Thiên Hành Kiện 2 · Thủy Vô Thường Hình

Thiên Hành Kiện 2 · Thủy Vô Thường Hình

Lượt đọc: 4 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
Con Đường Đào Vong

❊ ❊ ❊

Thế núi mênh mông bạt ngàn, gió thổi qua, từ đằng xa liền truyền lại một trận rít gào hú gọi.

Kể từ khi chúng tôi trốn thoát khỏi thành Cao Thứu, đến nay đã là ngày thứ năm. Không có ngựa, muốn chạy tới đế đô ít nhất cũng phải mất một tháng rưỡi. Vết thương của Tiết Văn Diệc vẫn luôn rất nặng, hai ngày trước, lại có thêm hai cô gái bắt đầu phát sốt, họa vô đơn chí là cơn bệnh của tôi cũng tái phát. Sau khi khỏi bệnh tôi vẫn chưa được bồi bổ điều dưỡng cẩn thận, lại thêm trận khổ chiến khi phá thành, sáng nay thức dậy tôi liền cảm thấy toàn thân khó chịu, hơi phát sốt, hôm nay mới chỉ đi được vài dặm trong núi mà đã mệt đến thở không ra hơi, đành phải dừng lại nghỉ ngơi một lát.

Sau khi thành Cao Thứu bị phá, mười vạn quân đế quốc nam chinh toàn quân bị diệt, e rằng chẳng trốn thoát được bao nhiêu người. Dù chúng tôi cưỡi phi hành cơ bay ra được ba bốn mươi dặm, nhưng nếu trong thành có người trốn thoát thì giờ này cũng nên đuổi kịp chúng tôi rồi. Thế nhưng chúng tôi đi ròng rã năm ngày, trên đường vẫn chưa từng gặp phải một binh lính đế quốc nào trốn ra. Giờ tôi cũng ngã bệnh, trong tám người gồm bốn nam bốn nữ chỉ còn Ngô Vạn Linh, Trương Long Hữu và hai cô gái là kể như thân thể còn tráng kiện. Tám người mà ngã bệnh mất một nửa, nếu có thể trở về đế đô, quả thực coi như một kỳ tích.

Tôi gạt một cành cây ra, nhìn sơn cốc bị sương mù bao phủ. Nơi này đại khái là địa giới của tỉnh Thiên Thủy, tỉnh Thiên Thủy vốn có tiếng là "núi non trùng điệp dằng dặc khôn cùng, dân phong hung hãn hiếu chiến", vốn có hơn một nghìn vạn dân, đông dân nhất trong các hành tỉnh của đế quốc, là tỉnh trọng yếu nhất ở miền trung bộ đế quốc, Thiên Thủy tổng đốc cũng là thủ tịch tổng đốc tiết chế bốn tỉnh Trung Tây. Sau khi Thương Nguyệt Công làm phản, Thiên Thủy tổng đốc Lý Thuyên đã theo phe phản quân, còn Tây phủ binh vốn đóng quân ở phía bắc tỉnh Thiên Thủy lại vẫn tận trung với Đế Quân, hai bên chia cắt tỉnh Thiên Thủy làm hai nửa nam bắc, khói lửa chiến tranh liên miên, tranh đấu không dứt. Vũ Hầu vượt sông nam chinh, trận đầu tiên chính là dùng thế sét đánh không kịp bưng tai, cùng Tây phủ binh công phá thủ phủ Phù Đôn của tỉnh Thiên Thủy, chém chết tiền tổng đốc Lý Thuyên, khiến cho thành Phù Đôn xếp thứ bảy trong mười hai danh thành trở thành nơi đầu tiên quay về dưới trướng đế quốc. Thế nhưng, Tây phủ binh và phủ binh của tổng đốc phủ công thủ giằng co suốt mấy năm liền, một nghìn vạn dân của tỉnh Thiên Thủy đã chết mất hai phần ba, vùng đất chúng tôi đang dừng chân hiện tại căn bản đã chẳng còn thấy bóng dáng khói bếp xóm làng. Sau khi vắng bóng người, cây cối nơi đây lại mọc lên tươi tốt lạ thường, vùi lấp đi mất một nửa con đường mòn trong núi.

Trong trận vây hãm thành Cao Thứu, chúng tôi đã giết gần tám mươi vạn quân dân, nếu tính cả số người chém giết dọc đường từ khi nam chinh tới nay, nghĩ lại cũng thấy rợn người.

Tôi buông cành cây đang nắm trong tay ra, cành cây "vù" một tiếng bật ngược trở lại. Dù khói lửa ngập trời, nhưng mùa xuân rốt cuộc vẫn đến, cành cây kia đã đâm chồi nảy lộc, nắm trong tay dường như cũng cảm nhận được dòng nhựa non tươi mới đang chảy dưới lớp vỏ cây.

Thế nhưng người thì chẳng phải cành cây. Kẻ đã chết đi, vĩnh viễn không thể sống lại được nữa.

Tôi ủ rũ nghĩ ngợi, đầu óc cũng váng vất một hồi, quay bước trở lại nơi đóng trại. Một cô gái đang dùng nước trong rửa vết thương cho Tiết Văn Diệc, hai cô gái khác thì nằm bệt dưới đất, thần sắc vô cùng uể oải rã rời. Bệnh của họ còn nặng hơn tôi, tôi đi đường tuy có hơi lảo đảo, nhưng họ thì đến nhấc chân bước đi cũng khó khăn rồi.

Trương Long Hữu đang gõ hai hòn đá vào nhau, nghe tiếng tôi đi tới, liền đứng dậy nói: "Sở tướng quân, ngài nghỉ ngơi một chút đi."

Tôi nhặt một hòn đá ngồi xuống, hỏi: "Đang làm gì thế?"

"Tôi muốn tìm đá lửa để nhóm lửa."

"Tìm được chưa?"

Hắn ném hai hòn đá đi, nét mặt thoáng vẻ chán nản, đáp: "Không được. Giờ mà có chút thuốc súng thì không cần đá lửa cũng nhóm được, chỉ cần đánh ra vài tia lửa là xong."

Tôi không khỏi cười khổ. Lúc trốn khỏi thành Cao Thứu, làm gì có ai mang theo hỏa lôi đạn? Trong trận chiến cuối cùng đó, vũ khí có thể dùng được đều đã đem ra dùng sạch cả rồi. Tôi nói: "Đừng nản lòng, nghĩ cách khác xem sao."

Lúc này, trong lùm cây phía tây phát ra một chuỗi âm thanh lạo xạo. Tôi quay đầu lại, vừa vặn thấy Ngô Vạn Linh đang ôm một đống quả dại đi tới. Trương Long Hữu thở dài một tiếng, không nói gì, nhưng tôi cũng hiểu ý hắn.

Ăn quả dại mấy ngày liền, dạ dày đã trào cả nước chua. Quả dại đầu xuân phần lớn vừa chua vừa chát, thực sự chẳng thể khen ngon cho được.

Ngô Vạn Linh đặt đống quả dại xuống đất, nói: "Thống lĩnh, ăn chút gì đi."

"Cô nương cùng đi với huynh đâu?"

Ngô Vạn Linh cầm mấy quả bước về phía hai cô gái đang nằm đắp chiếu, miệng đáp: "Nàng còn đang hái thêm mấy quả trên cây, sắp qua đây rồi."

Trương Long Hữu cũng bước tới cầm hai quả, ngồi xuống cạnh tôi bảo: "Sở tướng quân, giờ ngài thấy đỡ hơn chút nào chưa?"

Tôi cắn một miếng quả, chỉ cảm thấy đầu nặng trĩu như rót chì, gần như không ngẩng lên nổi, nhưng ngoài miệng vẫn nói: "Giờ đỡ hơn rồi, ngày mai lại tiếp tục lên đường thôi."

Để đưa Tiết Văn Diệc đi cùng, chúng tôi đã dùng gỗ làm một chiếc cáng trượt, vốn dĩ do tôi và Ngô Vạn Linh thay phiên nhau kéo Tiết Văn Diệc, giờ bản thân tôi đi lại còn khó khăn, nói gì đến chuyện kéo theo hắn. Hai cô gái kia bệnh cũng rất nặng, tuy chưa đến mức không bước nổi, nhưng mới đi một đoạn ngắn đã thở dốc không ra hơi, một ngày e rằng nhiều nhất chỉ đi được mươi dặm. So với lúc ban đầu một ngày đi chừng sáu mươi dặm thì quả thực chênh lệch quá xa. Cứ theo tốc độ này, muốn về tới đế đô chắc phải đi mất hơn nửa năm trời.

Ngô Vạn Linh có phần bất an nói: "Thống lĩnh, ngài còn đi được không?"

Đúng vậy, tôi còn đi được không? Miệng thì nói "đỡ hơn", nhưng tôi biết rõ cơ thể mình ngày càng bủn rủn vô lực. Tôi nói: "Than ôi, giá mà có Diệp Đài ở đây thì tốt rồi."

Ngô Vạn Linh bảo: "Trương tiên sinh, chẳng phải huynh cũng hiểu đôi chút y đạo sao?"

Trương Long Hữu gãi đầu, cười khổ một tiếng đáp: "Y đạo tôi tuy có biết sơ qua, nhưng thứ tôi học đều là thuật thạch dược, phải có thủy hỏa tương tế mới dùng được, chứ thảo dược như Diệp y quan thì tôi mù tịt."

Thực ra tôi cũng biết bản thân chẳng mắc phải bệnh gì quá nặng, nếu được ăn no, nghỉ ngơi tử tế thì chẳng mấy ngày là khỏi, vết thương của Tiết Văn Diệc cũng sẽ lành thôi. Tôi nhìn sang Tiết Văn Diệc đang nằm một bên, gương mặt hắn vốn dĩ đã tái nhợt thiếu huyết sắc, vì phát sốt mà hai bên gò má nổi lên hai vệt ửng đỏ bất thường. Cô gái kia đang lột vỏ một quả dại đút cho hắn ăn. Tiết Văn Diệc vì quá suy nhược, mắt nhắm mắt mở, ăn một miếng quả dại cũng tốn sức vô cùng. Tôi nói: "Mấy chuyện đó không cần bàn nữa. Trương tiên sinh, còn cách nào khác để lấy lửa không?"

Lúc trốn khỏi thành Cao Thứu, chẳng ai nghĩ đến chuyện lấy lửa, thành thử không một ai mang theo đá đánh lửa. Ở trong thành thì đâu đâu cũng có lửa, vừa ra khỏi thành, chỉ vì không nhóm được lửa mà mấy con thú nhỏ Ngô Vạn Linh săn được cũng đành chịu không ăn nổi. Nếu có thể nhóm được lửa, nấu một nồi canh nóng thì còn công hiệu hơn cả thuốc men.

Trương Long Hữu ngậm quả dại, xuất thần suy nghĩ, bỗng nhiên vỗ đùi một cái, kêu lên: "Phải rồi, khoan gỗ!"

Tôi bị hắn làm cho giật nảy mình, hắn đã bật dậy nói: "Tôi từng đọc qua một cuốn sách, nói khoan gỗ có thể lấy lửa!"

Khoan gỗ làm sao lấy được lửa? Trương Long Hữu có lẽ hơi hủ lậu giáo điều rồi. Nhưng nhìn dáng vẻ hưng phấn hớn hở của hắn, tôi cũng chẳng nỡ dội gáo nước lạnh.

Trương Long Hữu nói là làm, quả dại cũng chẳng buồn ăn, rút phay đao bên hông chặt một cành cây thẳng tắp, lại nhặt một đoạn thân cây khô chẻ làm đôi, đặt nửa khúc gỗ xuống đất, sau đó vót nhọn cành cây chống lên mặt gỗ, hai tay ra sức chà xát miệt mài. Theo động tác cọ xát của hắn, cành cây kia tựa như một mũi khoan, khoan vào nửa khúc gỗ một cái lỗ, mép lỗ bắt đầu xuất hiện một vệt cháy xém.

Thế mà lại có tác dụng thật. Tôi thẳng người dậy, dán chặt mắt vào tay Trương Long Hữu. Tay hắn cọ xát càng lúc càng nhanh, nhưng chỉ hơi bốc lên một làn khói xanh nhạt, đến nửa đốm tàn lửa cũng chẳng thấy đâu.

Trương Long Hữu xoa xoa một hồi rồi buông cành cây xuống, vung vẩy hai bàn tay mỏi nhừ nói: "Không được, chưa đủ nhanh, nếu có thể nhanh hơn chút nữa thì may ra."

Đúng lúc này, Tiết Văn Diệc nằm ở bên cạnh bỗng yếu ớt cất tiếng: "Làm một... cái cung..."

Lời chưa dứt, hắn bỗng ho sù sụ. Cô gái kia vội đấm lưng cho Tiết Văn Diệc, Trương Long Hữu hỏi dồn: "Làm cái gì? Làm cái gì cơ?"

Tiết Văn Diệc ho một hồi rồi nói: "Mũi khoan dùng để khoan gỗ, phải dùng..."

Mới thốt ra được hai chữ, hắn lại ho rũ rượi không dứt. Trương Long Hữu đỡ người hắn dậy, vỗ vỗ lưng hắn nói: "Tiết tiên sinh, ngài cứ từ từ nói."

Đồ vật do Tiết Văn Diệc chế tạo ra đều ẩn chứa cơ xảo quỷ thần khôn lường, kính viễn vọng hay phi hành cơ hắn làm đều là những thứ tôi chưa từng nghe thấy bao giờ, có hắn chỉ dẫn, khéo lại nhóm được lửa thật. Ngô Vạn Linh cũng bước tới bên cạnh Tiết Văn Diệc, đỡ lấy nửa thân bên kia của hắn nói: "Tiết công chính, cứ từ từ nói."

Tiết Văn Diệc khẽ ho vài tiếng, nói: "Các người từng thấy mũi khoan tôi dùng bao giờ chưa?"

Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau, đều lắc đầu. Hắn bèn bẻ một nhánh cây nhỏ trên cáng trượt, bảo: "Tôi vẽ cho các người xem."

Trương Long Hữu mừng rỡ: "Phải đấy, phải đấy. Tiết tiên sinh, ngài cẩn thận một chút." Hắn đưa chân gạt ra một khoảng đất trống nhỏ, nói: "Vẽ ở đây đi."

Nhánh cây trong tay Tiết Văn Diệc vừa chạm tới mặt đất, từ hướng tây bỗng nhiên truyền lại một tiếng thét thất thanh của phụ nữ.

Đó là giọng của nàng!

Tim tôi thắt lại một cái dữ dội, chẳng biết sức lực từ đâu ùa tới, tôi bật phắt dậy, tay siết chặt chuôi Bách Tịch đao bên hông. Sắc mặt Ngô Vạn Linh cũng biến đổi, quát: "Xảy ra chuyện gì rồi?"

Tôi nói: "Huynh ở đây canh chừng, tôi đi xem sao."

Chẳng đợi Ngô Vạn Linh kịp phản đối, tôi đã lao vút ra ngoài. Lúc này tôi chỉ cảm thấy cả người nóng rực như lửa đốt, chẳng còn chút cảm giác mệt mỏi rã rời nào nữa.

Tiếng thét truyền lại từ phía tây. Vốn dĩ Ngô Vạn Linh và nàng chỉ hái quả ở ngay gần đây, thế nhưng tôi men theo con đường mòn chạy được một đoạn lại chẳng thấy bóng dáng ai cả.

Chẳng lẽ tôi tìm nhầm hướng?

Như có một luồng khí lạnh ùa tới, toàn thân tôi bỗng chốc mất hết sức lực. Đó không chỉ vì căn bệnh trên người, tôi biết, phần nhiều là do nỗi lo lắng tột cùng dành cho nàng.

Trên cành cây rõ ràng có dấu vết bị bẻ gãy, tôi men theo lối mòn chạy thêm mười mấy bước, lòng nóng như lửa đốt. Bỗng nhiên, từ trong vòm lá rậm rạp truyền ra một tràng tiếng gầm của dã thú.

Là thử hổ!

Tôi suýt chút nữa thốt lên kinh hãi. Thử hổ là loài dã thú hung mãnh nhất hiện nay, tuy bàn về độ hung tợn thì thực tế không bằng hổ thật, nhưng số lượng lại nhiều hơn hổ thật rất nhiều, hình dáng thì xấu xí gớm ghiếc hơn xa hổ thật, tiếng gầm cũng tựa như tiếng chuột kêu được phóng đại lên gấp mấy chục lần. Nàng đụng phải thử hổ rồi sao?

Thử hổ phân bố cực kỳ rộng, cương vực đế quốc bao la, nam bắc đông tây, gần như nơi nào cũng có dấu vết của loài này. Nàng một thân một mình đụng phải thử hổ thì...

Tôi chẳng dám nghĩ tiếp nữa, gào to lên: "Này! Nàng ở đâu?"

Miệng thì gọi, trong lòng bỗng dâng lên một nỗi đau xót nghẹn ngào. Đến tận bây giờ tôi vẫn không biết tên nàng là gì, bốn cô gái đó chưa từng nói tên của họ cho chúng tôi biết, tôi cũng chưa từng mở miệng gặng hỏi. Có lẽ tận sâu trong đáy lòng, tôi cố ý dùng vẻ lạnh lùng với họ để che giấu tâm tư của chính mình. Tôi luôn cho rằng, là một quân nhân thì không nên vướng bận chuyện nhi nữ thường tình. Lúc công phá thành Cao Thứu, chứng kiến cô gái kia rơi khỏi thành bỏ mạng, trong đáy lòng tôi cùng lắm chỉ là niềm xót thương. Còn nụ hôn của Bạch Vi khi chia tay cũng chỉ khiến tôi thấy đôi chút là lạ. Ngay cả với Tô Văn Nguyệt - người tôi đã hứa sẽ cưới, tôi cũng chẳng rõ mình có thực sự mang thứ tình cảm mà đám công tử phong lưu hay treo bên miệng gọi là "yêu" hay không. Thế nhưng, đối với cô gái mà tôi chưa từng biết tên này, kể từ cái ngày ở trong trướng của Vũ Hầu nghe thấy tiếng tỳ bà lạc điệu của nàng, tôi phát hiện mình luôn luôn nhung nhớ về nàng.

Một nỗi nhớ khắc cốt ghi tâm.

Mỗi khi đối mặt với ranh giới sinh tử, người tôi nghĩ tới cũng luôn luôn là nàng.

Có lẽ, đối với nàng, tôi mới có tình yêu thực sự chăng?

Tôi lắc đầu thật mạnh. Trán nóng hầm hập, tôi chỉ thấy mọi thứ trước mắt đều có phần nhạt nhòa mông lung. Tôi chẳng biết nổi, nếu nàng xảy ra chuyện gì, liệu tôi có còn dũng khí để sống tiếp hay không.

Tiếng gọi của tôi trong rừng cây đại khái cũng chẳng truyền được bao xa, giọng tôi ít nhất cũng nhỏ hơn lôi cổ gấp hai lần. Tôi không nghe thấy tiếng nàng, cũng có thể tiếng kêu của nàng quá nhỏ khiến tôi nghe không rõ. Đúng lúc này, tiếng gầm của con thử hổ lại vang lên.

Lần này, tiếng rống của thử hổ đã ở rất gần.

Không nhầm đường rồi!

Lòng tôi mừng rỡ khôn xiết, men theo hướng âm thanh phát ra, gạt phăng một bụi cây cản lối, lao vụt lên phía trước.

Rừng cây phía trước đã thưa thớt hơn nhiều, vượt qua đoạn này, tôi đã thoáng thấy một bóng người mang áo lụa vàng nhạt. Tôi rảo bước nhanh hơn, dốc sức lao tới.

Rừng cây đến bên vách núi thì đột ngột đứt đoạn, trước vách đá lộ ra một khoảng đất trống rộng chừng năm sáu trượng. Vừa vọt ra khỏi bìa rừng, tôi không khỏi hít vào một ngụm khí lạnh.

Nàng đã lùi tới sát mép vực, cách nàng chừng một trượng là một con thử hổ to lớn.

Con thử hổ đó có lẽ chưa từng thấy con người bao giờ, đang dè dặt thận trọng từng bước ép sát về phía nàng, còn nàng đã đứng cách mép vực chỉ một hai thước, dường như chỉ một cơn gió thoảng qua cũng đủ thổi bay nàng xuống vực sâu.

Trên người nàng vẫn mặc chiếc áo sam lụa màu vàng nhạt đó. Gió núi thổi qua, tà áo lụa bị gió ép chặt vào người, phác lên đường cong tuyệt mỹ. Trong những ngày tháng đào vong gian khổ này, nàng vẫn luôn giữ được vẻ gọn gàng sạch sẽ phi thường. Tôi trước giờ không dám hỏi lai lịch của họ, nhưng tôi cũng đoán được, nàng ắt hẳn xuất thân từ một gia đình gia giáo có gia thế. Giờ đây khi phải đối mặt với con thử hổ xấu xí ghê tởm tột cùng, nàng vẫn không hề hoảng loạn.

Nàng không chạy về phía doanh trại là muốn dụ con thử hổ này rời đi.

Một luồng xung động dâng lên trong lòng, tôi tuốt phắt Bách Tịch đao, quát lớn: "Súc sinh! Lại đây!"

Bên mép vực không có nhiều cây cối, tiếng quát của tôi vang lên vô cùng đanh thép. Con thử hổ bị tiếng thét của tôi làm kinh động, khựng lại bước chân, quay ngoắt đầu sang.

Tôi nắm chặt thanh đao, chỉ thấy mồ hôi trong lòng bàn tay đã thấm ướt chuôi đao, khiến cả thanh đao mang theo cảm giác lành lạnh. Tôi chậm rãi tiến lên, dán chặt mắt vào con thử hổ.

Tập tính của thử hổ khác với hổ thật. Hổ thật khi phát động tấn công con mồi thường sẽ nhảy chồm lên vồ lấy, còn thử hổ lại từ từ áp sát, rồi bất thình lình lao vút tới cắn xé con mồi. Thân hình con thử hổ này còn dài hơn cả chiều cao của tôi, nếu bị nó ngoạm trúng thì e rằng chỉ một phát cắn là gãy đôi chân.

Tôi từ từ bước tới, có lẽ vì chưa từng gặp phải con mồi nào như thế này, con thử hổ thậm chí còn lùi lại nửa bước.

Hiện tại, tôi đã áp sát nó chỉ còn hơn một trượng. Tôi có ý từ từ chuyển hướng sang một bên để dụ con thú này dời tầm mắt khỏi nàng, bởi vậy lúc này ba bên vừa vặn tạo thành một đường thẳng, tôi và nàng đều cách con thử hổ chừng một trượng.

Tôi không dám tiến lại gần hơn nữa. Động tác của thử hổ cực nhanh, nếu ở trong cự ly một trượng, tôi chẳng dám chắc mình có kịp phản ứng hay không, có khi đợi đến lúc nó ngoạm trúng thịt rồi mới nhận ra.

Tôi dừng bước. Bất thần, chân tôi dậm mạnh xuống đất.

Trên mặt đất vốn có nhiều sỏi đá vụn, một cú dậm chân của tôi đã hất tung một hòn sỏi bay thẳng về phía con thử hổ. Con thú lắc mình né tránh, hòn đá vừa vặn bắn trúng gò má nó.

Hòn đá vừa trúng đích, tôi liền thấy hoa mắt, chỉ nghe nàng bất chợt thét lên kinh hãi: "Cẩn thận!"

Động tác của con thử hổ nhanh đến mức gần như không nhìn rõ. Tôi vội nhảy lùi về phía sau mấy thước, cú cắn của con quái thú hụt mất mục tiêu, gần như sượt qua ống quần tôi, bắp chân tôi thậm chí còn cảm nhận được luồng khí nóng hôi hám phả tới.

Nguy hiểm quá chừng.

Thế nhưng chẳng kịp cho tôi may mắn, con thử hổ lại lao bổ tới. Lúc này chân tôi còn chưa đứng vững, đã thấy trước mặt xộc tới một mùi tanh tưởi nồng nặc.

Tôi nghiến răng, cả người đổ dồn về phía trước. Vì vốn chưa đứng vững nên người đổ về trước, vừa vặn ngã đè lên lưng con thử hổ. Lông của thử hổ vừa thô vừa cứng, ngã đè lên đó thực sự chẳng dễ chịu chút nào, nhưng cũng nhờ cú ngã này mà chân tôi nhấc bổng lên, vừa khéo tránh được thêm một cú ngoạm của nó.

Tuy thoát được một kiếp, nhưng cơ thể tôi giờ lại nằm chắn ngang trên lưng con thử hổ. Tôi biết rõ nếu không phản kích thì bản thân thực sự sẽ thành miếng mồi ngon bên miệng cọp. May sao tuy hiểm cảnh trùng trùng, tay tôi vẫn nắm chặt Bách Tịch đao. Tôi vung đao lên, chém mạnh một nhát xuống lưng thử hổ, "xoẹt" một tiếng, một chùm lông thử hổ bị tôi chém đứt, lưỡi đao cũng ngập sâu vào da thịt chừng nửa tấc.

Bách Tịch đao sắc bén chém sắt như chém bùn, đến đầu xà nhân cũng có thể một đao chém đứt, thế nhưng da của thử hổ xưa nay nổi tiếng là dai chắc, giáp mềm trong quân đội phần lớn đều chế tạo từ da thử hổ, tôi có thể chém sâu vào da thịt nửa tấc đã là điều vô cùng hiếm thấy. Xem ra mười mấy tháng nam chinh, trải qua mấy chục trận chiến lớn nhỏ, cánh tay và đao thuật của tôi đều đã tiến bộ. Nhưng lúc này nào phải lúc để vui mừng? Con thử hổ bị tôi chém trúng một đao lập tức đau đớn gầm lên một tiếng dữ dội, ngẩng phắt đầu dậy, hai chân trước nhấc bổng khỏi mặt đất.

Tôi vốn dĩ nằm vắt ngang như một chiếc đòn gánh trên lưng nó, thử hổ vừa chồm đứng dậy, cơ thể tôi lập tức trượt tuột xuống. Tôi biết rõ một khi rơi xuống đất, con thú đang đau đớn này chắc chắn sẽ cắn xé loạn xạ, khi đó tôi e rằng đến một mẩu thịt nguyên vẹn cũng chẳng mang về nổi đế đô. Nhưng giờ thực sự chẳng còn cách nào khác, tôi cắn răng đánh liều, tay trái tóm chặt lấy tai trái của con thú.

Tai của thử hổ khá nhọn và dài, tôi nắm trong tay còn quấn lại một vòng, siết chặt tai nó vào bàn tay mình. Quấn như vậy chắc chắn khiến nó đau điếng, nó vung mạnh đầu toan cắn tôi. Hết đường lui, tay phải tôi lập tức buông thanh Bách Tịch đao đang cắm trên lưng nó ra, túm chặt lấy tai phải của nó. Nó hất đầu sang bên phải, còn tôi cứ thế đu bám trên hai tai nó, cơ thể bị nó quăng quật như một khúc gỗ sang bên trái, Bách Tịch đao cũng rơi phịch xuống đất, từ vết thương trên lưng nó, máu tươi phun trào xối xả lên khắp người tôi.

Vết thương này chưa đủ chí mạng, một đao này của tôi e rằng càng kích động thêm thú tính hung tợn của con thử hổ, cắn không trúng tôi, cái đầu to tướng của nó lắc mạnh sang hai bên điên cuồng. Tôi chỉ cảm thấy thân thể dường như không còn thuộc về mình nữa, bị nó quăng quật đập liên hồi vào lưng nó, đầu óc quay cuồng đảo điên, đến phương hướng trên dưới đông tây cũng chẳng phân biệt nổi, ngỡ như mình bị trói chặt trên cánh cối xay gió đang xoay tít mù. Tôi nghiến chặt răng, hai tay bấu chặt lấy tai nó, chết cũng không dám buông tay.

Lại bị nó hất thêm hai cái, bỗng nhiên tay trái tôi tuột ra, người mất thăng bằng ngả hẳn sang bên phải con thú, bên tai chỉ nghe tiếng con thử hổ rống lên một tràng kinh thiên động địa.

Tôi đã vặn đứt phăng tai trái của nó!

May sao con thử hổ trong cơn đau đớn cùng cực chỉ lo gầm rống thảm thiết, chưa kịp nhân cơ hội này cắn xé tôi. Tay trái tôi cong lại, ghì chặt lấy cổ con quái thú, tim trong lồng ngực đập thình thịch như trống điểm.

Nếu con thú này lại nhảy chồm quăng quật tiếp, chắc chắn sẽ hất văng tôi xuống lưng. Giờ tôi phải làm sao đây?

Dù hiện tại có vẻ như tôi đang chiếm đôi chút thế thượng phong, nhưng tôi biết rõ cái thế thượng phong này mong manh vô cùng, chỉ sợ lát nữa khi cơn đau qua đi, thú tính bùng phát, tôi sẽ lập tức bị nó xé xác thành từng mảnh.

Tôi ngẩng đầu lên, nhìn nàng đang đứng cách xa hai trượng, thét lớn: "Mau chạy đi!"

Nếu sau khi tôi chết mà nàng có thể trốn thoát được, âu cũng coi như đáng giá.

Nào ngờ nàng không những không chạy, ngược lại còn tiến lên một bước.

"Đồ ngốc!"

Miệng tôi mắng to, nhưng trong lòng lại dâng lên một cảm giác ngọt ngào kỳ lạ. Đến lúc này tôi mới nhận ra mình thế mà lại đang nghĩ: nếu tôi phải bỏ mạng dưới miệng con thú này, chi bằng nàng cũng đừng trốn thoát nữa.

Con thử hổ bỗng nhảy chồm lên, lao thẳng về phía nàng. Tôi kinh hãi tột độ, cánh tay trái dồn hết sức lực, cố gắng dùng chiêu thức cận chiến học được trong quân hiệu để khống chế nó. Chiêu này là siết cổ bế khí, nếu đối phương là con người, lực siết này của tôi nhất định sẽ khiến hắn nghẹt thở. Nhưng loài thú có lẽ không giống người, tôi đã dùng cạn sức bình sinh mà nó vẫn chẳng hề hấn gì, lại chồm thêm một cú nữa. May là tôi đang ghì chặt cổ nó nên không bị nó hất văng ra ngoài.

Nhưng cứ như vậy, khoảng cách tới chỗ nàng chỉ còn vẻn vẹn vài thước.

Tôi đã nhìn rõ sắc mặt của nàng. Lúc này chúng tôi cách nhau chẳng quá mấy thước, nếu không bị con quái thú gớm ghiếc này chắn ở giữa thì đây quả là một khoảnh khắc tuyệt mỹ. Tôi hét lớn: "Mau! Đưa đao cho ta!"

Thân hình nàng chấn động, né người sang một bên, chạy thốc tới.

Thanh Bách Tịch đao của tôi rơi ở nơi cách đó gần hai trượng. Khoảng thời gian nàng chạy đi nhặt đao, tôi nghĩ mình vẫn còn gượng được. Nhưng khi nhặt được đao rồi nàng đưa cho tôi bằng cách nào? Hai tay tôi lúc này căn bản không dám buông lỏng, một khi buông tay thì làm sao khống chế nổi con thú gần như phát điên này? Nhưng tình thế trước mắt đâu còn chỗ cho tôi đắn đo nghĩ ngợi, đành tới đâu hay tới đó.

Con thử hổ vẫn đang giãy giụa điên cuồng. Thân hình nó dài gần bằng tôi, nhưng sức lực lại bằng hai ba tráng đinh cộng lại. Nếu không nhờ trước đó tôi túm chặt tai nó thì sức tôi làm sao đọ nổi loài dã thú này? Dẫu vậy, khi nó ra sức giãy giụa, tôi vẫn chẳng có chút khả năng kháng cự, chỉ đành phó mặc cho nó quăng quật.

"Đưa cho chàng thế nào?"

Tôi nghe thấy giọng nàng truyền lại từ phía sau. Đến nước này mà giọng nói của nàng vẫn lạnh tanh, làm như tôi không phải đang ở vào ranh giới ngàn cân treo sợi tóc vậy. Tôi gào lên: "Ném qua đây!"

Lời của tôi chắc hẳn đã làm nàng giật mình. Nhưng muốn đưa đao cho tôi thì thực sự chẳng còn cách nào khác. Tôi nghe nàng đáp: "Vậy thiếp ném qua đây... Chàng cẩn thận."

Ba chữ cuối cùng đã không còn giữ được vẻ bình thản như ban nãy, dẫu đầu óc tôi đang váng vất điên đảo cũng nghe rõ sự run rẩy trong thanh âm của nàng.

Hóa ra nàng rốt cuộc cũng chẳng kiên cường như vẻ ngoài thể hiện.

Dù biết hoàn cảnh chẳng thích hợp chút nào, tôi vẫn thầm mỉm cười.

Thanh đao rơi "keng" một tiếng ngay bên cạnh tôi.

Nàng ném rất chuẩn, đao rơi chỉ cách tôi hơn một thước, nảy lên mấy cái trên nền đất đầy sỏi đá. Lúc này con thử hổ vừa vặn mang theo tôi quăng mạnh sang, tôi nghiến răng, tay phải đột ngột buông tai nó ra, chộp mạnh lấy chuôi Bách Tịch đao.

Đây là canh bạc cược bằng mạng sống. Nếu một cú chộp này trượt tay, đó sẽ là ngày tàn của cả tôi và nàng.

Ngón tay tôi chạm phải một vật thể tròn cứng, chính là chuôi đao Bách Tịch đã quá đỗi quen tay. Đội ơn trời đất, tôi thầm niệm một tiếng trong lòng, cổ tay xoay chuyển, đao đã nắm chắc trong lòng bàn tay. Lúc này tai thử hổ mất đi sự kìm kẹp lập tức quay ngoắt đầu lại toan cắn tôi, tay trái tôi dồn lực ghì chặt, thét lớn một tiếng: "Súc sinh!" Bách Tịch đao nơi tay phải đâm thẳng tới, mũi đao cắm phập vào sau tai con thú.

Trong quân hiệu, thầy dạy thuật ám sát từng nói với tôi rằng, xương sọ người cực kỳ cứng, muốn chém vỡ hộp sọ phải tốn sức rất lớn. Thế nhưng sau tai lại là kẽ hở của xương sọ, hạ đao từ sau tai thì đao sẽ lập tức đâm thẳng vào não bộ, có thể khiến đối thủ mất mạng ngay tại chỗ. Người đã vậy, tôi nghĩ dã thú chắc cũng chẳng khác là bao.

Quả nhiên, mũi đao đâm vào sau tai thử hổ nhẹ bẫng tựa chém vào bùn rữa, nửa thân đao lập tức ngập sâu vào óc con quái thú, nhưng sau đó liền như bị vật gì kẹp chặt lại, không tài nào đâm sâu thêm được nữa.

Đó là do kẽ hở sau tai không rộng bằng bản đao Bách Tịch, lưỡi đao đã bị kẹt cứng trong xương sọ của con thú. Nhưng bấy nhiêu thôi cũng đủ tước đoạt mạng sống của nó rồi, cái miệng há to toan cắn tôi bỗng hực lên một tiếng, phả ra một luồng khí tanh hôi, rồi từ từ gục ngã xuống đất.

Mãi tới lúc này tôi mới thở phào nhẹ nhõm. Tôi vốn dĩ đang cưỡi trên lưng nó, thử hổ vừa ngã xuống, tôi cũng cạn kiệt sức lực, ngồi phịch lên mình nó, thở dốc từng ngụm lớn.

Tôi thực sự đã dùng sức một mình giết chết một con thử hổ?

Tim vẫn đập loạn xạ trong lồng ngực, tôi có chút không dám tin vào mắt mình.

Nàng bỗng cất tiếng: "Chàng không sao chứ?"

Giọng nói của nàng lại trở về vẻ bình thản dịu dàng, như thể ban nãy chưa từng có chuyện gì xảy ra. Nhưng tôi biết, khoảnh khắc nàng run rẩy nói "chàng cẩn thận" ban nãy đã để lộ tâm tư chân thật của mình rồi. Giờ đây dẫu ngữ khí có vẻ lạnh lùng, tôi vẫn nghe ra nỗi ân cần lo lắng trong lời nói ấy. Tôi cười, nói: "Hình như kẻ chết không phải là ta."

Tôi toan đứng dậy nhưng người bủn rủn, suýt nữa ngã nhào. Lúc này tôi mới nhận ra áo lót bên trong lạnh ngắt, tựa như vừa vớt từ dưới nước lên vậy.

Là do máu từ người thử hổ phun ra làm ướt sao?

Tôi nhìn xuống ngực áo. Máu thử hổ trước ngực đã gần khô, còn cánh tay tôi do trận kịch chiến ban nãy cũng đầy những vết cào xước, nhiều vết thương vẫn đang rỉ máu, nhưng đều chỉ là vết thương ngoài da.

Tôi cởi giáp mềm ra, muốn xem trên người có vết thương nào không. Nào ngờ vừa cởi ra liền thấy một làn hơi nóng bốc lên ngùn ngụt từ lồng ngực. Trong trận tử chiến vừa rồi bản thân tôi chẳng hề nhận ra, nhưng mồ hôi đầm đìa đã làm ướt sũng cả chiếc áo lót bên trong.

"Cẩn thận, dễ bị nhiễm lạnh đấy."

Giọng nàng vẫn lạnh nhạt như trước. Tôi không kìm được ngẩng đầu nhìn nàng, khẽ mỉm cười: "Đa tạ nàng đã quan tâm."

Câu nói của tôi khiến nàng có phần bối rối gượng gạo. Tôi không dám nhìn nàng thêm nữa, thắt lại giáp mềm, nói: "Mau quay về thôi."

Lúc sắp bước đi, tôi ngoái đầu nhìn lại con thử hổ nằm sõng soài trên mép vực, bất giác rùng mình một cái. Ban nãy giết được con thú này gần như hoàn toàn nhờ vào may mắn, lại có thêm sự trợ giúp của nàng.

Xem ra dũng lực của tôi rốt cuộc còn kém xa Vũ Hầu. Nghe nói khi Vũ Hầu đánh chết thử hổ cũng trạc tuổi tôi bây giờ, hơn nữa ngài còn đơn thương độc mã, tay không tấc sắt đánh chết nó. So với ngài, tôi quả thực thua kém quá nhiều.

Nghĩ tới đây, tôi không khỏi có chút chán nản. Quay đầu lại, nàng đã cất bước đi phía trước. Tôi rảo bước đuổi theo, bảo: "Đi ra sau lưng ta."

Nàng ngẩn người, không nói gì. Tôi đi trước mặt nàng, cũng lặng thinh không mở miệng.

Xem chừng thử hổ trong núi cũng không nhiều, đường về rốt cuộc bình an vô sự. Đi qua nơi ban nãy nàng hái quả dại, nàng nói: "Ở đây còn mấy quả nữa."

Khi nàng ôm bọc quả dại trong lòng đi tới, tôi bỗng cất lời: "Sau này đừng đi một mình nữa."

Nàng ngước mắt nhìn tôi, đôi mắt to tròn sáng lấp lánh như muốn nói điều gì. Tôi né tránh ánh mắt của nàng, tiếp tục rảo bước về phía trước.

Gần tới nơi đóng trại, tôi bỗng ngửi thấy một mùi khét truyền tới. Mùi này không quá nồng, bên trong thoang thoảng chút hương ngọt bùi, ngửi rất dễ chịu.

Đó là mùi của lửa. Lòng tôi mừng rỡ khôn xiết, xem chừng Trương Long Hữu rốt cuộc đã nhóm được lửa rồi. Tôi ngoái lại bảo: "Nhanh lên, có lửa rồi!"

Quả nhiên, khi tôi gạt cành cây bước tới trước nơi hạ trại, bên cạnh chiếc cáng trượt của Tiết Văn Diệc đã nhóm lên một đống lửa. Dưới đất đã đào một cái hố nhỏ, mấy cành cây trong hố đang cháy bập bùng, tàn lửa nổ lách tách không ngừng, Trương Long Hữu và Ngô Vạn Linh mỗi người cầm một cành cây, bên trên xiên mấy quả dại cùng mấy con chim đã vặt sạch lông lột da, đang hơ nướng trên ngọn lửa, mùi thơm ngào ngạt kia chính là từ đây bốc ra.

Ngô Vạn Linh vừa thấy tôi liền bật dậy, hỏi: "Thống lĩnh! Ngài sao thế này?"

Tôi cúi nhìn trước ngực, có lẽ lớp giáp mềm loang lổ vết máu đã dọa hắn sợ. Tôi cười cười bảo: "Không sao, nướng nhanh lên, ta thèm chết đi được rồi."

Ngô Vạn Linh nhìn xiên thịt trên tay, cười đáp: "Cũng nhờ có Trương tiên sinh và Tiết công chính, chúng ta mới nhóm được lửa đấy. Thống lĩnh, thịt chim này chín rồi, ngài ăn trước đi."

Tôi cũng thực sự đói đến cồn cào, cầm lấy cắn ngay một miếng. Ngón nghề nướng thịt của Ngô Vạn Linh quả thực không tồi, quả dại kia vốn vừa chua vừa chát, nướng lên rồi lại thành thứ gia vị tuyệt hảo cho thịt chim, thịt chim cũng đượm một mùi thanh mát dịu dàng. Chẳng biết đây là giống chim gì mà béo ngậy mềm thơm, cắn vào miệng, vị ngọt tươi nóng hổi ngập tràn suýt nữa làm tôi nuốt luôn cả lưỡi. Ăn được hai miếng, tôi bỗng xé một chiếc đùi chim, chìa về phía nàng vừa bước tới, nói: "Này, ăn đi."

Nàng đón lấy nửa con chim, cắn từng miếng nhỏ tốn bao công phu, cử chỉ vô cùng thanh nhã. Tôi cười cười, dùng bộ dạng chết đói đầu thai ngấu nghiến gặm ăn. Một thoáng sau tôi đã gặm sạch trơn không chừa mẩu xương, còn nàng thì vẫn còn lại rất nhiều.

Tôi liếm vệt mỡ trên ngón tay, tấm tắc: "Ngon lắm, ngon lắm."

Ngô Vạn Linh cười bảo: "Thống lĩnh, thân thể ngài cũng khỏe lại rồi sao?"

Nghe hắn nhắc, tôi cũng sực tỉnh ngộ. Toát ra trận mồ hôi đầm đìa ban nãy, cơn bệnh của tôi đã bay biến đi đâu mất, giờ đây tinh thần phấn chấn gấp bội, vừa rồi tử chiến với thử hổ mệt đến kiệt sức, ăn xong nửa con chim nướng này dường như toàn bộ sức lực đều đã quay trở lại. Tôi nói: "Đúng thế thật, con thử hổ kia còn chữa khỏi cả bệnh cho ta nữa."

"Thử hổ!"

Trương Long Hữu và Ngô Vạn Linh đồng thanh thốt lên kinh ngạc, Tiết Văn Diệc đang nằm một bên được một cô gái đút thịt chim cũng mở to mắt nhìn tôi trân trân. Tôi nói: "Phải, vừa rồi ta giết chết một con. Sao thế?"

Ngô Vạn Linh nhìn về phía xa, vẻ mặt lo lắng: "Trong ngọn núi này e rằng vẫn còn nữa chứ?"

"Đừng nghĩ nhiều, thử hổ dẫu sao cũng dễ đối phó hơn xà nhân."

Nói xong câu này, người tôi lại bất giác rùng mình. Nhớ lại thế công như lửa cháy lan đồng của lũ xà nhân cùng mười vạn đại quân vùi thây nơi thành Cao Thứu, bất kể là ai cũng chẳng dám vỗ ngực bảo không sợ.

Trương Long Hữu và Ngô Vạn Linh hẳn cũng nhớ lại thảm cảnh lúc thủ thành, nét mặt họ đều thoáng vẻ mờ mịt xa xăm. Tôi cất tiếng gọi: "Đừng nghĩ ngợi lung tung nữa, Ngô huynh, huynh săn được giống chim gì thế? Béo ngậy thật đấy."

Ngô Vạn Linh như vừa choàng tỉnh khỏi cơn ác mộng, cười đáp: "Đó là gà tre. Trong núi chỗ nào cũng có, nhiều vô kể, bắt dễ như nhặt trên đất vậy. Nếu không nhờ Trương tiên sinh và Tiết công chính nhóm được lửa thì bao nhiêu món ngon thế này chúng ta cũng đành chịu trói."

Tôi nói: "Bắt thêm mấy con nữa đi, nếu có thể nấu được một nồi canh thì còn tuyệt hơn."

Tôi và Ngô Vạn Linh vừa trò chuyện, Trương Long Hữu cũng bị cuốn theo bầu không khí, cười nói: "Phải rồi, tôi đi tìm chút đất sét, trong núi này ắt phải có. Nặn thành hình rồi nung lên là có ngay cái nồi dùng tốt rồi."

Chúng tôi cười nói vui vẻ, chốc lát đã quên bẵng đi tình cảnh hiểm nghèo hiện tại. Lúc cười nói, khóe mắt tôi thỉnh thoảng lại liếc trộm nàng, trong lòng bất giác dâng lên một nỗi xót xa.

Nếu có thể về tới đế đô, nàng biết phải làm sao đây?

Dù thế nào đi nữa, tôi tuyệt đối không thể dâng nàng cho Đế Quân được.

Vận may của Trương Long Hữu rất tốt, ngày thứ hai đã tìm thấy đất sét.

Vì tìm được đất sét, chúng tôi hưng phấn không chịu đi tiếp nữa, lập tức tìm một chỗ hạ trại, dùng mồi lửa giữ từ hôm qua nhóm lên đống lửa, xúm lại xem Trương Long Hữu nặn nồi.

Tay nghề của Trương Long Hữu chẳng ra làm sao, hắn nói thì nhẹ như lông hồng, bảo tìm được đất sét là nặn được nồi tốt, nhưng phôi thai hắn nặn ra cái nào cái nấy vẹo vọ xiêu vẹo, dùng cái nồi như thế nấu đồ ăn thì e rằng nấu chín rồi cũng chẳng rót ra nổi. May sao có một cô gái tay rất khéo, đã nặn ra được một chiếc nồi nung có quai khá đẹp mắt, lại nặn thêm mấy chiếc muỗng hơi thô kệch một chút.

Khi trời sẩm tối, nồi canh gà đầu tiên cũng ra lò. Chúng tôi dùng mấy chiếc muỗng lớn vụng về kia múc canh, gần như chỉ trong chớp mắt, nồi canh đầu tiên đã bị ba gã đàn ông chúng tôi gồm tôi, Trương Long Hữu và Ngô Vạn Linh húp sạch bách, ngay cả Tiết Văn Diệc cũng chỉ kịp húp được một muỗng.

Húp xong bát canh thịt nấu chín, bệnh tình của hai cô gái kia lập tức chuyển biến tốt hơn, thương thế của Tiết Văn Diệc cũng có dấu hiệu khởi sắc, vốn dĩ phần lớn thời gian trong ngày hắn đều hôn mê bất tỉnh, giờ đã có sức để mở miệng nói chuyện. Xem chừng đại khái vừa đi đường cũng vừa có thể bình phục dần.

Ăn uống no nê xong xuôi, tâm trạng mỗi người đều nhẹ nhõm hơn rất nhiều. Trương Long Hữu và Ngô Vạn Linh rôm rả trò chuyện cùng hai cô gái, Tiết Văn Diệc cũng nửa nằm nửa ngồi trên cáng trượt nói chuyện với cô gái thường chăm sóc hắn. Lúc mới trốn khỏi thành, họ trước sau vẫn ít nhiều mang vẻ thù địch đối với chúng tôi.

Cũng thật khéo thay, vừa vặn bốn nam bốn nữ. Tôi nghĩ ngợi, bất giác nhìn sang nàng đang ngồi bên đống lửa.

Bên ánh lửa bập bùng, nàng đang nắn nót so lại dây cho cây tỳ bà kia. Ngay cả khi trốn khỏi thành Cao Thứu, nàng cũng không hề vứt bỏ cây tỳ bà này. Theo từng ngón tay nắn chỉnh, thỉnh thoảng lại bật ra mấy nốt nhạc rời rạc chưa thành điệu.

Nếu có thể cùng nàng tìm một chốn không người lui tới để quy ẩn giang hồ thì cũng tốt biết bao.

Nhận ra bản thân thế mà lại nảy sinh ý nghĩ này, tôi không khỏi bật cười cay đắng. Dáng vẻ của nàng vẫn lạnh lùng như băng sương giá tuyết, mấy cô gái kia đã dần thân quen với chúng tôi, họ đã nói cho chúng tôi biết tên thật của mình, Vũ Hầu từng đặt cho sáu nàng nữ nhạc này những cái tên hoa cỏ chim muông, tên thật của họ nghe ra còn hay hơn tên Vũ Hầu đặt. Đến lúc hỏi tới nàng, nàng chỉ cười nhạt một tiếng, bảo: "Cứ gọi thiếp là Phong."

Phong là cái tên Vũ Hầu đặt cho nàng. Bất kể nàng tên là gì, nàng vẫn cứ là nàng. Tôi nghĩ ngợi, không nhìn nàng nữa, đáy lòng thầm lặng suy tư miên man.

Giải quyết xong vấn đề cái ăn, tốc độ hành quân của chúng tôi lập tức nhanh hơn rất nhiều. Bản thổ của đế quốc lấy Đại Giang làm ranh giới, có nam chín bắc mười tổng cộng mười chín hành tỉnh, tỉnh Thiên Thủy là hành tỉnh có cương vực đứng đầu, nam bắc rộng tới hơn bảy trăm dặm, hơn nữa vì khí hậu biến ảo khôn lường, thế núi hiểm trở vô cùng, dân phong lại cực kỳ dũng hãn, được xưng tụng là "trời không nắng, đất không bằng, người không yên". Thủ phủ Phù Đôn thành được xây dựng dựa lưng vào núi ngoảnh mặt ra sông, thời Đại Đế giành lấy thiên hạ từng là tòa kiên thành số một số hai, Đại Đế đánh Phù Đôn thương vong mấy chục vạn người, vây hãm hơn ba năm trời mới công hạ được. Về sau, Đại Đế thấy nhân dân tỉnh Thiên Thủy quá đỗi dũng mãnh thiện chiến bèn hạ lệnh phàm là thành trì thuộc tỉnh Thiên Thủy, tường thành tuyệt đối không được cao quá năm trượng. Thế nhưng thành trì dẫu không quá năm trượng ở đất Thiên Thủy thì lực phòng ngự cũng chẳng hề thua kém những thành trì cao mười mấy hai mươi trượng ở những nơi khác là bao.

Chúng tôi tiến vào tỉnh Thiên Thủy vào ngày thứ năm, đến ngày thứ chín, trong một trận mưa bão ngập trời, chúng tôi đã tới huyện Văn Đương thuộc quyền quản hạt của phủ Phù Đôn.

Huyện Văn Đương có một con sông lớn, là chi lưu của Đại Giang. Xét về chi lưu, con sông này còn rộng hơn cả dòng chính. Thời Đại Đế dựng nước, vì thành Phù Đôn kiên cố không thể phá vỡ nên ngài bèn chặt đứt vây cánh đông tây nam bắc trước rồi mới vây hãm thành Phù Đôn. Trận chiến quyết định cuối cùng chính là đóng xưởng đóng tàu ở huyện Văn Đương, dựng nên năm mươi chiến thuyền lâu hạm, xuất phát từ nơi này. Chúng tôi men theo đường mòn đi tới, vừa vặn tới được di chỉ của xưởng đóng tàu năm xưa.

Bên bờ sông vẫn còn sừng sững vài lán trại công xưởng, nhưng chỉ còn trơ lại mấy hàng xà cột. Con sông Thiết Thủy này gom góp lượng nước của mấy chục con sông nhỏ xung quanh, hễ vào mùa mưa xuân hạ là con nước dâng trào cuồn cuộn, lúc này những cây cột xà xiêu vẹo ngổn ngang đều cắm sâu trong dòng nước, tựa như những bộ xương khô của loài cự thú thời viễn cổ. Năm tháng quá đỗi xa xôi, đến gỗ cũng đã ngả sang màu đen kịt, trong cơn mưa bão tầm tã, từng thân cột dựng đứng đều đen nhánh bóng loáng tựa như đúc bằng thép cứng. Mưa tuôn xối xả như trút nước, trên bầu trời chốc chốc lại ầm ầm sấm ran, đó là những đợt sấm sét đầu tiên của mùa xuân.

Chúng tôi che những chiếc dù làm dưới sự chỉ điểm của Tiết Văn Diệc, chật vật khốn đốn lần tìm con đường mòn đã bị nước mưa làm cho nhạt nhòa không rõ. Thành Phù Đôn là tòa đại thành đầu tiên chúng tôi có thể tới được. Trước khi Vũ Hầu nam chinh, tỉnh Thiên Thủy vốn đã tự mình nội chiến gần một năm ròng, dân cư thưa thớt cùng cực, chín ngày qua chúng tôi đến nửa bóng người cũng chẳng thấy đâu, trái lại đi qua không ít thôn xóm bị tàn sát sạch trơn, bên trong chất đống xác chết ngổn ngang bừa bãi, thực chẳng khác nào đang cất bước giữa chốn quỷ vực âm ty.

Những thảm cảnh đó có cái do sơn tặc thừa cơ nổi loạn gây ra, có cái đại khái cũng chính là kiệt tác của quân chúng tôi. Sau khi nam chinh, để lấy lương thực dọc đường, Vũ Hầu từng hạ lệnh: những thành trì ngoan cố chống cự không hàng, trong vòng hai trăm dặm xung quanh toàn bộ xử trảm, không chừa một ai. Huyện Văn Đương này chẳng rõ trước kia có bao nhiêu nhân khẩu, nhưng ở cái mảnh đất Thiên Thủy chém giết thảm khốc nhất này, giờ đây cả huyện không còn một bóng người sống sót cũng là chuyện hoàn toàn có thể.

Tiết Văn Diệc vì không thể tự mình ra tay nên mấy chiếc dù làm ra vô cùng thô sơ vụng về, nếu là mưa nhỏ thì còn tạm được, chứ trong cơn bão dữ dội thế này căn bản chẳng có tác dụng gì. Mặt dù bằng lá chuối đã bị mưa gió xé rách toang, nước mưa xối xả đập xuống đầu xuống mặt. Tỉnh Thiên Thủy có tiếng là "trời không nắng", tên tỉnh lại đặt là "Thiên Thủy", thực chất chính vì mưa nhiều mà thành tên. Lúc nam chinh chúng tôi đi qua tỉnh Thiên Thủy đúng vào mùa khô, chưa từng được nếm trải uy thế ghê gớm này của thời tiết. Dọc đường bị trận mưa này dập cho đầu óc choáng váng, tôi tha thiết muốn tìm một nơi có thể tạm dừng chân tránh trú. Thế nhưng bên bờ sông lớn, rừng cây phần lớn đều thưa thớt, những cây mọc to lớn lại đứng trơ trọi một mình. Hồi ở quân hiệu, chúng tôi đã sớm được dạy rằng hành quân dã ngoại nếu gặp mưa dông sấm sét, tuyệt đối không được hạ trại dưới gốc cây trơ trọi, bằng không sét đánh xuống rất dễ trúng phải đại thụ.

Tôi giương một chiếc dù, nhưng chiếc dù này đã bị mưa gió đánh rách nát chẳng còn tác dụng che chắn gì lớn, tôi che nó chỉ cốt để bảo vệ một chiếc hũ đựng mồi lửa do tôi xách theo bên mình. Dẫu chiếc hũ mồi lửa này cũng được đậy bằng lá chuối, nhưng tôi thực sự sợ nó bị nước mưa dập tắt nên chỉ biết dùng chiếc dù rách ra sức che chắn lấy nó.

Ngô Vạn Linh kéo Tiết Văn Diệc, bước đi bên cạnh tôi. Hắn gào to lên: "Thống lĩnh, ngài mau nhìn kìa!"

Theo một vệt chớp lóe ngang trời, tôi nhìn thấy trên sườn dốc phía trước có một ngôi nhà gỗ. Tôi nói: "Đội ơn trời đất. Ngô tướng quân, huynh phải cẩn thận đấy, ta qua đó thám thính trước xem sao."

Tôi chuyển chiếc hũ đựng mồi lửa cho Trương Long Hữu ở phía bên kia, vừa toan cất bước tiến lên, bỗng nhiên bên tai chỉ nghe một tiếng thét chói tai của phụ nữ. Tôi ngoái đầu nhìn lại, liền thấy một cô gái trượt chân rơi xuống con mương bên cạnh, đang ra sức vùng vẫy muốn trèo lên, nhưng nước mưa đã làm đất xói mòn nhão nhoét, nàng làm sao bấu víu cho nổi?

Nước trong mương đã ngập ngang mặt đường, cô gái kia đại khái không để ý nên mới sẩy chân trượt xuống.

May quá, không phải là nàng.

Vừa thoáng qua ý nghĩ đó, toàn thân tôi bỗng lạnh toát. Tôi quát lớn: "Gắng gượng lấy!" Chẳng đợi người khác kịp nói câu nào, tôi nhảy phắt xuống mương.

Nước trong mương đã sâu ngang ngực, dĩ nhiên là ngang ngực tôi, còn với cô gái kia chắc đã tới tận cổ, nàng lại đang hoảng loạn vùng vẫy điên cuồng, đã nuốt phải hai ngụm nước, sắp sửa chìm nghỉm tới nơi.

Dòng nước chảy xiết vô cùng, vừa nhảy xuống mương tôi liền cảm thấy cơ thể như bị một người dùng sức đẩy mạnh, đứng còn không vững. Tôi hít sâu một hơi, rẽ nước bước về phía cô gái. Lúc này nàng đã mất thăng bằng, chìm nghỉm xuống dòng nước, chỉ còn lại mái tóc dài nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Tôi nhìn chuẩn xác, túm phắt lấy tóc nàng kéo lại.

Vừa tóm được nàng, Trương Long Hữu đã chẳng biết kiếm đâu ra một cành cây đưa với về phía tôi. Tôi dùng tay trái nắm chặt lấy cành cây, tay phải nới lỏng ra một chút, ôm chặt lấy eo cô gái. May sao ở trong nước trọng lượng của nàng nhẹ đi rất nhiều, bằng không tôi căn bản chẳng ôm nổi nàng.

Bám vào cành cây, tôi dùng một tay ôm lấy cô gái, đẩy nàng lên bờ. Đưa được nàng lên xong xuôi, tôi cũng trèo lên theo, hỏi: "Nàng ta không sao chứ?"

Trương Long Hữu kéo cô gái lên xong, vỗ vỗ lên lưng nàng mấy cái, nàng "nôn" một tiếng mửa ra một bãi nước đục, thần sắc vô cùng uể oải rã rời, nhưng xem chừng không có gì đáng ngại.

Trương Long Hữu lẩm bẩm: "Không sao là tốt rồi, không sao là tốt rồi."

Tôi khẽ mỉm cười. Cô gái này chính là người rất hợp chuyện với Trương Long Hữu, đại khái Trương Long Hữu cũng có ý với nàng. Cả người tôi dính đầy bùn đất nhơm nhớp, vô cùng khó chịu, nói: "Mọi người cùng qua bên kia thôi."

Ngô Vạn Linh hỏi: "Thống lĩnh, qua hết sao?"

"Là phúc không phải họa, là họa khó tránh khỏi. Cứ phó mặc cho ý trời đi, nếu trong căn nhà kia có xà nhân thì chúng ta cũng chẳng trốn đằng trời được nữa."

Nói đoạn, tôi bỗng bắt gặp ánh mắt của nàng. Khi nhìn tôi, ánh mắt nàng không còn vẻ lạnh lùng xa cách như trước nữa, dường như mang theo vài phần dịu dàng ấm áp. Thấy tôi nhìn sang, nàng cúi đầu xuống, thoáng nét e ấp thẹn thùng. Nàng xưa nay vốn lạnh như băng tuyết khiến người ta cảm thấy khó lòng tiếp cận, lúc này trong cơn mưa bão bị ướt sũng toàn thân trông lại càng gần gũi hiền hòa hơn.

Chúng tôi tiến lại gần căn nhà gỗ. Trong nhà không có ánh đèn, chẳng rõ rốt cuộc có người hay không. Tới trước cửa nhà, Ngô Vạn Linh nói: "Mọi người cẩn thận một chút, tôi và thống lĩnh vào thám thính trước."

Nói xong hắn nhìn sang tôi, tôi gật đầu. Lúc này trong tám người chúng tôi, kẻ còn sức đánh nhau chỉ có tôi và Ngô Vạn Linh, nếu thực sự có mai phục thì chạy cũng chẳng chạy thoát.

Tôi và Ngô Vạn Linh bước tới trước cửa. Tôi rút Bách Tịch đao, tay trái toan giơ lên gõ cửa. Trong tích tắc ấy, đột nhiên ngỡ như quay trở lại khung cảnh nơi thành Cao Thứu năm nào.

Lần đầu tiên nhìn thấy xà nhân cũng tương tự như thế này. Khi đó dưới trướng tôi có Kỳ Liệt cùng mười viên bách phu trưởng, đối phó với một tên xà nhân thôi mà cũng tốn chín trâu hai hổ lực. Vừa nghĩ tới những điều đó, tay tôi bỗng khựng lại giữa không trung, thực sự không dám gõ xuống.

Ngô Vạn Linh lại chẳng có mối bận tâm như tôi, hắn đứng bên cạnh thấy tôi bất động bèn hỏi: "Thống lĩnh, sao thế?"

Tôi đưa tay vuốt nước mưa trên tóc, đáp: "Không có gì. Huynh rút đao ra, cẩn thận một chút."

Hắn gật đầu. Tôi lại ngoái nhìn mấy người phía sau một lần nữa, cuối cùng, giáng một cú gõ thật mạnh xuống cánh cửa.

Cánh cửa dưới cú gõ của tôi phát ra thanh âm trong trẻo ngân vang, thứ gỗ lâu năm này khi gõ vào nghe gần giống như tiếng kim loại va chạm, trong màn mưa bão nghe trống trải vô cùng. Thế nhưng, theo cú gõ của tôi, cánh cửa bỗng bị đẩy hé ra một khe hở.

Cửa không cài then!

Tôi nhảy lùi lại phía sau một bước thật mạnh, Ngô Vạn Linh chẳng hiểu có chuyện gì cũng cuống cuồng nhảy lùi lại. Nhưng hắn nhảy không xa bằng tôi, thành thử lại chắn ngay trước mặt tôi.

Vừa nhảy ra khỏi mái hiên, nước mưa lập tức dội thẳng xuống đỉnh đầu, đầu óc tôi chợt lạnh toát tỉnh táo lại. Lúc này tôi mới nhớ rõ mình đang ở chốn nào, không khỏi bật cười tự giễu.

Tôi thực sự đã quá đa nghi rồi.

Cánh cửa hé ra một khe hở, bên trong vẫn tối om như mực. Tôi giơ Bách Tịch đao tỳ vào cánh cửa dồn sức đẩy mạnh, cửa mở toang ra. Vì các khung cửa sổ đều đóng kín mít nên bên trong vẫn tối đen như mực, nhưng có thể lờ mờ nhìn thấy bàn ghế bên trong, tuyệt nhiên không thấy bóng người. Tôi cẩn thận bước lên phía trước, cất tiếng: "Có ai không?"

Ngô Vạn Linh cũng bước tới. Hắn từ chỗ Trương Long Hữu ôm chiếc hũ mồi lửa qua. Tôi bảo: "Mau xem xem, mồi lửa tắt chưa?"

Hắn mở nắp ra, nhìn vào rồi đáp: "May quá, than bên trong vẫn còn đỏ."

Đó là biện pháp do Trương Long Hữu nghĩ ra. Dùng củi khô ủ thành than củi rồi bỏ vào trong hũ, dưới đáy hũ này có một lỗ nhỏ, tro than cháy tàn có thể lọt ra ngoài, còn không khí thì có thể lọt vào trong, giúp than lửa không bị tắt ngúm. Kể từ khi nhóm được lửa chúng tôi đều bảo quản mồi lửa theo cách này. Hắn từ trong ngực áo rút ra một que nhỏ cuốn bằng lá cây khô, chọc chọc vào đống than hồng, đầu que lập tức bén lửa. Hắn dùng sức thổi mạnh một hơi, một đốm lửa bỗng bùng cháy lên thành ngọn.

Đó cũng lại là cách do Trương Long Hữu nghĩ ra. Con người hắn có khá nhiều mưu mẹo kỳ lạ, mà lại vô cùng thực dụng. Vốn dĩ lá cây khô rất khó cuộn tròn, hắn bèn nhặt những chiếc lá tươi dày dặn cuộn chặt lại, rồi đem hơ bên đống lửa cho khô kiệt tựa như bùi nhùi rơm rạ. Mồi lửa kiểu này chỉ cần dùng sức thổi một hơi là có thể bùng cháy thành ngọn lửa lớn.

Vừa có ánh lửa, đồ đạc trong phòng như lập tức nhảy bổ ra hiện rõ mồn một trước mắt chúng tôi. Gian phòng rất nhỏ, bên trong chỉ có một chiếc chõng tre rách và hai chiếc ghế gãy, xem chừng đã nhiều ngày lắm rồi không có ai đặt chân tới. Tôi cẩn thận kiểm tra khắp gian phòng, cũng để mắt nhìn kỹ trên xà nhà, vẫn chẳng thấy nửa bóng người.

"Vào đi thôi."

Khi tôi quay ra bảo với mấy người bên ngoài như vậy, họ lập tức reo hò mừng rỡ.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ tianyashuku.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.