lên trong nỗi kinh hoàng tột độ mà chẳng thể nào cứu giúp lấy một ly.

Chẳng mấy chốc, ngọn lửa hung hãn bốc cao buộc gã hề phải leo lên cao hơn nữa theo sợi xích để tránh bị thiêu rụi; và khi gã vừa dời chỗ, đám đông bên dưới lại chìm vào im lặng trong thoáng chốc. Chú lùn chớp lấy thời cơ, một lần nữa cất cao giọng:

“Giờ thì ta đã thấy rõ mồn một,” gã nói, “bọn hóa trang này là phường người nào rồi. Đó là một tên vua cao cả cùng bảy vị cận thần thân tín—một tên vua chẳng chút ngần ngại đánh đập một cô gái không tấc sắt trong tay, và bảy tên bầy tôi a dua che chở cho hành vi tàn bạo của hắn. Còn ta, ta chỉ là Hop-Frog, một gã hề—và đây là trò đùa cuối cùng của ta.”

Do tính chất cực kỳ dễ bắt lửa của cả sợi lanh lẫn lớp nhựa đường kết dính, chú lùn vừa dứt lời thì công cuộc báo thù cũng đã hoàn tất. Tám cái xác đung đưa trên những sợi xích sắt, chỉ còn là một khối đen đúa, hôi thối, gớm ghiếc và chẳng thể nào phân biệt nổi ai với ai. Gã què ném ngọn đuốc vào đống xác rụi, thong thả trèo lên tận trần nhà rồi biến mất qua ô cửa sổ trên mái vòm.

Người ta đồ rằng Trippetta, kẻ túc trực trên mái sảnh đường, chính là đồng phạm tiếp tay cho ngọn lửa hận thù của bạn nàng, và hai người đã cùng nhau trốn thoát về quê hương xứ sở; bởi từ đó về sau, chẳng còn ai thấy bóng dáng họ thêm một lần nào nữa.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.