Huyện Văn Đương và thành Phù Đôn chỉ cách nhau một con sông Áp Long. Sông Áp Long tuy là chi lưu của Đại Giang, nhưng lại còn rộng hơn cả Đại Giang, đến tận bây giờ tôi mới hiểu vì sao người ta lại lấy tên "Áp Long" để đặt cho con sông lớn này. Con đường men theo bờ sông lượn quanh sườn núi, suốt dọc đường đi đều có thể trông thấy dòng đại hà ấy.
Bước đi trên đường, nhìn ngắm sóng đục cuồn cuộn giữa dòng sông, chốc chốc lại thấy đà long ẩn hiện trong làn sóng dữ, lòng tôi vẫn không khỏi bàng hoàng khiếp sợ.
Ngô Vạn Linh đối với địa hình bốn tỉnh Trung Tây xem như cũng có chút hiểu biết, nhưng ông cũng chỉ biết đường đi tới Phù Đôn. Chúng tôi xuất phát từ thành Cao Thứu, đi về hướng tây bắc, đã xuyên qua hai tỉnh Thành Muội và Bỉnh Đức. Hai tỉnh đó vốn dĩ không có thành trì danh tiếng, sau cơn binh lửa lại càng vắng bóng người qua. Chúng tôi cũng từng đi qua hai, ba tòa thành nhỏ, nhưng bên trong chỉ rặt xương trắng chất chồng, không một bóng người sống sót. Tôi nhớ có một tòa thành chúng tôi từng đi qua lúc mới đến, khi ấy tôi còn cùng đám người Kỳ Liệt đi đồ thành. Tòa thành nhỏ chỉ có hai, ba vạn người ấy, chúng tôi chỉ mất nửa ngày đã giết sạch không chừa một ai. Lúc bấy giờ chẳng cảm thấy có gì bất an, nay trở lại chốn cũ, nơi đáy lòng lại không kìm được một cơn đau xót dâng trào.
Tỉnh Thiên Thủy trước kia từng là tỉnh có dân số đông nhất trong số mười chín hành tỉnh, nghe nói vào thời cực thịnh, cứ cách trăm dặm lại có một thôn trấn nhỏ. Thành Phù Đôn trong mười hai danh thành tuy chỉ xếp bậc trung, nhưng các tòa thành nhỏ của tỉnh Thiên Thủy lại nhiều nhất trong các hành tỉnh. Vậy mà, một tỉnh Thiên Thủy từng dung dưỡng ngàn vạn nhân khẩu, nay chỉ còn sót lại hơn ba mươi vạn người. Thiên Thủy muốn khôi phục lại nguyên khí, e rằng chẳng biết tới năm nào tháng nào nữa.
Dẫu sao đi nữa, chúng tôi cuối cùng cũng dần thấy lại dấu tích con người. Trên quan đạo của hai tỉnh Thành Muội và Bỉnh Đức, đường sá hầu như bị cỏ cây vùi lấp toàn bộ, nhưng từ khi chúng tôi tới huyện Văn Đương, cũng đã dần thấy vài vết móng ngựa cùng dấu chân bộ hành, đường cũng dễ đi hơn nhiều.
Tôi đi ở đầu hàng, cùng Ngô Vạn Linh kéo chiếc cáng. Giờ đây Tiết Văn Diệc tuy vẫn chưa thể tự mình đi lại, nhưng đã có thể ngồi dậy được.
Tôi nghĩ, tới thành Phù Đôn rồi, dẫu cho Tây Phủ Quân không chịu tương trợ, chúng tôi đại khái cũng có thể thuận lợi quay về. Chỉ mong sao điều Ngô Vạn Linh lo lắng sẽ không trở thành sự thật.
Huyện Văn Đương nằm sát ngay thành Phù Đôn, chỗ chúng tôi nghỉ lại đêm qua cách thành chừng hơn ba mươi dặm. Sau một trận mưa rào dữ dội, hôm nay lại là một ngày nắng đẹp hiếm hoi. Đi trên đường, ngắm nhìn những mầm cỏ non vừa nhú lên từ nền đất ven đường, lòng tôi cũng dấy lên niềm vui sướng hiếm có.
Lúc này, Ngô Vạn Linh khẽ nói: "Thống lĩnh, người hôm qua ngài gặp, liệu có phải là người của Tây Phủ Quân không?"
Tôi ngoảnh đầu lại nhìn ông ta, đáp: "Ông vẫn còn lo chuyện này sao?"
“Tôi nghĩ, ngộ nhỡ đó đúng là người của Tây Phủ Quân, tốt nhất chúng ta nên vờ như không biết, thanh kiếm của Trương tiên sinh chớ nên đem ra cho người khác thấy, đỡ sinh thêm chuyện.”
Quả thật, nếu người kia thực sự là người của Tây Phủ Quân, thì đúng là chuyện bé xé ra to. Tôi trầm ngâm nói: "Nói cũng phải. Nhưng ta thấy bộ dạng kẻ đó xấu xí quá chừng, không giống người của Tây Phủ Quân cho lắm."
Ngô Vạn Linh cười khẽ một tiếng, bảo: "Thống lĩnh thật biết nói đùa, xấu xí thì đâu có nghĩa là không được tòng quân. Tỷ như..."
Ông ta nhìn sang Trương Long Hữu. Trương Long Hữu đang ôm một hũ giữ lửa đi phía sau, trên người đeo thanh trường kiếm nhặt được kia, chẳng hề hay biết chúng tôi đang bàn tán về chuyện xấu đẹp của mình. Bao kiếm tuy làm rất đơn giản nhưng không hề thô kệch, chỉ có điều đeo trên người y thì nhìn thế nào cũng thấy chẳng ra dáng. Trương Long Hữu dĩ nhiên không xấu, diện mạo của y thậm chí có thể coi là tuấn lãng, chỉ là trông thực sự không giống một người lính, thật không hiểu ban đầu làm sao y lọt được vào đại quân nam chinh của Vũ Hầu. Tôi bất giác bật cười, nói: "Nhưng người kia quả thực rất xấu, nhìn buồn cười đến mức kỳ cục."
Ngô Vạn Linh nén cười, hỏi: "Rốt cuộc xấu đến mức nào?"
Nghe ông ta hỏi vậy, tôi bỗng giật mình, đáp: "Diện mạo người đó ta chỉ thoáng thấy một lần, nhưng dường như... dường như trước kia ta từng gặp qua."
"Ngài quen biết sao?"
Dù trời quang mây tạnh, ánh nắng chan hòa rực rỡ, nhưng tôi vẫn bất giác rùng mình một cái, lẩm bẩm: "Đúng vậy, dường như ta có quen biết hắn. Nhưng mà, nhưng mà..."
Tôi không sao nhớ nổi mình từng gặp người kia ở đâu, mà người đó rõ ràng cũng chẳng nhận ra tôi. Có lẽ là trên đường nam chinh tôi đã tình cờ giáp mặt một lần chăng, chỉ là tôi nghĩ mãi không ra.
Đang mải suy nghĩ, chợt nghe Trương Long Hữu kêu lên: "Mau nhìn kìa! Chỗ kia có khói!"
Ở đằng xa, một làn khói mỏng đang lượn lờ bốc lên. Sau cơn mưa, không khí như được gột rửa sạch sẽ, tầm mắt nhìn được rất xa, làn khói ấy ước chừng cũng cách hơn mười dặm.
Đó là khói bếp. Lòng tôi mừng rỡ khôn xiết, không buồn bàn chuyện khác với Ngô Vạn Linh nữa, liền gọi to: "Ngô tướng quân, đằng kia chính là thành Phù Đôn chăng?"
"Rất có thể là vậy."
Ngô Vạn Linh đưa tay lên trán che nắng nhìn về phía trước, lại nói: "Thống lĩnh, chúng ta nghỉ chân một lát rồi bàn bạc đã."
"Được thôi," tôi ngẫm nghĩ một chút rồi nói, "tốt nhất là để ta đi dò đường trước."
Ngô Vạn Linh định nói thêm gì đó, tôi liền gạt đi: "Ngô tướng quân, ông không cần nhiều lời nữa, cứ quyết định vậy đi. Ngày mai nếu ta không trở về, các ngươi lập tức rời đi, chớ có chờ ta."
Ngô Vạn Linh trầm ngâm một lát rồi dặn dò: "Thống lĩnh, ngài cẩn thận một chút."
Tôi cười khổ nói: "Hy vọng Tây Phủ Quân không tệ như ông nghĩ. Các ngươi chờ tin tức của ta."
Từ biệt họ xong, tôi một mình cất bước tiến về phía trước.
Con đường này dấu vết con người dần nhiều lên, trên mặt đất còn thấy được cả vệt bánh xe lún sâu. Những vết bánh xe hằn rất sâu, hôm qua mưa lớn như thế mà vẫn chưa bị cuốn trôi. Nhìn những vệt bánh xe thẳng tắp này, tôi mới thực sự cảm thấy mình đã quay trở lại với chốn nhân gian.
Càng đi về phía trước, dấu tích con người lại càng nhiều. Tôi đi có phần mỏi mệt, liền nhặt một tảng đá ven đường ngồi xuống nghỉ ngơi.
Thành Phù Đôn đã ở ngay phía trước. Càng đến gần tòa thành, lòng tôi lại càng thêm phần hoang mang thảng thốt.
Vừa ngồi một lát, bỗng nghe phía trước truyền lại một tràng tiếng vó ngựa dồn dập. Tiếng động ấy vô cùng gấp gáp, từ xa nghe tới tựa hồ như có mấy chục con tuấn mã đang phi tới vậy. Tôi đứng dậy, phóng mắt nhìn về phía trước.
Con đường núi này quanh co uốn lượn men theo sườn non, khúc cua chằng chịt khắp nơi, vẫn chưa nhìn thấy nửa bóng người. Thế nhưng nghe tiếng động thì đã ở rất gần rồi. Lắng nghe tiếng vó ngựa ấy, chính tôi cũng chẳng rõ mình nên mừng rỡ hay lo âu.
Kẻ đến tám phần mười là người của Tây Phủ Quân.
Tôi chờ không bao lâu, bỗng nhiên cách trăm bước phía trước xuất hiện mười mấy bóng người. Cách trăm bước chính là một khúc quanh, bọn họ phóng ngựa rất gấp, vừa vòng qua khúc quanh đó đã hiện ra trước mắt tôi.
Họ chắc chắn cũng đã nhìn thấy tôi, những con ngựa đang phi nước đại lập tức bị ghìm lại, người chạy ở đầu hàng ghìm cương quá gấp khiến con ngựa chồm hẳn hai chân trước lên.
Tôi giơ hai tay vẫy vẫy, ra hiệu mình không có ác ý, vừa vẫy vừa bước về phía trước.
Dù sao đi nữa, trong lòng tôi vẫn có đôi phần vui mừng.
Nào ngờ tôi vừa bước được mấy bước, những kỵ sĩ kia bỗng nhiên rút trường thương trên lưng ngựa xuống, dàn hàng ngang chắn ngang mặt đường, bày ra bộ dạng như lâm đại địch.
Chẳng lẽ bị Ngô Vạn Linh nói trúng rồi sao?
Lòng tôi chùng xuống, nhưng trên mặt vẫn nở nụ cười, cất tiếng gọi: "Chư vị tướng quân, ta là..."
Lời tôi chưa dứt, một tên kỵ sĩ đã thúc ngựa tiến lên, quát lớn: "Đứng lại! Không được bước tới nữa!"
Tôi lập tức đứng sững tại chỗ. Nhìn qua, có hai tên kỵ sĩ thậm chí đã hạ cung tên xuống, giương tên lắp vào dây, dáng vẻ chừng như chỉ cần tôi bước thêm một bước là bọn họ sẽ lập tức bắn tên.
Tôi lớn tiếng: "Chớ hiểu lầm, ta là Thống lĩnh Long Lân Quân của quân đội đế quốc, Sở Hưu Hồng. Xin hỏi, các vị có phải tướng quân của Tây Phủ Quân không?"
Tên kỵ sĩ vừa tiến lên kia giục ngựa tới gần, hỏi: "Ngươi nói ngươi là ai?"
Gã vẫn dùng mũi trường thương chĩa thẳng vào tôi. Tôi có phần bực bội, nhưng mặt vẫn giữ nụ cười, đáp: "Ta là Thống lĩnh Long Lân Quân, Sở Hưu Hồng."
"Long Lân Quân?" Gã nhìn tôi một lượt, bỗng quát lên: "Nói bậy! Long Lân Quân do đích thân Thẩm Tây Bình tướng quân thống lĩnh, từ đâu lại chui ra một tên thống lĩnh như ngươi!"
Nhìn bộ dạng gã, tựa hồ như sắp sửa đâm một thương tới nơi. Tôi vội hô: "Thẩm đại nhân đã trận vong, ta là do đích thân Quân Hầu đề bạt."
Gã nhìn tôi chằm chằm, hừ một tiếng nói: "Ngươi là lính đào ngũ?"
Tôi đáp: "Đoàn quân nam chinh đã toàn quân bị diệt, ta là người trốn thoát ra được."
Tôi nói bằng giọng điệu vô cùng bình thản, thừa biết họ chưa chắc đã tin. Một nguyên nhân khác khiến Ngô Vạn Linh lo lắng cũng chính là điều này. Tây Phủ Quân chưa chắc sẽ tin lời chúng tôi, thế nhưng lời tôi vừa thốt ra, bọn họ ai nấy đều chấn động. Có kẻ buột miệng thảng thốt: "Chẳng lẽ là thật sao?"
Tôi giật mình, hỏi: "Các ngươi đã biết rồi?"
Tên kỵ sĩ dẫn đầu nói: "Cứ đi gặp hai vị đô đốc Chu, Đào rồi hẵng nói sau. Tiểu Chu, ngươi cho hắn cùng cưỡi một ngựa quay về trước đi, bọn ta đi tuần tra thêm một vòng nữa."
Chánh đô đốc của Tây Phủ Quân tên là Chu Nặc, phó đô đốc tên là Đào Thủ Chuyết, điều này tôi cũng biết. Con ngựa của gã Tiểu Chu kia là to lớn nhất, gã liền đi tới bảo tôi ngồi ra phía sau. Tôi trèo lên ngựa, hỏi: "Xin hỏi tướng quân quý tính?"
Người dẫn đầu đáp: "Ta là Đội quan Đệ Tam Quân Tây Phủ, Đỗ Bỉnh, Sở tướng quân."
Khi gã thốt ra ba chữ cuối cùng, tôi chỉ cảm thấy tảng đá trong lòng lập tức rơi xuống. Gã gọi tôi như vậy, nghĩa là đã tin tưởng tôi rồi. Tôi liền nói: "Đỗ tướng quân, phía sau ta vẫn còn mấy người đồng bạn, trong đó có cả người bị thương, xin Đỗ tướng quân đưa cả bọn họ tới đây."
Đỗ Bỉnh cười một tiếng, thản nhiên đáp: "Được thôi."
Tôi vốn đã trút được gánh nặng trong lòng, nhưng vừa thấy nụ cười của gã, tôi bất giác cảm thấy lạnh sống lưng. Nụ cười ấy chẳng hẳn là nham hiểm, thế nhưng tôi nhìn vào cứ thấy dường như ẩn chứa thâm ý gì đó. Tôi có chút hối hận vì đã đem tung tích của đám người Ngô Vạn Linh nói hết cho gã, nhưng lời đã nói ra, hối hận cũng chẳng kịp nữa rồi.
Tiểu Chu cùng hai tên kỵ sĩ khác áp giải tôi quay về thành. Hai tên kia phần nhiều là để giám sát tôi, tôi cũng chẳng lấy làm khó chịu. Cái gã Tiểu Chu này lại là kẻ lắm mồm, vừa đợi Đỗ Bỉnh cùng thuộc hạ đi xa, gã liền hỏi: "Sở tướng quân, đại quân nam chinh thực sự đã toàn quân bị diệt rồi sao?"
Tôi ủ rũ đáp: "Đúng vậy."
"Thực sự là cái loại quái vật giống như người rắn kia sao?"
Tôi kinh ngạc: "Sao các ngươi biết được? Tin tức này truyền nhanh thế ư?"
Tiểu Chu cười ha hả bảo: "Đã có người truyền tin tức của các ngươi tới rồi, các ngươi tính ra cũng nhanh đấy, trước sau chỉ chênh nhau một chút là tới nơi."
"Có người truyền tin tới rồi?" Tôi giật nẩy mình, "Là tàn binh của đại quân nam chinh sao?"
Gã lắc đầu đáp: "Chẳng rõ. Chỉ biết là một kẻ đội nón lá to sụp. Kiếm thuật của người đó quả thực vô cùng lợi hại, Chu đô đốc của bọn ta ban đầu cứ ngỡ hắn là tàn dư của Lý Thuyên, đến để làm nhiễu loạn lòng quân, lại thấy hắn không chịu cởi nón lá xuống, ngay cả dung mạo thế nào cũng không cho người khác nhìn, bộ dạng giấu đầu lòi đuôi, liền hạ lệnh bắt lấy hắn. Nào ngờ kiếm thuật của kẻ này cực kỳ cao cường, một thanh tế kiếm ngăn cản được đòn tấn công của hơn mười người mà chẳng làm đả thương một ai, chỉ dặn chúng ta phải cẩn thận quái thú tập kích, nói là loại quái vật giống như người rắn, nói xong liền phi thân rời đi. Các ngươi thực sự đã toàn quân bị diệt rồi sao?"
Tôi nhất thời câm lặng. Người mà Tiểu Chu nói rõ ràng chính là kẻ đã giao thủ với tôi rồi táng mạng trong miệng đà long kia. Không ngờ rằng hắn lại tới báo tin cho Tây Phủ Quân, vậy thì hẳn là người thuộc phe ta rồi?
Tôi gật đầu, đáp: "Đúng vậy."
"Loại quái thú đó thực sự lợi hại đến thế sao?"
Có lẽ là do tôi đa tâm, nhưng từ trên gương mặt Tiểu Chu, tôi không thấy được bao nhiêu phần đồng cảm, trái lại còn có chút nét mặt cười trên nỗi đau của người khác.
Lòng tôi chùng xuống, nói: "Phải, loại quái thú đó vô cùng lợi hại."
Gã bĩu môi một cái. Có lẽ trong thâm tâm gã nhất định cũng cho rằng do Vũ Hầu thống binh sai lầm nên mới dẫn đến binh bại như núi lở. Có khả năng gã đang thầm nghĩ "nếu để Tây Phủ Quân làm chủ lực thì loại thảm bại này tuyệt đối không thể xảy ra". Tôi cũng chẳng muốn nhiều lời, chỉ hỏi: "Hiện giờ Tây Phủ Quân có bao nhiêu binh lực?"
Vừa nhắc tới chuyện này, sắc mặt Tiểu Chu lập tức hồng hào rạng rỡ, đáp: "Kể từ sau khi nghịch tặc Lý Thuyên bại vong, quân ta đã khôi phục lại biên chế cũ, hiện giờ vẫn có năm vạn đại quân. Đáng tiếc khi các ngươi nam chinh bọn ta không thể đồng hành, nếu không thì Vũ Hầu cũng chẳng gặp phải chuyện bất trắc."
Nếu Tây Phủ Quân cùng đi, khéo chừng chúng tôi còn bại thảm hơn nữa. Thêm mấy vạn người, chỉ huy không thông suốt, lương thảo tiêu hao lại càng nhiều hơn, thực sự chẳng có mấy phần cần thiết. Trên thực tế, về mặt quân sự chúng tôi không hề thất bại, xà nhân dẫu cho sức tấn công mạnh đến kinh người, nhưng nếu chúng tôi có thể bảo đảm được tuyến hậu cần quân nhu thì chưa chắc đã không thể kiên thủ tới cùng. Có điều nói ra những lời này dường như cũng chỉ là sự cứng họng của một kẻ bại trận, tôi chỉ thản nhiên buông một câu: "Có lẽ vậy."
Chiến mã tiếp tục tiến bước, đi quanh co khúc khuỷu trong hẻm núi suốt nửa ngày trời. Dẫu cho thành Phù Đôn đã ở ngay trước mắt, chỉ cách một con sông lớn, tưởng chừng như đưa tay ra là chạm tới, thế nhưng đi lại vẫn phải mất nửa ngày. Tôi hỏi: "Còn bao xa nữa?"
Tiểu Chu cười đáp: "Trông núi gần mà chạy chết ngựa, Sở tướng quân đi mệt rồi sao? Sắp tới nơi rồi."
Quả thật, ngoặt thêm vài khúc quanh, phía trước liền xuất hiện một tòa hành dinh. Trước cổng doanh trại có lính canh gác, từ đằng xa có người cất tiếng gọi: "Tiểu Chu, các ngươi về trước rồi đấy à? Lão Đỗ đi đâu rồi?"
Tiểu Chu ngoái đầu lại bảo: "Tới bến đò rồi, xuống ngựa thôi."
Tôi nhảy xuống ngựa, gã cũng xuống theo, cất giọng gọi: "A Xương, bọn ta dẫn vị tướng quân bại trận từ đoàn quân nam chinh là Sở Hưu Hồng trở về rồi đây."
Trong hành dinh rộ lên một hồi xôn xao náo động, có lẽ bọn họ ai nấy cũng đều giật mình kinh hãi. Khi chúng tôi bước vào hành dinh, trước cổng đã tụ tập một nhóm người, tôi vừa bước qua cửa liền bị bọn họ vây kín ở chính giữa. Có kẻ lớn tiếng hỏi: "Ngươi là kẻ trốn thoát từ quân nam chinh trở về sao? Quân nam chinh thực sự bại trận rồi à?"
Tôi đáp: "Phải."
"Kể nghe chút coi."
Tự mình thừa nhận thất bại có lẽ chẳng dễ chịu gì, nhưng đó cũng là sự thật. Thế nhưng bắt tôi phải kể lại tường tận xem mình đã bại trận ra sao thì thực sự chẳng có tâm trạng nào. Tiểu Chu đại khái cũng nhận ra dáng vẻ của tôi, liền nói: "Để Sở tướng quân nghỉ ngơi một lát đã. A Xương, màn thầu còn không?"
Tên binh sĩ tên A Xương kia đáp: "Còn, còn chứ, vừa mới ra lò đây, ta đi lấy ngay."
Tiểu Chu quay sang bảo tôi: "Sở tướng quân, ngài cứ tạm nghỉ ở đây một lát, đợi Đỗ tướng quân trở về rồi cùng qua sông bẩm báo với hai vị đô đốc."
Hành dinh rất đỗi đơn sơ, thế nhưng đã quen cảnh màn trời chiếu đất, được ngồi trên giường đệm đối với tôi thực sự là một sự hưởng thụ tột cùng. Tôi vừa ngồi một lát, A Xương kia đã bưng tới một chậu màn thầu bột mì trắng bốc khói nghi ngút, đon đả nói: "Sở tướng quân, mời dùng."
Hiện giờ đồ ăn của chúng tôi tuy không đến nỗi quá tệ, nhưng những thứ thịt nhạt nhẽo vô vị kia ăn mãi cũng phát ngấy rồi. Tôi chộp lấy một chiếc màn thầu, nói: "Đa tạ." Rồi ba miếng chụm làm hai ngoạm sạch, nuốt chửng vào bụng.
Chiếc màn thầu nóng hôi hổi ăn vào bụng, thực sự chẳng khác nào mỹ vị vô song trên đời. Tôi ăn liền một mạch ba cái mới chịu dừng tay. Nhìn thấy bọn họ ai nấy đều có vẻ trợn mắt há hốc mồm, tôi hơi ngượng ngùng cười trừ, bảo: "Thất lễ rồi."
Tiểu Chu thở dài đánh thượt một cái rồi thốt lên: "Ngài ăn khỏe thật đấy."
Tôi bất giác cười khổ. Đây là lần đầu tiên có người bình phẩm về tôi như vậy, tôi đáp: "Đã hơn nửa năm nay ta chưa được ăn một bữa ra hồn rồi."
Tiểu Chu lại gặng hỏi: "Sở tướng quân, ngài kể nghe coi, các ngươi rốt cuộc đã bị toàn quân diệt sạch như thế nào?"
Lúc này có không ít binh sĩ trong hành dinh cũng chen lấn xúm lại nghe. Tôi vừa định cất lời, A Xương đã đưa tới một chén nước, bảo: "Sở tướng quân, uống ngụm nước rồi thong thả kể."
Trong chén đầy ắp nước trà xanh biếc. Tỉnh Thiên Thủy nhiều mưa, cây chè phát triển rất tốt, ở chốn nội địa đế quốc vốn nổi danh về nghề trồng trà. Chén nước trà xanh biếc này uống vào, hương thơm vương vấn mãi nơi khoang miệng. Tôi nhấp một ngụm rồi cất lời: "Đó là chuyện sau khi chúng ta công phá thành Cao Thứu..."
Tôi tóm tắt đại lược lại một lượt cho bọn họ nghe, đương nhiên chuyện cuối cùng biểu quyết ăn thịt người thì giấu kín không nói, chỉ kể rằng sau khi tuyệt lương vẫn kiên thủ suốt bao nhiêu ngày ròng rã, khiến bọn họ nghe mà không ngừng thở ngắn than dài. Dẫu tài ăn nói của tôi không lấy gì làm khéo léo, nhưng khi nhắc tới chuyện Quản Hoằng dũng cảm huyết chiến, mưu kế sau cùng của Thương Nguyệt Công, cũng khiến bọn họ hết sức cảm thán. Đang nói tới đoạn cuối cùng khi chúng tôi ngồi trên phi hành cơ của Tiết Văn Diệc trốn thoát khỏi thành, bỗng nghe bên ngoài có tiếng quát lớn: "Người đâu hết cả rồi? Mau ra đây!"
Chính là giọng của Đỗ Bỉnh. Bọn họ đều ùa cả ra ngoài, tôi cũng bước ra khỏi lều quân, chỉ thấy Đỗ Bỉnh cùng mấy tên lính tuần tra đã trở về, vài ba người cùng cưỡi chung một ngựa, đám người Ngô Vạn Linh cũng đều đã được đưa tới. Không ngờ giống ngựa núi diện mạo tầm thường mà sức bền lại dẻo dai đến bực này.
Đỗ Bỉnh vừa thấy tôi liền gật đầu nói: "Sở tướng quân, đồng bạn của ngài đều đã được đưa về cả rồi, chúng ta lập tức qua sông bẩm báo với hai vị đô đốc Chu, Đào."
Gã nhảy xuống ngựa, dẫn chúng tôi đi về phía bờ sông. Tòa hành dinh này đóng quân ngay tại đầu một cây cầu gãy, trước kia cây cầu đá này bắc ngang qua sông Áp Long, do Lý Thuyên làm phản nên cầu đã bị phá hủy, dựng tòa hành dinh này cốt là để trông coi bến đò đưa rước qua lại.
Chúng tôi bước lên một chiếc thuyền lớn, Đỗ Bỉnh dặn dò: "Tiểu Chu, ngươi phải kiểm tra rà soát nghiêm ngặt, nếu có bất kỳ động tĩnh khác thường nào phải lập tức báo cáo."
Hiện thời chẳng rõ tung tích của xà nhân ra sao, có lẽ lũ xà nhân sau khi đắc thắng đang điều binh khiển tướng, chẳng biết lúc nào sẽ đánh tới, trong lời lẽ của Đỗ Bỉnh cũng thấp thoáng nỗi âu lo.
Thuyền rẽ nước xuất phát, tôi nhìn dòng nước chảy xiết giữa lòng sông, bỗng dấy lên một nỗi bi thương khôn xiết.
Nước sông cuồn cuộn chảy, trên mặt nước còn trôi dạt chút cành khô lá rụng. Phóng mắt nhìn từ đằng xa, lớp bùn đất đắp dưới chân thành Phù Đôn cũng mang một màu đỏ thẫm. Lần trước tới đây, màu đỏ thẫm ấy hãy còn tươi rói, trải qua mấy tháng ròng, sắc đỏ đã biến thành tím sẫm, e rằng chẳng bao lâu nữa sẽ hóa thành bùn đen.
Đó là máu tươi của những người lính công thủ dưới chân thành Phù Đôn tuôn chảy mà thành. Đế quốc trải qua kiếp nạn này, thử hỏi đất đai của biết bao tòa thành trì cũng đã nhuốm màu đỏ máu? Tôi ngắm nhìn thành Phù Đôn dưới ánh nắng giữa trưa, cuộn trào nơi đáy lòng lại là một nỗi xót xa ai oán khôn nguôi.
Chúng tôi tiến vào từ cửa Nam của thành Phù Đôn.
Sông Áp Long chảy từ hướng tây nam sang đông bắc rồi đổ vào một con sông lớn, giữa hai dòng đại hà tạo thành một góc nhọn, thành Phù Đôn được xây dựng ngay trên mũi nhọn này, vì thế hai cửa Nam Bắc đều là thủy môn, còn bên ngoài cửa Đông lại là một dải bãi bồi ven sông. Nghe nói nhiều năm về trước, dải đất hình góc nhọn nằm bên hai bờ sông ngoài cửa Đông ấy từng là một vùng đồng bằng màu mỡ, lương thảo năm nào cũng bội thu, bởi lẽ cứ mỗi độ hè về, nước sông dâng cao làm ngập dải bãi bồi này, lớp phù sa để lại vô cùng phì nhiêu, cấy lúa một năm hai vụ, chỉ riêng sản lượng lương thực thu hoạch từ mảnh đất này đã đủ cho thành Phù Đôn tự cung tự cấp dư dả. Thế nhưng chẳng biết từ năm nào, đà long trong sông Áp Long sinh sôi ngày một nhiều, chúng làm tổ ngay tại khúc giao nhau giữa con sông lớn và sông Áp Long, địa bàn năm này qua năm khác cứ thế mở rộng ra, khiến cho diện tích ruộng đồng qua từng năm cứ teo tóp dần, hiện giờ ngoài cửa Đông chỉ còn lại hơn hai trăm mẫu. May thay bên ngoài thành Phù Đôn đất đai màu mỡ rất nhiều nên đối với thành trì cũng không gây ảnh hưởng gì lớn. Khi Tây Phủ Quân giao tranh với Lý Thuyên, Lý Thuyên dẫu chỉ nắm trong tay toàn một lũ ô hợp, nhưng nhờ lương thảo sung túc nên Tây Phủ Quân cũng mãi chẳng thể đánh bại hắn triệt để. Khi Vũ Hầu nam chinh cũng đã điều động đi rất nhiều lương thảo, nhưng Tây Phủ Quân sau khi đắc thắng vẫn hoàn toàn không có nỗi lo thiếu lương, đủ thấy sản lượng lương thực của tỉnh Thiên Thủy dồi dào đến mức nào.
Thuyền vừa cập bến đò ngoài cửa Nam, một đội binh sĩ đã túc trực sẵn trên bến, một tên cầm đầu cất tiếng hỏi: "Đỗ tướng quân, có việc gì khẩn cấp cần bẩm báo sao?"
Đỗ Bỉnh đứng ở đầu thuyền lớn tiếng đáp: "Đại quân nam chinh của Vũ Hầu đã toàn quân bị diệt, tin tức này là thật, ta dẫn tàn bộ của quân nam chinh trở về, muốn diện kiến đô đốc."
Người kia giật mình thảng thốt: "Thực sự có chuyện này sao? Xem ra kẻ kia không phải là nói lời yêu ngôn hoặc chúng rồi. Đỗ tướng quân, các ngươi cứ tạm nghỉ ngơi ngoài thành, ta đi bẩm báo với đô đốc ngay."
Đô đốc phủ của Tây Phủ Quân chính là tổng đốc phủ của Lý Thuyên trước kia. Đô đốc Thiên Thủy thống lĩnh bốn tỉnh Trung Tây, các tổng đốc của ba tỉnh Thành Muội, Bỉnh Đức, Lãng Nguyệt thuở trước cũng phải nghe theo sự điều động của Lý Thuyên, vì vậy tòa tổng đốc phủ này cực kỳ xa hoa tráng lệ. Tôi có chút không hiểu Lý Thuyên rốt cuộc nghĩ gì, tước vị của hắn dẫu chỉ là một Tư Thần Bá, kém Thương Nguyệt Công hai bậc, nhưng thực lực thực chất chẳng hề thua kém Thương Nguyệt Công. Chẳng hiểu vì cớ gì đang yên đang lành làm một trấn chư hầu của đế quốc không muốn, lại cứ phải đi nương nhờ Thương Nguyệt Công.
Đến trước cổng đô đốc phủ, Đỗ Bỉnh xuống ngựa nói: "Ta vào bẩm báo trước, Sở tướng quân, xin các ngài đợi cho một lát."
Tôi nhìn sang Trương Long Hữu đi cùng mình, y cũng đưa mắt nhìn tôi. Tôi giữ Ngô Vạn Linh ở lại chỗ an trí bọn họ là vì sợ ngộ nhỡ tình hình có biến, một mình Trương Long Hữu ở đó khó lòng xoay xở ứng phó. Thế nhưng dẫu có để Ngô Vạn Linh ở lại, thực chất cũng chẳng có tác dụng gì lớn. Tôi gật đầu nói: "Làm phiền Đỗ tướng quân nhọc lòng."
Lính gác trước cổng đô đốc phủ cũng tò mò nhìn chúng tôi, có lẽ bọn họ cũng đã phong phanh nghe thấy chuyện này. Hai người tôi và Trương Long Hữu áo quần rách rưới bẩn thỉu, tôi còn có một chiếc nhuyễn giáp trên người, còn quần áo của Trương Long Hữu thì rách tơi tả nhiều chỗ, tuy chưa đến mức giống phường ăn mày nhưng cũng chẳng khác biệt là bao. Tôi cười khổ một tiếng, khẽ bảo: "Hy vọng hai vị đô đốc Chu, Đào đừng xem chúng ta là lũ lính đào ngũ."
Đợi chẳng bao lâu, Đỗ Bỉnh từ bên trong bước ra nói: "Đô đốc truyền các ngươi vào."
Vừa nghe thấy lời gã, lòng tôi không khỏi chùng xuống. Từ lúc Đỗ Bỉnh chạm mặt tôi đến giờ, dẫu chẳng thấy ân cần niềm nở gì, nhưng vẫn giữ chút lễ phép. Gã đích thị là hạng người hỉ nộ lộ rõ ra mặt, nay bỗng nhiên đối xử với tôi lạnh nhạt vô lễ như vậy, e rằng tình hình có phần không ổn. Nhưng đã tới nước này rồi cũng chẳng còn đường lui, chỉ mong đô đốc của Tây Phủ Quân không đến mức trở mặt vô tình.
Tôi theo sau Đỗ Bỉnh bước vào, trong lòng thắc thỏm không yên. Trương Long Hữu theo sát sau lưng tôi, y dường như cũng nhận ra có điều gì đó không ổn, chốc chốc lại đưa mắt nhìn tôi.
Đô đốc phủ xây dựng vô cùng nguy nga cao rộng, tôi cứ ngỡ đô đốc sẽ tiếp kiến tôi ở trung đường, nào ngờ tới trung đường lại chẳng thấy bóng dáng một ai. Tôi hỏi: "Hai vị đô đốc đâu rồi?"
Đỗ Bỉnh đáp: "Chu đô đốc đang ở bên trong luyện đao với người ta."
Tiếp kiến tôi ở nơi luyện đao sao? Tim tôi lại đập thình thịch một hồi. Chánh đô đốc Chu Nặc của Tây Phủ Quân xuất thân từ gia đình nhà binh nhiều đời, các thế hệ trước đều phục vụ trong Tây Phủ Quân. Cụ cố và ông nội của ông ta đều từng giữ chức Đô đốc Tây Phủ Quân, những người khác giữ chức võ quan trung và cao cấp trong Tây Phủ Quân cũng có rất nhiều, gần như là truyền đời kế nghiệp. Đối với gia tộc họ Chu xưa nay luôn có lời đồn là "không cẩu nhan tiếu" (nghiêm nghị không bao giờ cười cợt), ông nội của Chu Nặc khi làm đô đốc, bởi cả đời không bao giờ nở một nụ cười nên được mệnh danh là "Thiết Diện Đô Đốc". Chu Nặc tuy không có danh xưng đến mức ấy, nhưng cũng mang tiếng là kẻ không thấu tình đạt lý. Lần trước khi Vũ Hầu cùng Tây Phủ Quân liên thủ đánh vào thành Phù Đôn, do trong Tây Phủ Quân có không ít gia quyến binh lính sống trong thành nên mới không đồ thành. Thế nhưng lần đó Chu Nặc vì ngăn cản thuộc hạ của Thẩm Tây Bình làm bậy trong thành mà suýt chút nữa đã sống mái một phen với Thẩm Tây Bình, có lẽ ông ta nghe Đỗ Bỉnh báo cáo tôi là Thống lĩnh Long Lân Quân nên cố ý muốn làm bẽ mặt tôi chăng.
Nếu chỉ đơn thuần là như vậy thì vẫn còn đỡ. Bất luận thế nào, tôi cũng phải cắn răng nhẫn nhịn. Thực ra tự đáy lòng mà nói, tôi cũng cảm thấy lần đó Thẩm Tây Bình có phần quá đáng. Chỉ là quân kỷ của Hữu Quân xưa nay vốn quá tệ hại, lúc đó Thẩm Tây Bình cũng đâm lao phải theo lao, nghĩ lại cũng chẳng thể trách cứ quá nặng nề.
Đi qua trung đường là một khoảng sân lớn. Trong dãy phòng nằm ở mạn trái sân thỉnh thoảng lại truyền ra những tiếng gậy gỗ va đập chan chát. Đó là phòng luyện đao của Chu Nặc chăng? Lần trước vội vã đi qua, khi ấy tôi chỉ là một bách phu trưởng của Tiền Phong Doanh, căn bản chẳng có tư cách bước chân vào đô đốc phủ, cũng chưa từng tới nơi này.
Đến trước cửa phòng luyện đao, Đỗ Bỉnh quỳ xuống trước ngạch cửa, cất giọng lớn: "Bẩm Chu đô đốc, Sở Hưu Hồng tướng quân của quân nam chinh cầu kiến."
Tôi cũng quỳ xuống theo gã. Dù sao đi nữa quan chức của Chu Nặc cũng cao hơn tôi rất nhiều, tôi cũng đã hạ quyết tâm, dẫu cho Chu Nặc có nhổ vào mặt tôi hai bãi nước bọt thì tôi cũng cắn răng chịu đựng, huống chi chỉ là một cái quỳ lạy.
Trương Long Hữu cũng quỳ xuống bên cạnh tôi, chỉ nghe từ bên trong truyền ra một thanh âm: "Cho hắn vào."
Đỗ Bỉnh bảo tôi: "Vào đi." Gã sải bước vào trước, tôi theo sát sau lưng gã, cũng bước vào trong phòng luyện đao.
Căn phòng luyện đao này rất rộng, trên mặt đất lát ván gỗ được mài vô cùng nhẵn nhụi, quét qua một lớp sơn ta, niên đại cũng đã khá lâu rồi nên màu sơn có phần sẫm lại. Một gã đàn ông tráng niên vận đoản giáp trên tay cầm một thanh mộc đao, đang quần thảo với bốn người khác.
Hắn chính là Chu Nặc chăng? Lần trước vội vã lướt qua, tôi chỉ mới thấy hắn từ đằng xa một lần. Lần này mới coi như được nhìn rõ tường tận.
Chu Nặc râu quai nón rậm rạp, vóc dáng cũng vô cùng vạm vỡ cao lớn, trong tay nắm một thanh mộc đao cỡ lớn. Mộc đao là thứ dùng để luyện tập trong võ học đường của đế quốc, tuy ít nguy hiểm hơn đao thật, nhưng thanh mộc đao này của hắn to hơn loại thông thường một cỡ, nếu dùng lực đánh trúng người thì e rằng ngay cả xương cốt cũng bị đánh gãy nát.
Bốn người đối chiến với hắn cũng vô cùng vạm vỡ, trong đó có một người thậm chí còn cao hơn Chu Nặc một cái đầu. Bốn người vây quanh Chu Nặc làm bộ muốn xông lên, nhưng nhìn chung đều có vẻ e dè sợ sệt. Ở một góc bên cạnh đã có hai người ngồi bệt dưới đất, có lẽ là vừa bị Chu Nặc đánh ngã, khiến cho bốn người này ai nấy đều có chút kinh hãi.
Chuyện này cũng dễ hiểu, đối chiến với Chu Nặc, nếu lỡ tay đánh trúng hắn thì sẽ mang tội, mà bị Chu Nặc đánh trúng thì lại phải chịu đau chịu thương, bọn họ đương nhiên đều sợ hãi rụt rè chẳng dám tiến lên rồi.
Chu Nặc nắm chặt thanh mộc đao, bỗng nhiên quát lớn một tiếng, một đao bổ thẳng về phía người cao lớn dị thường kia. Kẻ đó là người thuận tay trái, tiếng thét của Chu Nặc làm gã run bắn cả người, vội vã nâng đao lên đỡ, "chát" một tiếng giòn giã, mộc đao của Chu Nặc giáng thẳng vào sống đao của gã, chấn động đến mức sàn gỗ cũng phải rung chuyển theo.
Chu Nặc vậy mà lại dùng lực mạnh đến thế! Nhát đao này nếu bổ trúng, e rằng sọ não của gã kia cũng bị chẻ đôi ra mất. Tôi giật nảy mình, thế này đâu còn giống như đang luyện tập nữa, quả thực là đang đem tính mạng ra để liều mạng với nhau.
Mộc đao của Chu Nặc vừa chạm trên thanh mộc đao của đối phương liền nhấc lên, khẽ hất một cái, mộc đao lại bật nảy lên cao. Hắn quay đầu quát lớn: "Các ngươi chưa ăn no cơm đấy à?"
Bị hắn quát một tiếng, ba người còn lại đều giật mình chấn động, đồng loạt xông lên tấn công. Ba thanh mộc đao chém xuống cực kỳ mau lẹ, nếu Chu Nặc bị chém trúng thì e rằng hắn cũng sẽ bị thương. Chu Nặc bước chân đảo lướt, mộc đao vung lên vẽ thành một vòng tròn quanh thân thể, ba thanh mộc đao kia tựa như đâm sầm vào một bức tường vô hình, gần như cùng một lúc bị gạt phăng ra, chỉ vang lên vỏn vẹn một tiếng va chạm.
Đao pháp tuyệt diệu! Dẫu cho mấy người kia không dám thực sự liều mạng ra tay với Chu Nặc, nhưng đao pháp bực này của hắn quả thực xứng đáng với hai chữ thần diệu.
Gã vạm vỡ cao kều kia bỗng nhiên sải bước vọt lên, vung một đao chém về phía Chu Nặc. Vừa rồi đòn tấn công của Chu Nặc đã bị gã chặn lại, lúc này Chu Nặc đang xoay mặt về phía ba người kia, để lộ nửa thân bên phải về phía gã, nhát đao này của gã lại chém ngang qua, Chu Nặc nếu muốn gạt được đao của gã thì buộc phải dựng đứng thanh đao lên, mà tư thế này lại cực kỳ gượng gạo, thế đao của gã tới lại cực nhanh, Chu Nặc e rằng cũng chưa chắc đã đỡ nổi.
Những người đứng xung quanh đều bật ra tiếng kêu kinh hãi. Nếu Chu Nặc bị thương, kẻ kia e rằng cũng sẽ mắc trọng tội. Chỉ có điều khi xông lên tấn công có lẽ gã cũng chẳng kịp nghĩ tới chuyện này, tôi chỉ thấy gã mím chặt môi, trên gương mặt không hề có lấy một tia biểu cảm.
Đao đã áp sát vào người.
Khoảng cách phòng ngự của đao ước chừng cách thân thể từ hai đến ba thước. Nếu đao của đối phương đã lọt vào trong phạm vi hai thước thì coi như bại cục đã định. Đao thuật của gã hán tử này quả thực cũng bất phàm, có lẽ Chu Nặc sẽ phải trúng chiêu này rồi.
Tiếng kinh hô của những người xung quanh còn chưa kịp lắng xuống, đã thấy Chu Nặc đột ngột lùi lại một bước, buông tay ra, thanh mộc đao bắn thẳng về phía gã hán tử, đồng thời hắn cực nhanh bước tới một bước, hai bàn tay hướng lòng bàn tay vào nhau, mạnh mẽ chắp lại, hai lòng bàn tay tựa như gọng kìm kẹp chặt lấy thân đao của gã hán tử kia. Một lùi một tiến này vừa vặn tránh né được nhát đao của gã cao kều, lại lập tức phản kích, mà ba người kia thậm chí còn chưa kịp định thần phản ứng, cũng chính vào khoảnh khắc hắn kẹp chặt lấy thân đao, thanh mộc đao do hắn ném ra đã nện thật mạnh vào người gã hán tử. Gã hán tử cao kều như bị sét đánh trúng, cả người lùi giật lại hai bước, gương mặt lập tức đỏ bừng lên như đang cố nén thứ gì, thế nhưng vừa đứng vững lại bất giác lùi thêm một bước nữa, trong miệng "oặc" lên một tiếng, nôn ra một búng máu tươi. Cũng chính lúc này, lại một tiếng "chát" vang lên, ba người kia tay trái ôm lấy cổ tay phải, mộc đao trong tay rơi rụng xuống đất, Chu Nặc cầm đao, thần thái thong dong lùi lại một bước, nói: "Hôm nay tới đây thôi."
Mấy gã hán tử đều quỳ sụp xuống, gã hán tử hộc máu kia cũng quỳ xuống, máu trong miệng vẫn còn rỏ từng giọt xuống đất. Lực ném mộc đao của Chu Nặc cực kỳ khủng khiếp, e rằng đã đánh gãy xương sườn của gã rồi. Nếu đó là một thanh đao thép, chắc chắn đã đâm xuyên qua lồng ngực.
Chu Nặc quay sang nói với gã cao kều trước: "Nguyễn Cường, ngươi có tiến bộ nhiều, thưởng thêm bổng lộc năm trăm."
Nguyễn Cường dẫu miệng vẫn còn ứa máu, nhưng trên mặt lại lộ vẻ mừng rỡ, đáp: "Tạ ơn đô đốc."
Chu Nặc khẽ mỉm cười, lại quay sang ba người kia nói: "Các ngươi cần phải luyện tập nhiều hơn nữa, tạm thời giữ nguyên như cũ."
Ba người này chính là những kẻ sau cùng bị một đao của Chu Nặc quét qua khiến cả ba thanh mộc đao cùng rơi rụng. Cổ tay bọn họ đại khái cũng bị thương chút đỉnh, nhưng sẽ không quá nặng, bởi vì vẫn còn có thể dùng hai tay chống xuống đất, đồng thanh đáp: "Tạ ơn đô đốc."
Chu Nặc lại quay sang hai người còn lại. Hai kẻ này có lẽ là những người bị đánh ngã đầu tiên, thương thế cũng khá thảm hại, dưới khóe mắt một người có một mảng bầm tím lớn, nếu nhát đao kia lệch lên trên một chút thì e rằng con mắt đã mù rồi. Kẻ còn lại càng thê thảm hơn, vạt áo trên vai bị rách toạc một đường lớn, nửa thân trên gần như trần như nhộng, trên vai sưng vù lên một cục lớn, vừa xanh vừa tím.
Hai người này chắc là sẽ bị phạt bổng lộc đây.
Tôi đang nghĩ ngợi thì Chu Nặc quát lớn: "Lôi ra ngoài, mỗi người phạt đánh hai mươi trượng, cách chức quan, phạt bổng ba trăm."
Hai người kia dập đầu một cái, thế nhưng cũng chẳng lộ vẻ bất mãn gì mà lẳng lặng lui ra ngoài. Trái lại tôi lại giật nảy mình, không ngờ Chu Nặc lại nghiêm khắc đến bực này.
Chỉ là luyện đao thất bại mà không những bị tước bỏ quan vị, phạt bổng lộc, thế mà còn phải chịu đòn roi trừng phạt. Tuy chẳng liên quan gì tới tôi, nhưng tôi cũng không kìm được mà thầm bĩu môi. Chu Nặc trị quân xem ra chỉ dựa vào thủ đoạn sắt đá. Cách trị quân này có thể cực kỳ hiệu quả, nhưng luôn tiềm ẩn mầm mống tai họa.
Mấy người kia đều đã lui ra ngoài, Chu Nặc dùng thanh mộc đao chỉ vào tôi, hỏi: "Ngươi là Sở Hưu Hồng bại trận từ quân nam chinh trở về sao?"
Lời lẽ của hắn cực kỳ bất lịch sự, căn bản chẳng có chút lễ độ nào, trong bụng tôi không khỏi bốc lên một ngọn lửa giận, nhưng vẫn quỳ xuống thưa: "Mạt tướng là Thống lĩnh Long Lân Quân, Sở Hưu Hồng, tham kiến Chu đô đốc."
"Quân nam chinh các ngươi còn sót lại ai nữa không?"
Lời lẽ của hắn vẫn cộc lốc vô lễ như thế. Tôi nén giận đáp: "Bẩm Chu đô đốc, quân nam chinh sau khi công phá thành Cao Thứu lại bị một đội quân xà nhân không rõ lai lịch bao vây. Vũ Hầu phá vây thất bại, tử thủ thành trì suốt bốn mươi ngày thì thành vỡ, toàn quân bị diệt. Kẻ có thể trốn thoát được e rằng trăm người không còn một."
"Trăm người không còn một?" Hắn dường như đang nghiền ngẫm mấy chữ này, im lặng một lát rồi bỗng nhiên quát lớn: "Nói bậy! Nếu trăm người không còn một, cớ sao ngươi lại còn mang theo nữ tử trốn ra khỏi thành? Rõ ràng là phường tham sống sợ chết, lâm trận đào thoát!"
Tôi không ngẩng đầu lên, chỉ đáp: "Đô đốc minh xét, chúng mạt tướng là ngồi phi hành cơ của Công chính trong quân là Tiết Văn Diệc trốn ra. Người này hiện cũng đã ở trong thành Phù Đôn, đô đốc có thể cho người tới tra hỏi y. Bốn ả nữ tử kia vốn là do Quân Hầu tuyển chọn để dâng lên Đế Quân, mạt tướng phụng mệnh Quân Hầu mang bọn họ thoát thân, tuyệt đối không phải lâm trận đào thoát."
Lại là một hồi im lặng như tờ. Qua một lúc, lại nghe Chu Nặc hỏi: "Còn ngươi? Ngươi cũng là người của Long Lân Quân sao?"
Hắn đang hỏi Trương Long Hữu. Trương Long Hữu cũng đang quỳ bên cạnh tôi, nghe hắn hỏi tới liền thưa: "Ty chức là Tham quân dưới trướng Quân Hầu, Trương Long Hữu."
"Ngươi là tham quân?" Chu Nặc bỗng nhiên lại bật ra một tràng cười lớn. Trương Long Hữu nhìn qua cũng không giống quân nhân cho lắm, dẫu là tham quân thì nhìn cũng chẳng ra dáng. Hắn bước tới bên cạnh Trương Long Hữu, hỏi: "Ngươi cũng đeo kiếm sao?"
Tôi chỉ cảm thấy trong đầu vang lên một tiếng "ong", suýt chút nữa ngất lịm đi. Chủ nhân ban đầu của thanh kiếm mà Trương Long Hữu đeo chắc chắn chính là kẻ tới báo tin kia, Tiểu Chu từng kể với tôi rằng kiếm thuật của kẻ đó cực kỳ cao cường, Chu Nặc từng hạ lệnh cho người bắt giữ hắn, kẻ này dùng một thanh tế kiếm chặn đứng hơn mười người, thế thì thanh kiếm này nhất định để lại ấn tượng vô cùng sâu sắc. Trước kia tôi chỉ lo lắng người đó liệu có phải người của Tây Phủ Quân hay không nên mới bảo Tiết Văn Diệc làm một cái bao kiếm, bao kiếm này làm rất to lớn, người ngoài nhất định sẽ ngỡ bên trong là một thanh trọng kiếm dùng hai tay, nào có ai ngờ thực chất bên trong lại là một thanh tế kiếm mảnh mai. Nhưng nếu Chu Nặc nhận ra thanh kiếm này, ngỡ rằng Trương Long Hữu chính là kẻ đó thì hỏng bét, ngay cả những lời tôi nói cũng sẽ biến thành bịa đặt vu khống.
Tôi vội nói: "Chu đô đốc, Trương Long Hữu là do đích thân Quân Hầu một tay đề bạt lên làm tham quân, y không thạo việc cung ngựa thương đao."
Miệng nói ra vậy mà trong lòng tôi lại run lên từng hồi thảng thốt. Chuyện này cũng do tôi suy tính không chu toàn, tôi nghe Tiểu Chu nói người kia không phải người của Tây Phủ Quân liền cho rằng không có vấn đề gì nữa, không nghĩ sâu thêm một tầng, cũng chưa từng bàn bạc với Ngô Vạn Linh. Bằng không, với tâm tư cẩn mật của Ngô Vạn Linh, ông ta nhất định có thể nhìn ra sơ hở rồi.
Thế nhưng sai cũng đã sai rồi, giờ có hối hận cũng chẳng ích gì.
Chu Nặc lại không tiếp tục để ý tới thanh bội kiếm của Trương Long Hữu nữa, quay sang tôi nói: "Vậy thì Sở tướng quân nhất định là cung mã thuần thục, tinh thông binh pháp rồi?"
Tôi đáp: "Mạt tướng không dám nhận là cung mã thuần thục, tinh thông binh pháp, song cung ngựa cùng kỷ luật binh pháp đều có đôi phần sở trường."
Chu Nặc cười cười, bảo: "Ngươi ngược lại chẳng hề khiêm tốn chút nào."
Tôi đang ngẫm nghĩ ý tứ trong câu nói của hắn thì bỗng nhiên nghe hắn quát lớn: "Đứng dậy!"
Toàn thân tôi rùng mình một cái, chợt nghe thấy một luồng kình phong ập tới, Chu Nặc đã vung tay ném thanh mộc đao trong tay về phía tôi. Tôi lập tức bật dậy, hai tay vươn ra đón lấy thanh mộc đao. Thanh mộc đao này của hắn được ném ngang tới, tôi cũng dùng cả hai tay tiếp lấy, nhìn qua chắc hẳn vô cùng chuẩn xác khéo léo, tựa như hai người chúng tôi đã luyện tập thuần thục từ trước vậy, mấy người đứng bên cạnh đều buột miệng cất tiếng khen hay.
Thế nhưng hai bên hổ khẩu của tôi lại truyền đến một cơn đau rát buốt. Cú ném đao này của Chu Nặc ẩn chứa lực đạo cực kỳ lớn, nếu tôi không đỡ được thì nhát đao này nhất định sẽ nện thẳng vào đỉnh đầu tôi. Dẫu cho mộc đao không mũi không lưỡi, nhưng gã Nguyễn Cường kia bị một đao của Chu Nặc ném trúng ngực đến mức hộc máu, còn tôi nếu bị đánh trúng vào đỉnh đầu thì đại khái sẽ hôn mê bất tỉnh mất.
Chu Nặc chẳng lẽ thực sự không coi tính mạng người khác ra gì sao?
Tôi vừa giận vừa lo, nhưng trên mặt vẫn không để lộ chút sắc thái nào, đáp: "Đa tạ Chu đô đốc."
Thanh đại mộc đao trước đó Chu Nặc dùng để ném trúng Nguyễn Cường vẫn còn nằm trên mặt đất, hắn bước tới nhặt lên rồi nói: "Sở tướng quân, nếu ngươi đã tự nhận cung ngựa có phần sở trường, vậy thì hãy để bản đốc lĩnh giáo xem sao. Đỡ chiêu!"
Hắn dùng ngón cái và ngón trỏ tay trái kẹp lấy sống mộc đao, cổ tay phải rung lên một cái, mộc đao "vút" một tiếng chém thẳng về phía đỉnh đầu tôi. Nhát đao này vẫn là dồn toàn lực bổ xuống, dùng lực mạnh đến bực này thì dẫu là mộc đao tôi cũng không thể chịu nổi.
Tôi nhảy lùi lại phía sau tránh né nhát đao này, nói: "Chu đô đốc, mạt tướng không dám."
"Có gì mà không dám," hắn quát lên một tiếng, "trên dưới tướng tá Tây Phủ Quân ai nấy đều từ đao thương mà lập thân, chẳng lẽ Long Lân Quân danh chấn thiên hạ lại không bằng sao?"
Hắn múa thanh trường đao thành một đường hoa mỹ, "chát" một tiếng thu về thế ôm đao đứng vững, lại nói: "Sở tướng quân, ngươi chuẩn bị trước đi."
Tôi nhìn sang Trương Long Hữu. Y đã đứng dậy, vẻ mặt đầy hốt hoảng lo sợ; bên cạnh, Đỗ Bỉnh vẫn mang bộ mặt gỗ vô cảm, nhưng ánh mắt lại có chút kỳ quặc, dường như có phần oán hận tôi. Hai người khác nhìn bộ dạng có lẽ là thân binh hộ vệ của Chu Nặc, đang đứng nép sát vào tường, trên mặt còn mang theo nụ cười nhàn nhạt. Có lẽ trong mắt bọn họ, cách làm này của Chu Nặc là chuyện hết sức bình thường, chẳng có gì đáng để kinh ngạc cả.
Tôi cúi đầu nói: "Chu đô đốc đao pháp hơn người, mạt tướng theo sau chẳng kịp, tuyệt đối không phải là đối thủ của đô đốc."
Nào ngờ tôi càng nhún nhường thì Chu Nặc lại càng lấn tới ép người. Hắn bước lên một bước, quát lớn: "Sở tướng quân, không cần nhiều lời nữa! Nếu ngươi không có bản lĩnh gì thì cớ sao lại ngồi được vào ghế Thống lĩnh Long Lân Quân, ra tay đi!"
Hắn vung đao bắt chéo trước ngực cực nhanh vạch ra hai đường, phát ra hai tiếng "vù vù", trong khoảnh khắc ấy, thân ảnh của hắn cũng bỗng chốc trở nên mờ ảo.
Đây quả thực là một môn đao pháp thần kỳ.
Tôi vừa nghĩ tới đó, một tên hộ binh bên cạnh hắn liền cất tiếng reo hò: "Đô đốc múa Trảm Ảnh Đao tuyệt diệu lắm!"
Đó chính là Trảm Ảnh Đao sao? Tôi nhớ người ta cũng từng đồn đại gia tộc Chu Nặc có hai môn tuyệt kỹ phi phàm, đây đại khái chính là một trong số đó. Tên hộ binh kia nịnh hót cũng thật đúng lúc đúng chỗ, trên mặt Chu Nặc lộ ra nụ cười mỉm, bảo: "Sở tướng quân, cẩn thận đấy."
Hắn vung tay lên, mộc đao lại phát ra tiếng "vút", tựa như bắn vọt ra ngoài, đập thẳng vào trán tôi. Những chiêu thức này của hắn, chiêu nào chiêu nấy đều như muốn lấy mạng tôi vậy, dẫu cho mộc đao không đến mức mất mạng nhưng chắc chắn sẽ bị trọng thương. Đáy lòng tôi không khỏi bốc lên một cơn giận dữ, liền nhảy lùi về phía sau, lại tránh né được nhát đao này, trên mặt vẫn mang vẻ sợ sệt thảng thốt, thưa: "Đô đốc, mạt tướng chẳng qua chỉ là kẻ bại trận, đâu dám xưng dũng, đao pháp của đô đốc như thần, mạt tướng vạn vạn lần không phải đối thủ."
Chu Nặc quát: "Đâu ra lắm lời nhảm nhí thế!"
Hắn bước dồn lên một bước, mộc đao lại vung sang trái chém sang phải thành một chữ thập, bóng người lập tức mờ ảo đi. Tôi chỉ cảm thấy một luồng cuồng phong sắc lẹm ập tới, biết là không ổn, đang định lùi lại thì nào ngờ gót chân va phải vật nặng, đá trúng vào vách ván.
Tôi lùi liền hai bước, lúc này đã chạm sát mép tường.
Nguy hiểm!
Chân phải của tôi vốn ở phía sau va vào vách ván, liền mượn đà dùng sức đạp mạnh một cái, hạ thấp người xuống, lăn lộn một vòng trên mặt đất, luồn tới dưới chân Chu Nặc. Dẫu cho thân thể đang co quắp lại nhưng lúc này lại nhìn càng thêm rõ ràng, Chu Nặc hai tay nắm chặt chuôi đao, đang bổ thẳng về phía sau lưng tôi.
Chu Nặc nhất định không ngờ tôi lại có phản ứng như vậy, nếu lúc này tôi quét thanh mộc đao ra phía trước thì vừa vặn chém trúng vào xương ống chân của hắn. Chu Nặc dẫu cho người ngợm vô cùng vạm vỡ cường tráng, nhưng tôi không tin xương ống chân của hắn có thể cứng như sắt thép, tôi lại mượn thêm lực đạp ban nãy, nếu dồn hết sức lực thì e rằng chỉ dùng mộc đao thôi cũng có thể đánh gãy chân hắn. Thế nhưng nếu đánh gãy chân hắn thì tính mạng của tôi, của Trương Long Hữu, cùng với đám người Ngô Vạn Linh chắc chắn cũng tới ngày tận số. Nhưng nếu để mộc đao của Chu Nặc giáng trúng lưng mình thì đại khái tôi cũng sẽ bị hắn đánh cho hộc máu.
Đó chỉ là chuyện trong một chớp mắt, thế nhưng trong đầu tôi dường như đã vụt qua biết bao ý nghĩ. Tôi cắn chặt răng, trở tay quét ngược đao về phía sau, từ dưới hất ngược lên chặn lấy thanh mộc đao đang giáng xuống của Chu Nặc.
Mộc đao của Chu Nặc vừa nặng vừa dài hơn của tôi, lại thêm tôi đang ở thế trở tay, khẳng định không thể gạt phăng được đao của hắn. Tôi làm vậy chẳng qua là để giảm bớt lực đạo của nhát đao này đi một chút, khi bị đánh trúng sẽ không đến mức bị thương quá nặng.
"Chát" một tiếng. Thế nhưng không hề có cự lực ngàn cân như tôi tưởng tượng, đao của Chu Nặc dường như khựng lại giữa không trung. Nhát đao trở tay quét tới của tôi ngược lại biến thành việc tôi chủ động chém vào đao của hắn. Hai thanh mộc đao giao nhau vang lên một tiếng giòn giã, tôi mượn phản lực ấy lăn thêm một vòng trên mặt đất, thoát ra khỏi phạm vi dưới chân hắn.
Chu Nặc không hề nhúc nhích, nụ cười mỉa mai châm chọc trên mặt đã nhạt đi rất nhiều.
Xem ra sự kiên cường ngoài dự liệu của tôi cũng khiến Chu Nặc phải giật mình đôi chút. Hắn đại khái cứ ngỡ một tên tướng bại trận như tôi nhất định sẽ yếu ớt chẳng chịu nổi một đòn, hắn muốn dùng việc đánh bại tôi để phô trương sự vũ dũng của mình. Thế nhưng ban nãy dẫu tôi không hề phản kích, nhưng phản ứng cực nhanh ấy cũng khiến hắn hiểu ra rằng tôi không phải là kẻ dễ đối phó.
Bây giờ tôi nên làm thế nào đây?
Đem hết bản lĩnh ra huyết chiến một trận lớn với Chu Nặc, bất kể thắng hay bại đều là hạ sách. Nếu tôi tỏ ra yếu ớt chẳng chịu nổi một đòn thì Chu Nặc nhất định sẽ biết tôi đang cố tình nhường hắn, e rằng lại phản tác dụng, cũng là hạ sách. Biện pháp tốt nhất là giao thủ với hắn vài chiêu, rồi giả vờ rơi vào thế yếu chút đỉnh mà chịu bại trận, đó mới là thượng sách. Thế nhưng muốn làm được điều này lại cực kỳ không dễ, trừ phi đao thuật của tôi vượt xa Chu Nặc. Trên thực tế đao thuật của Chu Nặc tuyệt đối là cao thủ trong hàng cao thủ, tôi dùng hết toàn lực cũng chưa chắc đã thắng nổi hắn, huống hồ là nương tay nhường nhịn.
Chu Nặc lại múa thanh mộc đao thành một đường hoa mỹ, xoay người lại rồi sải bước tiến lên. Mộc đao dẫu vừa cứng vừa dài, thế nhưng qua tay hắn thi triển lại dẻo dai tựa như một dải lụa mềm, đao ảnh lượn quanh thân thể hắn tựa như bao bọc kín mít lấy toàn thân. Hắn đứng trước mặt tôi dập dờn như muốn tiến lại không tiến, thế nhưng tôi lại cảm thấy tựa hồ có một áp lực cực kỳ to lớn đè nặng lên người, khiến tôi gần như không thể nhúc nhích được.
Trảm Ảnh Đao của hắn là lợi dụng thế đao cực nhanh để xé rách không khí, khiến cho luồng khí lưu dao động khác thường, từ đó làm cho tôi không nhìn rõ được hình bóng của hắn chăng. Nếu là một kẻ mù lòa, tôi dám chắc môn Trảm Ảnh Đao này tuyệt đối vô dụng.
Chẳng lẽ tôi phải nhắm mắt lại sao?
Đao pháp của Chu Nặc quả thực vô cùng thần kỳ, thế nhưng loại đao pháp này cũng chỉ hữu dụng khi đơn đả độc đấu dưới đất, nếu ở trên chiến trường thì căn bản chẳng có tác dụng gì lớn. Có điều hiện tại không phải là lúc chỉ trích đao pháp của hắn không đúng, tôi buộc phải tìm cách trực diện ứng phó với môn đao pháp này. Có lẽ nếu tôi không thể đánh bại hắn, Chu Nặc sẽ coi tôi như một tên bại tướng tầm thường, thậm chí quy tôi vào tội đào binh rồi bắt giam lại cũng chưa biết chừng.
Thế đao của Chu Nặc càng lúc càng mạnh. Mỗi lần hắn vung ra một đao, tôi căn bản không thể nhìn rõ được đường đi nước bước ra chiêu của hắn. Tôi cắn chặt răng, đang định nhắm mắt lao vào liều mạng thì bỗng nhiên nghe thấy có tiếng người cất lên gọi to: "Chu đô đốc! Khoan đã!"
Tôi thở phào một hơi nhẹ nhõm. Có người tới xin tha cho tôi sao?
Thế đao của Chu Nặc lập tức giảm bớt, hắn cười nói: "Đào đô đốc, sao ngài lại có rảnh rỗi ghé qua đây thế này?"
Đó là Phó đô đốc Tây Phủ Quân, Đào Thủ Chuyết tới sao?
Chu Nặc và Đào Thủ Chuyết tôi đều chưa từng giáp mặt bao giờ, nhưng giọng nói của Đào Thủ Chuyết nghe qua đúng là khẩu âm của một bậc trưởng giả đôn hậu. Sự vô lễ của Chu Nặc khiến tôi giận mà không dám nói, có lẽ Đào Thủ Chuyết sẽ hiểu chuyện tình lý hơn một chút.
Chu Nặc đã thu hồi mộc đao lại, tôi đang định thu đao về thì bỗng nhiên dưới chân mềm nhũn ra, cả người lảo đảo lao về phía trước một bước, đầu gối khuỵu xuống, vậy mà lại quỳ một nửa trước mặt Chu Nặc. Chu Nặc khẽ mỉm cười nói: "Sở tướng quân không cần đa lễ, có thể chống đỡ dưới thế đao Trảm Ảnh Đao của ta lâu đến như vậy, ngươi vẫn là người đầu tiên đấy."
Tôi dở khóc dở cười, nhưng trong lòng cũng không khỏi dâng lên một niềm thán phục. Trảm Ảnh Đao của Chu Nặc dường như tuyệt đối không chỉ đơn thuần là che giấu đao thế, hắn còn chưa thực sự tấn công mà đã khiến tôi mệt mỏi rã rời tựa như vừa trải qua một trận kịch chiến, nếu thực sự chém tới thì tôi cũng chẳng biết mình có thể đỡ nổi mấy đao của hắn. Thế nhưng hắn có mạnh đến đâu chăng nữa thì hành vi vô lễ này vẫn khiến tôi tức giận vô cùng, ngặt nỗi hắn lại hiểu lầm rằng tôi đang hành lễ với hắn, lại còn bảo tôi không cần đa lễ, khiến lồng ngực tôi nghẹn ứ lại như bị nhét một tảng đá, dẫu một bụng đầy uất ức mà chẳng thốt nên lời.
Lúc này nghe Đào Thủ Chuyết cười nói: "Chu đô đốc, nghe nói ngài ép Thống lĩnh Long Lân Quân phải tỉ thí đao pháp, thế thì đường đột quá rồi, đâu phải là đạo đãi khách chứ."
Theo tiếng nói vang lên, Đào Thủ Chuyết cất bước tiến vào trong phòng.