Trở lại bãi chăn ngựa, quân đội đã tề chỉnh đâu vào đấy. Dẫu Tiền Phong doanh phần lớn vốn là kỵ binh, song cũng có gần hai trăm người không biết cưỡi ngựa, bởi vậy quân số thực tế Tiền Phong doanh điểm đủ là một ngàn một trăm người, cùng bốn trăm lang binh. Tôi vừa về tới trong doanh, Chân Dĩ Ninh đang cưỡi ngựa đứng trước doanh liền phất ngọn cờ trong tay, toàn quân lập tức đứng nghiêm bất động.
Một ngàn năm trăm nhân mã muốn duy trì trận hình vốn chẳng hề dễ dàng, nhưng Chân Dĩ Ninh chỉ huy vô cùng thuần thục. Chừng ấy con người tuy không phải hoàn toàn bất động, nhưng hàng ngũ hết sức chỉnh tề, căn bản không giống một đám ô hợp chắp vá thành quân. Tôi cùng Tiền Văn Nghĩa, Tào Văn Đạo rảo bước qua các cánh quân, Tiền Văn Nghĩa và Tào Văn Đạo hành lễ với tôi rồi ai nấy về đội của mình. Tôi liếc nhìn đám binh sĩ này, đáy lòng không khỏi dâng lên một hồi run rẩy.
Lần xuất kích này của Nhị thái tử, tôi cũng như Lộ Cung Hành, tuyệt đối không tán đồng. Thế nhưng quan chức tôi nhỏ hơn Lộ Cung Hành, lại chẳng phải dòng chính của Nhị thái tử, thậm chí cũng chẳng tính là tâm phúc của Văn hầu. Trong mắt họ, Tiền Phong doanh thực sự chỉ là một đám ô hợp, tôi nào dám can gián Nhị thái tử? Nhị thái tử đối với Lộ Cung Hành còn có vài phần khách khí, chứ nếu tôi cũng nói năng như Lộ Cung Hành, e rằng lập tức sẽ bị Nhị thái tử chụp cho cái mũ khiếp chiến.
Nếu bảo tôi khiếp chiến, có lẽ cũng chẳng sai, tận đáy lòng tôi quả thực có đôi phần khiếp sợ. Những binh sĩ này đều đã nếm trải muôn vàn gian khổ mới trốn về được đế đô, lần xuất kích này, rồi sẽ có bao nhiêu người không thể trở về?
Binh sĩ đưa mắt nhìn tôi, chợt thấy Chân Dĩ Ninh ngồi trên lưng ngựa lộ vẻ sốt ruột, tôi mới bừng tỉnh nhận ra mình vừa thất thần. Tập hợp đã xong, giờ bọn họ đều đang đợi tôi nói đôi lời, tôi lại lo nghĩ vẩn vơ, làm vậy chính là phạm vào đại kỵ của bậc thống soái, khiến binh sĩ sinh lòng đoán mò. Tôi hắng giọng, vờ như vừa rồi đang chuẩn bị lời lẽ, cất cao giọng: "Bọn quân nhân chúng ta mang trọng trách bảo gia vệ quốc, ắt phải đặt sống chết ra ngoài cõi lòng, chẳng tiếc thân đền nợ nước. Nay đại địch trước mắt, quốc gia nuôi dưỡng chúng ta chính là vì ngày hôm nay. Đêm nay phụng mệnh xuất phát, chúng ta ắt phải hăng hái giết giặc, mới không phụ sự phó thác nặng nề của quốc gia."
Tôi còn muốn nói thêm vài câu hào hùng tráng khí, nhưng nơi cổ họng như nghẹn lại, chẳng thốt nên lời. Trên chiến trường, tôi tự nhiên chẳng tiếc một cái chết, nhưng chết cũng phải chết cho xứng đáng. Như hôm nay đây, chẳng khác nào đi tìm cái chết, tôi thật sự không tài nào thuyết phục nổi bản thân rằng lần xuất kích này là tuyệt đối cần thiết. Song trước mặt ba quân, tôi dĩ nhiên không thể thốt ra những lời ấy, giờ đây muốn nói thêm lời lẽ khích lệ gì cũng đã chẳng nói nổi nữa rồi.
Đúng lúc này, Chân Dĩ Ninh bỗng cao giọng: "Vì nước hy sinh, chết không hối tiếc!"
Tiếng cậu ta không tính là quá vang dội, song ba quân đang chăm chú lắng nghe tôi nói, khắp bãi chăn ngựa chỉ thỉnh thoảng vang lên vài tiếng móng ngựa gõ xuống mặt đất, nên tiếng hô ấy cũng đủ để nhiều người nghe rõ. Chân Dĩ Ninh ở gần tôi, hẳn là thấy vẻ mặt khó xử của tôi, biết tôi đã chẳng còn lời cổ vũ quân tâm nào nữa, bèn kịp thời hô lên hai câu này. Cậu ta vừa hô, cánh quân của Tào Văn Đạo bên cạnh cũng lập tức hô theo, tức thì ba quân đồng thanh gào thét. Một ngàn năm trăm cổ họng cùng cất tiếng, lại không có người điều phối, dĩ nhiên hỗn loạn thành một mớ. Người ngoài thoạt nghe e rằng chẳng nhận ra chúng tôi đang hô gì, song tiếng gầm thét ấy cũng đủ khiến máu nóng sục sôi.
Tôi có phần cảm kích nhìn Chân Dĩ Ninh. Đợi âm thanh lắng xuống, tôi lớn tiếng: "Ba quân tranh thủ thời gian làm quen chiến mã, không được tùy tiện rời đội, sẵn sàng chờ lệnh."
Trời đã tối mịt, ráng chiều phương tây tím ngắt như những vệt máu. Tập kích doanh trại tất nhiên phải đợi tới nửa đêm, khoảng thời gian này để ba quân làm quen với ngựa cũng là điều tốt. Lần xuất kích này toàn bộ là kỵ binh, thuật cưỡi ngựa càng giỏi thì cơ hội sống sót lại tăng thêm một phần.
Dứt lời, ba quân liền tản ra khắp bãi chăn ngựa. May thay quân mã của thành Đông Bình đều được thuần hóa vô cùng xuất sắc, binh sĩ ngồi trên lưng ngựa hầu như không ai tỏ vẻ lúng túng. Tôi nhảy xuống ngựa, bảo mã phu tìm cho mình một bộ yên cương, còn bản thân đứng sang một bên nhìn họ luyện ngựa. Đang xem, Chân Dĩ Ninh thúc ngựa tới gần hỏi: "Thống chế, khi nào chúng ta xuất phát?"
Tôi đáp: "Giờ đang chờ lệnh, xem chừng cũng phải hai ba canh giờ nữa."
Chân Dĩ Ninh tới bên tôi, tung mình xuống ngựa. Động tác xuống ngựa của cậu ta cực kỳ thanh nhã tiêu sái, thân nhẹ như én, dẫu là kỵ binh dạn dày sương gió nơi quân ngũ cũng chưa chắc có được kỵ thuật cao như vậy. Cậu ta buộc ngựa sang một bên, bước tới cạnh tôi, ngắm nghía con ngựa của tôi rồi khen: "Tuấn mã đẹp quá. Thống chế, ngựa này đã đặt tên chưa?"
Tôi nhìn con ngựa, chẳng hiểu sao lại buột miệng: "Nó tên là Phi Vũ." Khoảnh khắc ấy, tôi bỗng nhớ tới Kim Thiên Thạch của Long Lân quân. Kim Thiên Thạch quen biết tôi chưa lâu, nhưng sự trung dũng cán luyện của anh ta để lại cho tôi ấn tượng cực kỳ sâu sắc. Đặt cho con hắc mã này cái tên của tuấn mã mà Kim Thiên Thạch từng yêu quý, âu cũng là để tưởng niệm anh ta.
"Phi Vũ? Tên hay lắm." Chân Dĩ Ninh vỗ vỗ cổ ngựa, bỗng hạ thấp giọng: "Thống chế, ngài có cảm thấy lần xuất kích này có phần quá vội vàng chăng?"
Tôi cười khổ nói: "Chân Dĩ Ninh, cậu dù có ý nghĩ này cũng đừng nói ra. Cứ cho là lần xuất kích này quá đỗi nôn nóng, chúng ta nắm chắc chín phần chết một phần sống, song nếu ba quân đều có ý nghĩ ấy, thì sẽ thành mười phần chết không có đường sinh."
Chân Dĩ Ninh nói: "Quân nhân nhận mệnh, tất phải xông pha về phía trước. Tôi cũng chẳng phải sợ hãi, chỉ cảm thấy lần xuất kích này quá gấp gáp, đợi viện quân của Tất tướng quân tới nơi, thương nghị thỏa đáng rồi hẵng xuất kích, chẳng phải phần thắng sẽ lớn hơn sao? Than ôi, tiếc là chúng ta không có Bình Địa Lôi, bằng không cũng có thể thêm vài phần thắng toán."
Tôi vỗ mạnh vào trán, kêu lên: "Nói chí phải!"
Lúc này tiểu binh đã đóng yên cương xong cho Phi Vũ, dắt tới. Phi Vũ sau khi bị tôi thu phục, lập tức không còn tính khí bạo liệt như trước nữa. Đóng yên cương xong, con ngựa càng thêm phần thần tuấn. Tôi xoay người lên ngựa, bảo Chân Dĩ Ninh: "Chân Dĩ Ninh, cậu cùng ta tới chỗ Nhậm Cát tướng quân một chuyến."
Chân Dĩ Ninh nói: "Đi mượn mấy quả Bình Địa Lôi ư? Được, mau đi thôi."
Tôi không khỏi mỉm cười ngầm hiểu. Chân Dĩ Ninh quả thực xứng đáng với câu nghe một hiểu mười, tôi chỉ nói một câu cậu ta đã thấu suốt dụng ý. Tuổi cậu ta tuy nhỏ, song thực sự là một nhân tài trung quân xuất chúng, không, phải nói là nhân tài làm đại tướng.
Nào ngờ vừa tới doanh trại của Nhậm Cát, tôi vừa nói rõ ý định, Nhậm Cát đã một mực từ chối, bảo rằng: "Phụng mệnh Tất tướng quân, vật này tuyệt đối không thể để người ngoài thấy." Thần sắc ông ta cung kính, song giọng điệu lại vô cùng cứng rắn, xem chừng sống chết cũng không đả thông được.
Tôi và Chân Dĩ Ninh ôm trọn hy vọng, bị gáo nước lạnh này dội cho tan biến sạch sành sanh. Bình Địa Lôi tuy chưa thể coi là lợi khí tất thắng, nhưng với uy lực bắn nát chiến thuyền, dùng nó để mở đường khi xung phong phá trại thực sự có thể thu về hiệu quả một vốn bốn lời. Ai ngờ Nhậm Cát lại chẳng chịu nể nang như vậy, khiến tôi thất vọng tràn trề.
Trở lại cổng bãi chăn ngựa, tôi và Chân Dĩ Ninh đều có phần ủ rũ cụt hứng. Nhưng tôi biết vào trong doanh rồi không thể để lộ bộ dạng này nữa, bằng không binh sĩ sẽ tưởng thống chế nhát như chuột, sĩ khí ắt sẽ bị ảnh hưởng. Tôi quay đầu lại, vừa định bảo Chân Dĩ Ninh xốc lại tinh thần, thì trước mặt một kỵ mã đã lao ra khỏi cổng doanh.
Người này chính là Tiền Văn Nghĩa. Anh ta vừa tới trước mặt chúng tôi, ghìm cương ngựa, thở dốc hai hơi rồi hỏi: "Thống chế, sắp tới giờ cơm tối rồi, không biết sắp xếp ra sao?"
Giờ đúng là lúc ăn cơm tối, sắp sửa xuất kích, càng phải để binh sĩ ăn no một chút. Tôi nói: "Bảo họ mang cơm nước tới đây đi, anh em ăn xong lập tức luyện tập tiếp. Mài gươm trước trận, không bén cũng sáng."
Tiền Văn Nghĩa nói: "Được." Anh ta cùng chúng tôi tiến vào trong doanh, vừa đi vừa nói: "Đúng vậy, có chết cũng làm con ma no. Đúng rồi Sở tướng quân, ban nãy hai người đi đâu thế?"
Tôi đáp: "Bọn ta đi xin Nhậm Cát tướng quân mấy món đồ."
"Món gì thế?"
Tôi ngập ngừng một lát rồi nói: "Thì là hỏa lôi đạn cỡ lớn." Nhậm Cát đã dặn tôi không được tiết lộ chuyện Bình Địa Lôi cho người khác, lời tới bên miệng tôi lại nuốt trở vào. Nhưng tôi thực sự không muốn lừa dối Tiền Văn Nghĩa, nói thành hỏa lôi đạn cỡ lớn đại khái cũng không quá xa sự thật.
Tiền Văn Nghĩa kinh ngạc thốt lên: "Hỏa lôi đạn, tốt quá rồi! Có thứ này, phần thắng của chúng ta tăng lên gấp bội." Khi ở thành Cao Thứu anh ta đã là bách phu trưởng của Tiền Phong doanh, mà Tiền Phong doanh lại là toán quân đầu tiên sử dụng hỏa lôi đạn, đối với uy lực của nó dĩ nhiên rõ như lòng bàn tay.
Tôi ủ rũ đáp: "Không xin được."
Tiền Văn Nghĩa thất vọng tràn trề, nói: "Không xin được ư? Than ôi." Anh ta nhìn sang phía bắc, lại nói: "Nếu mỗi người có chừng năm sáu quả hỏa lôi đạn, thì xông pha ra vào trong trại xà nhân chẳng phải chuyện khó khăn gì, thật là đáng tiếc. Trương tiên sinh quả là người thông minh, nếu thành Đông Bình cũng có người biết chế tạo hỏa lôi đạn thì tốt biết mấy."
Lời anh ta như một tia chớp xé toạc màn đêm, tôi bỗng ghìm chặt dây cương, kêu lên: "Tiền Văn Nghĩa, anh nói chí phải! Hắn không cho, chúng ta tự làm!"
Tiền Văn Nghĩa không hiểu tôi nói gì, đưa mắt nhìn tôi. Tôi quay đầu ngựa, gọi lớn: "Chân Dĩ Ninh, cậu lập tức tới Trọng Doanh, kiếm ít than củi về đây, chừng vài chục cân, nghiền thành bột thật mịn."
Chân Dĩ Ninh có phần chẳng hiểu ra sao, song cũng không hỏi han gì, quay đầu ngựa đi ngay. Tiền Văn Nghĩa ở bên cạnh hỏi: "Sở tướng quân, ngài cần than củi làm gì?"
Tôi nói: "Làm thuốc nổ! Hắn không cho chúng ta, thì chúng ta tự làm."
Tôi vẫn còn nhớ phương thuốc phối chế mà Trương Long Hữu từng nói với tôi. Ông bảo than một phần, lưu huỳnh và diêm tiêu mỗi thứ sáu phần, trộn đều vào nhau là thành thuốc súng. Diêm tiêu có thể dùng tiêu bám chân tường thay thế, nhưng lưu huỳnh thì có phần khó tìm. Song tôi nhớ Trương Long Hữu từng nhắc tới chuyện tỉnh Chi Giang cũng có nhiều động thiên, ban nãy tôi lại thấy trong thành Đông Bình có hai đạo quán của Thượng Thanh Đan Đỉnh phái, từ trong đạo quán nhất định có thể tìm được lưu huỳnh. Tôi nói: "Tiền tướng quân, anh lập tức gọi lấy một hai trăm người đi đào diêm tiêu, nếu không có thì đi cạo tiêu tường, càng nhanh càng tốt, kiếm được càng nhiều càng hay, số người còn lại bảo họ nghiền diêm tiêu thành bột mịn."
Tiền Văn Nghĩa hỏi: "Tiêu tường cũng có thể phối chế thuốc súng ư?"
Tôi đáp: "Chính thế. Việc không nên chậm trễ, giờ trời sắp tối rồi, phải tranh thủ trước khi trời tối gom đủ ba vị thuốc."
Tôi chẳng nhiều lời với anh ta nữa, thúc ngựa phóng đi. Trong ba thứ, chỉ có tiêu là khó gom đủ nhất, may mà đông người, sai hơn một trăm người đi làm cũng không tốn bao nhiêu thời gian, giờ thì phải trông chờ vào việc tôi có mang được ít lưu huỳnh nào về hay không.
Góc đông bắc thành Đông Bình, tường thành dựa vào núi Đại Địch mà dựng, mạch núi kéo dài vào trong thành, tạo nên bình phong thiên nhiên cho thành Đông Bình. Dưới chân núi có một tòa Đại Địch Huyền Cái quán, cũng được gọi là Đại Địch Huyền Cái động thiên trong ba mươi sáu động thiên của Pháp Thống, hiện do Thượng Thanh Đan Đỉnh phái chủ trì.
Phi Vũ sau khi thắng yên chạy càng nhanh hơn, tôi ngồi trên lưng ngựa mà ngỡ như đang bay, đến roi ngựa cũng chẳng cần dùng, lại điều khiển tùy ý, dường như nó có thể thấu hiểu tâm tư của tôi. Chỉ trong thoáng chốc đã tới trước cổng Đại Địch Huyền Cái quán. Động thiên này danh tiếng dọa người, bên trong lại đổ nát hoang tàn. Thượng Thanh Đan Đỉnh phái dẫu cũng là quốc giáo, nhưng thế lực của Chưởng giáo Chân Quy Tử phái này kém xa Ngọc Hinh Tử của Thanh Hư Thổ Nạp phái, ngay cả tòa đạo quán này cũng đã lâu năm không tu sửa. Tôi buộc ngựa lại, chỉ thấy ngay trước cổng tam quan là từng đống gạch ngói vỡ, bước vào trong là một khoảng đất trống thênh thang, nơi này ngược lại rất đỗi sạch sẽ, bên cạnh có mấy đống lá rụng, chắc hẳn vừa quét xong còn chưa kịp hốt đổ.
Tôi bước vào, tới trước đại đường, cất giọng lớn: "Xin hỏi, trong này có ai không?"
Thượng Thanh Đan Đỉnh phái thất thế trong triều, song phái này ở chốn dân gian thế lực rất lớn, hơn nữa họ thường xuyên luyện chế bí dược, trong đó có không ít phương thuốc trị bệnh cực kỳ hiệu nghiệm. Tôi nhớ hồi nam chinh, vị quân y Diệp Thai trong quân doanh cũng xuất thân từ Thượng Thanh Đan Đỉnh phái. Điều này khiến uy vọng của Thượng Thanh Đan Đỉnh phái nơi dân gian hết sức cao, hoàn toàn có thể sánh ngang với Thanh Hư Thổ Nạp phái. Chỉ là uy vọng thì uy vọng, không có triều đình ủng hộ, đạo quán do Thượng Thanh Đan Đỉnh phái chủ trì phần lớn đều rách nát tồi tàn, tòa Đại Địch Huyền Cái quán đứng tên trong ba mươi sáu động thiên này cũng không ngoại lệ.
Tôi gọi một tiếng không thấy ai đáp lại, vừa định bước vào xem sao, mới đi được một bước bỗng cảm thấy sau gáy nổi gió, có vật gì đó quét thẳng tới.
Ở nơi này mà cũng bị ám toán sao! Thay vì sợ hãi, chi bằng nói là kinh ngạc. Luồng gió này tuy rất gắt nhưng không nhanh, tôi chẳng cần quay đầu cũng biết ắt là một cây gậy rất dài đang quét về phía sau gáy mình. Nếu bị nó quét trúng, e rằng lập tức ngất xỉu ngay tại chỗ, nhưng tôi đã vào sinh ra tử trên chiến trường bao phen, tự nhiên biết rõ phải né tránh thế nào.
Tôi cúi đầu tránh ngọn gậy dài, một tay rút phắt Bách Tích Đao bên hông, thuận thế xoay người chuẩn bị phản kích. Nào ngờ vừa quay đầu lại, trông thấy cách tôi chừng hai ba trượng nơi một cánh cửa nhỏ, có một thanh niên mặc trường sam Pháp Thống đang vác một cây tre vừa dài vừa thô, đang định từ cánh cửa nhỏ ấy bước ra. Tấn công tôi căn bản chẳng phải đao gậy gì, mà chính là một đầu của cây tre. Thân tre rỗng ruột, vốn không quá nặng, nhưng cây tre này quá dài, thanh niên kia lảo đảo ngả nghiêng, không sao giữ nổi thăng bằng. Anh ta khẽ động đậy một chút, hai đầu cây tre liền lắc lư dữ dội sang hai bên, kéo theo cả người anh ta cũng chao đảo loạn xạ.
Cứ đà này, e rằng cây tre sẽ đè anh ta ngã rạp xuống đất, với độ đàn hồi của thân tre, thậm chí có khả năng ép chết người. Lúc này đầu tre gần tôi lại quét tới, tôi đón đúng hướng, hai tay ôm chặt lấy thân tre. Người nọ lảo đảo một cái, rốt cuộc cũng đứng vững. Anh ta chắc ngạc nhiên vì sao cây tre lại đột ngột dừng lại, ngoảnh đầu nhìn tôi, thoạt tiên ngẩn ra, rồi kêu to: "Đặt sát vào chân tường!"
Cây tre quá dài, hai chúng tôi cùng khiêng cũng phải mất một hồi lâu mới đặt ngay ngắn được. Thanh niên kia chắc không lường được sự lợi hại, mới dám một mình vác nó.
Vừa đặt tre xuống, thanh niên vén vạt áo lau mồ hôi, nói: "Tướng quân, đa tạ ngài, nếu lỡ đánh trúng làm ngài bị thương, tôi chắc chắn bị sư phụ đánh chết mất. Tôi tên là Hư Tâm Tử, đêm hôm thế này, tướng quân tới đây còn có việc gì chăng?"
Tôi nói: "Chân nhân, mạt tướng là Tiền Phong doanh Thống chế Sở Hưu Hồng. Tôi muốn hỏi chân nhân, trong quý quán có lưu huỳnh hay không?"
Hư Tâm Tử gãi đầu gãi tai, có lẽ đây là lần đầu tiên có người hỏi anh ta câu này. Lưu huỳnh tuy có thể cháy, nhưng khi cháy lửa không vượng, lại bốc ra mùi lạ. Người dân đế đô chỉ vào dịp tết Xuân Hạp mới đóng chặt cửa nẻo đốt chút lưu huỳnh để trừ sâu bọ, những lúc khác, lưu huỳnh có thể nói chẳng có chút giá trị thực tế nào, vứt ngoài đường cũng chẳng ai buồn nhặt.
Tôi lại gặng hỏi một câu: "Có hay không vậy?" Giờ trời đã tối hẳn, e rằng có thể xuất phát bất cứ lúc nào, nếu tôi lấy được lưu huỳnh thì thời gian cũng đã vô cùng gấp gáp.
"Lưu huỳnh thì có một ít, nhưng mà..."
Vẻ ngập ngừng ấp úng của Hư Tâm Tử khiến tôi sốt ruột không chịu nổi, tôi nói: "Hư Tâm chân nhân, tôi sẽ trả tiền cho ngài."
Anh ta nuốt nước bọt đáp: "Không phải chuyện tiền nong, chúng tôi nghèo thì nghèo thật, nhưng sư phụ mà biết tôi dám nhận tiền thì đánh chết tôi mất. Có điều lưu huỳnh trong quán cũng chỉ còn vài chục lượng thôi, vả lại đều là đồ sư phụ cất giữ."
Vài chục lượng? Trong lòng tôi dâng lên một hồi thất vọng. Theo phương thuốc phối chế Trương Long Hữu nói với tôi, sáu phần lưu huỳnh, sáu phần diêm tiêu, một phần than mới thành thuốc nổ, nếu lưu huỳnh chỉ có vài chục lượng, chẳng phải chỉ làm ra được vài cân thuốc nổ thôi sao? Thứ này thì có tác dụng gì? Nhưng dù sao có ít vẫn tốt hơn không. Tôi nói: "Hư Tâm chân nhân, xin ngài cứ đưa cho tôi trước đã, tôi mua là được chứ gì."
Anh ta vẫn còn do dự, miệng lẩm bẩm: "Ngài cần lưu huỳnh để làm gì?"
Tôi quát: "Chuyện này liên quan tới cơ mật quân sự, tóm lại ngài cứ đưa cho tôi đi."
Anh ta nghĩ ngợi một chút, chợt nghiến răng nói: "Được rồi, mặc kệ đấy."
Vừa nãy anh ta luôn mồm bảo sư phụ sẽ đánh chết mình, lúc này lại dứt khoát đồng ý, tôi ngược lại có phần lo lắng: "Không nói với sư phụ, sư phụ ngài không mắng ngài chứ?"
Anh ta thở dài nói: "Mắng thì mắng, ngài đi theo tôi."
Anh ta dẫn tôi tới trước một gian sương phòng, cẩn thận đẩy cửa, ngó nghiêng vào trong. Tòa Đại Địch Huyền Cái quán này dẫu mang danh một trong ba mươi sáu động thiên, nhưng thực sự nghèo rớt mồng tơi, gian sương phòng kia chắc là chỗ ở của sư phụ Hư Tâm Tử, bên trong cũng đơn sơ tột cùng, song được quét tước sạch sẽ, không vướng một hạt bụi. Trên tường treo một bức thẻ tre, dùng nét thảo cuồng phóng viết mấy chữ, tôi cũng chẳng đọc hiểu viết cái gì.
Hư Tâm Tử đẩy cửa bước vào, tới cạnh tường mở chiếc rương gỗ rất cũ lấy ra một bọc đồ, mùi hôi hơi gay mũi xộc lên, đúng là lưu huỳnh rất thuần chất. Anh ta đưa cho tôi bảo: "Chỗ này chừng bốn mươi lượng, chỉ có bấy nhiêu thôi."
Bốn mươi lượng? Tôi thất vọng một hồi. Tôi vốn tưởng có thể kiếm được vài chục cân, nên mới bảo Chân Dĩ Ninh đi lấy mấy chục cân than củi. Lưu huỳnh chỉ có hơn bốn cân, cộng thêm hơn bốn cân tiêu, than chỉ có thể dùng khoảng bảy lượng, gom lại cũng chỉ được chín cân thuốc nổ. Chừng ấy thì bõ bèn gì? Nhưng có còn hơn không, tôi thở dài hỏi: "Chỗ khác còn không?"
Hư Tâm Tử nói: "Ngài tới tìm tôi là đúng chỗ rồi đấy, thành Đông Bình giờ đang bị vây, vốn dĩ trên núi ngoài thành có một cái hang có lưu huỳnh, nay xà nhân vây thành, trong thành đại khái chẳng còn chút lưu huỳnh nào đâu."
Tôi đón lấy bọc lưu huỳnh, áng chừng trọng lượng, vẫn còn đôi chút lo ngại: "Ngài không nói với sư phụ, không sợ bị người đánh chết sao?"
Hư Tâm Tử cười nói: "Đấy là nói đùa thôi, sư phụ chẳng đánh tôi đâu, có điều mắng thì chắc chắn mắng rồi. Nhưng ai bảo tôi suýt nữa đánh chết ngài chứ, bị sư phụ mắng cùng lắm không chết được, coi như đây là tôi tạ tội với ngài. Dù sao đan dược sư phụ luyện ra ăn chẳng ăn được, dùng chẳng dùng xong, cũng là luyện uổng công, ngộ nhỡ bị xà nhân công phá vào thành thì ngay cả ngần này lưu huỳnh cũng chẳng giữ nổi. Phải rồi tướng quân, tôn tính đại danh của ngài là gì?"
Tôi nói: "Tôi tên Sở Hưu Hồng, là Tiền Phong doanh Thống chế, quan bái Hạ tướng quân."
Anh ta xoa xoa đầu nói: "Hóa ra là Sở tướng quân. Ngài trông chẳng hung dữ như các vị tướng quân khác, tôi còn tưởng ngài là một tiểu đội quan cơ đấy."
Tôi cười cười, vừa định cùng anh ta bước ra ngoài, đúng lúc này ngoài cổng lớn bỗng vang lên một tràng tiếng bước chân. Hư Tâm Tử hoảng hốt luống cuống, túm lấy vai tôi nói: "Sở tướng quân, ngài mau nhảy qua bức tường vỡ bên cạnh mà trốn đi, sư phụ tôi về rồi."
Tôi hơi khó chịu, nói: "Hư Tâm chân nhân, ngài thực sự coi tôi là kẻ trộm đấy à? Sư phụ ngài về đúng lúc lắm, tôi nói thật với người, chắc hẳn người cũng sẽ lấy đại cục làm trọng, đến ngài cũng chẳng bị mắng đâu."
Anh ta cuống cuồng: "Không phải đâu, người mà biết tôi suýt đánh chết ngài, thể nào cũng mắng tôi chết mất thôi."
Tôi nói: "Tôi dĩ nhiên không nói, sư phụ ngài làm sao biết được?"
Anh ta còn định nói gì nữa, lúc này, từ ngoài cửa bỗng truyền vào một giọng nói già nua: "Hư Tâm, có khách tới sao?"
Hư Tâm Tử thè lưỡi: "Xong đời rồi, xong đời rồi." Anh ta làm bộ dạng như tên trộm bị bắt quả tang tại trận lủi thủi bước ra ngoài, thưa: "Sư phụ, có một vị Sở tướng quân của Tiền Phong doanh ở đây ạ."
Tôi rảo bước theo sau anh ta, cất lời: "Chân nhân, mạt tướng là Tiền Phong doanh Thống chế Sở Hưu Hồng."
Vừa nhìn thấy sư phụ của Hư Tâm Tử, tôi không khỏi sinh lòng kính phục. Hư Tâm Tử tuổi trẻ bồng bột, có phần hấp tấp bộp chộp, tôi vốn tưởng sư phụ anh ta là một người trung niên, chẳng ngờ lại là một lão giả râu tóc bạc phơ, sắc mặt lại hồng hào trắng trẻo, chẳng có mấy nếp nhăn. Chiếc áo dài Pháp Thống trên người ông cũng vá chằng vá đụp vài miếng, song giặt giũ vô cùng sạch sẽ, hệt như căn phòng của ông vậy. Thoạt nhìn thấy ông, chẳng hiểu vì sao tôi lại có cảm giác như đã từng gặp ở đâu rồi.
Ông nhìn tôi, mỉm cười: "Sở tướng quân đấy ư, tên đồ đệ bất thành khí này của bần đạo nhiều điều mạo phạm, may nhờ Sở tướng quân không chấp nhặt."
Tôi nói: "Hư Tâm chân nhân rất khách khí. Không rõ tôn tính đại danh của chân nhân là gì?"
Ông đáp: "Sở tướng quân cứ gọi bần đạo là Chân Thanh Tử là được." Ông quay sang Hư Tâm Tử, sa sầm nét mặt, nạt: "Hư Tâm, nói với con bao nhiêu lần rồi, vẫn cứ hấp ta hấp tấp như thế, ban nãy ngộ nhỡ làm đả thương Sở tướng quân thì biết tính sao."
Tôi không khỏi lấy làm lạ, hỏi: "Chân Thanh chân nhân vừa rồi đã nhìn thấy sao? Chuyện đó không trách Hư Tâm chân nhân được đâu ạ."
Chân Thanh Tử mỉm cười với tôi: "Sở tướng quân không so đo, ấy là phúc phận của nó. Hư Tâm, con nhấc bồ đoàn của ta ra, bên dưới còn hai cân lưu huỳnh, đem cho Sở tướng quân mang đi cùng. Pháp Thống chúng ta không màng chém giết, song có sức thì góp sức, chuyện luyện đan chỉ là việc nhỏ."
Hư Tâm Tử mặt lộ vẻ mừng rỡ, đáp: "Tuân mệnh." Anh ta bảo tôi: "Sở tướng quân, ngài đợi tôi một lát." Một lát sau, anh ta lại đeo một chiếc túi nhỏ bước ra. Chân Thanh Tử dặn: "Hư Tâm, con mang ra tận ngựa cho Sở tướng quân, Sở tướng quân đang vội."
Trước đó tôi nghe Hư Tâm Tử nói ghê gớm thế, cứ ngỡ ông sẽ rất khó nói chuyện, chẳng ngờ Chân Thanh Tử lại thông tình đạt lý đến vậy, tôi không khỏi bất ngờ khôn xiết, nói: "Chân Thanh chân nhân, đa tạ ngài."
Chân Thanh Tử mỉm cười bảo: "Sở tướng quân, ngài mau đi đi, e rằng chưa đầy một canh giờ nữa là phải xuất phát rồi."
Sau khi tôi cáo từ Chân Thanh Tử, ông quay về phòng tĩnh tọa. Hư Tâm Tử đeo bọc nhỏ đi bên cạnh tôi, vừa đi vừa cười khẽ: "Sở tướng quân, không ngờ sư phụ cũng giấu hàng riêng, chắc là phần thưởng khám bệnh cho gia quyến của Thiệu tướng quân các ngài cũng được giấu ở dưới đấy rồi."
Tôi nói: "Chân Thanh chân nhân đại khái đều nhìn thấy hết rồi chăng?" Ông biết tôi cần lưu huỳnh, có lẽ cũng là ngửi thấy mùi lưu huỳnh tôi đang đeo trên lưng. Không ngờ tuổi tác ông cao như thế mà tai mắt vẫn tinh tường, mũi cũng thính nhạy. Nào ngờ Hư Tâm Tử bĩu môi nói: "Đâu phải thế, sư phụ tôi biết thuật đọc tâm..."
Lời nói đến nửa chừng bỗng im bặt, chắc là biết mình lỡ lời. Tôi như nghe sét đánh giữa trời quang, kêu lớn: "Cái gì? Thuật đọc tâm?"
Anh ta cuống quýt: "Sở tướng quân, đây là ngài nói đấy nhé, không phải tôi nói đâu, bằng không sư phụ đánh chết tôi mất..."
Chẳng đợi anh ta dứt lời, tôi quẳng bọc lưu huỳnh xuống đất, bảo: "Ngài đợi tôi một lát!" rồi quay người lao ngược vào trong. Thuật đọc tâm của Trịnh Chiêu thần kỳ đến thế, mà Nhiếp Tâm thuật của anh ta cũng có thể dễ dàng khiến tôi mất đi tri giác. Tôi cứ ngỡ thiên hạ chỉ có một mình anh ta biết, chẳng ngờ lão nhân tướng mạo bình phàm Chân Thanh Tử này cư nhiên cũng thông thạo. Hư Tâm Tử ở phía sau kêu lên: "Kìa, Sở tướng quân..." Nhưng tôi chẳng buồn để ý tới anh ta, ba bước dồn thành hai lao thẳng tới trước phòng Chân Thanh Tử. Cửa phòng Chân Thanh Tử vẫn mở, ông đang khoanh chân ngồi trên bồ đoàn. Tôi sụp quỳ ngay ngoài cửa, vì chạy quá nhanh nên thở không ra hơi, nhất thời chẳng nói nên lời.
Thấy tôi đột ngột quay lại, Chân Thanh Tử thoạt tiên ngẩn ra, lập tức nhíu mày nói: "Hư Tâm đúng là lắm mồm."
Tôi trấn tĩnh lại tinh thần, nói: "Chân nhân, xin đừng trách ngài ấy. Chân nhân, tôi muốn..."
Lời tôi chưa dứt, Chân Thanh Tử lại nhíu mày bảo: "Sở tướng quân, kỳ kỹ này quá đỗi hiểm độc, nếu rơi vào tay kẻ tâm thuật bất chính, e rằng sẽ gây ra đại họa long trời lở đất. Bần đạo cũng là vì hành y cứu người mới học lấy. Cái gì? Còn có người khác cũng biết ư?"
Lúc này tôi đang nghĩ tới Trịnh Chiêu. Trịnh Chiêu từng bảo đây là bẩm sinh, không học được. Vừa nghĩ vậy, Chân Thanh Tử lại nhíu mày, hừ lạnh một tiếng: "Kẻ này tâm thuật bất chính, gạt ngài đấy. Sao cơ? Hắn đến cả Nhiếp Tâm thuật cũng biết? Thế thì... thế thì đúng là một kỳ tài, không ngờ trong thiên hạ lại thực sự có người học được cả Nhiếp Tâm thuật!"
Trông ông cực kỳ chấn kinh, tôi không khỏi có chút thất vọng. Nghe giọng điệu Chân Thanh Tử, Nhiếp Tâm thuật ông cũng chẳng biết, song dường như ông bảo rằng thuật đọc tâm là có thể tu luyện thành. Tôi nói: "Chân nhân, ngài có thể dạy cho tôi không?"
Chân Thanh Tử nhìn tôi, ôn tồn nói: "Sở tướng quân, ngài tâm địa nhân hậu, song sát khí quá nặng, học thứ kỹ nghệ này chỉ có hại chứ không có lợi."
Tôi có phần thất vọng, song vẫn chưa nản lòng, nói: "Chân nhân, nếu tôi học được, tuyệt đối sẽ không dùng vào tà đạo."
Ông mỉm cười nói: "Thế nào là chính? Thế nào là tà? Kẻ chính nhìn tà là tà, kẻ tà nhìn chính cũng là tà. Cái chính của ngày hôm nay, ngày mai chưa chắc đã không phải là tà."
Tôi còn định nói thêm, Chân Thanh Tử bỗng có chút ngập ngừng: "Sở tướng quân, ngài sắp phải xuất chinh rồi, còn không quay về, e rằng sẽ lỡ mất đại sự."
Giờ trời đã tối mịt, cách giờ nửa đêm xuất phát chẳng còn bao lâu, tôi vẫn chưa từ bỏ ý định, toan mở miệng nói thêm vài câu, nhưng Chân Thanh Tử đã nhắm mắt lại, không buồn để ý tới tôi nữa. Tôi thở dài một tiếng, nói: "Được rồi, chân nhân, vậy tôi đi đây. Nếu chân nhân thực sự cho rằng tôi không thể học, tôi cũng sẽ không miễn cưỡng chân nhân."
Tôi hành lễ với Chân Thanh Tử rồi quay người toan bước đi, Chân Thanh Tử bỗng mở mắt nói: "Sở tướng quân, chuyến đi này nhất định phải cẩn thận, đi nhanh về mau, chớ có ham chiến." Ông ngừng lại một chút, lại dặn: "Ngài về càng nhanh càng tốt."
Tôi cười đáp: "Sống chết có số, phú quý do trời. Quốc gia dưỡng binh chính là để bảo gia vệ quốc, chết nơi chiến trường cũng là bổn phận. Chân nhân, xin bảo trọng."
Tôi bước tới cửa, Hư Tâm Tử vẫn đang thò đầu thụt cổ ở đó, thấy tôi ra, anh ta khẽ hỏi: "Sở tướng quân, sư phụ không giận chứ?"
Tôi nói: "Chắc là không, cùng lắm mắng ngài hai câu thôi."
Đợi tôi lên ngựa, anh ta giúp tôi buộc hai túi lưu huỳnh vào bên yên, tôi chắp tay trên lưng ngựa nói: "Hư Tâm chân nhân, đa tạ ngài, nếu tôi còn mạng trở về, sẽ lại tới tạ ơn."
Trời đã tối đen như mực, tôi phải lập tức chạy về bãi chăn ngựa. Giờ chẳng rõ Tiền Văn Nghĩa chuẩn bị thế nào rồi, có sáu cân lưu huỳnh này, chí ít cũng làm ra được mười ba cân thuốc nổ, cũng coi như đỡ đần được phần nào.
Trở lại bãi chăn ngựa, đám binh sĩ vẫn đang phi ngựa qua lại làm quen. Tôi vừa vào cổng doanh trại bãi chăn ngựa, Tiền Văn Nghĩa đã thúc ngựa đón tới hỏi: "Thống chế, ngài kiếm được lưu huỳnh chưa?" Cạnh anh ta có Chân Dĩ Ninh và Tào Văn Đạo, lại thêm một người cư nhiên là Trần Trung trong doanh của Hình Thiết Phong. Trần Trung bất quá chỉ là một tên tiểu binh, lại chẳng phải thuộc hạ của Tiền Văn Nghĩa, chẳng rõ gọi cậu ta tới làm gì.
Tôi nói: "Ta mang về được sáu cân lưu huỳnh."
Anh ta nhíu mày bảo: "Sao ít thế? Tôi sợ ngài chê thiếu, gom được những bốn mươi cân bột tiêu cơ đấy."
Bốn mươi cân? Tôi giật thót mình, tiêu tường tuy nhiều nhưng cạo ra được chừng ấy đâu phải chuyện dễ dàng. Lúc này Chân Dĩ Ninh cũng bước tới nói: "Thống chế, than tôi mang về cũng có bốn mươi cân, đều đã nghiền thành bột cực mịn rồi."
Tiêu và than của họ đều đã để sang một bên, một đống trắng toát, một đống đen sì, bên cạnh có một cái chum lớn, chắc là chuẩn bị để phối trộn thuốc súng. Tôi nhảy xuống ngựa, nói: "Mau đem chỗ lưu huỳnh này nghiền thành bột đi."
Chân Dĩ Ninh đón lấy hai bọc lưu huỳnh, hỏi: "Thế phối chế ra sao? Đổ hết vào một chỗ khuấy đều lên ư?"
Nếu theo phương thuốc của Trương Long Hữu, chỉ cần dùng sáu cân tiêu, một cân than là đủ. Tôi cũng chẳng ngờ Tiền Văn Nghĩa lại gom được nhiều như vậy, nếu lãng phí thì tiếc quá. Tôi nghiến răng bảo: "Đổ hết tiêu vào, than lấy chừng mười cân, rồi đem lưu huỳnh nghiền thành bột đổ chung vào."
Theo phương thuốc của Trương Long Hữu, tiêu chỉ cần khoảng sáu cân bảy lượng là được, nhưng lưu huỳnh quá ít, thêm chút than kiểu gì cũng cháy được, như vậy chí ít có thể làm thêm được mấy cân thuốc nổ. Tôi tuy nghĩ thế, song đáy lòng vẫn thỏm thỏm lo âu.
Đông người dễ làm việc, lưu huỳnh lập tức bị nghiền nát. Bởi vì Trương Long Hữu từng dặn khi khuấy trộn không được dùng đồ sắt, nên mới dùng một khúc gỗ. Bột thuốc tổng cộng có năm mươi sáu cân, người thường căn bản khuấy không nổi, đông người thì lại khuấy không đều. Chân Dĩ Ninh tâm tư chu đáo, gọi Trần Trung ở doanh Hình Thiết Phong tới chính là để khuấy đống bột thuốc kia. Sức lực của Trần Trung tuy vượt xa người thường, song sau khi khuấy mấy chục vòng cũng đã thở hồng hộc.
Tôi bước tới trước chum, bốc một nắm lên xem. Bột thuốc trong chum đã tương đối đều, màu sắc đen xen lẫn trắng, nếu để tôi khuấy, e rằng nửa vòng cũng khuấy không nổi. Tôi khen: "Trần Trung, sức lực của cậu quả thực không tầm thường."
Trần Trung vẫn thở dốc, cười cười đáp: "Thống chế, ngài quá khen rồi. Giờ không còn việc gì nữa chứ ạ?"
Tôi nói: "Xong rồi, cậu đi nghỉ ngơi đi, lát nữa bảo Hình tướng quân dẫn binh qua nhận thuốc nổ."
Thời gian quá gấp, giờ không có cách nào nhồi vào hũ làm thành hỏa lôi đạn, tôi bèn sai người chặt mấy cây tre, gọt từng đốt tre thành hình ống, nhồi đầy thuốc nổ vào trong rồi nhét giẻ rách bịt kín lại. Thành Đông Bình tre trúc rất nhiều, mỗi một đốt cũng có thể nhồi được nửa cân thuốc nổ, năm mươi sáu cân thuốc nổ kia tổng cộng nhồi được một trăm mười bảy ống tre, tính ra chẳng tốn bao nhiêu thời gian. Tôi nhìn qua một lượt, nói: "Tiền Văn Nghĩa, anh bảo Dương Dịch, Hình Thiết Phong và Đào Xương Thời qua đây, bốn đội các anh mỗi đội lấy hai mươi lăm ống, số còn lại thuộc về chúng ta."
Tiền Văn Nghĩa dạ một tiếng, trước tiên sai tiểu binh lấy hai mươi lăm ống tre đi, rồi gọi bọn Dương Dịch qua. Hiện giờ mỗi đội của bọn Tiền Văn Nghĩa đều có hơn ba trăm người, tương đương với số lang binh do Đào Xương Thời thống lĩnh, đội ngũ của Tào Văn Đạo do tôi đích thân dẫn dắt chỉ có hơn một trăm người, chỉ chiếm một phần ba quân số của họ, lấy mười bảy ống thuốc nổ, tính theo tỷ lệ đã là lấy nhiều rồi. Lúc này Chân Dĩ Ninh bỗng hỏi: "Sở tướng quân, có cần chia bớt một ít cho bọn Biện tướng quân không?"
Biện Chân bọn họ phải cùng tôi xung phong, sau đó mới chia binh làm hai ngả, hiểm nguy họ gánh chịu cũng hệt như chúng tôi. Thế nhưng ống thuốc nổ tổng cộng chỉ có bấy nhiêu, chia cho họ dĩ nhiên không thể quá nhiều. Tôi ngẫm nghĩ một lát rồi nói: "Cũng được, lấy bảy ống trong phần còn lại của chúng ta đưa cho họ."
Nói thực lòng, tôi cũng có đôi phần hoài nghi liệu những ống thuốc nổ bị tôi sửa đổi phương thuốc này có nổ tung được hay không, song tôi nghĩ cháy thì kiểu gì cũng cháy được, rải đống thuốc nổ này vào trại xà nhân thì phóng hỏa cũng dễ dàng hơn đôi chút. Nếu vẫn theo phương thuốc của Trương Long Hữu thì chỉ làm được mười ba cân thuốc nổ, cũng chỉ chế được hai ba chục ống mà thôi.
Chân Dĩ Ninh chu đáo hơn tôi nhiều, mỗi một ống tre đều đã được buộc dây cẩn thận. Tôi đeo một ống lên người, bảo Tào Văn Đạo: "Tào tướng quân, anh sai người chọn ra bảy ống đem giao cho Biện tướng quân đi."
Tào Văn Đạo nhìn tôi, bỗng cười nói: "Sở tướng quân, ngài đeo khúc tre trên lưng, trông buồn cười thật đấy."
Tôi hơi phật ý, nói: "Đừng bận tâm buồn cười hay không, anh chắc chưa quên uy lực của hỏa lôi đạn chứ."
Anh ta gật đầu, sai người cầm bảy ống tre mang sang chỗ Biện Chân. Biện Chân luyện ngựa ở quảng trường thành Đông Bình, cách bãi chăn ngựa cũng không xa, chẳng mấy chốc tên tiểu binh kia đã quay lại, bên yên ngựa vẫn treo lủng lẳng bảy ống tre ấy. Cậu ta bảo Biện Chân nghe nhắc tới thứ này, thoạt tiên cười lớn một hồi, đoạn bảo tôi nhát như chuột, Hữu Xung Phong quân của họ không cần dựa vào mấy thứ bàng môn tà đạo này, nên ý tốt xin nhận, còn đồ vật thì trả lại cho tôi.
Trăng mỗi lúc một lên cao, đã tới nửa đêm. Trên bãi chăn ngựa, vẫn có binh sĩ đang phi ngựa chầm chậm để làm quen kỵ thuật. Đúng lúc này, một đốm lửa bỗng di chuyển về phía bãi chăn ngựa, Chân Dĩ Ninh đứng cạnh tôi khẽ nói: "Sở tướng quân, đó là truyền lệnh binh của điện hạ, có cần tập hợp anh em không?"
Tôi gật đầu, Chân Dĩ Ninh bèn nhấc một chiếc đèn lồng bên cạnh lên phất mạnh trong không trung. Toàn quân một ngàn năm trăm người gần như chỉ trong chớp mắt đã chỉnh tề xếp thành mấy hàng đội ngũ. Thấy tình cảnh này, tôi không khỏi khẽ gật đầu tán thưởng. Việc tập hợp ban đêm độ khó cực lớn, Chân Dĩ Ninh lại xử lý nhẹ tựa lông hồng, cậu ta thống binh quả thực rất có nghề, xem ra còn trên cơ Ngô Vạn Linh.
Tên truyền lệnh binh đã xông tới cổng, trước tiên thốt lên một tiếng ngạc nhiên, có lẽ vô cùng bất ngờ trước cảnh tượng nghiêm cẩn nhường này bên trong, đoạn giơ cao lệnh bài trong tay, hô lớn: "Tiền Phong doanh Thống chế Sở Hưu Hồng tiếp lệnh!"
Tôi vỗ nhẹ Phi Vũ tiến lên vài bước, nhảy xuống ngựa rảo bước tới nói: "Sở Hưu Hồng nghe lệnh."
"Phụng mệnh Nhị thái tử điện hạ và Thiệu tướng quân, Sở thống chế xin ngài mau thống lĩnh quân mã bản bộ tới Tây Môn tập hợp chờ lệnh."
Tôi nhận lệnh bài, lớn tiếng đáp: "Đắc lệnh!" rồi nhảy lên ngựa quay đầu dặn: "Tào Văn Đạo đi trước, phía sau lần lượt xuất phát, theo ta."
Tiền Phong doanh có ba thống lĩnh, doanh một Tiền Văn Nghĩa, doanh hai Dương Dịch, doanh ba Hình Thiết Phong. Nay có thêm Đào Xương Thời, tạm thời cấp cho phiên hiệu là doanh bốn. Đợi ba quân chuyển động, tên truyền lệnh binh đi bên cạnh tôi lau mồ hôi trên trán, khẽ bảo: "Sở tướng quân, không ngờ ngài đã có chuẩn bị từ trước, Biện tướng quân giờ vẫn đang tập hợp trên bãi đấy."
Tôi không khỏi mỉm cười, quay đầu nhìn đám binh sĩ kia, nói: "Binh vô thường thế, thủy vô thường hình, chiến vô thường quy. Tướng lĩnh cầm quân phải như cánh tay sai khiến ngón tay, lệnh hành cấm chỉ."
Đoạn văn này trích từ cuốn 《Thắng Binh Sách》, dạo gần đây hễ rảnh rỗi là tôi lại giở ra xem. Chân Dĩ Ninh thống quân tinh diệu như thế, vừa khéo phù hợp với đoạn văn này, thực sự khiến tôi mừng rỡ. Chỉ huy một đạo nhân mã, nếu có thể sai khiến như cánh tay điều khiển ngón tay, thì lực tấn công của đạo nhân mã ấy mới có thể phát huy trọn vẹn. Tiền Phong doanh hiện tại dĩ nhiên không tinh nhuệ bằng Tiền Phong doanh do Lộ Cung Hành thống lĩnh khi xưa, song quân kỷ lại tốt hơn cựu Tiền Phong doanh rất nhiều, chỉ huy đúng phép thì lực tấn công sẽ chẳng thua kém thuở ấy.
Tới Tây Môn, trước cổng đã dàn kín bộ binh đông nghịt. Dưới ánh đuốc, tôi trông thấy Nhị thái tử và Thiệu Phong Quan sóng vai đứng trước cổng, liền thúc ngựa tiến lên, lớn tiếng: "Điện hạ, Thiệu tướng quân, Tiền Phong doanh đến nộp lệnh."
Một tên thân binh của Nhị thái tử bước tới nhận lấy lệnh bài từ tay tôi dâng lên Nhị thái tử. Nhị thái tử liếc nhìn tôi, trên mặt lộ một nét cười: "Sở tướng quân, bản điện trước kia đối với ngài còn có đôi phần chưa yên tâm, nhưng nhìn quân dung thế này, Tiền Phong doanh của ngài đã vượt trên hầu hết các doanh đội dưới trướng ta rồi."
Tôi không khỏi xúc động, trên lưng ngựa khom mình thi lễ thật sâu: "Điện hạ quá khen."
Trước kia các doanh đều tự cao tự đại, Tiền Phong doanh của Vũ hầu tự xưng là đệ nhất cường binh, Long Lân quân của Thẩm Tây Bình cũng tự cho mình dũng mãnh vô song, chẳng ai chịu khen ngợi bộ đội của người khác hơn mình. Nhị thái tử không giấu giếm cái dở của quân mình, quả là điều hiếm thấy. Dẫu biết nói lời này vào lúc này cũng là nhằm nâng cao sĩ khí của Tiền Phong doanh, song việc ngài thốt ra được những lời ấy vẫn khiến tôi vô cùng cảm kích.
Đúng lúc này, phía sau lại vang lên một tràng tiếng vó ngựa, ấy là Biện Chân dẫn quân kéo tới. Ba quân đã tề tựu đông đủ, Nhị thái tử hạ lệnh mở cổng thành, cất cao giọng: "Biện tướng quân, Sở tướng quân, thắng bại của trận chiến này đặt cả lên vai nhị vị tướng quân, mong hai vị gắng sức."
Tôi và Biện Chân cùng hành lễ, rồi dẫn quân ra khỏi thành. Bấy giờ ánh trăng mờ ảo bất định, gió đêm thổi qua rít lên từng hồi gào thét. Tôi dẫn Tiền Phong doanh ra ngoài thành, thấy Chân Dĩ Ninh cũng theo sát sau lưng, bèn khẽ bảo: "Chân Dĩ Ninh, trận này quá đỗi nguy hiểm, cậu không phải người của Tiền Phong doanh, chi bằng cứ ở lại trong thành đi."
Chân Dĩ Ninh mỉm cười đáp: "Sở tướng quân, lập công dựng nghiệp là chí hướng bình sinh của đấng nam nhi, ngài không muốn để tôi lập công sao?"
Lời lẽ ấy bình hòa mà lại mang theo khí phách hào sảng, tôi không nói thêm gì nữa, chỉ dặn: "Cẩn thận đấy."
Lần xuất chinh này, có thể sống sót trở về đã là đại công rồi. Dẫu tôi căn bản chẳng có chút lòng tin nào vào trận chiến này, song với tư cách là một quân quan, cũng chỉ có thể phục tùng mệnh lệnh, tuyệt đối không thể lùi bước.
Nhị thái tử dẫn một vạn bộ binh đứng dưới chân thành áp trận. Doanh trại của xà nhân đóng ở nơi cách thành hơn một dặm, nhìn từ xa thỉnh thoảng thấy le lói ánh đèn lửa. Lũ xà nhân chỉ trong vài tháng ngắn ngủi, từ chỗ sợ lửa ban đầu nay đã biết bố trí đuốc sáng trong doanh, quả thực khiến người ta kinh hãi.
Nhị thái tử cưỡi ngựa tiến ra, quát lớn: "Xuất phát!"
Bởi vì muốn tập kích doanh trại, chúng tôi không mang theo đuốc hay đèn lồng, ngoài thành tối om như mực, người xung quanh đến mặt mũi cũng nhìn không rõ, ngần ấy chiến mã đều đã được ngậm tăm, chỉ có thể nghe thấy lác đác vài tiếng móng ngựa gõ xuống đất. Nhị thái tử vừa ra lệnh, hai đạo nhân mã lập tức lao vút ra ngoài.
Quất ngựa giục roi, vượt qua quãng đường hơn một dặm chỉ trong chớp mắt. Trông thấy doanh trại của xà nhân mỗi lúc một gần, trong trại lại dường như chẳng hề hay biết gì. Xà nhân có lẽ có phần khinh địch đối với chúng tôi, mà trước doanh lại chỉ là một khoảng đất trống hoang vu, đến một chướng ngại cọc gai hay hố bẫy cũng không bố trí. Xông tới trước cổng doanh xà nhân, tôi hô lớn: "Châm lửa!"
Bốn bề tức thì rực sáng một vùng đuốc, tựa hồ như đất trời bỗng chốc bừng sáng. Doanh trại của xà nhân rất thô sơ, chỉ dựng bằng những hàng rào gỗ dài, chẳng hề cao lớn. Binh sĩ vừa châm đuốc liền lập tức ném vào trong, bên trong doanh tức thì vang lên một trận ồn ào náo loạn.
Đợt cướp trại lần này của chúng tôi hẳn đã khiến xà nhân trở tay không kịp, chỉ có năm sáu tên xà nhân từ trong doanh lao ra chống cự. Mấy tên binh sĩ xông lên trước nhất nhảy bổ xuống ngựa, tay cầm rìu công thành chém mạnh vào cổng doanh, binh sĩ bên cạnh ra sức che chắn cho họ. Mấy tên xà nhân kia dẫu phiêu hãn, nhưng làm sao ngăn nổi dòng binh sĩ cuồn cuộn tràn vào như nước triều dâng. Vừa đâm ngã một binh sĩ, bên cạnh đã có năm sáu ngọn trường thương đâm tới tấp sang.
Đúng lúc này, tôi nghe thấy có tiếng người kêu lớn: "Cổng đổ rồi, cẩn thận!"
Bấy giờ cổng doanh đã bị thiêu đốt, phát ra những tiếng "răng rắc", đổ sập mạnh vào bên trong, tàn lửa bắn tung tóe, ngọn lửa cháy trên cánh cửa gỗ nhất thời bùng lên dữ dội hơn. Một tiếng "rầm" vang lên, cánh cửa đập mạnh xuống đất, những thanh gỗ bốc cháy cũng văng ra tứ phía. Thanh thế cỡ ấy khiến sĩ khí binh sĩ càng thêm sục sôi, đồng thanh cất lên một tràng hoan hô.
Biện Chân thúc ngựa phóng qua bên cạnh tôi, gọi to: "Sở tướng quân, chúng ta chia nhau ra đây, hãy tự bảo trọng!"
Gã ngoảnh đầu quát lớn: "Anh em, theo ta!" rồi giục ngựa lao vút vào trong. Tôi cũng quay đầu hô lớn: "Toàn quân theo sát, không được ham chiến, xông thẳng vào trong!"
Trong doanh như vạc dầu sôi sục, khắp nơi vang lên những tiếng thét thảm thiết. Những thanh âm ấy đều do lũ xà nhân phát ra, dẫu giọng điệu có phần kỳ quái dị hợm, song cũng ngập tràn nỗi kinh hoàng như nhau. Đáy lòng tôi dâng lên một nỗi đắc ý, khắp người như tràn trề sức mạnh vô tận, chỉ muốn ngửa mặt gầm lên một tiếng.
Lều trại của xà nhân cũng chẳng khác gì của chúng tôi, thỉnh thoảng lại có xà nhân trườn ra từ bên trong. Lúc này dù chiến lực của chúng có mạnh đến đâu, nhưng binh sĩ Tiền Phong doanh lớp lớp tràn lên, hàng binh sĩ đầu tiên đâm ra một thương, chẳng đợi xà nhân đánh trả đã phóng ngựa vượt qua, căn bản không thèm dây dưa quấn lấy chúng, phía sau lại có những binh sĩ khác lao lên. Đây cũng chẳng còn là vây công nữa, từng tên xà nhân kia gần như đều phải chiến đấu với cả Tiền Phong doanh, sức mạnh của chúng dẫu có lớn đến đâu cũng không đất dụng võ, bị xung lực chia cắt rời rạc từng tên một.
Tôi đâm ngã một tên xà nhân, chợt thấy bên cạnh có một tên xà nhân khác đang chồm về phía mình. Tên xà nhân ấy trên mình không mặc giáp trụ, chắc hẳn vừa từ trong trướng bò ra. Tay nó cầm một ngọn đại đao, thương của tôi vừa đâm ra, đao của nó đã bổ thẳng xuống đỉnh đầu tôi. Tay phải tôi giơ cao trường thương, một tiếng "keng" chói tai vang lên, tôi chỉ thấy lòng bàn tay nóng rát, cánh tay nhất thời tê dại đi, ngọn đao trượt dọc theo cán thương trượt xuống. Tôi không đợi nó kịp trở tay, thúc ngựa vọt lên, cổ tay rung lên, ngọn thương vẽ một đường vòng cung từ dưới lên trên, mũi thương quét qua lồng ngực nó.
Đây là chiêu Bán Nguyệt Thương, ngọn thương của tôi mài vô cùng sắc bén, mũi thương lập tức rạch một đường rách toác trước ngực tên xà nhân, máu tươi từ đó phun trào xối xả, bắn ướt nửa người tôi.
Lũ chúng mày cũng có ngày hôm nay!
Tôi thu thương về, chỉ thấy cánh tay vẫn còn đau nhức. Sức mạnh của xà nhân quá đỗi khủng khiếp, tôi đón đỡ trực diện một đòn, e rằng cơ bắp cũng bị tổn thương đôi chút, song lúc này đã chẳng màng tới những chuyện ấy nữa. Tôi quay đầu lại định hô hào người phía sau xông lên, bỗng nghe thấy Chân Dĩ Ninh kinh hãi kêu lên: "Thống chế, cẩn thận!"
Tiếng cậu ta kêu vô cùng hoảng hốt, tôi không khỏi sững sờ, vừa ngẩng đầu lên liền thấy một mũi thương từ dưới đâm xốc lên. Tên xà nhân này cư nhiên lại áp sát mặt đất trườn tới, đột ngột đâm thương ngược lên, xung quanh hỗn loạn tột cùng, lại thêm cảnh tranh tối tranh sáng, tôi từ đầu đến cuối không hề phát giác ra.
Thương này đâm ra cực nhanh, lại đâm thốc từ dưới lên bụng tôi. Tôi dùng sức ghìm chặt Phi Vũ, Phi Vũ chồm dựng hẳn hai chân trước lên, nhưng nhát thương ấy quá nhanh, dẫu Phi Vũ thần dũng vô song, tôi vẫn không sao tránh trọn được đường thương này. Một tiếng "xoẹt" vang lên, mũi thương rạch một vết thương dài ngoằng trên bắp chân phải của tôi, máu tươi cũng ồ ạt trào ra.
Chân tôi tê rần một hồi, ngược lại không quá đau đớn, xem ra nhát thương này cắm không sâu, thương thế không có gì đáng ngại, nhưng máu vẫn cứ tuôn ra xối xả, vạt dưới chiến bào của tôi cũng bị máu thấm đẫm. Tên xà nhân kia còn định bồi thêm một thương, song lúc này tôi đã sớm phòng bị, nó làm sao đâm trúng tôi được nữa? Nó lại ở thế dưới đâm lên, đánh lén thì được, chứ khi đối công, tư thế ấy cực kỳ bất tiện. Trường thương của tôi gạt phăng cán thương của nó ra, mũi thương thấu tới, lập tức đâm ngã tên xà nhân. Ngọn thương của tôi còn chưa kịp rút khỏi thân thể nó, đã có mấy binh sĩ bên cạnh lao tới đâm chém túi bụi, băm vằm nó thành một đống thịt nát.
Tôi co bắp chân lên trên lưng ngựa nhìn qua. Nhát thương kia đâm rất hiểm, tuy không sâu song để lại trên chân tôi một vết thương dài chừng nửa tấc, da thịt hai bên mép vết thương lật cả ra ngoài, máu vẫn không ngừng rỉ ra. Tôi không dám lộ vẻ gì, đưa tay xé một dải vải trên chiến bào băng bó lại. Vết thương quá dài, dải vải ấy không thể bọc kín hết được, may mà buộc chặt phần giữa thì máu cũng tạm cầm lại. Mãi tới khi băng bó xong, miệng vết thương mới truyền đến từng cơn đau giằng xé nhức nhối.
Lúc này Tiền Văn Nghĩa xông tới nói: "Thống chế, xà nhân càng lúc càng đông, đã có mấy chục anh em bị đánh ngã ngựa rồi, tính sao đây?"
Chúng tôi mới chỉ vừa xông vào doanh trại xà nhân, mới chỉ một đoạn đường ngắn ngủi thế này đã tổn thất mấy chục binh sĩ, vậy thì tới khi xông ra khỏi doanh trại chẳng rõ còn lại được bao nhiêu. Tôi nhìn quanh bốn phía, hiện giờ tất cả mọi người đều đang thúc ngựa chém giết, lớp lớp xông qua, tôi vốn dĩ ở hàng đầu tiên của đội ngũ, vừa khựng lại một lát thế này đã rớt xuống đoạn giữa. Nhìn ra xa, trước mắt chỉ toàn ánh đao ngọn thương lấp loáng dưới ánh đuốc, cùng những gương mặt dữ tợn của lũ xà nhân. Tôi nói: "Tiếp tục xông lên! Anh em mất ngựa ai chạy được thì chạy, ai thực sự không chạy nổi, bảo những chiến mã còn dư sức chở hai người một ngựa."
Nói ra lời này, cõi lòng tôi nhói đau từng cơn. Lẽ thường chúng tôi nên bất chấp tất cả xông thẳng về phía trước chém giết, song tôi thật sự không nỡ bỏ mặc những binh sĩ bị đánh chết chiến mã ở lại nơi này tử chiến với xà nhân, trong khi người khác lại xông lên phía trước. Nếu tôi thực sự hạ cái lệnh tàn nhẫn ấy, e rằng sau này trong lòng chẳng còn lấy một ngày thanh thản. Khi nói ra điều đó, trước mắt tôi dường như lại hiện lên bóng hình Tô Văn Nguyệt, chẳng biết tự lúc nào, khóe mắt đã ngân ngấn lệ.
Tiền Văn Nghĩa nói: "Làm vậy cũng được, chỉ là một khi số người mất ngựa quá nhiều, chẳng phải sẽ ảnh hưởng tới tốc độ xung phong sao?"
Trong doanh trại xà nhân đã ồn ào như vạc dầu sôi sục, từ phía bên kia cũng vọng lại tiếng hò reo chém giết, nghe âm thanh dường như đã vượt lên phía trước chúng tôi, chắc hẳn cánh quân của Biện Chân xung phong tiến triển nhanh hơn. Quay đầu nhìn lại, lối đi chúng tôi vừa đi qua trong doanh đã là một biển lửa, chúng tôi vừa đi vừa phóng hỏa, gió trợ oai lửa, trong trại xà nhân ước chừng đã cháy mất một phần tư. Tôi nhìn quanh một lượt, cất giọng lớn: "Chết thì chết thôi, miễn sao thản nhiên không thẹn với lòng."
Tiền Văn Nghĩa ngẩn người, cũng chẳng nói thêm gì, lớn tiếng quát: "Anh em ngã ngựa nghe đây, chạy được thì chạy, không chạy được thì cùng cưỡi chung một ngựa với kỵ sĩ bên cạnh."
Mệnh lệnh này của anh ta hơi khác với lệnh tôi hạ đôi chút, tôi bảo những chiến mã còn dư sức chở người ngã ngựa, song hiện tại đang lúc hỗn loạn tột cùng, người nào người nấy đều đang dốc mạng chém giết, ai còn tâm trí đâu mà cân nhắc xem chiến mã có còn đủ sức chở thêm người hay không. Lệnh của tôi mà truyền xuống, ngược lại sẽ khiến vài tên kỵ binh nhát gan từ chối chở người. Cách nói này của Tiền Văn Nghĩa thực sự là phương thức tốt nhất lúc này.
Chân Dĩ Ninh cũng đã vòng tới bên cạnh tôi. Mũi trường thương trong tay cậu ta đã dính máu, đang không ngừng nhỏ giọt xuống. Cậu ta tới sát bên tôi, khẽ hỏi: "Thống chế, ngài bị thương rồi ư?"
"Không sao." Tôi thúc ngựa một cái, ngoảnh đầu nói: "Chân Dĩ Ninh, theo ta!"
Trên người chúng tôi vẫn còn đeo những ống tre chứa thuốc nổ, Chân Dĩ Ninh gật đầu, theo sát tôi xông lên.
Thế nhưng đợt xung phong lúc này chẳng còn thuận lợi như ban nãy nữa. Xà nhân đã đứng vững trận cước, không ngừng từ bốn bề ùa tới như bầy ong vỡ tổ. Chúng tôi không thể đè bẹp xà nhân mà đánh như vừa rồi được nữa, mỗi bước tiến lên đều phải quần thảo với một đám xà nhân, thỉnh thoảng lại có một hai binh sĩ bị đánh ngã ngựa. Từ lúc xông vào cho tới khi tách khỏi Biện Chân, chúng tôi chẳng hề có thương vong, nhưng vừa tách ra, chúng tôi đã tổn thất ngót nghét trăm người. Nhìn binh sĩ bên cạnh chốc chốc lại bị xà nhân quật ngã, có vài người vừa rớt xuống ngựa liền bị xà nhân băm vằm chém chết, cõi lòng tôi quặn thắt từng cơn đau đớn.
Trong kế hoạch của Thiệu Phong Quan, những tổn thất này đại khái là cái giá phải trả theo dự liệu, nhưng những người lính này đâu chỉ là những con số vô hồn trong kế hoạch của hắn, mà là từng sinh mệnh bằng xương bằng thịt!
Chân Dĩ Ninh xông xáo bên cạnh tôi, cất tiếng gọi: "Thống chế, xem ra chiến lực của xà nhân vượt quá dự tính rồi, giờ phải làm sao?"
Chiến lực của xà nhân vốn không hề vượt quá dự tính của tôi, mà chỉ vượt quá dự tính của Nhị thái tử và Thiệu Phong Quan mà thôi. Tôi thoáng muốn cười cay đắng, nhưng chỉ gầm lớn: "Đừng nghĩ ngợi gì khác, giờ không còn đường lui nữa rồi, mau xông lên!"
Doanh trại của xà nhân tương đối rộng lớn, với quy mô cỡ này, theo biên chế của đế quốc quân có thể đóng chừng hai vạn quân, nhưng cùng một chiếc lều xà nhân lại có thể chen chúc ba bốn mươi tên, nhiều hơn chúng tôi chừng gấp ba lần, nơi đây lẽ nào có đến sáu vạn xà nhân? Thế nhưng xà nhân dù đông, cũng chưa đến mức ấy. Tôi vừa đâm chết những tên xà nhân cản đường, vừa nói với Chân Dĩ Ninh bên cạnh: "Chân Dĩ Ninh, ngươi thấy xà nhân rốt cuộc có bao nhiêu?"
Chân Dĩ Ninh rút ngọn trường thương từ trên người một tên xà nhân vừa bị đâm chết ra, đáp: "Hình như... hình như chưa tới hai vạn."
Quả thực, chúng tôi đã áp sát vùng trung tâm doanh trại xà nhân, nhưng dọc đường đi ước chừng chỉ có ba bốn ngàn xà nhân cản bước. Dù trong cảnh hỗn chiến khó lòng ước lượng quân số quân địch, nhưng nếu thực sự có sáu vạn xà nhân, tuyệt đối không thể chỉ có chừng này tên xông lên. Biết đâu chừng, ước đoán của Chân Dĩ Ninh vẫn còn hơi cao, đại bộ phận quân lực thực chất vẫn đang ở phía sau dọn dẹp tàn binh. Nếu thực sự chỉ có một vạn xà nhân mà kìm chân được trước sau tổng cộng bảy vạn đại quân của Đông Bình thành, thì há chẳng phải lại giẫm vào vết xe đổ của Cao Thứu thành sao?
Lòng tôi từng cơn ớn lạnh. Ngoài thành Cao Thứu, xà nhân cũng chính là dùng kế sách này, trước tiên điều một cánh tinh binh dã chiến ngoài thành, cho chúng tôi một đòn phủ đầu, rồi sau đó duy trì công thành có chừng mực, đợi cho tới khi toàn bộ xà nhân tề tựu đông đủ. Lần này biết đâu chẳng phải xà nhân lại giở trò cũ? Đông Bình thành hiện thời tiếp tế bấp bênh, chủ yếu dựa vào cửa bắc chưa mất, nhưng một khi xà nhân đại cử tấn công, với tài thủy chiến của chúng, khi ấy làm sao bảo đảm được đường tiếp tế nữa? Đến lúc bốn cửa đều bị vây khốn, thảm kịch Cao Thứu thành e rằng lại tái diễn ở Đông Bình thành.
Bấy giờ bất kể thế nào, dẫu chỉ có một bộ phận nhỏ thoát ra được, mà phát giác được ý đồ thực sự của xà nhân, thì chuyến tập kích đêm này cũng coi như không uổng công. Tôi vung thương, quát lớn: "Toàn quân tăng tốc, không được rớt lại phía sau!"
Vừa dứt lời, nơi bắp chân bỗng truyền đến một cơn đau nhói. Tôi cúi nhìn thân mình, chân phải đã bị máu nhuộm đen ngòm một mảng, nếu giờ là ban ngày, nhìn thấy trên người chảy ra nhiều máu đến thế, e rằng bản thân đã hoảng sợ ngã quỵ trước rồi. Tôi cắn chặt răng, chỉ thấy cánh môi cũng bắt đầu tê dại, đây đại khái là triệu chứng do mất máu quá nhiều.
Dù máu có cạn kiệt, lúc này cũng chỉ có thể xông về phía trước, quyết không thể lùi bước!
Tôi ngửa đầu nhìn trời. Vầng trăng lại phá tan tầng mây, rọi xuống bốn bề một màu trắng bệch thê lương. Hôm nay là ngày hai mươi tháng ba, trăng khuyết nửa vành, chẳng quá sáng tỏ, nhưng ánh trăng như thế càng thêm phần thê lương, nửa vầng trăng kia tựa như một lưỡi đao sắc bén treo lơ lửng trên không trung, dường như có thể chém nghiêng xuống bất cứ lúc nào.
Chỉ không biết nhát chém ấy sẽ lấy đầu xà nhân, hay là đầu của tôi.
Một tên xà nhân bỗng chốc lại lao ra trước đầu ngựa của tôi. Tên này cũng cầm trường đao, nhát đao chém thẳng vào đỉnh đầu tôi, tôi nghiến răng, vung thương đón đỡ thật mạnh, "keng" một tiếng, ngọn trường đao bị tôi gạt phăng sang một bên. Lẽ thường chiêu tiếp theo tôi phải vung thương đâm tới, nhưng trước mắt tôi bỗng tối sầm, thân mình lảo đảo, suýt nữa ngã nhào khỏi lưng ngựa.
Chảy quá nhiều máu, lại thêm kịch chiến với xà nhân bấy lâu, thể lực của tôi đã bắt đầu cạn kiệt.
Thanh đao của tên xà nhân bị gạt ra, dường như nó hơi sững lại, đoạn vung ngược đao lên, lại bổ xuống đầu tôi. Đao pháp của tên xà nhân này quả thực vụng về, vốn dĩ sau khi tôi gạt đao của nó, nếu nó thuận thế quét ngang, thương tôi xuất chiêu đã chậm, nhát đao ấy tuy lực đạo không quá lớn nhưng tôi chắc chắn không cản nổi, ngặt nỗi nó dường như chỉ biết mỗi một chiêu giơ đao bổ thẳng, lúc này trung lộ sơ hở hoàn toàn, tôi chỉ cần một thương là có thể đâm xuyên ngực trước của nó, nhưng khi tôi vừa định đâm tới, hai tay lại bủn rủn, tay trái bất giác tuột khỏi cán thương. Lòng tôi lạnh toát, chỉ thấy hoa mắt một cái, một bóng đen lóe lên trước mặt, tên xà nhân thét lên một tiếng thảm thiết, bàn tay cầm đao của nó dĩ nhiên đã bị người ta chém đứt lìa. Tôi nghiến răng, tay trái nắm chặt lại cán thương, tì thương lên lưng ngựa, dốc cạn tàn lực đâm thẳng tới.
Nhát thương này thực ra chẳng dùng mấy sức của tôi, mà là mượn đà xung phong của chiến mã. Phi Vũ quả thực dũng mãnh vô song, tôi chỉ thấy cán thương trĩu nặng, mũi thương ngập sâu vào trước ngực tên xà nhân, e rằng đã xuyên thủng lồng ngực nó. Tên xà nhân lại rú lên thê thảm, bàn tay lành lặn còn lại buông trường đao, chộp lấy cán thương của tôi, nhưng Phi Vũ đang lao như tên bắn, một cánh tay đơn độc của nó sao cản nổi, tôi thuận thế gạt ngang ngọn thương, người và ngựa vượt qua trước mặt nó, mũi trường thương kéo tuột ra khỏi thân thể tên xà nhân, lôi theo cả một mảng nội tạng, tên xà nhân lăn lộn quằn quại dưới đất, rồi lăn tọt vào giữa đội hình chúng tôi, lập tức bị đoàn chiến mã cuồng bôn giẫm nát thành đống thịt vụn.
Đến lúc này tôi mới nhìn rõ người vừa cứu mạng mình hóa ra là Chân Dĩ Ninh. Hắn thế mà từ trên lưng ngựa tung mình nhảy vọt lên, một đao chém đứt cánh tay xà nhân, tay trái chống ngọn trường thương xuống đất một điểm, rồi mượn lực nhảy vút trở lại lưng ngựa của mình. Ngón nghề thân nhẹ như yến này, nếu tôi sung mãn thể lực e rằng cũng làm được, nhưng vị tất đã nhẹ nhàng thanh thoát như hắn. Hắn vừa nhảy về lưng ngựa, yêu đao đã tra vào bao, vung tay ném qua một dải vải, hô lớn: "Thống chế, ngài băng bó trước đi, thắt chặt phía trên vết thương có thể cầm máu!"
Hắn biết tôi bị thương rồi sao? Tôi đón lấy dải vải, trong lòng dâng lên một dòng nước ấm. Lúc này Chân Dĩ Ninh thúc ngựa chạy nhanh hơn, che chắn trước người tôi ngăn cản xà nhân xông tới, phía bên kia Tào Văn Đạo cũng xông lên. Hắn chẳng nói chẳng rằng, cũng áp sát bảo vệ bên sườn còn lại của tôi, e rằng hắn cũng đã hay tin tôi bị thương.
Là thống lĩnh tiên phong của đợt xung phong này, tính mạng của tôi không đơn thuần là của riêng mình, nó can hệ đến toàn cục, cho nên tin tức bị thương quyết không thể để lộ ra ngoài. Tôi gác ngọn trường thương lên lưng ngựa, cúi người băng bó vội. Miệng vết thương sâu hoắm gần như chém đứt nửa bắp chân, tôi quấn chặt một vòng phía trên đầu gối, chỉ thấy cả cẳng chân dần tê dại, đau đớn quả nhiên giảm đi trông thấy. Vừa quấn xong, Tào Văn Đạo bên cạnh lại ném sang một chiếc hồ lô nhỏ, nói: "Thống chế, uống một ngụm nước quả Vong Ưu, đừng uống nhiều quá."
Nước quả Vong Ưu? Tôi nhớ năm xưa khi eo mình bị thương, Diệp Đài từng rắc bột quả Vong Ưu cho tôi. Thứ này giảm đau cực kỳ linh nghiệm, nhưng chỉ trị phần ngọn chứ không trị được tận gốc, không thể dùng nhiều, thứ nước quả này e rằng cũng vậy, chẳng ngờ Tào Văn Đạo lại mang theo thứ này bên mình. Tôi giật nút bấc hớp một ngụm, chỉ thấy một luồng nhiệt khí từ cuống họng tràn xuống lồng ngực và bụng dưới, tinh thần lập tức chấn phấn. Tôi ném trả hồ lô cho Tào Văn Đạo, hô lớn: "Các anh em, phía trước chính là trung quân xà nhân, tiến thì sống, lui thì chết, xông lên!"
Đám xà nhân bị chúng tôi xé rách đang khép vòng vây phía sau, lui ắt là đường chết, tiến tuy chưa chắc đã sống, nhưng ít nhất còn có thể giết thêm vài tên xà nhân. Tôi giục ngựa lên trước, Tào Văn Đạo và Chân Dĩ Ninh tả hữu hộ tống hai bên, toàn quân được đà xung phong của ba chúng tôi dẫn dắt, tốc độ tiến công thoắt cái lại nhanh thêm mấy phần.
Vừa xông lên chẳng được bao xa, bỗng nhiên đội ngũ phía trước khựng lại, dừng phắt cả lại. Tôi quát hỏi: "Có chuyện gì thế?"
Tôi đã lao gần tới hàng đầu tiên, lúc này người dẫn đầu đội quân xung phong thế mà lại là Đào Xương Thời. Trên giáp trụ của hắn loang lổ đầy vết máu tươi, nghe tiếng tôi, hắn quay đầu lại nói: "Thống chế, phía trước có trọng binh xà nhân chặn đường!"
Tôi thúc ngựa tiến lên, lúc này phía sau tiếng hò hét chém giết không ngớt, nhưng phía trước lại yên tĩnh đến dị thường. Đằng trước cách chúng tôi chừng năm sáu trượng, có một hàng rào gỗ không cao lắm, trước hàng rào đào cẩu thả một con hào, vừa nông lại vừa hẹp, phía sau rào gỗ ken dày đặc những xà nhân. Lũ xà nhân đứng sát rạt vào nhau, hầu như chẳng hở một kẽ nứt, tay cầm đao hoặc thương, nhất tề chĩa mũi nhọn ra ngoài.
Xà nhân thế mà cũng có ngày phải lập trận phòng thủ.
Tôi không khỏi cười khẩy một tiếng. Kể từ ngày giao chiến với xà nhân đến nay, chúng tôi luôn ở thế bị chúng tấn công, chưa từng có lần nào công phá sâu vào tận trong doanh trại của chúng như hôm nay. Bất kể lần tập kích này có đạt được chiến quả như dự liệu hay không, chúng tôi với tư cách là cánh quân đầu tiên đánh vào doanh trại xà nhân, sau này trong sử sách đế quốc cũng xứng đáng được lưu lại một nét bút. Vùng trung tâm của lũ xà nhân này, e rằng chính là đại trướng trung quân của chúng?
Chân Dĩ Ninh bên cạnh tôi lên tiếng: "Thống chế, dùng hỏa dược kia chứ?"
Tôi gật đầu, quát to: "Ai đeo ống tre tiến lên trước!"
Những người mang ống tre đều là tinh nhuệ trong các bộ, tôi, Tào Văn Đạo cùng Chân Dĩ Ninh đều mang theo ống tre chứa hỏa dược, bộ thuộc của Tào Văn Đạo bám sát ngay bên cạnh tôi, tản ra hai phía tả hữu, còn trong doanh của Đào Xương Thời người đeo ống tre lại càng nhiều hơn, quanh người hắn đã có tới khoảng hai mươi người. Tôi đang định hạ lệnh cho toàn bộ châm lửa ném qua, Chân Dĩ Ninh bỗng cất tiếng quát: "Hàng thứ nhất thuộc bộ của Đào tướng quân, châm lửa ống tre rồi ném đi, những người còn lại chờ lệnh!"
Tôi vừa toan tháo ống tre xuống, nghe thấy mệnh lệnh này của Chân Dĩ Ninh, không khỏi ngẩn ra. Hắn phát lệnh như vậy, không tránh khỏi có phần vượt quyền, nhưng tôi không phải kẻ hẹp hòi, chỉ là có chút không hiểu dụng ý của hắn. Lẽ nào hắn muốn bảo toàn thực lực? Tôi vừa toan cất tiếng hỏi, Chân Dĩ Ninh đã quay đầu lại nói: "Thống chế, hãy xem hiệu quả thế nào đã."
Phải rồi, phương thuốc hỏa dược này là do tôi tự cải biến, rốt cuộc có hiệu nghiệm hay không còn chưa biết được, nếu như nhất tề ném hết cả ra, một khi không đạt được uy lực như dự tính, e rằng ngược lại sẽ làm tổn hại sĩ khí, chỉ ném đi một phần nhỏ, dẫu cho uy lực không lớn, binh sĩ cũng sẽ nghĩ rằng do ném quá ít mà thôi. Tôi đối với Chân Dĩ Ninh không khỏi dâng lên một niềm khâm phục, tuổi còn trẻ mà gặp việc lại suy tính sâu xa thấu đáo, thực sự đáng để tôi học tập.
Binh sĩ đeo ống tre đi đầu trong cánh quân của Đào Xương Thời có chừng hơn mười người, giọng Chân Dĩ Ninh vừa dứt, trên không trung lập tức xuất hiện hơn mười quả cầu lửa. Nhìn những quả cầu lửa bay thẳng về phía lũ xà nhân đang xếp hàng cự thủ, tim tôi cũng thắt lại, chỉ sợ những quả cầu lửa ấy vừa chạm đất đã tắt ngúm.