Về tới quân doanh thì trời đã khuya. Nhưng vừa đi tới cổng, bên trong lại vọng ra vài tiếng động.
Tôi cùng Tào Văn Đạo, Chân Dĩ Ninh nhảy xuống ngựa trước cổng trại, hai tên lính gác đi tới dắt ngựa, tôi hỏi: "Có chuyện gì thế? Sao giờ này vẫn còn người chưa nghỉ ngơi?"
Sau khi xà nhân tập kích thất bại, hôm nay chúng cũng không tới công thành, bởi vậy Tiền Phong doanh và lang binh đều tranh thủ cơ hội này để dưỡng sức, tôi cũng không nghĩ ra ai lại dồi dào tinh lực đến mức đêm hôm khuya khoắt thế này còn chưa ngủ.
Một tên lính bĩu môi nói: "Là Nhậm tướng quân. Sáu mươi người của bọn họ vẫn còn đang dọn đồ."
Mặt tôi trầm xuống, nói: "Sao không giúp họ? Nhậm tướng quân dọc đường lập công rất lớn, chẳng lẽ các ngươi còn phân biệt môn hộ hay sao."
Tên lính vội nói: "Thống chế, không phải vậy đâu. Chúng tôi cũng ngỏ ý muốn giúp, nhưng Nhậm tướng quân không cho, ngay cả dân phu cũng không dùng, chúng tôi cũng chẳng còn cách nào."
Đội ngũ của Nhậm Cát tuy tạm thời do tôi chỉ huy, nhưng dẫu sao hắn cũng là tâm phúc của Tất Vĩ, vào trong thành rồi, tôi đã không cách nào ra lệnh cho hắn được nữa. Dù sáu mươi người của Nhậm Cát cũng được sắp xếp trong doanh trại của tôi, nhưng hắn lại dựng lều tách biệt, không chịu ở chung với Tiền Phong doanh và lang binh, tôi càng không ngờ tới việc hắn ngay cả người tới giúp cũng cự tuyệt. Tôi nhìn Tào Văn Đạo và Chân Dĩ Ninh, nói: "Đi, chúng ta qua xem thử."
Doanh trại của Nhậm Cát nằm ở góc quân bàn, có thể xem là một doanh trại nằm trong doanh trại lớn. Nhậm Cát đang chỉ huy thuộc hạ khiêng đồ đạc. Bọn họ tổng cộng chỉ có sáu mươi người, ba mươi cỗ Lôi Đình nỏ phải tháo dỡ từ trên thuyền xuống rồi lắp ráp lại, cũng đủ để họ bận rộn nửa ngày trời. Tôi đi tới cổng trại của họ, Nhậm Cát đã nhìn thấy tôi, buông đồ đạc trong tay xuống rồi nghênh đón, hành lễ với tôi nói: "Sở thống chế, ngài vẫn chưa nghỉ ngơi sao."
Tôi nhìn lướt qua bọn họ. Thuyền của họ tuy ít người, nhưng đồ đạc lại chẳng hề ít, đang có hai tên lính cẩn thận từng li từng tí khiêng một chiếc hòm lớn đi tới. Tôi nói: "Nhậm tướng quân, sao ngươi lại không cần người giúp?"
Nhậm Cát lại hành lễ nói: "Sở thống chế, xin chớ cả nghĩ. Mạt tướng phụng mệnh Tất tướng quân, những cỗ Lôi Đình nỏ này nhất định phải bảo quản chu toàn, tuyệt đối không thể rơi vào tay người khác, bởi vậy không dám làm phiền quý quân."
Tôi có chút không vui nói: "Chẳng lẽ ngươi còn sợ Tiền Phong doanh và lang binh có nội gian hay sao?"
"Mạt tướng không dám." Nhậm Cát có lẽ cũng nghe ra sự không vui trong giọng nói của tôi, nhưng hắn vẫn điềm nhiên như không nói: "Mạt tướng thân là quân nhân, chỉ biết lấy mệnh lệnh của cấp trên làm trọng, xin Sở thống chế lượng thứ."
Tôi cũng đáp lễ hắn rồi nói: "Đã như vậy, Nhậm tướng quân cứ bận việc đi. Chuyến tiếp viện này đa tạ Nhậm tướng quân đã tận lực, tại đây xin ghi lòng."
Một quân nhân như hắn có chút cứng nhắc, không biết tùy cơ ứng biến, nhưng quả thực là một quân nhân tốt. Tôi vừa định rời đi, Nhậm Cát bỗng gọi giật sau lưng: "Sở thống lĩnh!"
Lời nói của hắn có chút ngập ngừng muốn nói lại thôi. Tôi quay đầu lại nói: "Nhậm tướng quân còn có việc gì sao?"
Nhậm Cát ngẫm nghĩ một lát rồi nói: "Sở tướng quân, ta nghe nói ngài và Trương viên ngoại là chỗ quen biết cũ, ắt hẳn ngài cũng đã biết ta mang theo Bình Địa Lôi. Mong ngài hãy giữ bí mật chuyện này, đừng truyền ra ngoài. Loại vũ khí này càng cơ mật càng tốt, nếu không để lộ phong thanh, e rằng khó thu được hiệu quả bất ngờ."
Tôi mỉm cười nói: "Đã biết."
Đi ra một đoạn, tôi hạ giọng nói với Tào Văn Đạo: "Nhậm Cát thật là cứng nhắc. Vũ khí có giữ bí mật đến đâu thì xà nhân cũng đã nếm mùi rồi, sao có thể không biết chứ."
Tào Văn Đạo ngoái nhìn phía sau, nói nhỏ: "Sở tướng quân, chẳng lẽ Nhậm tướng quân sợ có nội gian của xà nhân sao? Lẽ nào xà nhân thực sự cài được nội gian vào trong?"
Hồi ở thành Cao Thứu, chuyện của Cao Thiết Xung có lẽ hắn cũng không biết. Tôi đang định nói xà nhân quả thực có nội gian, Chân Dĩ Ninh bỗng cất tiếng: "Thực ra, hắn là muốn giấu Nhị thái tử đấy."
Giọng Chân Dĩ Ninh nói rất khẽ, nhưng tôi lại không kìm được mà chấn động cả người.
Chân Dĩ Ninh nói không sai, Nhậm Cát thà sợ lộ phong thanh cho xà nhân, chẳng thà nói là không muốn cho Nhị thái tử biết mình mang theo thứ vũ khí uy lực cực lớn này. Tôi bất giác thở dài, nhất thời cũng không thốt nên lời. Vốn tưởng hai vị thái tử dù có tranh đoạt, nhưng khi đối phó xà nhân thì nên đoàn kết nhất trí, xem ra đây cũng chỉ là suy nghĩ viển vông của riêng tôi. Nhị thái tử gặng hỏi tôi hồi lâu, Nhậm Cát lại muốn tôi không được tiết lộ tin tức về Bình Địa Lôi, sợ rằng đều bắt nguồn từ cuộc tranh giành giữa hai vị thái tử. E rằng ngày sau, lực lượng của hai phe này vẫn sẽ nảy sinh ma sát.
Chỉ là Thiệu Phong Quan rốt cuộc mang thái độ gì? Liệu ông ta có thực sự đã đoạn tuyệt với Văn hầu, ngả hẳn về phe Nhị thái tử hay chưa?
Tôi ngẩng nhìn trời cao. Vầng trăng tròn vành vạnh, ánh quang thanh khiết rải xuống mặt đường, trong quân doanh thỉnh thoảng lại vang lên tiếng ngáy của binh lính, càng tăng thêm một phần tĩnh mịch. Nhưng đằng sau sự tĩnh mịch ấy, dường như lại có sóng ngầm muôn trượng đang cuộn trào.
Xà nhân kể từ sau khi tập kích thất bại, hành tung luôn hết sức kỳ quặc, phần lớn là vây mà không đánh, thỉnh thoảng đánh một trận cũng hễ không thắng là rút lui, Nhậm Cát đem Lôi Đình nỏ lắp đặt hết lên các tiễn lâu, nhưng cũng không dùng nhiều, Bình Địa Lôi thì càng chưa từng đụng tới. Dù việc thủ thành ngày càng đỡ vất vả, nhưng trong lòng tôi vẫn thấy bất an. Bàn bạc với bọn Tiền Văn Nghĩa, ai nấy đều cho rằng xà nhân định dùng lại ngón cũ hồi vây hãm thành Cao Thứu. Thế nhưng thành Cao Thứu lương thảo ít ỏi, vây thành rất có lợi, còn Đông Bình thành lại lương thảo dồi dào, xà nhân vây hãm thế này thực sự chẳng có tác dụng gì, lẽ nào đây thực sự là quyết sách sai lầm của thủ lĩnh xà nhân sao?
Đến ngày hai mươi, tính ra đại đội do Tất Vĩ thống lĩnh cũng sắp tới nơi rồi. Hôm nay xà nhân lại tấn công một hồi rồi rút lui, nhìn theo bóng lưng xà nhân thoái lui, mối nghi hoặc trong lòng tôi càng lúc càng đậm. Tôi giao cây thương cho tên lính bên cạnh, quay người nói với Tào Văn Đạo đang đứng cạnh mình: "Tào tướng quân, ngươi có thấy hơi kỳ quái không?"
Tào Văn Đạo đang tháo mũ giáp, nghe tôi hỏi liền ậm ừ đáp: "Có chút kỳ quái. Nhưng xà nhân là lũ man di mọi rợ, biết đâu chừng chúng nghĩ sai thật. Chúng phá được thành Cao Thứu rồi, sợ rằng thấy biện pháp này trăm trận trăm thắng nên muốn dùng lại lần nữa, nói vậy cũng thông."
Tôi lắc đầu nói: "Chưa rõ thế nào. Ta nghĩ tốt nhất nên tới bẩm báo với Thiệu tướng quân một tiếng, nhắc ông ấy cẩn thận, biết đâu xà nhân lại có dị động gì đó."
Tào Văn Đạo đã tháo mũ giáp xuống, kẹp vào dưới nách, nhìn quanh đám binh lính xung quanh, bỗng nói: "Sở tướng quân, ta thực sự có chút lấy làm lạ, nhìn vào chiến lực của Tiền Phong doanh hiện giờ, mười vạn đại quân của Vũ hầu năm xưa quả thực không thể chỉ thủ được có bốn mươi ngày, trong Đông Bình thành chỉ có hơn bốn vạn nhân mã, vậy mà hiện giờ cũng đã giữ được bấy nhiêu ngày rồi."
Hắn cũng không hẳn là đang hỏi tôi, nhưng tôi cũng thực sự không sao giải thích nổi. Thắng bại trên chiến trường, có lúc thật sự không thể dùng lý lẽ thông thường mà đoán định, chênh lệch đôi khi chỉ trong đường tơ kẽ tóc, Vũ hầu năm xưa có lẽ không phải không có cơ hội thắng, chỉ là do muôn vàn trắc trở trùng hợp mới dẫn tới thất bại. Dẫu sao hiện giờ các quân đều đã lấy lại chút lòng tin, đây cũng chẳng phải chuyện xấu.
Tôi cởi bỏ trọng giáp, khoác thêm áo bào ngoài, nói: "Tào tướng quân, ngươi cho người thông báo cho Tam thống lĩnh một tiếng, ước thúc quân lính cho cẩn thận, ta đi gặp Thiệu tướng quân và Nhị thái tử rồi về ngay."
Những ngày này Tiền Phong doanh tranh thủ thời gian rảnh rỗi để tiến hành huấn luyện. Hơn một ngàn người này luận về chiến lực quả thực không thua kém bất kỳ đội quân tinh nhuệ nào, nhưng vì là quân chắp vá nên sự phối hợp giữa các bộ phận gặp vấn đề rất lớn. Lúc huấn luyện chư quân, tôi thầm nghĩ nếu có Ngô Vạn Linh ở đây thì quả thực có thể làm chơi ăn thật, sự việc dễ dàng hơn nhiều. Luận về cung mã đao thương, Ngô Vạn Linh chẳng có môn nào xuất sắc, nhưng việc chỉnh đốn quân kỷ thì ông ta lại vô cùng lão luyện. Mấy ngày nay tự mình thống lĩnh quân đội, ngày ngày nghiền ngẫm nửa bộ "Thắng Binh Sách" kia, tôi mới hiểu khi luyện binh, quân kỷ xét trên một ý nghĩa nào đó còn quan trọng hơn cả chiến lực của từng cá nhân binh sĩ. Một đội ngũ binh lính bình thường, nếu kỷ luật nghiêm minh thì tổng thể chiến lực sẽ vượt xa phép cộng chiến lực của từng người gộp lại. Trước đây, bất kể là Vũ hầu hay Thẩm Tây Bình đều có phần xem nhẹ điểm này, cho nên Long Lân quân năm xưa công kích tuy có thể coi là đệ nhất thiên hạ, nhưng rốt cuộc vẫn không sánh được với Tiền Phong doanh có kỷ luật tương đối nghiêm minh.
Tôi nhảy lên ngựa, phi về phía trung quân của Thiệu Phong Quan. Một trận chiến vừa kết thúc, binh lính trên thành đang thay phiên gác, bất kể là viện quân của Nhị thái tử hay thủ quân của Thiệu Phong Quan, trật tự của họ đều vô cùng tề chỉnh, xem ra bọn họ cũng đều nhận ra tầm quan trọng của quân kỷ.
Đến trước doanh trại của Thiệu Phong Quan, tôi nhảy xuống ngựa, bảo lính canh gác trước cửa vào thông báo danh tính rồi theo chân hắn bước vào. Vừa bước vào trong trướng, liền nghe thấy giọng nói của Nhị thái tử: "Sở tướng quân tới rồi sao? Vừa khéo lắm."
Nhị thái tử cũng ở đây? Tôi bước vào trong mới phát hiện Nhị thái tử và Thiệu Phong Quan đang ngồi trước bàn án, trước mặt đặt chén rượu, dường như đang nghị sự. Tôi quỳ xuống hành lễ, sau khi tham kiến liền nói: "Điện hạ, Thiệu tướng quân, Sở Hưu Hồng có việc muốn bẩm báo."
Thiệu Phong Quan chẳng hiểu vì sao dường như luôn cố ý tránh né tôi, tôi nói như vậy mà ông ta bưng chén rượu cũng chẳng hé răng, Nhị thái tử lại hỏi: "Sở tướng quân, có chuyện gì thế?"
"Điện hạ, Thiệu tướng quân, xà nhân vây thành đã lâu nhưng thế công lại không mạnh, mạt tướng cho rằng trong đó có thể có gian kế."
Tay Thiệu Phong Quan khẽ run lên, đặt chén rượu xuống, nhìn tôi nói: "Sở tướng quân, do đâu mà thấy vậy?"
"Mạt tướng năm xưa theo hầu Vũ hầu đại nhân thủ ngự thành Cao Thứu, xà nhân khi đó cũng như thế này, mỗi khi công thành bất lợi liền rút lui, cho tới sau này có lượng lớn xà nhân tới trợ chiến, khiến cho mười vạn đại quân trong thành toàn quân bị diệt, tôi sợ xà nhân sẽ giở lại trò cũ."
Thiệu Phong Quan nhìn chằm chằm vào chén rượu kia, lẩm bẩm: "Nếu quả đúng như vậy thì lại dễ liệu rồi, xà nhân chuyến này nhất định tính sai, chỉ sợ chúng tính toán không phải là chủ ý này."
Nhị thái tử ở một bên cười nói: "Sở tướng quân lo xa quá rồi. Thành Cao Thứu bốn bề đều là đồng bằng, cô lập không có viện binh, thế vây công của xà nhân mới có thể đắc thủ. Đông Bình thành lại có Đông Dương thành tạo thế ỷ dốc, lại có quân nhu vận chuyển theo đường thủy tới, xà nhân có vây thêm hai ba năm nữa cũng chẳng công phá nổi đâu."
Tôi ngẩng đầu nói: "Nhị thái tử anh minh. Nhưng mạt tướng lo lắng dụng ý thực sự của xà nhân vốn không nằm ở việc đánh lấy Đông Bình thành, mà là mượn cơ hội này kiềm chế đại quân ta ở đây, còn chủ lực thì đi càn quét các hành tỉnh phương nam, nếu vậy thì biết làm sao?"
Nhị thái tử còn chưa kịp nói gì, tay Thiệu Phong Quan lại giật mạnh một cái, làm đổ cả chén rượu. Ông ta có chút thất thố đứng bật dậy nói: "Sở tướng quân, ngươi cũng nghĩ như vậy sao?"
Lúc này tôi mới chú ý tới, lời này của tôi vừa thốt ra, ngay cả sắc mặt Nhị thái tử cũng có chút biến đổi. Tôi cắn răng nói: "Mạt tướng cho rằng, lũ yêu vật xà nhân này dẫn một nhánh cô quân nhắm thẳng vào Đông Bình thành bên bờ đại giang thực sự có chỗ khó hiểu. Xà nhân dẫu đông đảo nhưng rốt cuộc không thể nhiều bằng con người, thế nhưng các tỉnh phía nam đại giang kể từ sau khi Thương Nguyệt công phản loạn đã không còn quân đội chính quy, xà nhân nếu muốn củng cố hậu phương thì trước hết là ngăn không cho đại quân của ta xuôi nam, sau đó quét sạch các tỉnh phía nam, rồi mới tập kết đại quân công thành. Việc này không phải ngày một ngày hai là có thể hoàn thành, cho nên xà nhân cố ý tới quấy nhiễu Đông Bình thành để khiến Đế quân dồn hết sự chú ý vào an nguy của Đông Bình thành. Tôi nghĩ, sợ rằng hiện giờ chủ lực của xà nhân thực chất đã phân tán khắp các tỉnh phương nam, chứ không hề ở nơi này."
Tôi vừa dứt lời, Thiệu Phong Quan bỗng đập mạnh xuống bàn án, đứng bật dậy, túm chặt lấy bả vai tôi. Tôi giật bắn mình, chỉ sợ lời nói của mình có chỗ nào đắc tội, không ngờ ông ta tóm vai nhấc bổng tôi dậy, ngoảnh đầu nói với Nhị thái tử: "Điện hạ, Sở tướng quân bất mưu nhi hợp với mạt tướng, ngài còn dị nghị gì nữa không?"
Nhị thái tử vẫn ngồi nguyên tại chỗ, cầm lấy chén rượu của mình, có chút mờ mịt nhìn về phía trước nói: "Chuyện này can hệ quá lớn, một thân ta mang tiếng xấu là chuyện nhỏ, một khi phán đoán sai lầm thì hậu quả khôn lường. Thiệu tướng quân, ngươi cứ ngồi xuống rồi hẵng nói tiếp." Hắn quay đầu lại nói với tôi: "Sở tướng quân, ngươi cũng lại ngồi đi. Ha ha, mấy ngày nay, ngươi là người đầu tiên tới nói rõ chuyện này với chúng ta đấy. Quân hàm của ngươi tuy không cao, nhưng lá gan cũng chẳng nhỏ đâu."
Tôi vội vàng quỳ sụp xuống nói: "Sở Hưu Hồng tự biết quan hèn chức mọn, quả thực đã mạo phạm. Nhưng những chuyện này như xương mắc ngang họng, không nói không xong, kính mong Điện hạ cùng Thiệu tướng quân thứ tội."
Thiệu Phong Quan vỗ vai tôi nói: "Có tội tình gì chứ, nếu bị xà nhân công phá thành trì thì quân hàm cái thớ gì, thảy đều biến thành đống thịt trong bụng xà nhân hết. Sở tướng quân, ngươi cũng có chút bản lĩnh đấy, ta đã coi thường ngươi rồi."
Lời này của ông ta nói có phần quá thẳng thừng, dường như đang ám chỉ Nhị thái tử cũng là kẻ trong bụng rỗng tuếch, Nhị thái tử ở bên cạnh có chút không vui nói: "Thiệu tướng quân, ngồi đi."
Thiệu Phong Quan lúc này mới có chút hốt hoảng, hành lễ nói: "Điện hạ, xin tha thứ cho sự thất lễ của mạt tướng."
Ông ta tuy là chủ tướng Đông Bình thành, nhưng so với Nhị thái tử thì địa vị thực sự một trời một vực. Trước đây tôi chưa từng gặp Thiệu Phong Quan mấy lần, hôm nay mới coi như ngồi đối mặt với nhau. Tướng mạo Thiệu Phong Quan cũng bình thường, lơ thơ vài sợi râu, không có phong thái nho nhã thanh tao của bậc nho tướng như Đặng Thương Lan, cũng chẳng có phong phạm dũng tướng lôi lệ phong hành như Tất Vĩ, hết sức bình phàm. Đây có lẽ cũng là lý do ông ta không được Văn hầu yêu thích, cuối cùng trở mặt với Văn hầu chăng. Nghĩ tới đây, tôi lại có chút tự đắc. Văn hầu có ấn tượng không tồi về tôi, có lẽ tôi cũng thuộc loại tướng mạo tuấn tú khôi ngô.
Nhị thái tử đợi tôi ngồi xuống, sai người mang thêm cho tôi một chén rượu rồi nói: "Sở tướng quân, vừa rồi ngươi nói các tỉnh phía nam không còn quân đội chính quy, lời này vẫn còn chỗ sơ hở. Các tỉnh phía nam vẫn còn một lực lượng quân đội chính quy tương đối đáng gờm, chỉ là hiện giờ tin tức tắc nghẽn, không rõ thực hư ra sao."
Tôi nói: "Lời Điện hạ nói, ắt hẳn là chỉ hai vạn tư binh của Ngũ Dương thành chủ?"
Địa vị của Ngũ Dương thành khá đặc thù, tuy Ngũ Dương thành chủ không quan không chức, nhưng lại sở hữu hai vạn tư binh. Nghe nói Ngũ Dương thành do giáp biển nên số tư binh đó phần lớn là thủy quân, tuy không thuộc quan quân, không được các cánh quân của đế quốc coi trọng cho lắm, nhưng ngầm có lời đồn rằng hai vạn tư binh đó trang bị tinh lương, thực lực phi đồng tiểu khả, cho nên khi Thương Nguyệt công làm phản, Ngũ Dương thành chủ không phụ họa cũng chẳng phản đối, Thương Nguyệt công cũng ngồi yên quan sát biến động, mặc cho tự nhiên. Chỉ là thực lực của đội tư binh đó rốt cuộc ra sao thì chẳng ai rõ ngọn ngành.
Nhị thái tử nói: "Chính thị. Vừa rồi ta cùng Thiệu tướng quân đang phỏng đoán Ngũ Dương thành chủ rốt cuộc có tâm tư gì, liệu có còn như hồi Thương Nguyệt công dấy loạn, Ngũ Dương thành vẫn giữ thế trung lập, hay là đã bị xà nhân phá thành, trên dưới trong thành đều bị tàn sát không còn một mống."
Tôi đang định nói có lẽ vẫn giữ thế trung lập, bởi vì Ngũ Dương thành chủ từng phái Trịnh Chiêu làm sứ giả tới liên lạc với Văn hầu. Nhưng Văn hầu lại nảy sinh ý định giết Trịnh Chiêu, không rõ sau biến cố đó Ngũ Dương thành chủ liệu có còn giữ được thế trung lập nữa hay không, cho nên lời đến bên miệng tôi lại nuốt vào. Nhị thái tử cũng không để ý tới vẻ muốn nói lại thôi của tôi, vẫn tiếp tục: "Đáng tiếc trinh sát cũng không có tin tức gì, thực sự không rõ tâm ý của Ngũ Dương thành chủ."
Tôi chen vào nói: "Điện hạ, xà nhân đến nay chưa dùng đại quân tấn công Đông Bình thành, liệu có thể nói các tỉnh phía nam vẫn chưa hoàn toàn rơi vào tay chúng hay không?"
Trịnh Chiêu tới Đế Đô cũng chỉ mới cách đây mấy ngày, hắn trốn ra khỏi thành từ phía tây, đường sá xa xôi hơn, hiện giờ chắc chắn vẫn chưa về tới Ngũ Dương thành. Huống hồ lần đó Trịnh Chiêu đã chế ngự được tôi nhưng lại không giết tôi để hả giận, xem ra Ngũ Dương thành chủ sẽ không quyết định đoạn tuyệt với đế quốc, xà nhân rốt cuộc vẫn khác với Thương Nguyệt công.
Nhị thái tử gật đầu nói: "Có lý."
Hắn bưng chén rượu lên, đột nhiên thở dài một tiếng: "Trời giáng hạo kiếp, sinh linh lầm than, ôi, thế gian này thực chẳng biết đến bao giờ mới chấm dứt."
Lời lẽ của hắn rất bình hòa, thế nhưng một câu nói đơn giản ấy lại khiến tôi dâng lên một niềm cảm kích. Đám đại thần danh tướng kia mỗi khi bàn về chiến sự đều luôn miệng nói phải giữ cho đế quốc kim âu vô khuyết, tựa như việc bá tánh chết chóc bao nhiêu trong chiến tranh cũng là điều đương nhiên. Nhị thái tử thân là Trữ quân mà lại thốt ra những lời như vậy, thực sự khiến tôi bất ngờ mà cảm động.
Thiệu Phong Quan kề chén rượu lên môi, uống cạn số rượu thừa trong chén, cất giọng sang sảng: "Điện hạ, Thiên Thọ tiết sắp tới rồi, điều mạt tướng kiến nghị, không rõ Điện hạ đã quyết định hay chưa?"
Tôi không biết Thiệu Phong Quan đã đưa ra kiến nghị gì, có chút ngơ ngác nhìn ông ta, nhưng Thiệu Phong Quan căn bản chẳng thèm để ý tới tôi, chỉ chăm chú nhìn Nhị thái tử. Nhị thái tử cũng nâng chén rượu lên nhấp một ngụm, bỗng nhiên vỗ mạnh một chưởng xuống mặt bàn, nói: "Lập tức triệu tập chư tướng thương nghị việc này."
Nhị thái tử dứt lời, có lẽ thấy vẻ mặt ngơ ngác của tôi ở bên cạnh liền cười cười nói: "Sở tướng quân, ngươi cũng chưa biết đâu nhỉ, Thiệu tướng quân đề nghị xuất binh từ trong thành để tấn công xà nhân."
Muốn đi tấn công xà nhân! Kế hoạch này khiến người ta giật nảy mình. Trong thành Cao Thứu, kể từ sau khi Thẩm Tây Bình tử trận, Vũ hầu cũng chưa từng có ý nghĩ táo bạo như vậy. Sức công kích của xà nhân quá đỗi khủng khiếp, không một ai dám to gan ngông cuồng đến thế, ngay cả Sát Sinh Vương Sài Thắng Tương khi ấy sau khi giao chiến trực diện với xà nhân cũng không còn dám nhắc tới chuyện phái binh tấn công nữa, mỗi người đều cảm thấy chiến sự với xà nhân chỉ có thể lấy phòng thủ làm chính. Đông Bình thành sau khi bị vây hãm, trước sau vẫn luôn đóng chặt cổng thành cố thủ, tôi không ngờ tới lúc này Thiệu Phong Quan lại đưa ra một đề xuất kinh người như vậy, không khỏi kinh hãi nói: "Nhị thái tử, việc này còn cần phải bàn bạc kỹ lưỡng..."
Nhị thái tử mỉm cười nói: "Chính là muốn thương nghị việc này đây."
Hắn không để ý tới tôi nữa, vỗ tay một cái, một tên hộ binh bước vào quỳ xuống thưa: "Điện hạ."
Nhị thái tử rút một thanh lệnh bài bên người ném xuống, nói: "Lập tức triệu tập các tướng lĩnh thống lĩnh các quân tới đây nghị sự, ngoài ra sai người bày sẵn chỗ ngồi ở chỗ này."
Tên hộ binh nhận lệnh lui ra ngoài, Nhị thái tử lại nâng một chén rượu lên cười nói: "Sở tướng quân, ngươi ngồi xuống phía dưới đi."
Khi nghị sự, một hạ tướng quân như tôi đương nhiên không có tư cách ngồi cạnh Nhị thái tử và Thiệu Phong Quan. Tôi thầm hiểu lúc này nói gì cũng vô ích, liền đứng dậy lặng lẽ hành lễ, bước lui về phía sau. Lúc này mấy tên hộ binh tiến vào sắp xếp chỗ ngồi, tôi chọn một vị trí ở trong góc phù hợp với thân phận của mình rồi ngồi xuống. Hành dinh của Thiệu Phong Quan rất rộng lớn, chứa vài chục người đương nhiên không thành vấn đề, nhưng Nhị thái tử nói là các tướng lĩnh thống lĩnh các quân, hiện tại tôi cũng coi là một người trong số đó. Nếu đại quân do Tất Vĩ thống lĩnh tới nơi, có lẽ tôi sẽ chẳng còn tư cách để tham gia nữa rồi.
Trong thành hiện có khoảng hơn bốn vạn người, những người tới tham dự hội nghị quân cơ đều là tướng quan từ cấp thiên phu trưởng trở lên. Quân trú phòng của Thiệu Phong Quan ở Đông Bình thành có chừng mười ba mười bốn ngàn, còn có bốn năm ngàn đóng ở Đông Dương thành, quân quan bên đó hiện không có cách nào qua được, tới nghị sự chỉ có mười mấy tên thiên phu trưởng trong Đông Bình thành, cộng thêm hai mươi thiên phu trưởng của Nhị thái tử, khi tề tựu đông đủ, trong trướng đã ngồi kín hơn ba mươi người. Lộ Cung Hành tới rất sớm, hắn sau khi vào trướng hành lễ với Nhị thái tử, thấy tôi ngồi trong góc liền đi tới ngồi cạnh tôi, nói nhỏ: "Sở tướng quân, ngươi tới sớm thế?"
Lộ Cung Hành trước giờ luôn là cấp trên của tôi, hiện tại quân hàm cũng cao hơn tôi một bậc, tôi đứng dậy hành lễ với hắn nói: "Lộ tướng quân, mời ngồi."
Lộ Cung Hành sau khi ngồi xuống liền nói nhỏ: "Ngươi có biết muốn thương nghị chuyện gì không?"
Tôi hạ giọng đáp: "Thiệu tướng quân chuẩn bị phái binh đi đánh xà nhân."
Tiếng tôi rất nhỏ, nhưng Lộ Cung Hành lại chấn động cả người như thể bị giật mình, hắn nói: "Thật sao? Gấp gáp vậy ư?"
Tôi gật đầu, cũng không nói hết lời. Lộ Cung Hành lẩm bẩm: "Quả nhiên có quyết định như vậy, thảo nào mấy ngày nay Nhị thái tử đều hạ lệnh cho ta tăng cường huấn luyện kỵ quân."
Tôi còn muốn nói thêm điều gì, bỗng nghe thấy Nhị thái tử cất giọng: "Đã đông đủ cả rồi, vậy thì bắt đầu thôi."
Nhị thái tử đứng dậy, đảo mắt nhìn chúng tôi một lượt, lớn tiếng nói: "Đông Bình thành kiên thủ tới nay vừa vặn được ba mươi ba ngày. Trong ba mươi ba ngày này, chư vị đồng tâm hiệp lực, cùng chung hoạn nạn, tận trung vì nước, Đông Bình thành đến nay vẫn vững như bàn thạch, thảy đều nhờ cậy vào sức lực của chư vị đang ngồi tại đây."
Giọng hắn rất bình hòa nhưng vô cùng vang dội, từng câu từng chữ đều lọt vào tai rõ ràng. Tôi lại không khỏi có chút đỏ mặt, bởi vì lời Nhị thái tử nói "nhờ cậy vào sức lực của chư vị", trong đó tính cả tôi vào, chỉ là việc thủ ngự Đông Bình thành tôi thực sự chưa góp được công sức gì lớn. Lời này của Nhị thái tử khiến tôi hết sức hổ thẹn.
Nhị thái tử lại nói: "Thế nhưng những ngày qua, trong thành nắm giữ hùng binh lại cứ co cụm không chịu xuất kích, dẫu cho xà nhân không phá nổi thành này thì quân ta cũng khó lòng thủ thắng. Thiệu tướng quân trước đó đã bàn bạc với ta, thời điểm hiện tại đã cần thiết phải xuất thành đánh một trận, chuyển thủ thành công thì mới có thể giành được thắng lợi, chư vị thấy thế nào?"
Tôi nghe mà lòng dạ mịt mờ, liếc nhìn Lộ Cung Hành bên cạnh, lại chợt nhận ra khóe miệng hắn thoáng hiện một nụ cười mỉa mai, như đang châm biếm điều gì. Lòng tôi khẽ động, nói nhỏ: "Lộ tướng quân, thực ra đợi viện quân của Tất Vĩ tướng quân tới rồi bàn chuyện này cũng chưa muộn."
Lộ Cung Hành không quay đầu lại, khóe miệng chỉ hơi nhếch lên, khẽ nói: "Đến lúc đó thì muộn rồi."
Lời này vốn đã nằm trong dự liệu của tôi, ban đầu tôi còn tự hoài nghi mình lấy dạ tiểu nhân đo lòng quân tử, nhưng đến một tướng lĩnh trọng yếu của Nhị thái tử như Lộ Cung Hành cũng nói vậy, tự nhiên những gì tôi suy đoán chẳng hề sai trật. Nhị thái tử gấp gáp muốn xuất thành nghênh chiến như thế chính là muốn đi trước viện quân của Tất Vĩ một bước, điều đó đương nhiên là không muốn để viện quân của Tất Vĩ chia bớt chiến công. Xem ra, Thiệu Phong Quan đích xác đã ngả về phe Nhị thái tử nên mới đưa ra đề xuất này.
Nhị thái tử mở miệng nói trời giáng hạo kiếp, sinh linh lầm than, tôi từng cảm thấy hắn có tấm lòng nhân từ, nhưng hiện giờ lại thấy Nhị thái tử cũng chỉ nói mồm mà không làm được, trong thâm tâm hắn, tính mạng binh sĩ thực chẳng quan trọng bằng một trận đại công này. Lúc này xuất thành công địch, dẫu có thắng thì tổn thất cũng cực lớn, nhưng Nhị thái tử căn bản không nghĩ tới những điều đó, hoặc giả là không thèm nghĩ tới. Hắn có lẽ cho rằng viện quân của Tất Vĩ thuộc phe cánh của Thái tử một khi tới nơi rồi mới đưa ra đề xuất này thì công lao lại thuộc về Tất Vĩ mất, chi bằng nhân lúc Tất Vĩ chưa tới mạo hiểm xuất kích, nếu may mắn thành công thì sẽ tác thành cho danh tiếng một trận thành công của hắn, tội danh trước đó khiến thủy quân Đông Bình thành toàn quân bị diệt cũng có thể gột rửa sạch sẽ. Tiếp đó, vị thế Đệ nhị Trữ quân của Nhị thái tử sẽ càng thêm vững chắc, cơ hội hoán đổi vị trí với Đệ nhất Trữ quân của Thái tử lại tăng thêm vài phần nắm chắc.
Nghĩ tới đây, tôi không khỏi nảy sinh chút tức giận với Thiệu Phong Quan. Nhị thái tử tuy xưng là thuộc làu binh thư, nhưng hắn trước giờ chưa từng thực sự lâm trận. Thiệu Phong Quan đứng trong hàng ngũ tứ tướng "Địa Hỏa Thủy Phong", kinh qua trăm trận, đương nhiên hiểu rõ chuyện nặng nhẹ nông sâu, thế nhưng sao ông ta có thể đưa ra một đề xuất mạo hiểm như vậy để chiều theo ý muốn của Nhị thái tử? Chẳng lẽ ông ta thực sự coi tính mạng của binh lính như trò đùa hay sao?
Tôi ngồi cách ghế của Nhị thái tử hơi xa, nhìn qua thì thấy Thiệu Phong Quan ngồi phía dưới Nhị thái tử thần sắc cũng có đôi phần khác lạ. Có lẽ, ông ta biết kế hoạch này quá đỗi mạo hiểm nên cũng đang tự trách mình chăng. Thế nhưng ông ta rõ ràng biết tính khả thi của đề xuất này quá thấp mà vẫn đưa ra, thật không hiểu trong lòng ông ta đang mưu tính điều gì. Hành động lần này nếu thắng lợi thì còn đỡ, nếu như thất bại, Nhị thái tử cùng lắm chỉ vì quyết sách sai lầm mà bị phế bỏ ngôi vị Trữ quân, nhưng Thiệu Phong Quan e rằng tính mạng khó toàn.
Nhìn Thiệu Phong Quan, tôi bỗng nhớ lại trước đó Thiệu Phong Quan từng hỏi Nhị thái tử rốt cuộc đã nghĩ kỹ hay chưa, như vậy xem ra lúc tôi xin gặp Thiệu Phong Quan thì Nhị thái tử cũng đang cân nhắc tính khả thi của việc này, vậy thì sợ rằng chính việc tôi bước vào bẩm báo chuyện xà nhân đang quét sạch tàn dư thế lực đế quốc ở hậu phương mới khiến Nhị thái tử quyết tâm tiếp nạp đề xuất này chăng?
Tôi bất giác dở khóc dở cười. Nhị thái tử mạo tiến như vậy, xem ra tôi cũng đã góp phần châm dầu vào lửa. Như vậy, nếu lần xuất kích này lại bại trận như Thẩm Tây Bình khi trước, liệu tôi có bị coi là kẻ đầu sỏ dẫn tới thất bại hay không?
Đang mải suy nghĩ, bỗng nghe Nhị thái tử nhắc tới tên mình, tôi lập tức vểnh tai lên, chỉ nghe hắn nói: "Sở Hưu Hồng tướng quân, Thống chế Tiền Phong doanh mới tới chi viện gần đây cũng từng dâng lời can gián với ta, nói rằng xà nhân vây hãm mà không đánh ắt có thâm ý. Lời này xem ra không sai, nếu quân ta cứ rụt cổ cố thủ không ra, e rằng sẽ lỡ mất chiến cơ, khiến cho xà nhân bành trướng thế lực, khi đó càng không thể cứu vãn. Việc cấp bách trước mắt, quân ta nhất định phải xuất binh tấn công, lấy chiến quả dâng lên một phần hậu lễ cho Thiên Thọ tiết!"
Hắn càng nói về sau thì thanh âm càng vang dội. Tôi nhớ lại tài ăn nói của Thái tử cũng hết sức lợi hại, hai huynh đệ bọn họ dẫu tính tình khác biệt lớn, nhưng về khoản tài hùng biện thì đúng là kẻ tám lạng người nửa cân, chư tướng trong trướng lúc này đồng loạt đứng dậy, lớn tiếng hô: "Mạt tướng nguyện cùng xà nhân quyết một trận tử chiến!"
Bầu không khí trong trướng đã bị Nhị thái tử khuấy động lên, từng người một đều châu đầu ghé tai bàn tán, trên mặt không ít người đều lộ ra vẻ bi tráng. Trong suy nghĩ của họ, hiện tại chiến sự với xà nhân đã tới thời khắc then chốt, trận chiến này dẫu có chết cũng đáng giá.
Kế sách do Thiệu Phong Quan định ra là nhân lúc đêm tối chia ba ngàn kỵ quân thành hai đội cùng nhau xung phong, sau khi xông vào trong trại xà nhân thì chia làm hai ngả tả hữu, từ hai phía trại xà nhân xông ra ngoài. Khác với trước đây, lần này bộ binh chỉ làm nhiệm vụ tiếp ứng phía sau trận địa, không tham gia xung phong, như vậy kỵ quân có thể phát huy tối đa đặc tính cơ động linh hoạt. Ba ngàn kỵ quân, nếu nói muốn thu được chiến quả to lớn dường nào thì đương nhiên là chuyện hoang tưởng, nhưng động tác của xà nhân không nhanh nhẹn, bình thường đều phải dùng chiến xa để thay cho đôi chân, kỵ quân không dây dưa kịch chiến với xà nhân, chỉ phụ trách cướp trại, sau khi vào sâu trong trại thì khắp nơi phóng hỏa, hễ đắc thủ liền lập tức rút lui. Đây chính là sách lược "thiết kỵ xung doanh, tật phong đột tiến, dĩ loạn địch tâm" được ghi trong "Hành Quân Thất Yếu". Nói một cách công bằng, kế hoạch này không phải hoàn toàn không thể thực hiện, nếu kế hoạch chu toàn, khi thực thi lại thuận lợi thì quả thực có thể giành được một trận thắng nhỏ. So với chiến quả, một khi chủ động xuất kích cũng có thể giành thắng lợi thì sĩ khí của quân thủ thành sẽ được nâng cao rất nhiều, mà cái lợi lớn hơn chính là Nhị thái tử có thể lập nên một chiến công đủ để rêu rao khoe khoang. So với chiến quả dự tính, nguyên nhân phía sau có lẽ có sức cám dỗ lớn hơn đối với Nhị thái tử.
Tôi thầm suy tính kế hoạch này, muốn xem xem có chỗ nào chưa chu toàn hay không. Từ những gì Nhị thái tử đã nói, Thiệu Phong Quan tính toán chu đáo mọi mặt, kín kẽ như bưng, chẳng có điểm nào đáng chê trách, thế nhưng tôi lại cứ cảm thấy có điều gì đó không ổn. Tôi hiểu kế hoạch dẫu sao cũng chỉ là kế hoạch, thực thi chưa chắc đã thuận lợi như tưởng tượng, một khi thực sự bước ra chiến trường thì tình thế biến ảo khôn lường, căn bản sẽ không rập khuôn theo binh pháp. Như trong kế hoạch, ba ngàn kỵ quân kia phải cùng nhau xông vào, tới giữa trại mới tách ra, tạo thành thế trận như hai lưỡi kéo trong trại xà nhân, tả hữu mỗi bên càn quét một vòng rồi lại hợp sức xông ra, thế nhưng một khi đã vào sâu trong trại xà nhân, hai cánh kỵ quân này chưa chắc đã phối hợp nhịp nhàng được với nhau, nếu một bên bị xà nhân chặn lại, thế tiến công bị nghẽn thì tất yếu sẽ khiến cánh kỵ quân còn lại rơi vào cảnh đơn độc, trong khi bộ binh chỉ giữ vai trò áp trận, xà nhân hoàn toàn có thể chia cắt bẻ gãy từng cánh quân của ta, ba ngàn người này e rằng sẽ toàn quân bị diệt trong trại xà nhân. Chỉ là hiện giờ sĩ khí chư quân đang dâng cao ngùn ngụt thế này, nếu tôi đứng ra đưa ra dị nghị như vậy e rằng sẽ bị coi là tự làm nhụt nhuệ khí, tôi mấp máy môi, cuối cùng vẫn không nói nên lời.
Đợi trong trướng yên ắng trở lại, Lộ Cung Hành bỗng nhiên đứng dậy nói: "Điện hạ, mạt tướng có một điều chưa rõ. Trong kế hoạch, hai cánh kỵ quân song song tiến bước, có thể hội hợp tại cổng trại xà nhân, nhưng nếu xà nhân tập trung công kích vào bất kỳ một cánh kỵ quân tả hữu nào, chia cắt hai cánh quân ra thì chẳng phải sẽ bị chúng tiêu diệt từng bộ phận hay sao?"
Tôi không kìm được thầm vỗ tay tán thưởng. Điều Lộ Cung Hành nói chính là mối lo ngại mà tôi không dám mở miệng nhắc tới. Lộ Cung Hành là phó tướng của Nhị thái tử, do hắn đứng ra nhắc nhở thì Nhị thái tử chắc hẳn cũng không đến mức lôi đình thịnh nộ, biết đâu chừng sẽ chịu suy nghĩ lại.
Nhị thái tử còn chưa kịp lên tiếng, Thiệu Phong Quan đã nói: "Lộ tướng quân, binh pháp có câu: 'Mưu định nhi hậu động, chiến tắc bất đãi'. Kỵ quân trong thành kể từ khi bị vây tới nay vẫn luôn không có đất dụng võ, chẳng khác nào lưỡi kiếm sắc vừa mài xong, đang nóng lòng muốn trổ tài, mà xà nhân lại đinh ninh rằng quân ta không dám xuất thành giao chiến, đó chính là lúc kiêu binh tất bại, lúc này xuất kích thì thiên thời địa lợi nhân hòa đều đứng về phía ta, một khi bỏ lỡ thì quá đỗi đáng tiếc. Huống hồ viện quân của ta một khi vào thành, xà nhân nhất định sẽ tăng cường phòng bị, đến lúc đó kế này sẽ không thể dùng được nữa."
Lộ Cung Hành nói: "Hiện tại trong thành chỉ có chưa đầy bốn vạn binh sĩ, tách ra ba ngàn người mạo hiểm lớn dường này thực sự không phải là thượng sách. Điện hạ, mạt tướng cho rằng việc này vẫn nên bàn bạc kỹ lưỡng thì hơn."
Nghe hắn nói vậy, tôi thầm thở dài não nuột.
Lộ Cung Hành tinh thông binh pháp, nhưng hắn là con trai của Binh bộ Thượng thư, có lẽ cả đời chưa từng nếm mùi bị người khác gài bẫy, Thiệu Phong Quan chỉ giăng ra một cái bẫy trong lời nói như vậy mà hắn đã ngoan ngoãn nhảy tọt vào trong. Thiệu Phong Quan ăn nói có phần ngang tàng không kiêng nể, nhưng tôi nhận thấy tài hùng biện của ông ta vô cùng sắc bén, câu nói cuối cùng kia nói ra đường hoàng đanh thép, cũng rất có lý lẽ. Sự thực cũng đúng là như vậy, một khi viện quân của Tất Vĩ kéo tới, xà nhân nhất định sẽ tăng cường giới bị, mà hiện giờ thì ít nhiều có phần lơ là. Có điều lời này lấy tiền đề là đợt tấn công lần này nhất định sẽ thắng lợi, Lộ Cung Hành mắc bẫy, thành thử khiến người ta cảm thấy việc tranh cãi ở đây là đợi viện quân tới rồi mới xuất kích hay xuất kích ngay lúc này sẽ tốt hơn. Chuyện này Nhị thái tử vốn đã tán thành rồi, Lộ Cung Hành nói như vậy chẳng khác nào đối đầu với Nhị thái tử, e rằng lại càng xóa sạch tia do dự cuối cùng của Nhị thái tử.
Quả nhiên, Nhị thái tử nói: "Lộ tướng quân, hai quân gặp nhau dũng giả thắng, ngươi cũng không cần quá mức cẩn trọng để rồi lỡ mất chiến cơ. Tuy nhiên những gì Lộ tướng quân nói cũng đáng để tham khảo, việc này nên sớm không nên muộn, nhất thiết phải do một đội quân tinh nhuệ đảm nhận."
Hắn đưa mắt nhìn xuống bên dưới, đám tướng lĩnh từng người một đều vươn dài cổ ra chờ đợi, bỗng nghe Nhị thái tử gọi: "Tiền Phong doanh Sở Hưu Hồng tướng quân!"
Nghe Nhị thái tử gọi tên mình, tim tôi "thót" một cái, vội bước ra khỏi hàng quỳ sụp xuống đất nói: "Mạt tướng Sở Hưu Hồng nghe lệnh."
"Binh sĩ trong Tiền Phong doanh đều là những dũng sĩ trăm trận trăm thắng, lại hơn phân nửa là kỵ quân, đội Tả xung phong liền giao cho Sở tướng quân ngươi đảm nhận."
Tôi cúi đầu nói: "Tuân mệnh." Lời nói vừa buột ra khỏi miệng, trong lòng không khỏi dâng lên một nỗi hoảng loạn.
Nhìn từ thành phần cấu thành của các doanh, Đông Bình thành nằm ở bờ nam đại giang, đất đai nơi này tơi xốp, không thích hợp cho ngựa phi nước đại, thủ quân trong Đông Bình thành vốn không giỏi kỵ binh, cho nên Thiệu Phong Quan mới hiến kế sách này, ông ta cũng tính chắc rằng lực lượng xung phong tuyệt đối không phải là thuộc hạ của mình. Còn Tiền Phong doanh là tàn quân từ Nam chinh quân trốn về, Nam chinh quân dưới đợt tấn công cuối cùng của xà nhân, ngay cả bộ quân số một là Nhuệ Bộ doanh cũng không một ai thoát ra được, số chạy về được phần lớn là kỵ binh, đứng từ góc độ của Nhị thái tử mà nhìn thì nhiệm vụ như vậy quả thực chỉ có Tiền Phong doanh là thích hợp nhất. Tôi vừa đáp được hai chữ, liền lập tức nói thêm: "Chỉ là mạt tướng có một việc muốn bẩm báo, chuyến này tới chi viện Đông Bình thành, quân ta đi bằng thuyền, ba ngàn người tuy phần lớn là kỵ quân, nhưng chiến mã lại chẳng mang theo một con nào."
Nhị thái tử nói: "Chuyện này Sở tướng quân không cần lo lắng, Đông Bình thành có năm ngàn thớt chiến mã, những ngày qua không có đất dụng võ, vừa hay dùng vào việc này. Ngoài ra, đội Hữu xung phong của trận chiến này sẽ do đích thân ta thống lĩnh."
Hắn vừa dứt lời, Lộ Cung Hành đã "a" lên một tiếng thất thanh, bước ra khỏi hàng quỳ xuống cạnh tôi nói: "Điện hạ, ngài là thân ngàn vàng, mạt tướng cho rằng để Điện hạ trực tiếp thống binh xung phong là chuyện vạn vạn không thể."
Nhị thái tử quát: "Ta là thống lĩnh một quân, ắt phải xông pha đi đầu, không sợ đao thương, có gì mà không thể chứ? Lộ tướng quân lui xuống đi."
Lộ Cung Hành lại căn bản không chịu lui, ngẩng đầu nói: "Điện hạ, mạt tướng cho rằng Điện hạ nên vận trù nơi màn trướng, phát hiệu thi lệnh, vạn vạn không thể lấy thân mình mạo hiểm."
Đôi mày Nhị thái tử nhíu chặt lại, cánh mũi cũng hơi phập phồng, quát: "Lộ Cung Hành, ý ngươi là bản vương muốn đích thân xung phong là có dũng vô mưu sao?"
"Mạt tướng không dám. Nhưng mạt tướng phụng mệnh Đế quân phò tá Điện hạ, lời này không thể không nói. Điện hạ, ngài vạn vạn không thể đích thân ra trận, việc này vẫn nên giao phó cho tướng lĩnh trí dũng song toàn đảm trách."
Nhị thái tử thở dài một hơi thật dài, quát lớn: "Lộ Cung Hành, ý ngươi là bản vương trí dũng đều không có sao?"
Giọng hắn vô cùng vang dội, lại còn gọi thẳng tên Lộ Cung Hành, xem ra là thực sự nổi giận rồi. Nhị thái tử có lẽ thuộc làu binh thư, tự phụ hiểu việc quân sự, lại trẻ tuổi hiếu thắng, Lộ Cung Hành khăng khăng giữ ý mình đương nhiên khiến hắn vô cùng tức tối, lời lẽ cũng chẳng còn khách khí nữa. Thế nhưng Lộ Cung Hành vẫn bất ti bất kháng nói: "Điện hạ, mạt tướng không dám vô lễ. Nhưng năm xưa mạt tướng theo hầu Vũ hầu nam chinh, chuyển chiến mấy ngàn dặm, với tài năng của Vũ hầu cũng chưa từng khoác giáp xông trận. Huống hồ, đạo làm tướng có đấu tướng, có sách tướng, Điện hạ gánh vác trọng trách chỉ huy ba quân, điều này quan trọng hơn việc đích thân dẫn một cánh quân xung phong nhiều lắm, kính mong Điện hạ tam tư."
Nhị thái tử trừng mắt nhìn hắn, nhưng cũng không nói lại được lời nào. Vũ hầu năm xưa là Thái tử Thiếu bảo, cũng từng dạy Nhị thái tử binh pháp, Nhị thái tử có ngông cuồng đến đâu cũng không dám tự nhận mình hiện giờ giỏi hơn Vũ hầu, ít nhất trước mặt mọi người sẽ không nói ra miệng. Hồi lâu sau, hắn mới thở hắt ra một hơi, nói: "Được rồi. Biện Chân!"
Từ bên cạnh có một viên tướng bước ra quỳ xuống bên cạnh chúng tôi nói: "Mạt tướng Hạ tướng quân Biện Chân nghe lệnh."
"Biện tướng quân, do ngươi thống suất đội Hữu xung phong, liên thủ cùng Sở tướng quân công địch. Chuyện không thể chậm trễ, hai vị tướng quân mau chóng đi điểm tề quân mã chuẩn bị."
Nói xong, hắn phất tay áo một cái, lớn tiếng quát: "Các tướng lĩnh còn lại, trừ những người luân phiên trực ban thủ thành ra, toàn bộ nhân sự theo ta áp trận. Trận này nhất định phải thành công, không được phép thất bại."
Tôi thầm thở dài, nhưng một câu cũng chẳng dám hé răng. Ban đầu tôi vốn có phần kỳ vọng vào Nhị thái tử, nhưng xem ra Nhị thái tử thực chất vẫn chỉ là một thiếu niên mãng tráng, quá đỗi bốc đồng. Hiện tại chỉ có thể hy vọng kế hoạch này của Thiệu Phong Quan được vạch ra hoàn thiện một chút, có thể thuận lợi hoàn thành.
Trở về doanh trại thì trời cũng sắp tối. Chuyện này quá mức gấp gáp, tôi lập tức triệu tập ba vị thống lĩnh của Tiền Phong doanh là Tiền Văn Nghĩa, Dương Dịch, Hình Thiết Phong để nói rõ sự tình. Bọn họ thoạt đầu đều líu lưỡi kinh ngạc trước kế hoạch này, nhưng cũng cảm thấy kế hoạch khá chặt chẽ, chắc sẽ không xảy ra đại loạn gì, đặc biệt là Hình Thiết Phong, tỏ ra vô cùng nóng lòng muốn thử sức. Thấy bọn họ như vậy, tôi cũng không tiện nói thêm điều gì nữa, nếu không lại tỏ ra là mình đang khiếp chiến.
Chúng tôi lập tức đi điểm đủ binh sĩ, chuẩn bị tới dắt ngựa về để tập dượt cho quen tay, vừa bước ra khỏi lều bỗng thấy Đào Xương Thời lao tới, vừa đến trước mặt tôi liền quỳ sụp xuống nói: "Sở thống chế, nghe nói các ngài sắp đi đánh doanh trại xà nhân?"
Tôi đỡ hắn dậy nói: "Đào tướng quân, sao ngươi biết được?"
"Vừa rồi nghe truyền lệnh binh nói vậy. Sở thống chế, họ Đào này nguyện sung làm tiên phong, mặc cho thống chế sai phái."
Tôi trầm ngâm một lát rồi nói: "Như vậy cũng tốt, Đào tướng quân, xin ngươi hãy điểm hai trăm người, tạm thời sáp nhập vào Tiền Phong doanh." Tiền Phong doanh chỉ có hơn một ngàn ba trăm người, theo kế hoạch của Thiệu Phong Quan thì hai cánh quân xung phong mỗi bên cần một ngàn năm trăm người, vẫn còn thiếu hai trăm. Tôi vốn dĩ đã muốn rút thêm hai trăm người từ chỗ lang binh để trợ chiến, lại sợ Đào Xương Thời không đồng ý, nay do chính miệng hắn đề xuất thì vừa khéo quá rồi. Hắn nghe tôi đồng ý, trên mặt lập tức hiện lên vẻ mừng rỡ, hành một đại lễ nói: "Đa tạ, ta đi điểm nhân mã ngay."
Chiến mã của Đông Bình thành đều được nuôi nhốt ở phía đông thành. Đông Bình thành chiếm diện tích rất lớn, năm ngàn thớt quân mã cũng chiếm trọn một bãi cỏ chứa cỏ khô rộng thênh thang, tôi dẫn theo một ngàn năm trăm người tới bãi ngựa, vừa khéo chạm mặt Biện Chân đang dẫn quân đi ra. Hắn cũng giống như tôi, đều là Hạ tướng quân, e là yếu tướng dưới trướng Nhị thái tử. Hắn nhìn thấy tôi chỉ khẽ gật đầu coi như chào hỏi, rồi dẫn theo một ngàn năm trăm người của mình rời đi.
Tôi bước vào bãi ngựa, đưa tướng lệnh do Nhị thái tử ban ra cho tên lính quản ngựa xem qua, hắn mở cổng nói: "Tướng quân, xin ngài tự vào dắt một ngàn năm trăm con ngựa ra nhé."
Đổi một hai con ngựa thì tự có mã phu làm giúp, nhưng một ngàn năm trăm con ngựa mà cũng để mã phu dắt từng con một thì e rằng tới sáng mai cũng chưa xong. Tôi ngẩng nhìn bầu trời, mặt trời đã lặn về tây, trời cũng sắp tối rồi, tôi quay đầu nói với bọn Tiền Văn Nghĩa đang đi sau lưng: "Mau bảo anh em dắt ngựa, chú ý trật tự."
Tôi có chút lo lắng việc dắt ngựa sẽ gây ra hỗn loạn, trước đây tôi chỉ dẫn theo một trăm tên lính của Tiền Phong doanh, sau này vào Long Lân quân cũng chỉ có hai ba trăm người, hiện giờ lại có tới trọn vẹn một ngàn rưỡi. Nếu như lúc dắt ngựa mà lộn xộn nhốn nháo thì trận đánh này coi như khỏi cần đánh nữa, tôi chẳng qua chỉ đang đi nộp mạng mà thôi, bởi vậy tôi có chút bất an nhìn bọn họ đi vào. Không ngờ rằng Tiền Phong doanh tuy là chắp vá gom lại nhưng khi đi vào lại trật tự nghiêm chỉnh, từng người tự dắt ngựa xong xuôi liền xếp hàng đứng chờ trên bãi cỏ. Đám binh lính này không ít người là thuộc hạ của Lục Kinh Ngư, như Tào Văn Đạo năm xưa còn nằm trong đội thiết kỵ của Lục Kinh Ngư, kỵ thuật đều vô cùng thuần thục, càng đáng quý hơn là thành lập quân đội mới được chừng mười ngày, hiện tại lại như thể đã qua huấn luyện lâu năm, từng người đứng thẳng tắp như ngọn giáo.
Vừa lên ngựa, quân dung uy vũ hơn hẳn. Tôi nhìn đám binh lính từng người một dắt ngựa cực kỳ nhanh nhẹn, không khỏi vui mừng nói với Tào Văn Đạo: "Tào tướng quân, Tiền Phong doanh hiện giờ đã ra dáng một đội quân tinh nhuệ lắm rồi."
Tào Văn Đạo liếc nhìn Chân Dĩ Ninh đang cưỡi ngựa chỉ huy binh lính xếp hàng ở bên cạnh, nói: "Thống chế, chuyện này thực sự nhờ cậy cả vào Chân tham quân đấy. Cậu ta tuổi tuy còn nhỏ nhưng lại rất có bài bản, hai ngày nay chúng ta đều huấn luyện theo quy trình do cậu ta định ra, xem ra đã bước đầu thấy được hiệu quả. Đúng rồi thống chế, sao ngài không tự đi dắt ngựa?"
Tôi gãi gãi đầu, bất giác cười khổ. Tôi chỉ mải ngắm nhìn họ dắt ngựa mà quên mất bản thân mình vẫn chưa có ngựa cưỡi. Tôi nói: "Đúng vậy, ta đi chọn một con ngay đây."
"Thống chế, ta đi cùng ngài nhé."
Tào Văn Đạo nói xong liền ném dây cương ngựa cho một tên hộ binh bên cạnh, cùng tôi bước về phía chuồng ngựa, vừa đi vừa hạ giọng nói: "Thống chế, ngài thấy đợt xuất kích lần này thực sự có phần thắng sao?"
Hắn cũng không mấy tin tưởng vào đợt xuất kích lần này. Tôi cười khổ một tiếng, nói: "Tên đã trên dây..." Lời còn chưa dứt, bỗng nhiên trong chuồng ngựa xảy ra một hồi hỗn loạn, mấy tên lính la hét ầm ĩ: "Cẩn thận! Người bên ngoài cẩn thận!" Tôi giật bắn mình, chỉ thấy từ trong chuồng ngựa lao vút ra một con hắc mã.
Con ngựa này cũng không quá mức cao lớn, toàn thân đen tuyền, nhưng bốn vó lại mọc lớp lông trắng muốt như tuyết. Tôi chấn động cả người, kinh hô thất thanh: "Ô Vân Áp Tuyết!"
Nhìn sắc lông của con ngựa này, chính là phẩm thứ ba "Ô Vân Áp Tuyết" trong "Danh Câu Phổ". "Danh Câu Phổ" là một cuốn sách xem tướng ngựa lưu truyền trong quân ngũ, dùng để dạy người ta cách xem ngựa, có điều không thực dụng cho lắm. Cuốn phổ đó ghi chép mười tám phẩm danh câu, chia làm thượng trung hạ mỗi bậc sáu phẩm, chủ yếu phân định theo màu lông. Ô Vân Áp Tuyết là phẩm thứ ba trong thượng phẩm, thế nhưng trên thực tế rất hiếm có con ngựa nào sở hữu màu lông kỳ lạ như sách miêu tả, mấy năm trước Mã giám từng lùng sục mang về một con ngựa có màu lông hoàn toàn phù hợp với phẩm thứ nhất "Chu Đỉnh Chiếu Dạ Bạch" trong "Danh Câu Phổ", nhưng con ngựa đó ngoài vẻ ngoài đẹp đẽ ra thì căn bản chẳng có chút phong thái nào của danh câu, ăn thì nhiều mà chạy còn chậm hơn cả lừa, đi được chừng năm sáu dặm là thở hồng hộc, khác xa một trời một vực so với lời miêu tả "đuổi gió bắt điện, ngày đi một ngàn năm trăm dặm" trong "Danh Câu Phổ", một dạo "Danh Câu Phổ" cũng trở thành trò cười, chẳng còn ai coi cuốn sách đó là thật nữa. Tôi từng đọc qua một lần, cũng chỉ coi đó là chuyện kể mua vui, thế nhưng con Ô Vân Áp Tuyết trước mắt này khi lao ra lại thần tuấn phi thường, đích thực có vài phần phong thái của danh câu.
Mắt Tào Văn Đạo cũng dại cả ra, nói: "Đẹp thật đấy, không biết chạy có nhanh không."
Như để đáp lại lời hắn, con ngựa kia hí dài một tiếng, tung mình nhảy vọt lên, một cú nhảy thế mà bay xa tới bốn năm trượng, binh lính xung quanh đều phát ra một tràng kinh hô. Tên lính quản ngựa lại gào lên: "Sao lại thả cái của nợ này ra thế, mau lên, mau kéo nó lại!" Thế nhưng con ngựa này một khi đã lao ra khỏi chuồng thì làm sao bắt lại được nữa, nó chạy vòng quanh bãi đất trống ở giữa, thỉnh thoảng lại gầm rống, mấy tên lính lao lên cũng chẳng dám tới quá gần, căn bản không tài nào nắm được dây cương.
Tôi nhìn con ngựa này mà bất giác có chút mê mẩn. Kim Thiên Thạch của Long Lân quân có một con ngựa tốt tên gọi "Phi Vũ", con ngựa đó vừa thuần lương lại vừa thần tuấn, tuy màu lông không lọt vào "Danh Câu Phổ" nhưng tuyệt đối không thua kém gì những con danh câu được ca ngợi hoa mỹ kia. Con Ô Vân Áp Tuyết này tính tình hung bạo hơn nhiều, nhưng vẻ thần tuấn lại chẳng hề thua kém Phi Vũ.
Tôi quay đầu nói với tên lính kia: "Con ngựa này giao cho ta đi, ta lấy con này."
Ngựa tốt ai cũng muốn có, tôi thực sự có chút sợ bị tên lính nào dắt mất, thế thì quả thực sẽ ôm hận cả đời. Tên lính gào lên: "Nhưng mà, con ngựa đó hung dữ lắm, tướng quân ngài..."
Tôi chẳng thèm để ý tới hắn, đã lao thẳng tới. Lúc này một hàng binh lính đã vây thành một vòng tròn lớn, nhốt con ngựa vào giữa, vòng vây đang dần dần thu hẹp lại, con ngựa ở trong vòng vây nôn nóng bất an, thỉnh thoảng lại đá mạnh xuống mặt đất. Tôi còn chưa đi tới nơi, con ngựa này lại gầm lên một tiếng dữ dội, tung mình nhảy vọt lên. Lần này nó nhảy còn cao hơn, thế mà vượt qua cả đỉnh đầu của hai tên lính.
Con ngựa đang lao thẳng về phía tôi, nếu bị con ngựa này giẫm trúng thì chắc chắn sẽ bị giẫm chết tươi, binh lính bên cạnh thốt lên một tràng kinh hãi. Tôi nhìn con ngựa trên không trung đang lao thẳng vào mình, nghiêng người né qua đầu ngựa, nhân lúc hai vó ngựa vừa chạm xuống đất liền tung người nhảy vọt lên, định bụng nhảy tót lên lưng ngựa.
Cưỡi ngựa trần không yên không bàn đạp rất khó cưỡi, nhưng con ngựa này đã được tra khớp hàm khớp đầu, hẳn là vẫn có thể ứng phó được. Nào ngờ đầu ngón tay tôi vừa chạm vào lưng ngựa, con ngựa này như có linh tính, thân mình đột ngột vặn sang một bên, tức thì quay lưng lại phía tôi, hai vó sau hung hãn đạp mạnh tới.
Lực của con ngựa này cực lớn, đạp trúng người thì đúng thực như bị một cây búa sắt nện trúng, không chết cũng tàn phế. Hai tay tôi vốn định ấn lên lưng ngựa, nay biến thành ấn vào mông sau của nó, căn bản không sao né tránh nổi, đám binh lính bên cạnh lại thốt lên một tràng kinh hô, trong đó tiếng của Tào Văn Đạo là lớn nhất.
Hiện giờ hai chân tôi đang lơ lửng giữa không trung, căn bản không thể né được. Nếu như một Thống chế Tiền Phong doanh như tôi còn chưa kịp xuất chinh đã bị ngựa đá chết tươi bằng một vó thì quả thực sẽ trở thành trò cười cho thiên hạ. Dẫu không bị đá chết thì sĩ khí cũng sẽ rớt xuống tận đáy vực, chẳng còn mặt mũi nào bàn tới chuyện xuất chinh nữa. Tôi cắn chặt răng, khóe mắt nhìn chằm chằm vào vó ngựa, hai chân hết sức co lại. Ngựa khi tung vó đá hậu thì hai chân sau tất nhiên cũng sẽ co lại một nhịp, cơ hội của tôi chính là nằm trong khoảnh khắc co lại cực ngắn ngủi đó. Tôi nhìn vó ngựa thụt lùi, hai bàn chân liền đạp chuẩn xác lên móng ngựa. Chuỗi động tác này căn chuẩn đến từng ly từng tí, nếu chỉ hơi lệch một chút thôi thì móng ngựa kia đã đá gãy lìa chân tôi rồi, hiện giờ lực đạp của ngựa vẫn chưa phát huy hết, ngược lại chẳng khác nào con ngựa này hất bổng tôi lên, tôi chỉ thấy lòng bàn chân đau nhói, tựa như xương bàn chân cũng bị đá gãy, cả người như mũi tên bắn thẳng về phía trước, hai tay ấn mạnh lên hông sau của ngựa, ngồi thụp thật mạnh lên lưng nó, lồng ngực vừa khéo va thẳng vào cổ ngựa.
Cú va chạm này khiến con ngựa cũng có chút chịu không thấu, nó lại rống lên một tiếng lớn, hai chân khuỵu xuống, dường như muốn hất văng tôi xuống đất. Nhưng tôi một khi đã lên được lưng ngựa thì mọi chuyện đâu còn do nó quyết định nữa, hai cánh tay vòng chặt ôm cứng lấy cổ ngựa, dưới lòng bàn chân tuy vẫn đau nhức khôn xiết nhưng cũng chẳng màng tới nữa, ra sức kẹp chặt hai bên sườn ngựa, chết cũng không chịu ngã xuống. Con ngựa này thấy không hất được tôi xuống liền ra sức quay mòng mòng tại chỗ, vừa quay vừa hí rống. Tôi mặc kệ nó giãy giụa ra sao, chỉ liều mạng siết chặt hai cánh tay. Ngồi trên lưng ngựa chẳng khác nào đang chao đảo giữa cơn sóng to gió lớn, bóng người trước mắt dồn dập lướt qua, lúc cao lúc thấp, mặt đất lại như bốc lửa, tro bụi tung mù mịt táp thẳng vào mặt tôi, bên tai loáng thoáng còn nghe thấy tiếng gào của Tào Văn Đạo, trước mắt cũng nhìn thấy hắn nhưng chỉ lướt qua trong chớp mắt, chẳng rõ hắn rốt cuộc đang gào thét cái gì.
Quay cuồng một hồi, con ngựa này có lẽ cũng thấm mệt, động tác chậm lại đôi chút. Tôi nhìn chuẩn thời cơ, một tay lần mò nắm được dây cương, vừa nắm chặt trong tay liền dồn sức giật mạnh, con ngựa vì đau đớn lại rống lên dữ dội, chồm hai chân trước đứng thẳng người lên. Nhưng tôi đã có phòng bị từ trước, hai chân dồn lực kẹp chặt, há lại sợ bị ngã xuống lưng ngựa? Tay trái tôi ghì chặt lấy cổ ngựa. Con ngựa lại xoay thêm mấy vòng nữa mới từ từ dừng lại, nhưng mũi vẫn thở phì phì, vẻ mặt như còn bất phục lắm. Tôi hiểu rõ lúc này nhất định phải hàng phục được nó, nếu không tính khí con ngựa này sẽ ngày càng hung hãn, sau này càng không tài nào khống chế nổi, trong tay cũng chẳng nể tình, ra sức kéo giật dây cương, khóe miệng ngựa cũng bị tôi kéo đến bật máu, e là môi ngựa đã bị tôi dùng sức lớn như vậy kéo rách toạc ra rồi.
Lại xoay thêm vài vòng, con ngựa dần dần bình tĩnh lại. Có lẽ nó cũng biết nếu còn giở tính bướng bỉnh thì tôi càng chẳng để nó yên thân, nên không nhảy loạn nữa. Ngựa đến nước này xem như bước đầu đã thuần phục, sau này chậm rãi dắt đi dạo rồi điều khiển, với sức lực cùng tốc độ này, nhất định là một thần câu. Tôi ngồi trên lưng ngựa, đắc ý không sao tả xiết.
Lúc này, Tào Văn Đạo chạy lại nói: "Thống chế, ngài thật lợi hại, loại ngựa dữ dường này mà cũng hàng phục được."
Trong lòng tôi dâng lên một trận đắc ý, đang định buông lời khoe khoang một câu, thì tên lính nuôi ngựa bên cạnh bỗng mặt mày cắt không còn hột máu, thất thanh kêu lên: "Tướng quân, cẩn thận! Ngựa này vẫn chưa phục đâu!"
Gã vừa dứt lời, con ngựa lại thét lên một tiếng dữ dội, chồm hai chân trước dựng đứng cả người dậy. Lần này móng trước nhấc lên còn cao hơn, hai chân sau gần như tạo thành một đường thẳng với sống lưng ngựa, tôi hoàn toàn không kịp phòng bị, hai chân cũng chưa kẹp chặt, cả người lập tức trượt tuột xuống. May mà lúc tên lính la lên tôi đã có chút cảnh giác, hai chân vội kẹp chặt lại, nhưng lúc này đã tụt xuống tận mông ngựa. Con ngựa lại bỗng nhiên dồn sức chồm mạnh về phía trước, tôi biết lúc này chỉ cần buông tay là sẽ ngã văng ra ngoài, chuyện hàng phục con ngựa hóa thành công cốc chỉ là chuyện nhỏ, ngã xuống rồi e rằng toàn thân xương cốt cũng nát vụn. Hai tay tôi ra sức bấu chặt, hai lòng bàn tay áp sát vào vai ngựa, cả người cũng dán chặt lên lưng ngựa.
Hiện giờ tôi không phải đang cưỡi ngựa, mà là đang bò rạp trên lưng ngựa. Cũng may người khác không nhìn rõ bộ dạng của tôi, bằng không sắc mặt tôi lúc này hẳn là trắng bệch, khó coi đến cực điểm. Con ngựa đã lao thẳng về phía trước, nhanh như tên bắn rời dây cung, tốc độ bực này thực sự có phần không tưởng tượng nổi. Nhưng giờ chẳng phải lúc tán thán ngựa chạy nhanh, ngựa chạy nhanh thêm một phần thì tôi lại nguy hiểm thêm một phần, hai tay tôi bám chặt lấy vai ngựa, thỉnh thoảng lại nhúc nhích hông, gần như là đang bò trườn trên lưng ngựa, hào khí lúc trước đã quét sạch sành sanh, thay vào đó là một nỗi chán nản ảo não.
Tính nết con ngựa này hung hãn như vậy, e rằng muốn hàng phục nó cũng chỉ là chuyện viển vông, bằng không với vẻ thần tuấn dường này, nó đã sớm được người ta chọn mất rồi, đâu đến lượt bị nhốt trong chuồng ngựa để tôi tới lựa. Tôi bò trườn trên lưng ngựa như một con sâu, chỉ thấy gió rít bên tai, mà bức tường thành trước mắt thì mỗi lúc một gần.
Con ngựa này đang lao thẳng về phía tường thành. Mã thành chiếm một khoảnh đất rất rộng trong thành, nhưng rốt cuộc cũng có giới hạn, chỉ chớp mắt một cái, ngựa đã chạy hết đường chạy, bỏ xa đám binh lính tiền phong doanh lại phía sau. Mà bức tường thành cao hơn mười trượng kia tuyệt đối không phải thứ ngựa có thể nhảy qua được, con ngựa phi với tốc độ nhanh đến thế, lẽ nào muốn đâm đầu chết tươi trên tường thành sao? Nếu đâm vào tường thành nát bấy như một bãi thịt băm, thì thà bị ngựa đá chết còn hơn.
Thế nhưng tường thành trong mắt tôi đã đổ ập tới như dời non lấp biển. Nhìn từ trên lưng ngựa, dường như không phải tôi lao vào tường thành, mà là bức tường thành ấy đang mang theo uy thế sét đánh vạn cân giáng thẳng xuống người tôi. Lúc này tôi đã rướn mình lên phía trước một chút, tay trái đã ôm được cổ ngựa, nhưng vẫn chưa phát nổi lực, đang lúc kinh hoàng luống cuống, con ngựa bỗng nghiêng mình một cái, chạy áp sát men theo chân tường.
Một con ngựa tốt, ngoài phi nhanh, chuyển hướng cũng phải linh hoạt. Trên chiến trường chớp mắt vạn biến, một con ngựa nếu chuyển hướng không linh hoạt, thì tướng lĩnh trên lưng ngựa dẫu có mười phần bản lĩnh cũng chỉ còn lại năm phần. Con ngựa này nhanh như chớp giật, lúc chuyển hướng cũng không hề giảm tốc, quả thực là con ngựa tốt bậc nhất, tiếc là tính nết quá hung hãn, hiện giờ tôi chưa hàng phục được nó, bản thân lại bị nó chỉnh cho một trận tơi bời, có thể nói là đã chịu thua nó rồi. Tôi ở trên lưng ngựa đã váng đầu hoa mắt, gần như chẳng biết mình đang ở chốn nào, cú ngoặt này lại càng khiến tôi chao đảo trên lưng ngựa, lại trượt sang một bên thêm một đoạn, lúc này chỉ biết liều mạng dán chặt vào ngựa để khỏi ngã xuống, bỗng nhiên, bên tai vang lên tiếng một người:
"Người ngựa hợp nhất, tâm thần tương thông, thân chẳng ngự ngựa, ngựa chẳng ngự thân."
Dù đang ở trên lưng ngựa, tôi cũng cảm thấy toàn thân chấn động. Mấy câu này hẳn là danh ngôn chí lý về thuật ngự mã, cũng chẳng biết tôi từng đọc được ở đâu, trong lúc nghìn cân treo sợi tóc này đột nhiên nhớ lại. Thế nhưng "người ngựa hợp nhất, tâm thần tương thông", nói thì dễ, tôi làm sao tương thông tâm thần với con ngựa này được? Đến việc đọc được hai câu này ở đâu tôi còn chẳng nhớ, đương nhiên càng không nhớ nổi phải làm thế nào để người ngựa hợp nhất, tâm thần tương thông.
Lúc này, bên tai lại bỗng vang lên giọng nói của người nọ:
"Ngưng thần tĩnh khí, tâm quán thiên địa."
Tâm quán thiên địa! Bốn chữ này tựa như đột nhiên mở ra một con mắt thần giữa hai hàng lông mày tôi. Đao minh trên Bách Tịch đao cũng có câu "Duy tâm bất dịch", hiện tại tôi ở trên lưng ngựa, bản thân đã kinh hoàng thất thố trước, căn bản không cách nào ngưng thần tĩnh khí, còn nói gì đến chuyện tâm quán thiên địa? Cảnh vật quanh thân cũng chẳng nhìn rõ nữa. Thế nhưng thanh âm kia lại như một ngón tay khéo léo, lập tức gỡ rối mối tơ vò trong đầu tôi, tuy mắt vẫn hoa lên, nhưng cảnh vật xung quanh bỗng chốc trở nên rõ ràng, tôi thậm chí có thể nhìn rõ từng viên gạch thành đang vun vút lùi lại phía sau.
Ngưng thần tĩnh khí. Tôi dần dần điều hòa lại hơi thở thô ráp hỗn loạn của mình. Con ngựa vẫn men theo tường thành mà chạy, lúc này lại tới một chỗ ngoặt, vẫn là một cú bẻ lái gấp gáp, nhưng lúc này tôi cảm thấy thân mình nhẹ tựa chim én, cơ thể dán trên lưng ngựa bồng bềnh lơ lửng, dường như chẳng có chút trọng lượng nào. Từ lòng bàn tay, xuyên qua da lông bờm ngựa, truyền đến từng nhịp tim của nó. Theo lý mà nói tim ngựa vẫn luôn đập, tôi cũng nên cảm nhận được từ lâu, nhưng mãi đến lúc này, tôi mới nhận ra con ngựa này cũng là một sinh linh bằng xương bằng thịt, chứ không phải một khối đá bạo ngược hung tàn.
Hơi thở của tôi càng lúc càng hòa hoãn, nói cũng lạ, nhịp tim ngựa cảm nhận nơi lòng bàn tay lúc đầu dồn dập như trống trận, dần dà cũng hòa hoãn lại, rồi từ từ đồng nhịp với hơi thở của tôi, giống như có một đường ống nối liền nhịp tim tôi và nhịp tim ngựa lại với nhau. Cảm giác này kỳ diệu khôn cùng, trong một khoảnh khắc tôi gần như quên mất mình đang cưỡi trên lưng ngựa, ngỡ như chính mình là con ngựa này, đang phi nước đại trên đường ray.
Người ngựa hợp nhất, đó đã không còn là ngự mã nữa rồi. Khi người và ngựa đã hòa làm một, chẳng phải có thể tùy theo tâm ý của người, không cần dây cương cũng cưỡi được ngựa sao? Hiện tại tốc độ con ngựa này vẫn chưa hề chậm lại, thế nhưng tôi lại gần như không cảm thấy sự xóc nảy gập ghềnh khi ngồi trên lưng ngựa, dây cương chùng xuống, cũng chỉ hờ hững cầm trong tay, xem chừng chẳng dùng đến cũng được. Trong lòng tôi vui mừng, nhưng nhìn dây cương trong tay, lại chẳng dám buông hẳn ra để thử, chỉ khẽ giật nhẹ một cái. Động tác này rất khẽ, nhưng con ngựa dường như hiểu được tâm ý của tôi, thân mình nghiêng đi, chạy một vòng nhỏ, rồi ngoặt đầu chạy về hướng tường thành.
Lần này, hoàn toàn khác với nỗi kinh hoàng tột độ ban nãy, tôi dường như có thể cảm nhận trọn vẹn từng bước chạy của ngựa, ngay cả tiếng vó ngựa nện xuống mặt đất cũng cảm nhận rành rọt.
Bây giờ, có thể xem là bước đầu "người ngựa hợp nhất, tâm thần tương thông" rồi chăng? Tôi vừa mừng vừa sợ, nhất thời có chút luống cuống không biết làm sao.
Đột nhiên, bên tai tôi vang lên một tiếng cười "xì". Tiếng cười này tựa hồ có chút tán thưởng, lại pha lẫn vài phần mỉa mai.
Nếu nói bên tai vang lên mấy câu dặn dò, thì còn có thể giải thích là do tôi từng đọc qua rồi nhớ lại. Nhưng nghe thấy tiếng cười thế này, thì thực sự có phần quái dị. Tôi giật mình kinh hãi, tay lại khẽ giật một cái, con ngựa lập tức dừng phắt lại, tôi ngẩng đầu nhìn lên.
Con ngựa này dĩ nhiên không biết nói, xung quanh cũng chẳng có ai. Nếu có người lên tiếng, đương nhiên chỉ có thể ở trên tường thành. Nhưng tường thành cao hơn mười trượng, dẫu có người nói chuyện, sao có thể rõ mồn một như ghé sát vào tai tôi được? Chỉ là dường như tôi căn bản không nghĩ đến điều đó, chỉ biết ngẩng đầu nhìn lên.
Vừa ngẩng đầu, liền cảm thấy một tia nắng chiếu thẳng vào đáy mắt làm tôi hoa mắt một thoáng, nhưng dường như tôi lờ mờ nhìn thấy, ngay trên bức tường thành đỉnh đầu tôi, có một người đang tựa vào lỗ châu mai, cúi xuống nhìn tôi. Tôi vội đưa tay che trán nhìn lên lần nữa, nhưng chỉ thấy một mảnh trống không.
Lúc này có hai người cưỡi ngựa xông tới, chính là Tiền Văn Nghĩa và Tào Văn Đạo. Tào Văn Đạo từ đằng xa đã gọi to: "Thống chế, ngài không sao chứ?"
Tôi dắt ngựa ra xa bờ thành một chút, rồi lại ngước nhìn lên. Nhưng mặt thành trống trơn, chẳng thấy một bóng người. Đoạn tường thành này là tường phía bắc, ngoài kia chính là đại giang rồi, cách một bức tường thành dày cộm cũng có thể nghe thấy tiếng sóng gầm bên ngoài. Dòng sông chảy xiết khôn cùng, ngoài ra chẳng còn nghe thấy bất kỳ thanh âm nào khác.
Tào Văn Đạo đang hết lời khen ngợi bản lĩnh ngự mã của tôi, có lẽ thấy tôi cứ chăm chú nhìn lên tường thành, bèn hỏi: "Thống chế, có chuyện gì vậy?"
Tôi hỏi: "Vừa rồi hai người có thấy trên tường thành có ai không?"
Gã và Tiền Văn Nghĩa đều ngẩn ra, không hiểu vì sao tôi lại chú ý đến mặt thành. Tiền Văn Nghĩa cũng đưa tay lên trán che nắng ngó lên, đáp: "Sao thế ạ? Chúng tôi cũng không để ý."
"Không có gì." Tôi khẽ ghì ngựa, nói: "Đi thôi, ta còn phải đóng bộ yên cương cho con ngựa này nữa."
Tôi không kể với họ về bóng người mà mình lờ mờ nhìn thấy trong cái chớp mắt hoa mày ban nãy.
Đó hẳn là một lão già. Vóc người lùn tịt, bởi tôi cảm thấy lão ta có lẽ cũng chẳng cao hơn phần khuyết của lỗ châu mai là bao. Là một lão già thì cố nhiên có chút kỳ quái, nhưng điều kỳ quái hơn cả chính là — có lẽ do tôi đa nghi, nhưng gương mặt ấy, dẫu có nằm mơ tôi cũng không sao quên được, đó là một khuôn mặt mỏ nhọn má khỉ, xấu xí vô cùng.