Tây Phủ quân đã bao vây chặt lấy tôi, tôi nghe thấy Đường Khai quát lớn: "Mau giết chết tên phản tặc, không được chậm trễ!"
Hắn muốn giết tôi để diệt khẩu. Tôi vừa kinh hãi vừa phẫn nộ, lại sợ hãi khôn xiết. Tôi không hiểu nổi tại sao ban nãy mình lại bất chấp tất cả mà đứng ra như vậy, giờ đã đến nước này, tôi cũng chẳng biết liệu còn đường xoay xở hay không. Tôi đặt tay lên chuôi Bách Tịch đao, chực rút đao ra, nhưng cánh tay nặng trịch như ngàn cân, chẳng thể nhúc nhích dù chỉ nửa phân.
Nếu tôi rút đao, tội danh phản nghịch sẽ càng thêm chắc chắn, Đường Khai giết tôi lại càng danh chính ngôn thuận. Mà bọn Trương Long Hữu, Ngô Vạn Linh, Tiết Văn Diệc cũng sẽ bị tôi liên lụy, khéo còn bị giết ngay tại trận với tội danh đồng đảng.
Đào Thủ Chuyết, ngươi độc ác thật đấy.
Tôi thầm nhủ, đang định lớn tiếng kêu oan thì hai tên Tây Phủ quân đã lao tới. Tôi vẫn đang túm chặt lấy tên lính Tây Phủ quân kia, kéo hắn đỡ đòn né tránh, hai tên kia đâm ra ném chuột sợ vỡ bình, đao kiếm nhất thời chưa chạm được vào tôi. Tôi gào lớn: "Thái tử điện hạ, tôi không phải thích khách!" Nhưng dẫu gào to đến mấy, sao có thể át đi tiếng huyên náo của cả đám Tây Phủ quân. Trong cơn hỗn loạn, chỉ nghe Đường Khai quát: "Không cần kiêng dè, kẻ nào chém chết thích khách, thưởng trăm lượng vàng!"
Đúng lúc này, đám lính Tây Phủ quân vây quanh tôi bỗng tản ra, tôi nghe thấy một giọng the the quát lên: "Mau tránh ra!"
Đó chính là giọng của tiểu vương tử. Lúc này nghe thấy giọng ngài, tôi lại có cảm giác như được đại xá. Theo tiếng quát của ngài, Tây Phủ quân dạt ra một lối đi, tiểu vương tử bước tới, bên cạnh là mấy tên tùy tùng. Vừa thấy ngài, tôi liền kêu lên: "Điện hạ, xin ngài soi xét, tôi không phải thích khách!"
Cầu xin một thiếu niên mới lớn thế này, tôi cũng chẳng biết có tác dụng gì không, nhưng lúc này quả thực không còn cách nào khác.
Tiểu vương tử liếc nhìn tôi, nói: "Là ngươi sao? Ngươi vì cớ gì muốn ám sát Thái tử?"
Tay tôi vẫn đang túm chặt tên lính Tây Phủ quân kia, hắn bị tôi siết đến thở không ra hơi. Tôi đè hắn quỳ xuống đất cùng mình, nói: "Điện hạ, tôi không phải thích khách mà."
"Vậy sao ngươi còn bắt giữ người?"
Lòng tôi chợt nhẹ nhõm đôi phần. Tiểu vương tử lúc này lại trấn định khác hẳn lứa tuổi của ngài, khéo chừng tôi có thể giải thích rõ ràng cũng nên. Tôi buông tên lính Tây Phủ quân ra, quỳ mọp xuống thưa: "Điện hạ, ban nãy tôi chỉ muốn thưa với Thái tử điện hạ rằng, bốn nữ nhạc kia không phải vật cống phẩm."
Tiểu vương tử nhìn tôi, dường như đang cân nhắc tính thực hư trong lời nói của tôi. Đường Khai bước tới thưa: "Điện hạ, kẻ này đang đổi trắng thay đen. Bốn người phụ nữ này vốn là do Vũ Hầu đại nhân tuyển chọn ở thành Cao Thứu để dâng lên bệ hạ. Kẻ này dẫu là bộ hạ cũ của Vũ Hầu, nhưng lại thèm muốn nhan sắc của bốn người bọn họ, vốn có ý đồ chiếm đoạt, đã tự ý mang theo họ bỏ trốn, nên mới không chịu nói thật, xin điện hạ minh xét."
Tôi nhất thời câm lặng. Họ ban đầu đúng là ban nữ nhạc do Vũ Hầu bắt được định dâng lên Đế quân, nhưng trước lúc Vũ Hầu trận vong, ngài đã bảo tôi mang họ trốn ra ngoài, chứ đâu bảo tôi phải đưa đến chỗ Đế quân nữa. Khi ấy trong thành Cao Thứu ai nấy đều lo thân chẳng xong, một câu nói ấy của ngài, e chừng cũng chỉ là cái cớ vì không nỡ nhìn mấy người con gái xinh đẹp kia chết ngay trước mắt mà thôi, ngài chắc chắn cũng không ngờ tôi lại có thể đưa được họ thoát khỏi thành. Sau khi trốn khỏi thành Cao Thứu, chẳng nói riêng tôi, bọn Trương Long Hữu, Ngô Vạn Linh cũng chẳng còn coi họ là tù binh nữa, không ai nghĩ đến chuyện phải dâng họ cho Đế quân. Đường Khai bất ngờ nói toạc nguồn cơn ra, tôi quả thực không còn cách nào cãi lại. Chỉ là, lúc ở thành Phù Đôn, chúng tôi đâu có nói cho ai biết họ là nữ nhạc, rốt cuộc Đào Thủ Chuyết làm sao mà biết được cơ chứ?
Sắc mặt tiểu vương tử trầm xuống. Tuy tuổi còn nhỏ, nhưng khi ngài sa sầm nét mặt lại có nét chín chắn chẳng hề tương xứng với lứa tuổi. Ngài quát tôi: "Lời Đường tướng quân nói, có thật không?"
Tôi biết rõ tình thế không xong rồi. Cứ ngỡ mình có lý, nhưng Đường Khai nói vậy, tôi lại thành kẻ sớm có bụng dạ bất chính. Đường Khai còn bảo gì mà tôi "vốn có ý đồ chiếm đoạt", nói thật lòng, nếu dọc đường này thực sự muốn chiếm đoạt thì tôi đã làm từ lâu rồi, cần gì phải đợi đến khi vào Đế đô mới nảy sinh ý đồ đó. Tôi dập đầu thưa: "Điện hạ, lời Đường tướng quân nói chỉ là phiến diện. Bốn người này là thứ dân thành Cao Thứu, Vũ Hầu thu nhận họ làm nữ nhạc, sau đó đã ban thưởng cho tôi. Bốn người mạt tướng trên đường đi về bắc, cùng họ đã có ước hẹn nên duyên vợ chồng, xin điện hạ thương tình." Tôi nghĩ bụng chắc chắn Vũ Hầu đã chết rồi, bọn họ chẳng thể tìm ngài đối chất. Huống hồ, việc Vũ Hầu bảo tôi đưa họ trốn đi cũng có thể coi là có ý ban thưởng họ cho tôi, tôi đâu phải ăn ốc nói mò.
Tiểu vương tử nhìn họ, bỗng lắc đầu nói: "Bọn họ xinh đẹp dường này, chẳng xứng với ngươi chút nào, nhưng ngươi thích họ cũng phải thôi."
Nãy giờ ngài đều nghiêm nghị đoan chính, đột nhiên thốt ra một câu con nít như vậy, tôi suýt nữa bật cười. Đám binh lính Tây Phủ quân vốn đang như lâm đại địch, nghe câu này, có hai tên cũng phải phì cười thành tiếng. Câu này của tiểu vương tử thực chất là đang nói chính ngài thích mấy cô gái này, trong lời nói dường như có chút ghen tị với tôi, nên mới chê tôi xấu xí. Tuổi ngài còn nhỏ, vậy mà cũng ra dáng háo sắc rồi.
Đường Khai nói: "Công tử, kẻ này lòng lang dạ thú, đến giờ vẫn còn ăn nói hàm hồ, không thể giữ lại, chi bằng giết sớm đi cho khỏi sinh hậu họa."
Tiểu vương tử có vẻ chần chừ, hai tên lính Tây Phủ quân bước tới, chĩa thẳng ngọn giáo dài vào tôi, chỉ sợ lúc này tiểu vương tử thốt ra một câu "giết", mũi giáo của chúng sẽ hạ xuống tức thì. Tôi hoang mang tột độ, chẳng biết phải làm sao cho phải.
Đúng lúc này, giọng của Thái tử bỗng vang lên: "Khoan đã."
Đám Tây Phủ quân vây quanh tôi và tiểu vương tử lại rẽ ra một lối, lộ ra bóng dáng Thái tử. Thái tử dẫn theo vài tên tùy tùng đang bước về phía này. Tiểu vương tử nghe thấy tiếng Thái tử, liếc nhìn Đường Khai nói: "Đường tướng quân, Thái tử muốn tra hỏi hắn, hỏi xong rồi giết cũng chưa muộn."
Trong lòng tôi ngổn ngang trăm mối. Thái tử vừa xuất hiện, tôi đã thấy hắn chẳng thuận mắt chút nào, nhưng trớ trêu thay chính hắn lại hạ lệnh tha mạng cho tôi. Dù sao đi nữa, trước mặt Thái tử, ít ra tôi còn có cơ hội biện bạch cho mình.
Thái tử đã lên tiếng như vậy, Đường Khai cũng không dám nói gì thêm, buông tay cúi đầu: "Tuân mệnh điện hạ." Hắn lùi lại hai bước, rồi nói với Dạ Ma Đại Vũ đang đứng một bên: "Tháo bội đao của hắn ra, không được để hắn làm kinh động điện hạ."
Dạ Ma Đại Vũ bước tới, giơ tay tháo bội đao của tôi. Tôi nhìn gã một cái, không nói lời nào. Dạ Ma Đại Vũ không dám ngẩng đầu nhìn tôi, chỉ lẳng lặng gỡ lấy bội đao của tôi. Vừa định lui về, Thái tử liền bảo: "Mang đao của hắn lại đây."
Dạ Ma Đại Vũ hai tay dâng thanh Bách Tịch đao của tôi lên cho Thái tử. Thái tử nhận lấy, rút đao ra ngắm nghía, nói: "Là Bách Tịch đao của Lý Tư Tiến tướng quân. Xem ra, ngươi đúng là bộ tướng của Vũ Hầu rồi, Vũ Hầu đến thanh đao này cũng trao cho ngươi."
Tôi đã bị áp giải đến quỳ trước mặt Thái tử, nghe Thái tử nói vậy, tôi ngẩng đầu lên thưa: "Bẩm điện hạ, mạt tướng vốn là Bách phu trưởng Tiền phong ngũ doanh Sở Hưu Hồng, sau khi Trung Nghĩa bá Thẩm Tây Bình tướng quân trận vong, Quân hầu đã đề bạt tôi làm Thống lĩnh Long Lân quân."
Tay Thái tử khẽ run lên, nói: "Thẩm Tây Bình trận vong rồi sao?"
Tôi mới giật mình sực nhớ ra, mình vẫn chưa kịp bẩm báo với Thái tử tin tức quân Nam chinh đã toàn quân bị diệt. Tôi thưa: "Điện hạ, quân Nam chinh càn quét phản quân trong thành Cao Thứu vốn đã toàn thắng, nhưng đột nhiên có một đội quân yêu thú ập tới tập kích, quân ta đã là nỏ mạnh gần đứt dây, toàn quân bị diệt, Quân hầu cũng đã hy sinh."
Tin tức này khiến Thái tử bàng hoàng sững sờ. Hắn chĩa mũi Bách Tịch đao về phía tôi, quát hỏi: "Lời ngươi nói có thật không?"
Tôi dập đầu thưa: "Từng câu từng chữ đều là thật."
Lúc này Đường Khai quỳ xuống bên cạnh tâu: "Điện hạ, lời kẻ này chưa chắc đã là thật, xin điện hạ minh xét."
"Muốn nói dối thì cũng chẳng bịa ra đến mức này." Thái tử nhìn thanh Bách Tịch đao, búng ngón tay lên thân đao, lưỡi đao ngân lên "ong ong", dư âm kéo dài không dứt. Hắn nghịch thanh đao của tôi, đột nhiên hỏi: "Bốn người phụ nữ này vốn là do Vũ Hầu tuyển chọn để tiến cống sao?"
Đến nước này mà hắn vẫn còn hơi sức đi hỏi chuyện đó, quả thực nằm ngoài dự liệu của tôi. Nhưng lúc này tôi cũng chẳng thể cắn răng nói dối, đành đáp: "Phải. Nhưng mà, điện hạ..."
"Ngươi thèm muốn nhan sắc của họ, muốn cùng mấy tên đồng bọn tự ý nuốt trọn chứ gì?"
Một luồng khí lạnh xông lên từ tận đáy lòng tôi. Thái tử tuy nói giọng ôn hòa, nhưng lời này mang ý gì? Có lẽ câu tiếp theo sẽ là hạ lệnh chém đầu tất cả chúng tôi. Biết tin quân Nam chinh toàn quân bị diệt mà hắn vẫn còn lằng nhằng với tôi chuyện họ có phải cống phẩm hay không, loại Thái tử này quả thực đúng là nòi giống của Đế quân sinh ra. Tôi cắn răng thưa: "Chuyện này là do một mình tôi làm, ba người kia là đồng đội trong quân, họ không có ý đồ này."
Muốn giết thì cứ giết một mình tôi thôi, tôi không muốn bọn Ngô Vạn Linh phải chịu vạ lây vì tôi. Tận sâu trong lòng tôi, tất cả cũng chỉ vì nàng mà thôi. Nếu Thái tử ban thưởng nàng cho tôi, thì đám người Tần Diễm Xuân có bị dâng vào cung hay không tôi cũng chẳng bận lòng, bọn Trương Long Hữu có đau lòng thất vọng thì rốt cuộc cũng chẳng phải việc của tôi. Nhưng xem ý tứ của Thái tử lúc này, tuyệt đối sẽ không ban nàng cho tôi, tôi nhận hết mọi tội lỗi về mình, âu cũng chỉ vì cảm thấy có chút cắn rứt với ý nghĩ ích kỷ ấy của bản thân.
Thái tử cười cười nói: "Ngươi tên là... tên là Sở Hưu Hồng phải không? Sở tướng quân, ngươi cũng trượng nghĩa đấy."
Tôi cúi đầu thưa: "Mạt tướng không dám. Chỉ là Thái tử điện hạ, quân Nam chinh đã toàn quân bị diệt, lũ yêu thú kia vô cùng hung hãn tàn bạo, việc này khẩn cấp muôn phần..."
Thái tử bỗng nhiên ngửa mặt lên trời cười lớn. Hắn cười lớn như vậy khiến tôi chẳng thể đoán nổi tâm tư của hắn. Tôi ngẩng đầu nhìn hắn. Lúc này Thái tử không nhìn thẳng vào tôi, tôi chỉ có thể thấy được góc nghiêng của hắn, hắn cười sảng khoái hả hê như thể gặp được chuyện gì vui sướng tột cùng, gương mặt trắng trẻo như ngọc kia so với gương mặt thô ráp vì khói lửa chiến tranh của tôi quả thực khác nhau một trời một vực.
Hắn ngừng cười, lại nhìn tôi. Chỉ có điều lúc này, trong mắt hắn bỗng lóe lên một tia hung quang. Tôi chỉ cảm thấy tim mình thót lại, cả người như hụt chân rơi xuống vực sâu không đáy.
Hắn muốn giết tôi rồi.
Nét mặt này tôi từng thấy trên mặt Vũ Hầu. Vũ Hầu và Văn Hầu đều là Thái tử Thiếu sư, năm xưa từng dạy dỗ Thái tử, chắc hẳn nét mặt này Thái tử học từ Vũ Hầu mà ra. Mà khi Vũ Hầu lộ ra vẻ mặt này, chính là lúc ngài hạ lệnh giết Loan Bằng.
Tôi bất giác ngoảnh đầu lại nhìn cỗ xe của nàng. Rèm xe đã buông xuống, cách một quãng xa như vậy, nàng chắc chắn không thể nghe thấy lời chúng tôi nói, nàng nhất định không biết tôi sắp phải chết rồi.
Tôi thở dài một tiếng, quay đầu lại, vừa vặn thấy Thái tử giơ tay lên. Động tác này cũng y hệt lúc Vũ Hầu hạ lệnh giết người. Thái tử học từ người thầy này quả không chỉ có đôi ba chiêu thức. Chỉ không biết Thái tử cầm quân có giống Vũ Hầu hay không, nếu không, khi Xà nhân đánh tới Đế đô, e rằng hắn cũng sẽ dẫm vào vết xe đổ của Vũ Hầu. Tôi thừa hiểu chỉ cần bàn tay kia hạ xuống, sẽ là một tiếng "giết", rồi sau đó là một loạt giáo đâm hay một trận loạn đao.
Tôi vừa nhắm mắt chuẩn bị chịu chết, thì lúc này từ phía bắc bỗng truyền đến một hồi tù và trầm đục. Âm thanh ấy hai dài hai ngắn, vừa vang lên hai tiếng liền im bặt, nhưng dư âm lại kéo dài không dứt. Tôi ngẩng đầu lên, chỉ thấy bàn tay Thái tử khựng lại giữa không trung, dường như giật mình kinh hãi. Tiểu vương tử từ một bên bước tới nói: "Thái tử, đây là Thông Thiên Tê Giác hiệu đấy."
Thông Thiên Tê Giác hiệu là một món bảo vật trong cấm quân, tiếng vang thấu tận tầng mây, xưa nay chỉ dùng để mở đường khi Đế quân tuần du. Nhưng thổi theo điệu hai dài hai ngắn thế này lại là hiệu lệnh triệu tập khẩn cấp của Đế quân. Thái tử cau mày nói: "Xảy ra chuyện gì rồi mà đến mức phải thổi Thông Thiên Tê Giác hiệu?"
Tiếng tù và lại vang lên, vẫn là hai dài hai ngắn. Đế quân vốn ít khi thiết triều, nghe nói không ít tấu chương đều do Giang phi, người được sủng ái nhất trong cấm cung, phê chuẩn thay. Mấy năm trước, danh sĩ Mẫn Duy Khâu ở kinh thành bị lưu đày cũng chỉ vì lúc say rượu đã viết hai câu thơ rằng: "Nhật mộ hoàng môn phân tấu sớ, hãn thanh do giác đới chi hương", trêu chọc về chuyện này. Vốn dĩ cũng chẳng có gì to tát, nhưng bài thơ này truyền đến tai Giang phi, bà ta lại thấy Mẫn Duy Khâu ăn nói cợt nhả, bèn nằng nặc ép Đế quân hạ chiếu đày Mẫn Duy Khâu ra ải bắc. Đế quân tại vị hơn mười năm nay, chỉ có lần hải tặc Hàn La xuôi nam xâm phạm mười mấy năm trước, đánh tới tận chân thành Vụ Vân mới dùng sừng tê Thông Thiên thổi hiệu triệu tập một lần. Khi ấy tôi vẫn còn là một đứa trẻ tám chín tuổi, vừa được đưa vào trường quân sự học chữ, từng bị tiếng hiệu triệu tập ấy dọa cho phát khóc. Bẵng đi bao nhiêu năm, lại bất ngờ nghe thấy âm thanh này.
Tiểu vương tử nói: "Thái tử, mau đi thôi, hình như có đại sự rồi."
Thái tử còn chưa kịp lên tiếng thì từ phía bắc lại vang lên tiếng vó ngựa dồn dập. Tiếng vó ngựa vừa tới gần, có người cất tiếng gọi: "Thái tử điện hạ có ở đây không?"
Thái tử nhướng mày: "A Xuyên."
Một tên tùy tùng bên cạnh hắn khom người thúc ngựa, quát lớn: "Các ngươi mau tránh ra!"
Hắn quát đám lính Tây Phủ quân. Xe của Tây Phủ quân vốn đã dạt vào lề đường, bị hắn quát một tiếng, Đường Khai vội bảo: "Tránh ra, tránh ra!" Tên A Xuyên kia lại hô to: "Điện hạ ở đây. Người đến là ai?"
Có người kêu lên: "Ôi chao, tạ ơn trời đất, đúng là Thái tử điện hạ rồi."
Một kỵ sĩ phóng ngựa xuyên qua đám đông, vừa tới trước mặt Thái tử, người cưỡi ngựa liền nhẹ nhàng đáp xuống đất, quỳ xuống thưa: "Điện hạ, thần Chân Lệ Chi khấu kiến điện hạ."
Chân Lệ Chi này tướng mạo hết sức bình thường, vóc dáng không cao, hơi đẫy đà, dẫu đang mặc giáp mềm nhưng trông vẫn ra dáng một kẻ sĩ. Chắc do chạy vội quá nên hơi thở dốc. Chẳng hiểu sao tôi cứ thấy người này quen quen, hẳn là đã gặp ở đâu rồi, chỉ là không nhớ nổi từng gặp ở nơi nào. Một mình ông ta hớt hải chạy tới, bảo là lính truyền tin thì y phục lại quá đỗi sang trọng, tướng mạo cũng chẳng giống. Còn bảo là quan to chức trọng nào đó thì dường như lại không nên đi một mình như thế.
Thái tử nói: "Chân khanh bình thân, ngươi trước đây là thầy của ta, không cần đa lễ thế này. Sao lại phiền ngươi phải đích thân tới?"
Ông ta là thầy của Thái tử sao? Đầu óc tôi một thoáng mông lung. Thái tử Thiếu bảo có năm sáu người, người nào cũng giữ chức vụ cao trong triều, chẳng rõ Chân Lệ Chi này là nhân vật phương nào.
Chân Lệ Chi đứng dậy thưa: "Điện hạ, bệ hạ đã hạ lệnh thổi Thông Thiên Tê Giác hiệu, ắt hẳn có việc gấp, thần kính thỉnh điện hạ mau chóng hồi triều, kẻ này tạm thời giam vào thiên lao, sau này sẽ xử lý."
Chân Lệ Chi chắc thấy tôi quỳ trước mặt Thái tử, mấy tên tùy tùng của Thái tử lại chĩa đao thương vào tôi, nên ngỡ tôi vì phạm lỗi gì đó mà đắc tội với Thái tử. Thái tử nói: "Chân khanh đến đúng lúc lắm, kẻ này tự xưng là Thống lĩnh Long Lân quân."
Chân Lệ Chi nhíu mày: "Long Lân quân? Thống lĩnh Long Lân quân chẳng phải là Thẩm Tây Bình tướng quân sao? Kẻ này đến nói dối cũng không biết đường mà nói."
"Hắn bảo Thẩm Tây Bình đã trận vong, không chỉ vậy, hắn còn nói quân Nam chinh đã toàn quân bị diệt, Vũ Hầu cũng đã hy sinh. Ngươi xem có nực cười không? Dám bịa ra lời nói dối tày trời bực này."
Lời lẽ của Thái tử nhẹ bẫng, xem ra hắn trước sau vẫn không tin lời tôi. Nhưng lời này vừa thốt ra, Chân Lệ Chi bỗng biến sắc, lao vội tới trước mặt tôi, túm chặt hai vai tôi quát: "Ngươi tên là gì?"
Tôi bị ông ta túm đến run cả người. Không ngờ Chân Lệ Chi tướng mạo bình thường này lại có lực cổ tay khỏe đến thế. Tôi thưa: "Mạt tướng Sở Hưu Hồng, vốn là Bách phu trưởng Tiền phong ngũ doanh, sau khi Thẩm Tây Bình tướng quân trận vong, Vũ Hầu lệnh cho tôi giữ chức Thống lĩnh Long Lân quân."
Ông ta quát hỏi: "Trước kia ngươi ở Tiền phong doanh sao? Thống chế Tiền phong doanh là ai?"
"Thống chế Tiền phong doanh là Lộ Cung Hành. Ngài ấy là con trai của Lộ Binh bộ."
Thái tử đứng bên cạnh có chút kinh ngạc, nói: "Chân khanh, ngươi tin lời hắn sao? Kẻ này chưa chắc đã đúng là Thống lĩnh Long Lân quân đâu, hắn muốn nuốt trọn bốn nữ nhạc mà Vũ Hầu tiến cống, những lời này thực chẳng đáng tin."
Hắn vẫn canh cánh trong lòng câu nói bốn người họ không phải cống phẩm của tôi, ngọn lửa giận trong lòng tôi bùng lên dữ dội, nhưng chẳng dám hé răng lấy nửa lời. Chân Lệ Chi lúc túm lấy tôi đang hơi cúi người, lúc này đứng thẳng dậy thưa: "Điện hạ, lệnh triệu tập lần này chính là vì chuyện đó. Ban nãy, thủ tướng thành Đông Bình là Thiệu Phong Quan đã phái sứ giả khẩn cấp tới, trong số năm người đi cùng có cả Thống lĩnh Tiền phong doanh Lộ Cung Hành."
Lộ Cung Hành cũng thoát được rồi sao? Tôi mừng rỡ khôn xiết. Thành Đông Bình nằm ở phía đông đế quốc, phía nam hạ lưu Đại Giang, thủ tướng hiện tại là Thiệu Phong Quan vốn là bộ tướng của Văn Hầu. Đại Giang chia đế quốc thành hai miền nam bắc, cánh cửa ngõ miền trung là thành Phù Đôn, còn cửa ngõ miền đông chính là thành Đông Bình. Bọn Lộ Cung Hành chắc hẳn đã trốn ra từ cửa đông, đi một mạch từ hướng đông bắc tới. Đường của họ xa hơn chúng tôi nhiều, nhưng họ đi nhanh, chẳng ngờ lại tới Đế đô sớm hơn cả tôi. Chỉ nghe Chân Lệ Chi nói chỉ có năm người, Tiền phong doanh e rằng cũng chẳng còn lại mấy ai.
Thái tử cũng thoáng giật mình: "Chẳng lẽ là thật sao?"
Chân Lệ Chi thở dài một tiếng, nói: "Điện hạ, ngài có biết lệnh triệu tập này là do ai dâng tấu lên Đế quân không?"
Thái tử hỏi: "Là ai?"
Chân Lệ Chi đáp: "Là Nhị thái tử! Nếu ngài còn không mau chóng hồi triều, sợ rằng sự việc sẽ biến tướng mất."
Chẳng hiểu sao, trên mặt Thái tử lộ rõ vẻ hoảng loạn, nói: "Là hắn sao? Chân khanh, ngươi nhất định phải giúp ta, không thể để hắn đoạt đích. Chân khanh, ngươi đừng quên ngươi chính là Thái tử Thiếu bảo đấy."
Lòng tôi đã sáng tỏ như ban ngày. Nhị thái tử và Thái tử không cùng một mẹ sinh ra, mẹ của Nhị thái tử chính là Giang phi đang được sủng ái nhất hiện nay. Năm kia đã nghe phong phanh chuyện Giang phi có ý phế Thái tử để lập Nhị thái tử. Nghe đồn Nhị thái tử là người khá khôn ngoan tháo vát, Đế quân tuy như một con ngựa giống nhưng đầu óc không hề hồ đồ, mà Thái tử này quả thực chỉ là cái gối thêu hoa, đề nghị của Giang phi e rằng cũng chẳng phải không có căn cứ. Thái tử đến tận lúc này mới nhận ra tính chất nghiêm trọng của sự việc.
Chân Lệ Chi nói: "Xin cứ yên tâm. Ban đầu thấy điện hạ mãi không về, thần sốt ruột như lửa đốt, cứ ngỡ sự việc đã hết đường cứu vãn, không ngờ điện hạ cát nhân thiên tướng, xem ra việc này còn nhiều cơ hội xoay chuyển."
Thái tử nói: "Chân khanh đã có kế sách rồi sao? Tốt quá, ta biết có ngươi phò tá thì cửa ải khó khăn nào cũng qua được."
Chân Lệ Chi cười khổ: "Thần đâu phải thần tiên, điện hạ cũng đừng thần thánh hóa thần quá, thần từng định ra kế xua cá vào đầm sâu, e rằng chính kế này lại làm hỏng cả quân Nam chinh. Chỉ là thần đã là bề tôi của điện hạ, tất sẽ dốc lòng phò tá. Điện hạ, thần lên xe ngài rồi sẽ nói chi tiết."
Thái tử nói: "Được được, Chân khanh mau lên xe đi."
Chân Lệ Chi quay đầu lại nói: "Sở tướng quân, xin mời đi cùng ta, lên xe điện hạ, chúng ta có việc cần bàn bạc với ngươi."
Thái tử giật mình: "Hắn cũng lên xe sao?"
Chân Lệ Chi nhìn đám tùy tùng của Thái tử vẫn đang nhìn tôi như lâm đại địch, cười khổ bảo: "Các ngươi cứ yên tâm, có ta ở cạnh Thái tử, kẻ này lại tay không tấc sắt, còn phải lo lắng điều gì?"
Tôi ngỡ như đang trong cõi mộng, đứng dậy đi theo sau họ, bên tai dường như vẫn còn văng vẳng câu nói kia của Chân Lệ Chi: "Thần từng định ra kế xua cá vào đầm sâu, e rằng chính kế này lại làm hỏng cả quân Nam chinh."
Kế xua cá vào đầm sâu vốn là do Văn Hầu định ra kia mà. Chân Lệ Chi tướng mạo bình thường này, chẳng lẽ...
Chẳng lẽ chính là Văn Hầu?
Hoàng thành nằm ở trung tâm thành Vụ Vân, có tất cả một ngàn gian phòng lớn nhỏ. Từ cửa nam Hoàng thành, trải qua sự xét hỏi nghiêm ngặt của cấm quân, ngay cả binh khí của Thái tử cũng bị tạm giữ lại ở cổng thành, chúng tôi mới được cho vào.
Hoàng thành dựng lên đến nay đã mấy trăm năm. Hơn một trăm năm trước, Lỗ Tích Tử từng phụng mệnh tu sửa Đế cung, qua tay ông tu bổ, Đế cung rực rỡ đổi mới, càng thêm phần tráng lệ.
Vừa bước vào Hoàng thành liền là một con đường hoàng đạo của Đế đô. Đường hoàng đạo này rộng tới mười trượng, đều được lát bằng gạch vàng vuông vức một thước. Loại gạch vàng này đều được nung từ các lò quan ở tỉnh Kỳ Liên, phẳng lì như gương, lau rửa không vương chút bụi, nghe nói khi lát đường đã nện đất tơi thật chặt, sau đó dùng nước hồ nếp thượng hảo hạng để miết mạch, nhờ vậy mới phẳng phiu được dường này. Người có thể đi xe trên con đường này, ngoài Đế quân ra thì chỉ có Thái tử, chư vương tông thất và vài ba hậu phi mà thôi. Cấm quân đứng hai bên đại đạo, ngay ngắn hệt như tượng đá. Ba vạn cấm quân đều là những đại hán được tuyển chọn một chọi ngàn, khi Vũ Hầu nam chinh từng có ý điều động vài ngàn người trong cấm quân tòng ngũ, Đế quân mọi việc khác đều răm rắp nghe theo, nhưng riêng chuyện điều động cấm quân lại khăng khăng giữ ý mình, khiến Vũ Hầu chẳng thể điều đi được một người nào.
Nếu chỉ nhìn trong Hoàng thành thì nơi đây vẫn là một cảnh tượng trang nghiêm, một bầu không khí thái bình thịnh trị.
Cỗ xe ngựa của Thái tử đến trước đại điện, một thái giám truyền lời cất cao giọng: "Thái tử điện hạ giá đáo!" Hắn tuy là kẻ hoạn quan nhưng giọng to đến mức có thể sánh ngang tiếng trống lôi đình.
Thái tử đi đầu tiên, tôi và Văn Hầu bước theo sau hắn rảo bước lên từng bậc thềm. Chín mươi chín bậc thang tuy không tính là quá cao, nhưng nhờ được xây cất tinh xảo nên trông tòa Đế cung gần như lơ lửng giữa trời, ngỡ như chạm tới tận mây xanh.
Bước vào đại điện, tôi bất giác run lên bần bật.
Đây là lần đầu tiên tôi tới đại điện. Với thân phận võ quan nhỏ nhoi như tôi, trước đây có nằm mơ cũng chẳng dám mơ đến chuyện được vào điện bái kiến Đế quân. Văn Hầu chắc cũng nhận ra sắc mặt của tôi, ông khẽ nói: "Sở tướng quân, ngươi đừng quên những lời ta đã dặn dò trên xe."
Ở trên xe, Văn Hầu đã bày mưu tính kế cho tôi. Thái tử hôm nay vì cùng tiểu vương tử đi săn xuân nên bị Nhị thái tử nhanh chân hơn một bước, Văn Hầu muốn Thái tử giải thích với Đế quân rằng sở dĩ đến muộn là vì tìm được tôi, mải tra hỏi ngọn ngành gốc rễ. Làm như vậy, dẫu không tranh trước được với Nhị thái tử thì cũng có thể chứng minh Thái tử không hề bỏ bê triều chính, vẫn là một vị Trữ quân tận tụy.
Nếu không có Văn Hầu kịp thời tới, đầu tôi khi ấy chắc đã bị Thái tử chém rồi. Tận đáy lòng, tôi chỉ biết cười khổ. Tên Thái tử này tuy dung mạo tuấn tú nhưng thực chất chỉ là một gã thùng rỗng kêu to. Đế quân dẫu không tính là minh quân, hậu cung giai lệ nhiều đến mức phi lý, nhưng nếu Đế quân nghe tôi báo tin quân Nam chinh thảm bại, chắc chắn sẽ không bao giờ chưa hỏi han ngọn ngành đã đòi giết tôi như thế.
Đi hết chín mươi chín bậc thang, rốt cuộc cũng tới cửa đại điện. Tôi lấy lại bình tĩnh, bước theo sau Thái tử đi vào trong.
Chúng tôi được Văn Hầu sắp xếp ở lại phủ đệ của ông. Khi tôi mặt mày xám ngoét bước vào phòng, Trương Long Hữu đã nóng lòng chạy tới hỏi: "Sở tướng quân, rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?"
Sau khi tôi bị giải đi, bọn họ đã được đưa tới đây trước. Tôi mím chặt môi, như có vật gì nghẹn ứ ở cổ họng, chẳng thốt nên lời. Ngô Vạn Linh nói: "Trương tiên sinh, khoan hãy làm phiền Thống lĩnh, để ngài ấy yên tĩnh một lát đã."
Tôi ngồi xuống, Ngô Vạn Linh rót cho tôi một chén nước, cũng không nói năng gì. Tôi bưng chén nước lên uống cạn một hơi, chỉ thấy cõi lòng quặn thắt từng cơn đau đớn như dao cắt.
"Thống lĩnh, không xảy ra chuyện gì chứ?"
Ngô Vạn Linh cất giọng có phần nơm nớp lo sợ. Hắn chắc hẳn đã đoán được đôi phần, trong mắt ánh lên một tia hy vọng mong manh. Tôi thở dài một tiếng, nói: "Họ bị nạp vào hậu cung rồi."
Ngô Vạn Linh lại thở phào một cái, nói: "Vậy bản thân ngài không sao chứ?"
Hắn đối với cô gái kia xem ra chẳng mấy bận lòng. Lòng tôi ngổn ngang trăm mối, suýt nữa mắng cho hắn một trận tơi bời, nhưng rồi cũng chẳng thốt nên lời. Tôi có thể bắt hắn phải thế nào đây? Chẳng lẽ bắt hắn cũng phải làm loạn lên một trận, rồi bị Thái tử chém đầu sao? Ngay cả tôi, đến cuối cùng cũng chẳng dám manh động điều gì, dẫu vậy tôi cũng phải nhờ Văn Hầu nói giúp mới giữ được cái mạng này.
Trương Long Hữu bỗng "á" lên một tiếng, ngã sụp xuống ghế. Thấy bộ dạng này của ông ta, tôi lại nảy sinh cảm giác cùng chung cảnh ngộ, nói: "Chuyện này đều do Đào Thủ Chuyết của Tây Phủ quân giở trò quỷ. Ai trong các người đã nói cho hắn biết họ là nữ nhạc do Quân hầu thu nhận?"
Ngô Vạn Linh ấp úng: "Thống lĩnh, lúc đó tôi không biết..."
Hắn chưa dứt lời, tôi đã chồm tới, túm chặt lấy cổ áo hắn, giáng cho một cái tát trời giáng. "Chát" một tiếng, một bên mặt hắn sưng vù lên vì cú tát của tôi. Trương Long Hữu vội ôm chặt lấy tôi, can ngăn: "Sở tướng quân, đừng như vậy!"
Tôi đưa tay quờ xuống thắt lưng nhưng vồ hụt, mới sực nhớ ra Bách Tịch đao đã bị giữ lại khi vào cung, lúc ra cũng chưa trả lại cho tôi, mà đao của bọn Ngô Vạn Linh cũng đã bị thu giữ hết. Vồ không thấy vũ khí, tôi chộp lấy chiếc chén trên bàn định đập thẳng vào đầu Ngô Vạn Linh. Trương Long Hữu vội giữ chặt lấy tay tôi, khuyên: "Sở tướng quân, ngài đừng làm thế!"
Ngô Vạn Linh nói: "Thống lĩnh, nếu ngài muốn giết tôi, Ngô Vạn Linh này không dám nhíu mày lấy nửa cái. Nhưng tôi muốn nói với ngài rằng, trong lòng tôi lúc này tuyệt đối không dễ chịu hơn ngài đâu."
Lời nói của hắn như một nhát dao cắm thẳng vào tim tôi, tôi nhìn hắn, đứng chết lặng. Sức lực của tôi lớn hơn Trương Long Hữu nhiều, chỉ cần giãy nhẹ một cái là thoát ra được, nhưng dẫu có thoát ra, tôi nghĩ mình cũng chẳng thể ra tay được nữa.
Tôi thở hắt ra một hơi dài, đặt chiếc chén xuống bàn, nói: "Có lẽ là vậy."
Từ đằng xa, tiếng trống chiều đã điểm. Từng hồi trống dồn dập vang lên, tựa như một quả cầu lăn tăn giữa không trung, mỗi lúc một xa dần. Tôi bước ra cửa, ngước nhìn bầu trời. Vài tên binh lính do Văn Hầu phái tới đang đứng gác ngoài cửa, họ không biết giữa chúng tôi đã xảy ra chuyện gì, một tên liền bảo: "Tướng quân, Văn Hầu có lệnh, không được ra ngoài."
Tôi không thèm để ý đến hắn, chỉ ngước nhìn trời cao.
Trên bầu trời, mây chiều bốn bề kéo tới, mặt trời đã lặn xuống núi, nhuộm dải mây trôi phía tây thành một màu tím sẫm như máu. Trước mắt tôi dường như lại hiện lên bóng hình của nàng.
Nơi doanh trại của Vũ Hầu ở thành Cao Thứu, tà áo mỏng màu vàng nhạt, những ngón tay trắng nõn như tuyết, cùng tiếng đàn tỳ bà thánh thót như hạt châu rơi.
Từ nay về sau, dẫu nàng và tôi cùng ở chung một Đế đô, cũng vĩnh viễn chẳng thể tương phùng.
Tại ngự tiền hội nghị, tôi đã gặp lại Lộ Cung Hành vừa trở về. Hắn cũng giống như tôi, phong trần đầy mặt, thần sắc rã rời. Trong trận chiến thành Cao Thứu thất thủ, khi cửa nam bị phá, Tiền phong doanh bảo vệ Vũ Hầu rút lui về phía trung quân, nhưng chưa kịp lùi vào trung quân thì Tiền phong doanh nhận nhiệm vụ bọc hậu đã bị đội tiên phong của Xà nhân cắt đứt, hơn một ngàn binh sĩ Tiền phong doanh toàn quân bị diệt. Hắn dẫn theo vài chục tàn quân vừa đánh vừa lui, nhưng Xà nhân quá đông, căn bản không thể tiếp cận trung quân, họ đành phải dạt về phía cửa đông.
Trong trận đại chiến ấy, cửa bắc bị phá đầu tiên, kế đến là cửa tây, còn cửa đông của Lục Kinh Ngư sau khi cửa nam bị phá vẫn kiên cường cố thủ suốt một thời gian dài. Khi Lộ Cung Hành dẫn vài chục tàn binh rút về cửa đông, Lục Kinh Ngư vẫn đang chỉ huy thuộc hạ giữ cổng thành, lũ Xà nhân ở cửa đông không tài nào tiến thêm được nửa bước. Nhưng khi Xà nhân tràn vào trong thành đánh thốc từ trong ra ngoài, cánh Tả quân dẫu kiên cường như sắt thép cũng không thể chống đỡ nổi nữa, cuối cùng tan rã. Lộ Cung Hành lẫn trong đám tàn binh Tả quân liều mạng tìm đường tháo chạy, gần một vạn Tả quân thoát được ra từ cửa đông rốt cuộc chỉ còn lại mươi người bọn họ, ngay cả Lục Kinh Ngư cũng không thoát được.
Chặng đường chạy trốn của họ còn hoảng loạn hơn cả tôi. Ra khỏi cửa đông tất phải đi qua thành Ngũ Dương, nhưng dọc đường vừa có Xà nhân, vừa có tàn binh chạy tán loạn từ thành Cao Thứu trước đó. Đến thành Ngũ Dương, thành chủ Ngũ Dương thậm chí đóng chặt cổng không đón tiếp, chỉ tiếp tế cho họ một ít lương thảo. Thành Ngũ Dương là thành lớn gần Cao Thứu nhất, ngay cả thành Ngũ Dương cũng không vào được, họ đành phải ngày đêm chạy trốn lên phía bắc. Lũ Xà nhân bám đuổi sát nút phía sau, dọc đường tàn bộ của Cộng Hòa quân thỉnh thoảng lại xuất hiện, cuối cùng khi đến được thành Đông Bình do Thiệu Phong Quan trấn thủ, đoàn người mười mấy người của họ chỉ còn lại năm người sống sót. Lúc này, Xà nhân thừa thắng xông lên sau khi tiêu diệt quân Nam chinh, binh phong đi tới đâu càn quét tới đó, bám sát gót ngay sau lưng họ. Suốt dọc đường này, Lộ Cung Hành gần như vừa chạy trốn vừa nghe tiếng gào thét chém giết của Xà nhân. Khi họ vào thành Đông Bình, Xà nhân đã ở cách phía sau hơn ba trăm dặm đang càn quét các thôn làng, chẳng biết đã giết hại thêm bao nhiêu sinh linh. Giờ đây, có lẽ Xà nhân đã bắt đầu vây hãm thành Đông Bình rồi, Thiệu Phong Quan phái họ tới, một nhiệm vụ khác chính là cáo cấp với Đế đô.
So với họ, chặng đường của tôi thực sự gần như có thể coi là chốn thiên đường. Cửa bắc nhiều núi non hiểm trở, Hậu quân không một ai trốn thoát được, bởi vậy Xà nhân hầu như không tiến quân về hướng bắc, chúng tôi đi một mạch bình an vô sự. Đến Đế đô, dẫu trước mặt Thái tử có xảy ra chút chuyện, nhưng Thái tử không hề bẩm báo việc đó lên Đế quân, chỉ tâu rằng tôi đã hộ tống an toàn bốn nữ nhạc do Vũ Hầu tuyển chọn về tới Đế đô.
"Lòng trung quân của Sở tướng quân, sáng tỏ như ban ngày."
Khi Thái tử nói câu này, chẳng ai có thể nhận ra cách đó không lâu hắn còn suýt nữa lấy mạng tôi. Khi bốn người con gái kia được đưa vào, toàn thể văn võ bá quan trong đại điện gần như đồng loạt nín thở, im phăng phắc không một tiếng động. Nhan sắc của bốn người con gái này, dẫu là trong hậu cung của Đế quân cũng khó lòng tìm được người sánh kịp. Thái tử dẫu từng có ý giấu riêng họ cho mình, nhưng dưới sự khuyên giải của Văn Hầu, Thái tử vẫn nhận thấy sự cám dỗ của ngôi vị Trữ quân vượt xa muôn phần so với mỹ nhân.
Chỉ là nào ai thấu, lúc ấy lòng tôi gần như rỉ máu.
Hiện tại, Đế quân đang hội kiến cùng mấy đại thần trọng yếu bàn bạc việc điều viện binh tới thành Đông Bình. Kể từ sau cuộc phản loạn của Thương Nguyệt công, Đế quân đã quan tâm đến quốc sự hơn nhiều, không còn như dạo trước chỉ biết trốn trong hậu cung hưởng lạc. Mà ngày mai, biết đâu chừng kẻ có công dâng mỹ nhân cho Đế quân như tôi cũng sẽ bị điểm tên vào hàng ngũ binh mã, tiến về chi viện cho thành Đông Bình.
Trương Long Hữu và Ngô Vạn Linh thấp thỏm bất an đứng sau lưng tôi, không rõ tôi đang nghĩ ngợi điều gì. Một hồi lâu sau, Ngô Vạn Linh mới rụt rè lên tiếng: "Thống lĩnh, ngài..."
Tôi quay người lại, nói: "Ngô tướng quân, xin lỗi, ta đã thất thố rồi."
Ngô Vạn Linh nói: "Thống lĩnh, sự đã đến nước này, nghĩ nhiều cũng vô ích. Kế sách trước mắt là nên nghĩ cách phá giặc."
Tôi cười cay đắng. Kế sách phá giặc sao? Nói thì dễ lắm. Mà trong thâm tâm tôi, thấp thoáng lại hiện lên một ý nghĩ khác.
Cái đế quốc này, cứ để cho nó diệt vong đi thôi.
Chỉ có điều ý nghĩ này dĩ nhiên không thể thốt ra thành lời. Tôi gật đầu bảo: "Ngô tướng quân nói rất phải."
Trương Long Hữu thấy lời qua tiếng lại giữa chúng tôi đã dần bình tĩnh trở lại, ông thở dài một tiếng, nói: "Số mệnh đã không có thì quyết chẳng thể cưỡng cầu. Cầu mong nàng ấy sẽ được bình an."
Ông ta cũng đã tuyệt vọng rồi sao? Giờ đây họ đã được nạp vào hậu cung, ngoài tuyệt vọng ra chúng tôi còn có thể làm gì được nữa?
Đúng lúc này, ngoài cổng lớn bỗng có tiếng huyên náo. Gian phòng của chúng tôi dẫu đối diện với cổng lớn, nhưng trời đã tối om, chẳng nhìn rõ được gì. Đang lúc ngập ngừng, chỉ nghe thấy tiếng Văn Hầu vang lên: "Bốn vị tướng quân có ở đó không?"
Cùng với tiếng gọi, Văn Hầu sải bước đi tới, mặt mày hớn hở như có chuyện gì đại hỷ. Chúng tôi đồng loạt quỳ xuống hành lễ: "Văn Hầu đại nhân, mạt tướng kính cẩn thỉnh an."
Văn Hầu bước tới trước mặt chúng tôi, nói: "Nào, nào, tiếp chỉ đi."
Đế quân hạ chỉ cho chúng tôi sao? Chắc hẳn là thăng quan rồi. Lòng tôi lại nhói lên một cơn đau xót, cúi đầu thưa: "Mạt tướng tiếp chỉ."
Văn Hầu đón lấy bức lụa thư từ tay một tên tùy tùng bên cạnh, dõng dạc tuyên đọc: "Thiên Bảo Đế chiếu viết: Xét thấy Long Lân quân Thống lĩnh Sở Hưu Hồng, Công chính Tiết Văn Diệc, Tham quân Trương Long Hữu, hết lòng vì nước, quên mình xông pha, vượt vạn dặm trở về, nay gia phong Sở Hưu Hồng làm Hạ tướng quân, Giáo tập Trường Quân sự Đế quốc, đảm nhiệm việc dạy dỗ hậu tiến; Tiết Văn Diệc, Trương Long Hữu đều thụ chức Công bộ Viên ngoại lang, khâm thử."
Văn Hầu đọc xong, tôi không khỏi ngẩn người. Đợi ông cất thánh chỉ xong, tôi liền hỏi: "Văn Hầu đại nhân, chúng tôi còn có một vị Ngô Vạn Linh tướng quân nữa, sao không thấy nhắc tới?"
Văn Hầu nói: "Ngô tướng quân quan chức quá thấp, nên trong thánh chỉ không đề cập đến, ngài ấy cũng vào trường quân sự đảm nhiệm chức vụ Giáo tập."
Ngô Vạn Linh ban đầu ở Hậu quân chỉ là một tiểu hiệu, là bậc chót cùng trong mười ba bậc võ quan, đến Long Lân quân cũng chỉ là Thiếu trưởng, thuộc bậc mười một. Tôi liếc nhìn Ngô Vạn Linh, hắn lại chẳng có vẻ gì là phật ý, chỉ nơm nớp lo sợ thưa: "Tạ ơn đại nhân."
Tiết Văn Diệc và Trương Long Hữu vào Công bộ thăng làm Viên ngoại lang, đều chỉ thăng một bậc, cũng chẳng tính là thăng tiến nhanh. Chức Hạ tướng quân của tôi dẫu là bậc năm trong quân hàm, bậc thấp nhất trong số các tướng quân có danh hiệu, nhưng khi tôi làm Bách phu trưởng mới là bậc mười một, lên làm Thống lĩnh cũng chỉ là bậc chín, giờ đây có thể nói là nhảy liền bốn bậc, ban đầu chỉ là võ quan cấp dưới, nay đùng một cái đã thành võ quan cao cấp rồi. Kiểu thăng chức này, chắc hẳn là Đế quân nể mặt mấy người phụ nữ kia mà thôi.
Nếu không phải vì nàng, tôi hẳn phải vui mừng khôn xiết, khéo còn dập đầu tạ ơn không dứt. Nhưng lúc này tôi lại chẳng biết là mùi vị gì, hệt như nuốt phải miếng thức ăn đã ôi thiu, nôn không ra mà nuốt cũng chẳng trôi. Tuy nhiên, việc điều tôi đến trường quân sự làm giáo tập không khỏi khiến tôi thấy bất ngờ. Đợi Văn Hầu thu dọn xong thánh chỉ, tôi liền hỏi: "Đại nhân, việc viện quân cho Đông Bình đã bàn bạc thỏa đáng chưa?"
Văn Hầu nói: "Viện quân Đông Bình do đích thân Nhị thái tử thống lĩnh hai vạn quân, Thống chế Tiền phong doanh Lộ Cung Hành làm Phao tướng quân, ngay mai sẽ xuất phát."
Lộ Cung Hành vậy là thăng quan cao hơn tôi một bậc. Nhưng hắn vốn là Thống chế Tiền phong doanh, tương đương với thân phận Vạn phu trưởng, vốn dĩ đã cao hơn Thống lĩnh Long Lân quân của tôi tới ba bậc, từ bậc sáu thăng lên bậc bốn, chỉ thăng có hai bậc. E rằng, cũng chỉ vì hắn không mang được bốn người đẹp trở về mà thôi.
Văn Hầu bảo: "Sở tướng quân, đêm nay ngươi cùng ta đối ẩm một chầu nhé, ta còn có rất nhiều chuyện muốn hỏi ngươi."
Tôi lại quỳ xuống thưa: "Tuân lệnh đại nhân."
Đối với Văn Hầu, tôi chẳng biết nên cảm kích hay nên oán hận nữa. Nếu không có Văn Hầu, tôi đã bị Thái tử chém đầu rồi. Nhưng nếu bị Thái tử chém đầu, tôi đâu cần phải chịu nỗi đau đớn như lúc này.
Văn Hầu nói: "Được rồi. Tối nay ta sẽ sai người tới đón ngươi, đêm nay tới Túy Phong lâu, uống cho say khướt mới thôi, Thái tử điện hạ cũng sẽ tới đấy."
Túy Phong lâu là tửu lầu xa hoa bậc nhất Đế đô, thứ rượu ngon trong lầu chính là rượu Mộc Cốc Tử mang từ thành Cao Thứu tới.
Rượu thơm ngọt nồng nàn, nhưng tôi cũng chẳng biết thưởng thức. Không ít võ quan thuộc phe cánh của Văn Hầu tới chào hỏi tôi, ai mời tôi cũng cạn chén, uống như uống nước lã, nghe người ta tâng bốc một tràng những lời như "Sở tướng quân hào sảng", "Sở tướng quân anh vũ", cũng chẳng hiểu uống rượu thì có can hệ gì tới hào sảng với anh vũ. Vốn dĩ uống một vò là đầu óc đã váng vất, nhưng lúc này dường như tôi càng uống lại càng tỉnh táo.
Rượu Mộc Cốc Tử, chẳng biết sau này còn ai ủ được nữa chăng.
Văn Hầu và Thái tử ngồi cùng nhau, chẳng rõ đang bàn tính chuyện gì. Ca kỹ trong tửu lầu đàn ca múa hát không ngừng, cũng có người gảy đàn tỳ bà, nhưng tiếng đàn tỳ bà ấy lại như nhát dao nhọn, cứa vào tim tôi đau buốt.
Văn Hầu bỗng lên tiếng: "Sở tướng quân, ngươi kể xem, lũ yêu thú kia rốt cuộc có hình thù ra sao?"
Bị Văn Hầu gọi tên, tôi vội vàng đứng bật dậy, ông phẩy tay bảo: "Ngồi xuống nói, ngồi xuống nói."
Tôi ngồi xuống thưa: "Đó là chuyện hồi đầu năm, sau khi công phá thành Cao Thứu..."
Tôi thao thao bất tuyệt kể lại, từ lúc tàn sát trong thành Cao Thứu rồi phát hiện ra Xà nhân, cho đến khi Xà nhân xuất hiện, Thẩm Tây Bình tử trận, Lao Quốc Cơ hiến kế dùng hỏa dược tấn công nhưng thất bại, phát hiện Tham quân Cao Thiết Xung vốn là nội gian, rồi Lục Kinh Ngư và Thương Nguyệt công trở về, mưu kế của Thương Nguyệt công bị nhìn thấu dẫn đến bỏ mạng trong trận địa Xà nhân, cho tới cuối cùng trong thành cạn kiệt lương thảo, phải giết thịt lẫn nhau để làm thức ăn, rốt cuộc thành bị công phá, mười vạn đại quân nam chinh toàn quân bị diệt. Những lời này chắc hẳn Lộ Cung Hành cũng đã bẩm báo một lượt trước mặt Đế quân rồi, tài ăn nói của tôi dẫu không bằng Lộ Cung Hành nhưng kể lại cũng rành mạch rõ ràng. Khi kể đến đoạn giết người làm thức ăn, tôi thấy Thái tử lộ vẻ buồn nôn, bất giác trong lòng dâng lên chút khoái trá thầm kín.
Đợi tôi dứt lời, không một ai lên tiếng. Họ nghe xong đều chấn động bàng hoàng. Hồi lâu sau, Văn Hầu mới thở dài: "Không ngờ Vũ Hầu đại nhân cuối cùng lại chịu kết cục thế này."
Thái tử nói: "Chân khanh, đừng nói mấy chuyện này nữa, xem múa hát thôi."
Văn Hầu vội thưa: "Phải, phải, Lệ Chi không nên làm mất hứng. Túy Phong lâu này mới có một ca kỹ tên gọi Hoa Nguyệt Xuân, người dẫu không phải trang tuyệt sắc, nhưng giọng ca uyển chuyển êm tai, thực là bậc diệu phẩm."
Nàng Hoa Nguyệt Xuân kia bước lên. Nàng ta chẳng tính là mỹ nhân gì cho cam, dung nhan cũng chỉ tầm thường, nhưng vừa cất giọng hát thì quả thực có nét thánh thót ba ngày còn vương vấn trên xà nhà. Đội nhạc cụ tấu sau lưng nàng vốn cũng gảy rất êm tai, nhưng nàng chỉ vừa nhả chữ, liền cảm thấy thứ nhạc khúc kia chẳng qua chỉ như tiếng côn trùng rỉ rả bờ cỏ mà thôi.
Một khúc vừa dứt, Văn Hầu vỗ tay khen: "Quả là tuyệt khúc. Tiếc thay khúc nhạc đệm này lại có phần lép vế, Điện... à công tử, ngài vốn tinh thông âm luật, chi bằng lựa theo tiết tấu tấu lên một khúc, để chúng tôi được lắng nghe tuyệt kỹ của công tử, chẳng phải là chuyện tao nhã sao?"
Thái tử khẽ mỉm cười nói: "Chân khanh, đã vậy thì ta sẽ tấu một khúc."
Hắn rút từ trong ngực ra một cây đoản địch đen bóng. Vừa thấy cây sáo này, tôi liền nhớ ngay tới cây thiết địch của Vũ Hầu. Hoa Nguyệt Xuân này giọng ca tròn vành rõ chữ, vừa vang vừa trong trẻo, e rằng chỉ có thiết địch của Vũ Hầu mới át nổi tiếng hát của nàng, Thái tử muốn đệm nhạc cho nàng, chẳng phải là tự chuốc lấy bẽ bàng sao?
Thái tử hỏi: "Khúc tiếp theo là bài gì?"
Hoa Nguyệt Xuân chắc cũng không ngờ Thái tử lại thực sự muốn thổi một khúc, nàng ta có chút hoang mang thưa: "Công tử, khúc tiếp theo là 'Nguyệt Ánh Xuân Giang'."
"Nguyệt Ánh Xuân Giang"!
Tim tôi bỗng đập thót một nhịp. Khúc nhạc này, chẳng phải chính là khúc nàng đã gảy khi tôi lần đầu tiên nhìn thấy nàng trong trướng của Vũ Hầu sao? Chẳng lẽ Thái tử đã biết rõ ngọn nguồn, cố tình bảo Hoa Nguyệt Xuân hát khúc này để chọc tức tôi? Tôi lén nhìn Thái tử, hắn vẫn mỉm cười rạng rỡ, căn bản chẳng hề để ý đến tôi. Tôi không khỏi cười khổ, biết rõ chỉ là do mình suy nghĩ viển vông. Khúc "Nguyệt Ánh Xuân Giang" này rất đỗi thịnh hành, tôi từ nhỏ đã nghe quen tai, Hoa Nguyệt Xuân muốn hát cũng chẳng có gì lạ. Mà tôi trong mắt Thái tử, e rằng đến một con sâu cái kiến cũng chẳng bằng, hắn hơi đâu mà nhọc công chọc tức tôi. May mà sự đa tình tự huyễn hoặc này của tôi không bị ai phát hiện, tôi bưng chén rượu lên, lại uống thêm một ngụm.
Rượu vừa chạm môi, bên tai bỗng vang lên một chuỗi tiếng sáo. Tiếng sáo vang rền xé toang mây trời, nhưng từng âm điệu lại rõ ràng mạch lạc, lọt vào tai êm ái dễ chịu khôn xiết. Tôi suýt nữa phun cả ngụm rượu ra ngoài, biết không thể thất lễ như vậy nên gượng ép nuốt xuống.
Thái tử ngồi ngay ngắn trên ghế, nét mặt trang nghiêm. Hắn vốn dĩ đã anh tuấn phi phàm, lúc này trông lại càng giống như trần gian thoát tục. Hoa Nguyệt Xuân trên mặt cũng lộ vẻ vui mừng, nàng ta chắc chắn cũng chẳng ngờ Thái tử lại có ngón sáo thần diệu đến bực này.
Lúc này đoạn dạo đầu đã hết, dàn nhạc tấu lên một đoạn hòa âm, giọng hát của Hoa Nguyệt Xuân cất lên:
"Nguyệt ánh xuân giang tĩnh vô ba,
Giang thượng thanh sơn lạc hoa đa.
Liên sơn minh nguyệt xuân hạo miểu,
Giáp ngạn thùy dương ảnh bà sa.
Giang thượng hà nhân hành hựu chỉ,
Nhiễu thuyền minh nguyệt sầu vô dĩ.
Mênh mang giang thủy tống quy chu,
Nhất trạo xuân ba nhân thiên lý."
Hát đến đây, Hoa Nguyệt Xuân ngừng lại đôi chút, phường nhạc tấu lên khúc dạo giữa, trong đó tiếng sáo của Thái tử như một dòng nước chảy dài, miên man không dứt, chen giữa tiếng tranh, tỳ bà, tiêu, trống, vừa thanh thoát xuất chúng lại vừa như hòa quyện khăng khít không một kẽ hở với những âm thanh khác. Lúc này Thái tử khẽ nhấc tay, tiếng sáo vốn đang ở cung điệu bỗng chuyển sang thương thanh, Hoa Nguyệt Xuân lại cất giọng hát:
"Nhân cách vân sơn vạn thiên trùng,
Thiên phong xuy hạ ngọc đinh đông.
Ảnh lạc ba tâm trục giang thủy,
Nhân tại bạch vân đệ kỷ phong.
Thủy lưu thủy tại trạc cẩm lân,
Nhân khứ nhân lai thảo như nhân.
Thử thủy dĩ phi khứ niên thủy,
Thử thân do thị khứ niên nhân."
Lời ca này chẳng biết do ai sáng tác, chan chứa một nỗi bi cảm xót xa thương nhớ cảnh cũ người xưa. Khi Hoa Nguyệt Xuân hát tới câu "Nước này đã chẳng phải nước năm xưa, thân này vẫn là người năm cũ", tôi chỉ thấy sống mũi cay cay, suýt nữa trào nước mắt.
Năm xưa. Năm xưa khi tôi chưa quen biết nàng, vẫn còn là một Bách phu trưởng nơi Tiền phong doanh, công thành đoạt đất, giết người không gớm tay, đao thương thấm đẫm máu tươi quân thù. Vậy mà mới chỉ tròn một năm, dường như tôi đã biến thành một con người khác, còn nói gì đến chuyện "thân này vẫn là người năm cũ" nữa chứ?
Tiếng sáo của Thái tử vút lên cao lượn hai vòng, bỗng nhiên lại như dòng thác đổ ào xuống, chuyển ngược về cung điệu, trở nên tha thiết yêu kiều. Hoa Nguyệt Xuân lại hát:
"Nhân thế hưng suy phân như lữ,
Bách niên kỷ kiến hoa như vũ.
Giang lưu nhật dạ biến cổ kim,
Tích nhật hồng trần kim hoàng thổ.
Vân phá nguyệt lai giang thủy bình,
Khinh ba vị yểm lạc hoa thanh.
Đãn nguyện nhân sinh trường như thử,
Xuân giang vạn lý nguyệt trường minh."
Hát đến chữ "minh", giọng nàng tựa một sợi tơ mỏng, dần dần nhỏ lại nhưng vẫn ngân nga mãi, tựa như một sợi chỉ dài quấn quýt không dứt. Tiếng nhạc của phường đàn dần dần im bặt, duy chỉ có tiếng sáo của Thái tử vẫn như sợi tơ dài đuổi theo làn điệu của Hoa Nguyệt Xuân, chẳng hề đứt đoạn.
Chẳng biết đã qua bao lâu, tôi nghe thấy tiếng Văn Hầu cất lên sang sảng: "Giọng ca tuyệt diệu khôn cùng, tiếng sáo xuất quỷ nhập thần, quả là bổ trợ cho nhau, vẹn cả đôi đường!"
Hát xong rồi sao? Lúc này tôi mới nhận ra xung quanh im phăng phắc, Hoa Nguyệt Xuân đang nhìn Thái tử đăm đăm, trên gương mặt nàng ánh lên một tia rạng ngời kỳ lạ. Nàng vốn chẳng phải người có nhan sắc chim sa cá lặn, nhưng lúc này lại bừng sáng thần thái, trông chẳng khác nào một mỹ nhân. Mà Thái tử cư nhiên cũng mỉm cười nhìn nàng, trong mắt lộ vẻ hưng phấn khó tả. Văn Hầu nói: "Hoa tiểu thư, nghe đồn Mẫn Duy Khâu sau khi rời kinh từng được một lần thưởng thức khúc hát tuyệt diệu của tiểu thư, có đề thơ lên vách rằng: 'Tự hận thân do thiên quyến cố, xuất đô do đắc duyệt thanh ca', chẳng hay có thật không?"
Hoa Nguyệt Xuân mím môi cười bảo: "Đại gia thực khéo trêu đùa, Mẫn tiên sinh chẳng qua chỉ là quá khen Nguyệt Xuân mà thôi."
Thái tử lúc này lẩm bẩm: "Hèn chi, hèn chi, Mẫn tiên sinh nghe được khúc ca này, quả thật không còn coi chuyện bị lưu đày xa xôi là nỗi khổ nữa rồi. Ngay cả trong cung, nào đã từng được nghe khúc ca tuyệt diệu dường này?"
Văn Hầu bỗng nở nụ cười đầy mờ ám, bảo: "Công tử, khuê phòng của Hoa tiểu thư đêm nay vẫn còn thiếu một người cùng xướng họa, công tử chẳng hay có nhã hứng bước vào trướng gấm cùng ngâm vịnh một phen?"
Lòng tôi bỗng chùng xuống, hụt hẫng vô cùng. Đây là Văn Hầu sao? Chẳng khác nào kẻ dắt mối trong chốn thanh lâu. Tôi chưa từng đi kỹ viện, nhưng hồi ở trường quân sự, cùng vài bạn học ra ngoài về muộn đi ngang qua mấy chốn phong trần đó, từng thấy những kẻ dắt mối níu giữ ngựa của các công tử qua đường, miệng tuôn ra những lời chua chát như "Công tử, đêm xuân sao nỡ cô đơn" các loại. Một Văn Hầu bày mưu lập kế, từng phóng hỏa thiêu rụi chiến thuyền của Thương Nguyệt công, lại định ra kế xua cá vào đầm sâu dồn Cộng Hòa quân vào bước đường cùng, với Chân Lệ Chi trước mắt này lẽ nào thực sự là một người?
Thái tử liếc nhìn xung quanh, ấp úng: "Chuyện này..."
Văn Hầu vỗ ngực cam đoan: "Cứ yên tâm, hôm nay ta giữ trận cho công tử, sẽ ở ngay đây uống say cùng mấy vị này thâu đêm suốt sáng, công tử cứ việc yên lòng."
Thái tử khẽ mỉm cười nói: "Chỉ không biết Hoa tiểu thư có bằng lòng chăng?"
Văn Hầu cười ha hả: "Công tử, ngài chẳng thấy gương mặt nhỏ nhắn của Hoa tiểu thư đã tươi như hoa rồi sao, gặp được lang quân như công tử cũng là phúc phận tu mấy kiếp của Hoa tiểu thư đấy. Hoa tiểu thư, ta làm mối tốt cho cô thế này, bao giờ cô mới tạ ơn ta đây?"
Hoa Nguyệt Xuân thẹn thùng kêu lên một tiếng "Ối", rồi chạy biến vào trong. Văn Hầu cười bảo: "Công tử, ngài còn chưa vào sao?"
Thái tử đáp một tiếng liền chạy vội vào trong. Hắn vốn dĩ giữ vẻ thanh nhã thong dong, lúc này chạy vội quá làm rơi cả một chiếc giày. Đợi hắn chạy vào trong rồi, Văn Hầu cười bảo đám phường nhạc: "Người đâu, lấy tiền thưởng. Cô nương nhà các ngươi hôm nay tìm được ý trung nhân rồi, các ngươi cứ tự về đi, ngày mai hẵng đến đón."
Đám phường nhạc tạ ơn rối rít rồi lũ lượt rời đi. Khi họ bước đi, trong lòng tôi trào dâng từng cơn phẫn uất.
Tôi không thể nào tưởng tượng nổi, Văn Hầu đường đường một đấng quân hầu lại có thể bỉ ổi bực này. Ngay cả thái giám do Thái tử mang theo cũng chẳng đến mức trơ trẽn như vậy. Nhưng tôi đâu dám nhiều lời, chỉ sợ nói lỡ miệng một câu sẽ chọc giận Văn Hầu. Văn Hầu đối với Thái tử vừa mềm mỏng vừa luồn cúi, đối với hạng người như tôi e rằng cũng chẳng khác Vũ Hầu là bao.
Đang mải suy nghĩ, bỗng nghe thấy Văn Hầu lại cất lời: "Chư công, giờ đây đã không còn kẻ nhảm nhí vướng tai, hãy bàn chính sự thôi."
Mấy câu này được thốt ra với khẩu khí ôn hòa đĩnh đạc, nếu không phải tận tai nghe ra giọng của Văn Hầu, tôi tuyệt đối chẳng dám tin lời này lại do chính vị Văn Hầu vừa rồi nói ra. Tôi ngạc nhiên ngẩng phắt đầu lên.