Thiên Hành Kiện 3: Kích Đãng Phong Lôi

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 30
Long Chiến Vu Dã

❊ ❊ ❊

Xà nhân tấn công lần thứ hai đã là chuyện của ngày hôm sau. Trong hai ngày này, tuy vẫn chưa nổ ra chiến sự trực tiếp, nhưng lòng mỗi người như bị tảng đá lớn đè nặng, ngột ngạt vô cùng.

Đúng như Đào Bách Hồ dự liệu, xà nhân bơi qua sông Áp Long, đổ bộ lên bãi lầy ngoài cửa đông rồi bắt đầu đào địa đạo. Sự kiên nhẫn của xà nhân thật khiến người ta kinh ngạc, chúng đóng quân ngay bên bờ sông, dầm mình trong nước lũ bùn lầy, vậy mà từng tên một vẫn chẳng hề lộ vẻ trễ nải. Trên bãi lầy mọc đầy lau sậy, chúng tôi chốc chốc lại thấy lau sậy ngã rạp xuống, ấy là dấu hiệu xà nhân đã đào tới nơi. Bãi lầy ngoài cửa đông rộng vài dặm vuông, xà nhân bắt đầu đào từ vị trí cách thành chừng một dặm, mỗi ngày có thể đào sâu khoảng mười trượng, tính theo đà này thì chỉ mươi ngày là đào tới chân tường. Hơn nữa xà nhân còn không ngừng tăng viện, hạ trại ngoài cửa nam, xem chừng chỉ cần đào tới chân thành là cánh quân xà nhân này sẽ ồ ạt công thành. Theo ngón cũ của xà nhân, chúng chắc chắn còn phục binh ẩn nấp trong rừng sâu, đến lúc ba mặt cùng tràn tới, trong thành liệu giữ nổi mấy ngày?

Chu Nặc cắt cử mỗi bên năm ngàn người dưới trướng Dạ Ma Thiên và Thịnh Xương sang giữ cửa đông, tôi cũng xin lệnh tới trợ thủ. Hiện giờ đầu óc tôi ngập tràn chuyện xà nhân, xem ra Chu Nặc cũng vì thế mà hoãn lại việc khởi binh.

Nếu xà nhân phá vỡ tường thành, quân thủ giữ cửa đông sẽ là những kẻ đầu tiên phải đối mặt với chúng. Tôi từng nghĩ đến việc chế thêm ít hỏa dược để đối phó xà nhân, nhưng các đạo quán ở thành Phù Đôn tuy có vài tông phái, song đều thuộc phái Thanh Hư Thổ Nạp, hoàn toàn mù tịt lưu huỳnh là vật gì.

Trời u ám, gió thổi mang theo hơi lạnh buốt giá. Mặt trời bị mây mù che khuất, chiếu xuống người chẳng chút ấm áp. Phía xa bờ sông thỉnh thoảng lại có vật gì quẫy tung bọt nước khổng lồ, đó là đà long đang trườn lộn trong bùn nước. Xà nhân rất cẩn thận không trêu chọc đà long, mà đà long dường như cũng ngầm thỏa hiệp với chúng, né ra thật xa. Vùng bãi lầy mà chúng tôi coi như tử địa thì đối với xà nhân lại hết sức yên ả. Trong bùn nước, xà nhân còn linh hoạt hơn trên cạn, hành động mau lẹ, dẫu chúng tôi có dốc toàn lực liều mạng xông ra cũng tuyệt đối không nắm chắc nửa phần thắng. Tôi tựa lưng vào đầu tường nhìn xuống, lòng càng lúc càng thêm sốt ruột. Hiện tại có lẽ chưa cần lo Chu Nặc mưu phản, nhưng đám xà nhân trước mắt lại là đại nạn lớn hơn, đánh lui xà nhân rồi e rằng chúng tôi cũng mất đi cơ hội khống chế Chu Nặc. Tiến thoái lưỡng nan, giờ chỉ đành đi bước nào tính bước nấy.

Đang đứng trên tường thành nghĩ vẩn vơ, có người bước tới bên cạnh, ngoảnh lại thấy là Tiền Văn Nghĩa, tôi cười cười: "Tiền tướng quân, quân tâm hiện nay thế nào?" Từ sau hôm nghe hắn khuyên răn chớ ham an nhàn, quan hệ giữa tôi và hắn đã dịu đi nhiều, không còn cảnh chẳng mở miệng lấy một lời như hồi mới lên đường. Nhưng hắn vẫn nặng trĩu tâm tư, suốt ngày chẳng rõ nghĩ ngợi điều chi. Tôi dặn hắn chú ý nhiều hơn đến động tĩnh của Chu Nặc. Dù y khó lòng giương cờ tạo phản vào lúc này, nhưng vẫn không thể không phòng. So với một Tào Văn Đạo hỉ nộ đều lộ hết ra mặt, Tiền Văn Nghĩa thâm trầm hơn rất nhiều, nếu không e đã sớm bị Chu Nặc nhìn thấu sơ hở.

Tiền Văn Nghĩa ngó quanh quất, ghé tai nói nhỏ: "Sở tướng quân, Chu Đô đốc hiện giờ ngày ngày đốc quân thao luyện, thị sát tình hình quân ngũ, chưa thấy dị động."

"Giờ mà ông ta làm phản thì chẳng khác nào tìm đường chết, muốn mưu đồ gì cũng phải đợi qua khỏi cơn nguy khốn này." Nói đến đây, chính tôi cũng thấy có phần tức cười. Nếu xà nhân tới chậm hai ngày, thành Phù Đôn khéo đã rơi vào cảnh đại loạn, chúng chẳng cần phí nhiều công sức thế này cũng hạ được thành. Có lẽ trong cõi u minh, thiên số vẫn chưa tuyệt diệt đế quốc. Chuyện đời, rốt cuộc chẳng ai nói rõ được nhân quả ra sao.

Tiền Văn Nghĩa nhìn xuống chân thành, chau mày nói: "Hôm nay xà nhân hình như lại đào sâu thêm chục trượng. Chúng ta cứ bo bo giữ thành, giương mắt nhìn hành động của xà nhân, rốt cuộc không phải là kế sách lâu dài."

Tôi thở dài: "Tôi cũng biết đó chẳng phải kế hay, nhưng lúc này quả thực nghĩ không ra cách gì."

Địch đào địa đạo công thành, cách đối phó thông thường là đào hào sâu dưới chân tường. Thế nhưng ngoài cửa đông lại là bãi lầy lội, giẫm chân lên là lún sâu xuống bùn, chớ nói chi đến chuyện đào đất. Tiền Văn Nghĩa bỗng nói: "Sở tướng quân, thực ra mạt tướng có một chủ ý."

Tôi giục: "Mau nói đi!" Hắn lại có cách, thật không hiểu sao chẳng chịu nói sớm hơn. Tiền Văn Nghĩa ngập ngừng: "Từ nhỏ mạt tướng lớn lên ở miền biển, nơi đó cũng có rất nhiều bãi bồi. Ở quê tôi, mỗi khi thủy triều rút, có không ít người lội ra bãi bắt sò..."

Cứ ngỡ hắn có kỳ mưu diệu kế gì, ai ngờ lại kể lể mấy chuyện râu ria, tôi không khỏi thất vọng tràn trề, ngắt lời: "Chuyện đó thì can hệ gì?"

Tiền Văn Nghĩa tiếp: "Sở tướng quân, bãi bồi lúc ấy cũng hệt như vậy, toàn là bùn nhão, người đạp lên là lún chân ngay, không tài nào đi nổi, bởi thế họ đều dùng 'hải mã'."

Tôi ngẩn người: "Hải mã là ngựa gì?"

"Đó không phải là ngựa, mà là một tấm ván gỗ uốn cong ở phần đầu, một mặt bào thật nhẵn, bên trên gắn dây da, vừa đủ một bàn chân xỏ vào. Lúc triều rút, người cào sò một chân xỏ vào hải mã, chân kia đạp mạnh xuống bùn, lướt đi trên bãi bồi nhanh như bay, tuyệt nhiên không bị lún."

Tôi hiểu ngay ý hắn, đầu óc lóe sáng, reo lên: "Phải rồi! Chính là nó! Ha ha, Tiền huynh, huynh lập đại công rồi!"

Tiền Văn Nghĩa vẫn ấp úng: "Nhưng cậy vào thứ này để đào hào thì vẫn hơi khó. Hải mã trượt đi thì không lún, nhưng dừng lại một chỗ vẫn bị bùn nuốt như thường. Vạn nhất đang đào hào mà xà nhân ập tới, sợ là rút lui không kịp."

Tôi đang vô cùng phấn khích, nghe hắn nói vậy liền cười đáp: "Ý ta tính là một kế khác."

"Kế gì?"

Chu Nặc nghe xong kế hoạch của tôi thì bật dậy, đi đi lại lại. Cũng khó trách, chủ ý này đối với y quả thực quá đỗi hoang đường, chẳng khác nào chuyện xà nhân đào địa đạo ngoài cửa đông, nghe quá đỗi khó tin.

Đào Thủ Chuyết ngồi một bên, ngón tay gõ nhẹ lên mặt bàn, lên tiếng: "Chưa hẳn là không làm được. Quân số phái đi chẳng bao nhiêu, không tổn hại thực lực, nhưng một khi thành công thì chiến quả vô cùng rực rỡ."

Chu Nặc trầm ngâm một lát rồi bảo: "Chỉ là người xuất trận quá mức nguy hiểm, e rằng chín phần chết một phần sống, rất khó chiêu mộ binh sĩ."

Đào Thủ Chuyết mấp máy môi rồi lại thôi. Chu Nặc nói chẳng sai, người dân tỉnh Thiên Thủy sợ đà long như sợ cọp, năm nào cũng dâng cúng cá thịt hoa quả, coi nó như thần vật. Bắt quân Tây Phủ đi qua đi lại trước mặt đà long, e là chân cẳng bọn họ đã bủn rủn trước tiên rồi. Tôi cắn răng nói: "Chu Đô đốc, mạt tướng phụng mệnh đại nhân đến đây, việc này lại do mạt tướng đề xuất, vậy xin để Tiền Phong Doanh gánh vác."

Chu Nặc chấn động toàn thân, nhìn tôi chằm chằm: "Thật sao?"

"Quốc gia nuôi quân là để giữ nước hộ dân. Mạt tướng từ ngày tòng quân đã sớm coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Muôn vạn bá tánh ngoài kia đều là phụ lão hương thân của chúng ta, vì bảo vệ họ mà da ngựa bọc thây chính là vinh dự của bậc quân nhân, mạt tướng cam tâm tình nguyện."

Chu Nặc ngây người nhìn tôi, chẳng rõ đang suy tính điều gì. Khuôn mặt rậm rạp râu ria của y chỉ để lộ hai con mắt, nhưng ánh mắt toát ra lại mang thứ cảm xúc khó tả, dường như có khâm phục, lại dường như có tiếc nuối. Y bước tới, nắm chặt vai tôi lay lay: "Sở tướng quân, đợi ngày khải hoàn, tướng quân chính là cha mẹ tái sinh của mấy chục vạn bá tánh thành Phù Đôn!"

Chừng như ý y muốn nói nếu tôi thắng trận trở về thì sau này trong nước Thiên Thủy của y, tôi cũng sẽ là đệ nhất trọng thần. Tôi thoáng buồn cười, nhưng nghe giọng y hơi nghẹn lại, trong lòng cũng không khỏi xúc động đôi chút. Nếu Chu Nặc có thể ghìm ngựa bên bờ vực, dứt bỏ ý định tự lập làm vua, thì dẫu tôi có mạng táng sa trường cũng đáng giá.

Mấy chục vạn bá tánh thành Phù Đôn, sau này ắt cũng sẽ khắc ghi ơn tôi.

Tôi làm lễ quân sự rồi thưa: "Vậy xin Chu Đô đốc cho làm vài trăm cỗ hải mã, mạt tướng lập tức đi chọn người. Xin Chu Đô đốc dẫn tôi tới xưởng mộc, tôi sẽ dặn dò thợ thuyền về quy cách chế tạo."

Chu Nặc giật nảy mình như bị bọ cắn, vội nói: "Sở tướng quân cứ nghỉ ngơi sớm đi, mấy việc vặt vãnh này ta lo liệu được. Ta sẽ lập tức sai người đào một hồ nước trong thành để các ngươi luyện tập."

Tôi không khỏi cười thầm, ban đầu tôi vẫn ngờ đây là cái bẫy Đào Thủ Chuyết giăng ra, chưa biết chừng xưởng mộc kia chẳng liên quan gì đến Chu Nặc, nay xem ra Đào Thủ Chuyết không hề lừa tôi. Tôi cáo từ hai người bước ra ngoài, Đào Thủ Chuyết liền bảo Chu Nặc: "Chu Đô đốc, để tôi ra tiễn Sở tướng quân một đoạn." Ông ta cũng bước theo, Chu Nặc chắc vẫn đang bận tâm suy nghĩ về kế hoạch của tôi nên không nói gì.

Bước ra khỏi cửa, Đào Thủ Chuyết bảo: "Sở tướng quân, ngồi xe của tôi đi."

Chu Nặc ra ngoài thích cưỡi ngựa, còn Đào Thủ Chuyết lại chuộng ngồi xe. Cỗ xe ngựa này rất cao lớn, tôi chui vào trong, buộc Phi Vũ sau đuôi xe. Vừa ngồi vững, Đào Thủ Chuyết lập tức nở nụ cười: "Kế một mũi tên trúng hai con nhạn này của Sở tướng quân thực sự cao minh."

Tôi giật mình: "Một mũi tên trúng hai con nhạn gì cơ?"

"Sở tướng quân khải hoàn trở về ắt thu phục trọn vẹn lòng quân, Chu Nặc tất sẽ trọng thưởng, khi ấy vây hãm của xà nhân đã giải, thừa cơ bắt gọn y chính là cơ hội nghìn năm có một."

Tôi cười khổ: "Chưa biết có về nổi không nữa. Tôi cũng mong Chu Đô đốc lấy đại cuộc làm trọng, đừng làm ra chuyện lầm lạc ấy."

Đào Thủ Chuyết thở dài: "Sở tướng quân, cậu đúng là người trẻ tuổi."

Ông ta bảo tôi là người trẻ tuổi cũng chẳng sai, ông ta đã ngoài bốn mươi, gấp đôi tuổi tôi. Tôi hỏi: "Đào Đô đốc, vạn nhất tôi không về được thì ngài tính sao?"

Đào Thủ Chuyết lại thở dài: "Chuyện đời, ai mà lường trước được. Nếu cậu không về được, chẳng đặng đừng, tôi cũng chỉ đành bất trung một lần."

Ý ông ta là nếu lúc đó Chu Nặc dấy loạn mưu phản, ông ta một cây làm chẳng nên non, đành phải hùa theo làm phản. Thế nhưng, lẽ nào chỉ vì Chu Nặc muốn làm phản mà giương mắt nhìn thành Phù Đôn bị xà nhân san phẳng sao? Cảnh tượng khói lửa ngút trời, thây chất đầy đồng khi xà nhân phá vỡ thành Cao Thứu thuở trước lại như hiện rõ mồn một trước mắt tôi.

Không, bất luận thế nào, tôi nhất định phải thắng trận trở về.

Tôi thầm thề độc trong lòng. Đào Thủ Chuyết bỗng nhiên nói: "Sở tướng quân, cậu vẫn chưa tới gặp Ngọc tiểu thư nhỉ? Tối nay ghé qua chút đi."

Tôi cười: "Thân mình còn chưa biết giữ nổi không, lẽ nào lại đi lưu lại giọt máu? Đợi về rồi hãy tính."

Ông ta cũng bật cười. Nhưng vừa nghe ông ta nhắc tới Tiêu Tâm Ngọc, tôi chợt giật mình nhớ ra, nét mặt Tiêu Tâm Ngọc mang máng giống nàng, cách ăn mặc và ngón đàn tỳ bà lại y như đúc, rõ ràng là Đào Thủ Chuyết cố tình tìm đến để chiều theo sở thích của tôi. Nhưng chuyện về nàng, sao Đào Thủ Chuyết lại có thể hay biết?

Vốn dĩ tôi đã nảy sinh vài phần hảo cảm với Đào Thủ Chuyết, nhưng lúc này toàn thân lại như ngâm trong nước đá. Tôi ngỡ mình đã nhìn thấu tâm tư của Đào Thủ Chuyết, ngờ đâu ngay từ đầu, nhất cử nhất động của tôi đều nằm trong dự liệu của ông ta. Con người này rốt cuộc câu nào là thật, câu nào là giả? Chưa biết chừng, kẻ thực sự muốn tạo phản lại chính là ông ta, chỉ muốn mượn tay tôi trừ khử Chu Nặc mà thôi.

Càng nghĩ tôi càng thấy rợn người, vừa rồi Đào Thủ Chuyết trông còn hòa nhã dễ gần, giờ đây lại biến thành kẻ thần bí khôn lường, khắp người tôi lạnh toát, phải gắng gượng lắm mới không run lên cầm cập.

Từ Tiền Phong Doanh chọn ra hai trăm dũng sĩ cảm tử, Tiền Văn Nghĩa nằng nặc đòi ghi tên mình vào. Ban đầu tôi định để Tào Văn Đạo đi cùng, một mặt là tôi vẫn chưa hoàn toàn yên tâm về Tiền Văn Nghĩa, mặt khác xét về việc thống lĩnh ba quân, Tào Văn Đạo dẫu sao vẫn có phần chưa biết nặng nhẹ nông sâu, thiếu nét già dặn của Tiền Văn Nghĩa. Nhưng hắn nhất quyết đòi đi, tôi đành tạm giao quyền thống lĩnh lại cho Tào Văn Đạo, dặn dò gặp chuyện phải bàn bạc kỹ với mọi người, chớ có độc đoán làm càn.

Xưởng mộc của Chu Nặc quả có mấy tay thợ giỏi, chỉ trong một đêm đã đóng xong ba trăm cỗ hải mã, y cũng đã sai người đào một hồ nước nông trên bãi đất trống, dẫn nước vào ngâm đất nhão nhoét, lại phủ thêm một lớp bùn sông, khung cảnh gần như bãi lầy thực thụ. Tôi dẫn hai trăm dũng sĩ cảm tử tới đó luyện tập, khiến dân chúng xung quanh kéo đến vây xem đông nghịt. Họ chẳng hiểu chúng tôi đang làm gì, thi nhau đoán già đoán non.

Hải mã không khó dùng, lại thêm Tiền Văn Nghĩa thuở nhỏ đã quen chân, chúng tôi luyện hai ngày là đã có thể lướt đi thoăn thoắt. Quân sĩ Tiền Phong Doanh ai nấy đều vạm vỡ cường tráng, e rằng trượt còn nhanh hơn cả những người cào sò năm xưa Tiền Văn Nghĩa từng thấy. Tập xong, khắp người bết bát bùn hôi thối, Chu Nặc dứt khoát niêm phong luôn khu nhà tắm của Lai Nghi Quán để chúng tôi độc quyền sử dụng.

Tôi ngả mình trong gian phòng tắm đơn của Lai Nghi Quán, thấm ướt khăn bông vắt ngang trán, tận hưởng cảm giác khoan khoái như muốn rã rời từng khúc xương. Địa đạo của xà nhân đã đào được một nửa, ngày mai chúng tôi buộc phải xuất phát, bằng không sẽ không còn kịp nữa. Nằm trên lớp sỏi dưới đáy bể, giữa làn hơi nước mịt mù, trước mắt tôi dường như lại hiện lên bóng hình nàng, chỉ có điều nét mày khóe mắt đã nhạt nhòa, như cách một lớp sương mù che phủ.

Giờ này nàng đang làm gì? Phải chăng đang được Đế quân hay Thái tử sủng hạnh? Lòng tôi quặn thắt như dao cắt, thực sự không nỡ nghĩ tiếp, nhưng tôi biết đó lại là điều dễ xảy ra nhất.

Cái đế quốc chết tiệt này, nếu sụp đổ, tôi tuyệt chẳng mảy may tiếc nuối. Dẫu nằm bất động, ngọn lửa giận trong lòng tôi vẫn bùng bùng bốc cháy. Tôi xin Chu Nặc xuất trận, cũng chính vì sau khi mất nàng, tôi chẳng còn tìm thấy niềm vui sống. Trong đời tôi ngoài chém giết và chiến đấu vô hồi kỳ trận thì còn lại thứ chi? Có lẽ, trong tôi đã âm ỉ nỗi tuyệt vọng muốn buông xuôi tất cả, chỉ là bản thân chưa nhận ra. Cũng chỉ trong căn phòng nhỏ ngập tràn hơi nước này, những ý nghĩ bình nhật chẳng bao giờ dám tơ tưởng mới đột ngột trào dâng.

Tôi bóp chặt một hòn sỏi dưới đáy bể. Đám sỏi được lát ngay ngắn phẳng phiu, vậy mà dưới tay tôi dường như bắt đầu lung lay. Máu huyết trong người như gầm rít cuộn trào khắp các kinh mạch, giá như lúc này Thái tử xuất hiện trước mặt, tôi nhất định sẽ đập nát đầu hắn.

Trong cõi mơ màng, dường như gương mặt thanh nhã tuấn tú của Thái tử cũng dần hiện ra.

Kẻ bất tài vô dụng này, chỉ vì mang dòng máu hoàng thân quốc thích là có thể ngồi mát ăn bát vàng, đứng trên vạn người sao? Biết bao chiến sĩ xông pha trận mạc vào sinh ra tử, lẽ nào chỉ vì để bảo vệ loại người như hắn? Tôi trừng mắt nhìn ảo ảnh, dẫu biết đó không phải người thật, tôi vẫn tung một chưởng đánh tới.

"Vù" một tiếng, hơi nước bị kình lực đánh dạt ra cuồn cuộn như mây mù, trong chớp mắt tôi nghe thấy tiếng ai đó bật cười khẽ một tiếng "xì". Nghe thấy âm thanh ấy, cả người tôi lạnh toát, quát lớn: "Ai ở đó?"

Xung quanh tịnh không một bóng người, căn phòng nhỏ này chỉ có một lỗ thông gió, ngọn đèn dầu treo bên cạnh le lói trong màn hơi nước mù mịt. Tôi đứng bật dậy, thò tay định chụp lấy thanh Bách Tích Đao bên cạnh, bỗng nghe một giọng nói trầm thấp vang lên: "Đừng nhọc công vô ích."

Tay tôi lập tức khựng lại không nhúc nhích nổi, như bị bóng đè, toàn thân cứng đờ như một khối đá. Đây đúng là triệu chứng trúng phải Nhiếp Tâm Thuật, đầu óc tôi trống rỗng, chốc lát chẳng nhớ nổi mình đang ở chốn nào. Trong cơn mê muội, một bóng người dần hiện ra giữa làn sương khói.

Đó là một người dáng vóc rất thấp bé. Dù chỉ cách vài thước, nhưng hơi nước quá dày đặc, tôi chỉ lờ mờ thấy được hình bóng đối phương. Người đó cười khẽ: "Làm một con người, ngươi cũng tính là kẻ lợi hại."

Người đó khen tôi, nhưng tôi chẳng hề thấy đắc ý. Thân thể dường như không còn là của mình, hoàn toàn không cử động được. Tôi cố định thần, lặng lẽ điều hòa hơi thở. Tuyệt đối là Nhiếp Tâm Thuật rồi, tôi nghĩ bụng nếu làm theo cuốn "Đạo Đức Tâm Kinh" mà Chân Thanh Tử trao cho, biết đâu chừng có chút tác dụng.

Đó là một lão nhân, giọng nói mờ ảo mà trầm đục. Lão đứng bất động bên kia hồ nước, nói khẽ: "Xà nhân mắt không nhìn được xa, Sở tướng quân, ngày mai xuất chinh, ngươi có thể ra tay từ điểm này."

Theo từng nhịp thở dần đều đặn, tôi cảm thấy các ngón tay dường như bắt đầu cử động được, nhưng nghe lời lão nói, tôi lại ngẩn người ra.

Hèn chi xà nhân trước nay chưa từng dùng cung tên, hóa ra mắt chúng chẳng nhìn được xa. Tôi bừng tỉnh đại ngộ, niềm vui sướng trong lòng khôn xiết tả. Nếu đúng như vậy thì phần thắng của chúng tôi lại tăng thêm nhiều phần, mà lão nhân này hóa ra lại đến để giúp tôi. Tôi cũng không thốt nên lời, đột nhiên ngón tay giật mạnh, tôi rút thanh Bách Tích Đao ra khỏi vỏ nhanh như chớp, toàn thân lập tức nhẹ bẫng, nhưng trước mắt lại hoa lên, chớp mắt xung quanh lại trống không.

Lại là ảo giác sao? Tôi cầm đao đứng trơ trọi trong hồ nước, nhưng trước mắt chẳng có thứ gì, dường như lão nhân kia chỉ do làn khói ngưng tụ thành, thoáng chốc đã tan biến vào không khí. Tôi ngơ ngác đứng giữa làn nước, nhưng giọng nói của lão nhân vẫn còn văng vẳng bên tai, rõ ràng không phải là tôi tưởng tượng ra.

Lão nhân này chính là người tôi từng gặp ở thành Đông Bình. Lúc thu phục Phi Vũ nghe thấy lời lão, tôi cứ ngỡ chỉ là ảo giác của mình, nhưng giờ đã là lần thứ hai rồi. Rốt cuộc người này là ai?

Sáng hôm sau, trời vừa tờ mờ sáng, tôi và hai trăm dũng sĩ cảm tử đã chuẩn bị tề chỉnh, sẵn sàng xuất phát. Trận này đến chính lòng tôi cũng chẳng chắc phần thắng. Trên đầu thành, Chu Nặc và Đào Thủ Chuyết rảo bước tới, cả hai đều vận quân phục oai nghiêm, Chu Nặc rót một chén rượu nói: "Sở tướng quân, chúc trận này mã đáo thành công."

Tôi nhìn về phía đông. Doanh trại tạm thời của xà nhân dựng trên bãi lầy cũng bắt đầu rục rịch, chúng lại sắp sửa đào địa đạo. Tôi đỡ lấy chén rượu đặt lên mặt tường thành, đáp: "Chu Đô đốc, đợi tôi trở về sẽ cạn chén rượu này."

Tôi quay người quát lớn với đám dũng sĩ cảm tử sau lưng: "Các anh em, lúc đi hai trăm người, lúc về cũng phải đủ hai trăm người, xuất phát!"

Cửa đông hiện tại vẫn chưa dám mở, tôi bảo Tiền Phong Doanh thả dây thừng từ trên tường thành xuống rồi đu người leo xuống dưới. Điều tôi sợ nhất lúc ban đầu là bị xà nhân phát giác hành tung, nếu chúng tôi vừa xuống tới nơi đã bị chúng đón đầu đánh phủ đầu thì cầm chắc cái chết không chốn dung thân. Xà nhân mắt đã không nhìn xa được, chúng tôi lại mặc quần áo cùng màu với tường thành, hẳn là chúng không phát hiện ra.

Đợi cả hai trăm người trèo xuống hết, tôi hạ giọng: "Xuất phát!"

Tôi đạp một chân lên hải mã, chân kia đạp mạnh một cái, cả người lao vút đi như mũi tên, bên tai chỉ nghe tiếng gió rít ù ù. Tốc độ này thậm chí chẳng kém gì tuấn mã phi nước đại, tôi nghe tiếng Chu Nặc trên thành dặn với theo: "Bảo trọng." Ngoảnh đầu nhìn lại, chỉ thấy y đang vịn tay vào mặt tường đá nhìn theo chúng tôi.

Lau sậy trên bãi lầy phần lớn đã khô héo, chúng tôi nhắm hướng đông bắc tiến tới, đi được một đoạn, còn chừng vài trăm bước nữa là tới bờ sông, tôi ra hiệu dừng bước: "Đợi một chút."

Tiền Văn Nghĩa lướt tới bên cạnh tôi: "Sở tướng quân, tới rồi ư?"

Tôi gật đầu: "Phía trước chắc là nó đấy. Mang đồ lại đây."

Mấy tên lính bước tới cởi bọc hành lý trên lưng ra mở toang. Bên trong là nửa con cừu còn rỏ máu tươi ròng ròng. Đây là thịt vừa mổ xong trong đêm, tôi hỏi: "Ai dám cùng ta đi?"

Hai tên lính xung phong: "Chúng tôi đi! Sở tướng quân, ngài cứ ở lại đây."

Tôi gật đầu: "Được, cẩn thận đấy." Hiện giờ tôi chưa thể mạo hiểm, cứ để họ đi trước thăm dò. Hai người ôm tảng thịt cừu đạp mạnh một cái, thân hình phóng vụt đi như tên bắn. Họ lướt rất nhanh, tôi siết chặt nắm đấm, trái tim đã treo lơ lửng trên cổ họng.

Thành bại của việc này phụ thuộc cả vào nước cờ này. Nếu việc này hỏng thì về sau chẳng còn cách nào nữa. Tôi dõi mắt nhìn họ lướt đi như bay, chợt Tiền Văn Nghĩa kêu lên: "Sở tướng quân, ngài nhìn kìa!"

Nước sông Áp Long đang cuộn sóng cuồn cuộn, chảy xiết không ngừng, từng đợt sóng vỗ dồn dập vào bờ. Hai tên lính đang cắm đầu lao tới, nhưng họ không nhận ra ở một góc bên cạnh bọt nước đang sủi lên ùng ục. Tôi sốt ruột như lửa đốt, bỗng thấy hai người nghiêng mình, quăng mạnh hai tảng thịt cừu về phía trước rồi quay ngoắt đầu chạy ngược lại.

Họ vừa vứt tảng thịt xuống, dải bãi lầy đằng kia lập tức chao đảo dữ dội, đợi họ chạy xa được chừng một trượng, vũng bùn ấy bỗng sôi sục lên như nước sôi lửa bỏng, bùn nước văng tung tóe. Một tên lính quay đầu nhìn lại, mặt đã lộ vẻ mừng rỡ, nhưng chưa kịp quay mặt lại thì đột nhiên dưới chân vang lên một tiếng nổ ầm, một bóng đen khổng lồ gớm ghiếc từ trong bùn nước phóng thẳng lên, quắp gọn lấy hắn lôi tuột vào. Tên lính còn lại cũng bị chấn động ngã lăn quay ra đất, mặt cắt không còn giọt máu.

Đó là một con đà long khổng lồ. Đà long bình thường dài chừng sáu bảy thước, nhưng con này dài tới ba trượng, chẳng khác nào quái vật bước ra từ cơn ác mộng. Tên lính bị quật ngã nằm gọn trong mồm đà long, gào thét thảm thiết đến xé ruột xé gan. Con đà long ngoạm chặt lấy hắn, ngẩng đầu lắc mạnh hai cái, máu tươi phun xối xả như mưa rào, tưới ướt sũng cả người tên lính bên cạnh. Ngay sau đó, con quái thú há mồm nuốt chửng nạn nhân vào bụng.

Tất cả mọi người đều chết lặng vì kinh hãi. Nhìn từ xa không thấy đà long đáng sợ đến mức nào, nhưng giáp mặt ở khoảng cách gần thế này mới thấu hiểu sự khủng khiếp của loài dị thú này. Toàn thân đà long phủ một lớp vảy dày như giáp sắt, trên lưng mọc một hàng gai nhọn tua tủa, lại to lớn dị thường, đột ngột xông ra như vậy quả thực không giống sinh vật chốn nhân gian.

Tôi chẳng kịp nghĩ ngợi nhiều, gào lớn: "Chạy mau!" Tên lính ngã sõng soài mới sực tỉnh hồn vía, đạp mạnh một cái phóng vọt đi. Hắn vừa lao ra thì sau lưng một con đà long khác đã bổ nhào tới, vuốt nhọn sượt qua lưng hắn cào vào khoảng không, bùn đất bắn tung tóe tứ phía. Con đà long này không to bằng con đang nuốt người ban nãy, nhưng cũng dài chừng năm sáu thước, ở trong bùn nước lại càng thêm phần linh hoạt. Tôi ngoảnh lại hô lớn: "Mọi người cẩn thận, mau rút!"

Mỗi người chúng tôi đều mang theo một tảng thịt cừu nặng ba bốn cân, trên miếng thịt buộc sợi dây mảnh, quay đầu tháo chạy, những tảng thịt máu me đầm đìa kéo lê trên mặt đất để lại một vệt máu dài ngoằng. Đà long ngửi thấy mùi máu tanh càng thêm phát cuồng, hai tảng thịt quẳng xuống trước đó đã bị lũ đà long xâu xé sạch trơn, lúc này từ dưới sông vẫn liên tục có thêm đà long trườn lên đuổi theo chúng tôi. Có điều đà long trong bùn tuy nhanh nhưng không sao sánh bằng hải mã lướt đi như gió, khoảng cách ngày càng bị kéo giãn ra. Thấy lũ đà long trườn đuổi có phần mệt mỏi, dừng lại không rượt nữa, tôi vội ghìm cả đội lại, bảo mọi người chờ một chút.

Lúc này một tên lính chợt kêu lên: "Thống chế, xà nhân kéo tới rồi!"

Chúng tôi vừa đi vừa dừng, lúc này chỉ còn cách doanh trại tạm của xà nhân vài trăm bước. Số xà nhân mò ra không nhiều, chỉ chừng hai ba mươi tên, chúng cũng trườn trong bùn nước, vừa đi vừa lắc lư cái đầu sang hai bên như đang đánh hơi trong không khí, chắc hẳn nghe thấy tiếng động lạ nhưng mắt vẫn chưa nhìn rõ. Tôi nghiến răng dặn: "Hết sức nén tiếng động lại, lát nữa xuyên qua doanh trại xà nhân tuyệt đối không được ham chiến."

Tôi bảo vài người vứt bớt thịt cừu xuống, rồi từ tốn trượt tới trước. Lúc này chỉ còn cách trại xà nhân hai trăm bước, đã có thể nghe thấy tiếng đào bới vang lên từ dưới lòng đất, địa đạo của chúng phần lớn nằm ngay dưới chân chúng tôi. Tôi gầm lên: "Ra tay!"

Chúng tôi ban đầu đi hai trăm người, giờ mất một, chỉ còn lại một trăm chín mươi chín, trong khi xà nhân trên bãi lầy có gần hai ngàn tên. Nếu tấn công trực diện thì chẳng khác nào nộp mạng, bởi thế chủ ý của tôi là dùng thịt tươi dụ đà long tới để lũ quái thú quấy chân xà nhân, sau đó chúng tôi sẽ phá hủy địa đạo của chúng. Cho tới lúc này mọi việc vẫn coi như thuận lợi, dù lời hứa "cùng đi cùng về" tôi thốt ra lúc xuất phát đã không thể giữ trọn, nhưng nay đã tới thời khắc then chốt, không được phép xảy ra chút sai sót nào.

Theo hiệu lệnh của tôi, mọi người đồng loạt phát lực, lao vút tới như bay. Mấy chục tên xà nhân đi tuần tra chắc đã nhìn rõ bóng dáng chúng tôi, nét mặt chúng lộ vẻ ngơ ngác nhưng không hề hoảng loạn, từng tên siết chặt binh khí trong tay. Có lẽ chúng nghĩ ngần này người chúng dư sức tiêu diệt gọn gàng.

Để tiện bề xoay xở, tôi không mang trường thương, quân sĩ lần này mang thương cũng chẳng mấy ai, đa phần chỉ mang theo đoản đao. Dùng đoản đao đấu với đại đao trường thương của xà nhân dĩ nhiên chẳng có cửa thắng, tôi cũng không muốn giáp chiến với chúng, chân dồn sức, xông thẳng về phía một tên xà nhân trước mặt. Xà nhân chắc chắn không ngờ chúng tôi lại nhanh đến thế, chúng ở bãi lầy vốn rất linh hoạt, nhưng so với tốc độ của hải mã thì thua xa vạn dặm. Lúc tôi lao tới trước mặt tên xà nhân đi đầu, ngọn thương của nó còn chưa kịp giương lên, trong tròng mắt ngập tràn vẻ hoang mang. Cách nó chừng năm thước, chân trái tôi đạp mạnh một cái, cỗ hải mã đang lao vun vút bị tôi bẻ ngoặt sang bên, bùn nước dưới tấm ván bắn tung tóe sang mạn trái. Tôi nghiến chặt răng, nhắm chuẩn cần cổ tên xà nhân, chuyển thanh Bách Tích Đao sang tay trái cầm ngược, lưỡi đao hướng ra ngoài, chém phăng một nhát cực mạnh. Gần như sượt sát thân hình xà nhân mà lướt qua, bên tai tôi chỉ nghe tiếng lưỡi sắc rạch toạc da thịt, tên xà nhân hét thảm một tiếng, nửa thân trên đang ngóc cao đổ vật sang một bên.

Nhát đao này rạch một đường sâu hoắm trên cổ nó, máu tươi bắn xối xả, nhuộm đỏ cả một khoảng bãi lầy xung quanh. Vết thương tuy chưa lấy mạng nó ngay nhưng cũng khiến nó mất sạch sức đánh trả. Tôi giơ cao thanh Bách Tích Đao thét lớn: "Xông lên!"

Các chiến sĩ Tiền Phong Doanh phía sau đều đã ập tới. Đám xà nhân bị chúng tôi đánh cho trở tay không kịp, chốc lát tiếng la hét thảm thiết rộ lên khắp nơi. Trong đó có cả tiếng của xà nhân lẫn của binh lính Tiền Phong Doanh. Tôi đánh úp xà nhân lúc chúng chưa kịp phòng bị, nhưng những binh lính theo sau thì không gặp may như thế. Xà nhân tuy chẳng hiểu vì sao chúng tôi có thể lướt nhanh như bay trên bùn lầy, nhưng đòn phản kích sau đó của chúng lại sắc bén vô cùng.

"Á!"

Một tiếng thét thảm thiết vang lên ngay sát cạnh tôi, một binh sĩ bị trường thương của xà nhân đâm xuyên bụng nhấc bổng lên không trung, người lơ lửng giữa trời, chưa chết hẳn, vẫn còn co giật liên hồi trên mũi thương. Tôi giận dữ quát to, toan xông lên thì Tiền Văn Nghĩa bỗng từ bên cạnh lao vút ra, chém một đao vào cánh tay tên xà nhân. Ngọn thương của nó vẫn còn xiên người, nhất thời không rút ra được, liền vung mạnh cán thương quét ngang. "Keng" một tiếng chát chúa, đao của Tiền Văn Nghĩa chém trúng cán thương, tên xà nhân hất tay một cái, cái xác trên mũi thương văng ra ngoài, máu tươi bắn tung tóe khắp trời. Nó đảo mũi thương toan quét ngang sang người Tiền Văn Nghĩa. Tiền Văn Nghĩa sau cú chém bị chặn thì thân hình lảo đảo, xem chừng đứng không vững, làm sao né nổi ngọn thương này. Thấy tình thế nguy cấp, tôi chẳng kịp nghĩ ngợi, chân trái đạp mạnh, chuyển đao sang tay phải, quát lớn: "Chết đi!"

Tôi vừa xông tới trước mặt nó thì Tiền Văn Nghĩa bỗng nhảy vọt lên cao. Vì dưới chân vướng hải mã nên hắn chỉ dùng được một chân để phát lực, vậy mà vẫn bật cao tới hơn ba thước, ngọn thương của xà nhân vừa vặn quét hụt dưới chân hắn. Hắn né được nhát thương này, lúc rơi xuống lại chuẩn xác không lệch một li, bàn chân xỏ gọn vào bao da trên hải mã. Chỉ có điều tôi đã lao tới trước mặt xà nhân, ngọn thương quét ngang liền nhắm thẳng vào ngang hông tôi ập tới.

Sức lực của xà nhân lớn đến kinh người, ngọn thương này mà quét trúng thì e rằng tôi sẽ bị chém đứt làm hai đoạn. Giờ muốn nhảy lên cũng không kịp nữa, tôi kinh hãi tột độ, thế thương đến quá đỗi bất ngờ, chẳng kịp suy nghĩ gì nhiều, tôi vươn tay trái chụp chặt lấy cán thương, chỉ thấy cánh tay tê rần một cái "ong", cả người bám vào cán thương bị quét trượt bắn ra xa.

May sao, không hề bị thương tích.

Trong cơn nguy cấp tôi thở phào một tiếng, nhưng giờ đây bị tên xà nhân hất đi vạch thành một nửa vòng tròn trên mặt đất, tôi chỉ gượng gạo đứng vững. Tôi cũng hoàn toàn chẳng ngờ sự thể lại chuyển biến ra nông nỗi này, sức xà nhân quá khỏe, tôi bám vào cán thương, lúc bị hất văng đi tốc độ còn nhanh hơn cả tự mình trượt. Tôi trượt một vòng nhỏ trên bãi bùn, đang lúc hoang mang thì Tiền Văn Nghĩa đã lao tới bên cạnh nó, một đao đâm thẳng vào ngực tên xà nhân. Con quái này cũng thực dai sức, gầm lên một tiếng, giật mạnh ngọn thương lại, xem chừng muốn dùng thương đâm chết Tiền Văn Nghĩa. Nhưng nó quên mất tôi vẫn đang túm chặt cán thương, cú giật tay của nó vô tình kéo cả tôi áp sát lại gần. Cơ hội ngàn năm có một, tôi nhắm ngay mạn sườn nó, chẳng đợi nó thu thương về, chân trái lại đạp mạnh, cả người lao đi vun vút như lốc xoáy, "rầm" một tiếng húc thẳng vào hông nó, thanh Bách Tích Đao trong tay đồng thời đâm ngập tới tận chuôi. Tên xà nhân dẫu mình đồng da sắt cũng không chịu nổi hai đòn trọng thương liên tiếp, thân hình cứng đờ bất động, khựng lại một thoáng rồi đổ rầm xuống. Tôi thừa cơ rút đao ra khỏi thân thể nó, mũi đao cắm quá sâu như bị kẹp chặt, rút ra vô cùng tốn sức. Vừa rút được đao ra, từ vết thương máu lại phụt xối xả, nhuộm đỏ cả nửa người tôi.

Tôi quệt tay lên mặt lau bớt mồ hôi. Trên tay dính đầy máu, quệt thế này khéo mặt mũi nhem nhuốc hết cả. Nhìn xác tên xà nhân bên cạnh mà lòng tôi vẫn còn run sợ, bỗng nghe Tiền Văn Nghĩa thất thanh hô lớn: "Chạy mau! Đà long tới rồi!"

Chúng tôi dọc đường vứt lại thịt cừu, lũ đà long ăn mồi ngon trớn nên trườn đuổi ngày một gần. Dù đà long chậm hơn chúng tôi nhiều, nhưng trong bùn nước lại vô cùng linh hoạt. Đánh hơi thấy mùi máu tanh nồng, một con đà long dẫn đầu chồm lên, vồ lấy một tên xà nhân đang giằng co với binh sĩ bên cạnh. Tên xà nhân đó vốn đã đâm chết người lính, không ngờ lại chui ra thứ quái vật này, bị đà long cắn chặt ngang eo, đau đớn cuộn tròn thân mình lại siết chặt lấy đà long. Thế nhưng vảy đà long cứng như giáp sắt, dù lực siết của xà nhân đủ nghiền nát cả tấm ván gỗ cũng chẳng mảy may suy chuyển được nó. Con đà long ngoạm chặt eo xà nhân, chốc chốc lại ngước đầu lên toan nuốt chửng con mồi. Tên xà nhân trong miệng quái thú gào thét thảm thiết không ngừng, bỗng tiếng gào im bặt, một tiếng "rắc" vang lên ghê rợn, tên xà nhân bị cắn đứt đôi ngang hông, nửa thân dưới vẫn giãy giụa trong bùn nước, nửa thân trên chẳng còn lại bao nhiêu nhưng miệng vẫn không ngừng há hốc.

Tôi quát lớn: "Đừng ham chiến, rút mau!"

Chỉ trong chớp mắt ấy, bầy đà long đã ồ ạt tràn tới, hai trăm dũng sĩ cảm tử chớp mắt đã ngã xuống ba bốn chục người, phần lớn bị xà nhân đâm chết, cũng có người bị đà long đuổi kịp cắn chết. Lũ đà long sức mạnh vô song, xà nhân sức đã lớn rồi nhưng so với đà long thì vẫn kém xa. Tôi chẳng kịp nói nhiều, chân đạp mạnh, dẫn đầu lướt vút đi.

Lúc này xà nhân cũng nhận ra thế trận bất ổn, cầm vũ khí xông lên nghênh chiến. Cách chúng chừng năm sáu trượng, tôi không dám xông bừa tới nữa, vung tảng thịt cừu trong tay ném thẳng vào khu lều trại tạm của chúng. Tiếng vù vù rộ lên, gần như cùng lúc tất cả mọi người đều quẳng thịt cừu ra, đám xà nhân chắc cũng ngơ ngác, chẳng hiểu hành động quái đản này là gì. Có tên phóng thương đâm trúng một tảng thịt, giơ lên trước mắt ngó nghiêng muốn nhìn cho rõ rốt cuộc là thứ gì, lại có không ít tên bị tảng thịt ném trúng, máu cừu dính đầy khắp người.

Vứt thịt xong, Tiền Văn Nghĩa đã lướt tới bên cạnh: "Sở tướng quân, mau rút thôi."

Tôi ngoái nhìn bầy đà long phía sau, chúng vẫn đang giằng co với đám xà nhân xông ra, quần thảo lộn nhào, bên tai chỉ nghe tiếng gầm thét như sấm rền, bùn nhão bắn tung tóe tựa hồ sôi sục. Xà nhân bị đà long ngoạm trong mồm, đau quá liền lấy thân quấn chặt mõm quái thú, liều mạng dùng vũ khí đâm điên cuồng vào thân thể nó. Lớp giáp vảy của đà long quá dày, xà nhân sức lớn cũng khó lòng đâm thủng, nhưng khi lớp vảy bị xuyên rách, đà long cũng đau đớn quằn quại trong bùn nước, đè cả tên xà nhân đang cắn dìm sâu xuống bùn rồi lại trồi lên, nhìn từ xa chẳng khác nào một khối bùn khổng lồ đang ngọ nguậy. Tôi nghiến răng: "Cầm cự thêm chút nữa, đà long vẫn chưa tràn qua hết."

Nếu xà nhân đồng lòng phản kích, đà long có thể sẽ bị đánh đuổi, thế thì công cốc. Dẫu biết nán lại đây thêm một khắc là thêm một phần nguy hiểm, nhưng tôi vẫn phải cắn răng gượng chống. Tôi ngoái nhìn thành Phù Đôn phía sau, từ xa chỉ thấy đầu tường đứng chật ních người, chắc hẳn họ cũng đang dõi theo chúng tôi.

Chưa biết chừng trận này chẳng thể sống sót trở về, liều một phen vậy. Tôi nhìn quanh, cách đó không xa có một ngọn trường thương do xà nhân đánh rơi, liền nhặt lên hô lớn: "Các anh em, sống chết có số, hãy cho lũ yêu thú này thấy Tiền Phong Doanh là những trang hảo hán thế nào!"

Tiền Phong Doanh lúc này chỉ còn lại chừng một trăm năm sáu mươi người, họ đồng thanh thét lớn: "Nguyện nghe hiệu lệnh của Thống chế!"

"Bất luận thế nào cũng phải trụ vững thêm chút nữa, đà long tràn tới là chúng ta rút ngay!"

Nói dứt lời, tôi thò tay vào ngực áo rút ra một lá cờ đỏ nhỏ, vẫy vẫy về phía đầu thành, lại hạ giọng bảo: "Tiền Văn Nghĩa, huynh dẫn thêm mười người mau đi tìm lỗ thông gió của xà nhân, nhanh lên!"

Hắn gọi mười người lập tức lao về phía sau, lúc này đã có xà nhân tiến tới gần, tôi hô lớn: "Kết trận!"

Bát Trận Đồ tuy chưa luyện thành thục, nhưng dẫu sao cũng đã diễn tập một dạo, những người còn lại lập tức áp sát lại, vây quanh tôi kết thành một trận hình tròn. Tuy trên bãi lầy đứng chân không vững, Bát Trận Đồ này xiêu vẹo chẳng ra quy củ, nhưng trận hình vẫn thành hình, dẫu sao vẫn hơn là túm tụm hỗn loạn một chỗ. Lúc này đã có xà nhân lao tới, tên đi đầu cầm đại thương đâm thẳng vào chúng tôi. Trong mắt nó, chúng tôi co cụm lại thế này chẳng khác nào tự tìm đường chết. Nhìn ngọn thương của nó đâm tới như tia chớp, tôi quát lớn một tiếng, cổ tay rung lên, mũi thương múa thành một đóa hoa thương bọc chặt lấy thương của nó. Sức tôi tự nhiên không bằng xà nhân, vừa cuốn lấy ngọn thương đối phương, cánh tay tôi tưởng chừng như muốn gãy lìa. Tôi biết mình chỉ có thể gượng chống trong chốc lát, ngay lúc ngọn thương của xà nhân dùng thế dời non lấp biển hất ngược lên, các binh sĩ phía sau thoắt tách thoắt hợp, đã tiếp sức giúp tôi tước lấy ngọn thương của nó. Tên xà nhân không ngờ chúng tôi còn ngón này, liền bị kéo giật cả người lẫn thương nhao tới. Vừa lọt vào giữa đám đông, chỉ nghe nó rú lên thảm thiết, chẳng biết trúng bao nhiêu nhát đao, bị băm vằm nát bấy thành một đống thịt vụn.

Bát Trận Đồ chúng tôi chưa luyện thuần thục, đối phó một tên thì còn phát huy được hiệu quả kỳ binh, chứ nếu cả đàn xà nhân ập tới thì chúng tôi chống đỡ không nổi. Thế nhưng việc tên xà nhân kia bị chém chết sạch ghẽ mà không kịp trở tay đã trấn áp được lũ phía sau, chúng sững lại, trố mắt nhìn chúng tôi. Mắt xà nhân toàn màu vàng nhạt, mang vẻ nham hiểm độc địa của loài bò sát, nhìn vào mắt chúng, tôi cảm giác tim mình như ngừng đập trong thoáng chốc, những binh sĩ khác cũng nín thở không dám thở mạnh, cứ như thể phe vừa bại trận ban nãy là chúng tôi vậy.

Đột nhiên, đám xà nhân lại rít lên một tiếng chói tai, điên cuồng lao tới. Tôi giật thót tim, gào to: "Chống giữ!" Đà long vẫn chưa qua tới đây, nhưng đám xà nhân cản đường đa phần đã bị cắn chết, bất luận thế nào chúng tôi cũng phải ráng chống đỡ thêm một chút.

Tựa hồ mặt trời bỗng nhiên biến mất, đất trời đảo lộn, bên tai tôi chỉ nghe tiếng gào thét thảm thiết của người lẫn xà nhân, cùng tiếng gầm rống của bầy đà long cách đó không xa. Bát Trận Đồ của chúng tôi tuy công thủ toàn diện, nhưng lần này xà nhân xông lên có tới hơn ngàn tên, ken đặc cả một vùng bãi lầy. Lúc đầu mấy tên xà nhân xông vào còn bị trận hình của chúng tôi nghiền nát, nhưng trước những đợt xung kích liều mạng của chúng, chúng tôi lập tức không chống đỡ nổi. May sao binh sĩ Tiền Phong Doanh không ai là kẻ yếu nhược, dẫu lùi bước nhưng đội ngũ vẫn không hề rối loạn, trận hình Bát Trận Đồ vẫn được duy trì. Lùi vài bước, tôi vừa gạt phăng một tên xà nhân xông lên thì nghe phía sau có tiếng kêu: "Đà long tới rồi!"

Sau khi cắn chết đám xà nhân chắn đường, bầy đà long cuối cùng cũng bò lên tới nơi. Trong đám xà nhân vương vãi đầy thịt cừu vụn hôi tanh nồng nặc, lũ đà long chắc chắn đã ngửi thấy. Dù tình thế của chúng tôi càng thêm nguy ngập, nhưng lòng tôi lại lóe lên tia mừng rỡ, gào to: "Tốt, mau rút!"

Tôi vốn muốn lệnh cho mọi người rút lui, nhưng lời vừa ra khỏi miệng đã biết mình nói hớ. Hiện tại chúng tôi bị xà nhân dồn ép không còn đường lùi, nếu giữ trận hình Bát Trận Đồ thì may ra còn cầm cự thêm được một lát, một khi trận hình rối loạn thì đến nửa khắc cũng chẳng chống đỡ nổi. Tiếng tôi vừa dứt, xung quanh đã vang lên một tràng thét thảm thiết của binh lính, họ nghe lệnh tôi vừa quay người toan rút chạy thì binh khí của xà nhân phía sau đã ập tới, chớp mắt lại ngã rạp thêm mười mấy người.

Lúc này số người còn lại chưa đầy một trăm, mà xà nhân cũng bỏ mạng mấy chục xác. Xà nhân ắt hẳn cũng tức tối vì vấp phải sự kháng cự ngoan cường đến thế, chúng như phát rồ tăng cường thế công, chân tay gãy nát bay lả tả giữa không trung, tôi chẳng còn phân biệt nổi đâu là của xà nhân, đâu là của Tiền Phong Doanh, cả vùng bãi lầy đã bị nhuộm thành một màu đỏ quạch.

Bát Trận Đồ đã vỡ vụn, tất cả binh lính đều phải đơn thương độc mã tự chiến đấu, nhưng đấu tay đôi thì làm sao chúng tôi là đối thủ của xà nhân. Binh sĩ lần lượt bị đâm ngã gục, những người còn lại càng thêm hỗn loạn. Tục ngữ có câu binh bại như núi lở, bất kể là đội quân thiện chiến nhất thiên hạ hay chỉ là đám ô hợp, khi bại trận tháo lui đều chẳng khác gì nhau, chẳng qua là trốn thoát được nhiều hay ít mà thôi. Tôi biết đại thế đã mất, dẫu có kết lại Bát Trận Đồ cũng chẳng ngăn nổi sự giáp công trước sau của cả đà long lẫn xà nhân, giờ đây chỉ có nước tháo chạy, thoát được người nào hay người nấy.

Tôi dồn chút tàn lực, phóng ngọn trường thương về phía tên xà nhân trước mặt. Ngay lúc nó nghiêng mình né tránh, tôi buông tay ném thẳng ngọn thương đi, quay người toan tháo lui. Vừa định đạp chân lướt đi thì dưới chân bỗng hẫng một cái, tôi giẫm phải một đoạn cánh tay cụt chẳng rõ của ai, cánh tay trơn trượt khiến tôi mất đà ngã nhào. Tôi chỉ thấy tim mình chìm nghỉm xuống đáy vực, sau lưng một luồng kình phong sắc lẹm đã rít lên ập tới. Tôi đang định xoay người liều mạng một phen với tên xà nhân thì chưa kịp quay đầu lại, bên tai đã rít lên một tiếng xé gió chói tai.

Đó là thương phong do mũi trường thương đâm ra. Thứ thương phong bực này, trong quân đội đế quốc chẳng mấy ai đâm ra nổi. Tôi vốn rất tự tin vào thương thuật của mình, nhưng mười lần đâm cũng chưa chắc có nổi một lần tạo ra luồng thương phong sắc bén nhường ấy. Tôi không kịp quay người, mượn đà nghiêng người sang bên, ngọn trường thương liền sượt qua dưới nách phải của tôi. Tôi kẹp chặt cánh tay phải giữ lấy cán thương, tay trái đã sớm rút sẵn chiếc thủ nỏ, chẳng thèm ngoái đầu, trở tay bắn ngược một phát nỏ. "Phập" một tiếng, thủ nỏ tầm bắn tuy không xa nhưng ở cự ly gần thế này thì giáp sắt cũng bị bắn thủng. Tôi chỉ nghe tên xà nhân rú lên một tiếng thảm thiết, còn bản thân thì như cưỡi mây đạp gió trượt vút đi trên mặt đất.

Phát nỏ này của tôi chắc chắn đã trúng chỗ hiểm của tên xà nhân phía sau, nó buông tay ném trường thương ra, vô tình đẩy cả người tôi văng đi. Trượt được mười mấy bước, thế thương đã cạn, tôi lảo đảo ngã sấp xuống đất, nhất thời chẳng gượng dậy nổi, nhưng bên tai đã nghe thấy tiếng gầm rống của đà long.

Đà long cuối cùng đã giáp chiến với xà nhân.

Một tên lính chạy thoát đưa tay đỡ tôi dậy: "Thống chế..." Hắn chưa dứt lời thì trước ngực đột nhiên lòi ra một mũi thương, hắn hét thảm một tiếng rồi tắt thở ngay tại chỗ. Đó là ngọn thương của một tên xà nhân đuổi kịp đâm tới. Cơn giận bốc lên ngùn ngụt, tay phải tôi vẫn chống dưới đất, chẳng buồn nhắm nữa, tay trái lại bóp cò bắn tiếp một phát nỏ. Chiếc thủ nỏ Tiết Văn Diệc đưa cho tôi chỉ có sáu mũi tên, bắn hết tên thì nỏ cũng thành phế vật, nhưng lúc này tôi chẳng màng được nữa, đến tính mạng sắp mất rồi còn tiếc rẻ thứ này làm chi?

Mũi tên sượt qua sát đầu tên xà nhân khiến nó giật nảy mình. Nó giật mạnh trường thương về, hai tay siết chặt rồi đâm thẳng vào tôi. Tôi ngã sõng soài trên đất, né thì không né nổi rồi, tôi dứt khoát không thèm tránh nữa, bình tâm lại nhắm thẳng vào ngực nó. Mắt thấy ngọn thương của xà nhân sắp giáng xuống, chỉ một nhát là đâm thủng người tôi, ngón tay tôi bóp cò, đúng lúc nó dồn lực đâm tới thì một mũi tên đã xé gió bay đi, cắm phập vào giữa ngực nó.

Tên xà nhân chắc chắn không ngờ chiếc thủ nỏ của tôi lại có thể bắn liên tiếp, mũi tên này cắm ngập đến tận đuôi lông vũ, đến máu cũng chưa kịp trào ra. Nó cúi nhìn lồng ngực rồi đổ ầm xuống. Vì nửa thân dưới của xà nhân kéo lê trên mặt đất nên lúc ngã cũng chúi về phía trước, "rầm" một tiếng đập ngay cạnh người tôi, bùn nước bắn tung tóe đầy cả người tôi.

Lúc này đại đội xà nhân phía sau đã bị bầy đà long chặn lại, quần thảo cuồn cuộn, bùn nhão bắn lên đều đã ngả sang màu đỏ. Đuổi kịp chúng tôi chỉ có mười mấy tên xà nhân, trong khi chúng tôi vẫn còn vài chục người, nếu lúc này phát động phản kích thì chưa hẳn không thể thủ thắng. Chỉ có điều tất cả mọi người đều đã bị sức mạnh cuồng bạo của xà nhân dọa cho hồn xiêu phách lạc. Đà long là thứ chúng tôi chạm vào còn chẳng dám, vậy mà xà nhân lại đối đầu sống mái trực diện với chúng. Đã có hai con đà long bị mấy tên xà nhân đâm lật ngửa bụng, phơi ra cái bụng trắng hếu to tướng, xem chừng đã chết đứt. Cứ đà này thì số đà long còn lại không bị chém chết sạch cũng sẽ bị xà nhân đánh đuổi. Tôi đang định quay đầu xem tình hình đám người Tiền Văn Nghĩa thế nào thì bên tai chợt nghe có tiếng hét lớn: "Cẩn thận!"

Lại có một tên xà nhân cầm thương đâm tới tôi. Tôi kinh hãi tột độ, thủ nỏ đã sớm bắn ra, mũi tên trúng ngay mạn sườn nó, nhưng tên xà nhân chẳng hề chậm lại mảy may, ngọn thương vẫn đâm xuống như chớp giật. Lúc này dẫu tôi có muốn chạy cũng không kịp nữa rồi.

Xong đời rồi. Trong khoảnh khắc cái chết cận kề, tôi nhắm nghiền mắt lại.

Mắt vừa khép lại, cổ áo sau lưng bỗng bị giật mạnh, cả người như cưỡi mây lướt gió trượt lùi về phía sau cực nhanh. Mở mắt ra, tôi vừa vặn thấy ngọn thương của tên xà nhân cắm phập xuống khoảng đất trống ngay giữa hai chân mình, chỉ cần chậm nửa khắc thôi là ngọn thương này đã xuyên thủng bụng, đóng đinh tôi xuống đất rồi. Tên xà nhân đang ra sức nhổ thương lên, tôi giơ tay bắn thêm một phát nỏ nữa, mũi tên găm trúng mắt trái nó. Tên xà nhân rú lên một tiếng "á", thò tay túm chặt lấy mũi tên. Nhát tên này sợ là đã xuyên thấu vào não, nếu là người phàm thì đã chết từ đời nào, nhưng con quái này vẫn quằn quại giãy giụa trên mặt đất. Cũng may nhờ nó chưa chết, lăn lộn như vậy vô tình cản luôn đường tiến của đám xà nhân phía sau.

Tôi thở phào một hơi, bên tai lại nghe tiếng Tiền Văn Nghĩa: "Sở tướng quân, ngài không sao chứ?"

Hóa ra là hắn đã cứu mạng tôi. Lúc này trong lòng tôi chẳng rõ là tư vị gì, ai cứu tôi cũng được, không ngờ lại chính là hắn. Nhưng giờ không phải lúc nghĩ ngợi chuyện này, tôi lồm cồm bò dậy hỏi: "Xong chưa?"

"Đang đổ dầu."

Tôi giắt chiếc thủ nỏ vào thắt lưng. Thủ nỏ chỉ có sáu mũi tên mà tôi đã bắn mất bốn, còn hai mũi bất luận thế nào cũng phải giữ lại phòng thân. Tôi đạp chân một cái lướt qua, thấy mấy tên lính đang xúm lại bẩy một thùng tròn lớn, đổ dầu vào một cái lỗ vuông trên mặt đất.

Trước khi xuất phát, tôi đã bảo Chu Nặc chuẩn bị hai thùng dầu lớn. Tiền Văn Nghĩa cùng người của hắn vừa rồi thừa lúc chúng tôi chặn xà nhân đã khiêng hai thùng dầu tới, tìm được một lỗ thông gió của địa đạo rồi bắt đầu rót dầu vào. Nhưng dầu chảy không nhanh lắm, xem chừng một thùng vẫn chưa đổ xong, trong khi tiếng gầm rít của xà nhân phía sau ngày một dữ dội, tiếng rống của đà long thì đã thưa thớt dần, chắc hẳn đã bị xà nhân chém chết không ít. Tôi sốt ruột không chờ nổi, giục: "Không thể đổ nhanh hơn sao?"

Vừa dứt lời, từ trong lỗ thông gió đang đổ dầu đột ngột có một ngọn trường thương đâm thốc lên. Nhát thương này cắm thẳng vào bụng dưới của một tên lính đang đổ dầu bên cạnh rồi lập tức rụt về. Đó là xà nhân trong địa đạo phát hiện chúng tôi đổ dầu nên xông ra đánh trả. Tên lính bị nhát thương này đâm lòi cả ruột gan, nhưng hắn vẫn ôm chặt lấy thùng gỗ, chết cũng không chịu lùi bước. Tôi lao tới hét lớn: "Người đâu, mau đỡ hắn xuống!" rồi rút thanh Bách Tích Đao chém mạnh vào nắp thùng dầu. "Rắc" một tiếng, nắp thùng bị tôi chém vỡ một mảng lớn, dầu bên trong lập tức tuôn trào nhanh hơn hẳn.

Bất thình lình, từ lỗ thông gió lại thò lên một mũi thương, tôi đã có phòng bị từ trước, chẳng đợi mũi thương đâm tới, thanh Bách Tích Đao đã vung lên, một đao chém đứt phăng mũi thương, quát lớn: "Nhanh lên!"

Tên lính bị thương được dìu ra ngoài, những binh sĩ khác đang lăn thùng dầu còn lại tới toan đổ tiếp, tôi liền quát: "Khoan đổ đã!"

Ta xông tới, Bách Tịch đao quét ngang một nhát rồi bổ dọc một chiêu, chém nắp thùng vỡ thành bốn mảnh, dầu bên trong lập tức tràn ra. Ta tóm lấy đáy thùng, mạnh mẽ lật ngược lại, cái thùng liền chụp ngay lên lỗ thông gió, chỉ nghe tiếng dầu bên trong đang không ngừng chảy ồ ạt xuống dưới. Địa đạo ước chừng dài chừng nửa dặm, hai thùng dầu tự nhiên không thể lấp đầy, nhưng đoạn này e rằng trong nháy mắt đã ngập tràn dầu lửa. Ta vừa úp ngược thùng dầu lại thì nghe "đùng" một tiếng, một ngọn thương từ phía dưới đâm thốc lên, đục thủng đáy thùng một lỗ lớn. Nhưng đáy thùng vừa rách, dầu trong thùng lại càng chảy nhanh hơn, ta quát to: "Chuẩn bị châm lửa!"

Dầu trong thùng đại khái đã trút cạn, ta vừa dứt lời, thùng dầu bỗng phát ra một hồi tiếng nứt toác, đai sắt niềng thùng tức thì vỡ vụn, ván gỗ bay tứ tung, mấy tên binh lính đứng bên cạnh thùng bị chấn động hất văng ra ngoài, có một người ngực trúng một đao, máu đang ùng ục tuôn ra. Kèm theo tiếng thùng dầu vỡ toang, một con xà nhân cầm đại đao hung hãn xông vọt lên.

Xà nhân trong địa đạo chắc chắn cũng đã đoán ra ý đồ của chúng ta, nên cũng liều chết một phen. Con xà nhân này cầm trong tay một thanh đại đao đã bị cưa ngắn cán, vừa nhảy vọt ra, đại đao múa tít tựa như cối xay gió, toàn thân nó đã ướt sũng dầu lửa. Ta chẳng đợi nó đứng vững, từ trong ngực rút ra chiếc nỏ tay, bắn thẳng một tiễn. Khoảng cách gần đến thế, mũi tên cắm ngập vào cổ họng nó, con xà nhân này buông lỏng tay, thanh đại đao cũng bay thẳng ra ngoài, ta khản giọng thét lớn: "Châm lửa! Mau châm lửa!"

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ tianyashuku.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.