Thiên Hành Kiện 3: Kích Đãng Phong Lôi

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 28
Thâm Cốc Đoạn Hồn

❊ ❊ ❊

Đường núi gập ghềnh hiểm trở.

Bởi vì người qua lại ngày càng thưa thớt, con đường cũng gần như bị cỏ cây vùi lấp. Tào Văn Đạo vừa đi vừa chửi rủa: "Mẹ kiếp, cái thứ đường này mà dành cho người đi à."

Hình Thiết Phong và Dương Dịch nhờ xuất thân quan hoạn nên đều đã được thăng quan, trở thành bộ tướng dưới trướng Bồ An Lễ. Quân số Tiền Phong Doanh hiện tại là chín trăm tám mươi ba người, chia làm hai đội. Tào Văn Đạo được thăng làm Kiêu kỵ, thống lĩnh Nhất Doanh gồm năm trăm người. Kiêu kỵ còn lại là Tiền Văn Nghĩa. Do không có chỗ dựa, sau khi Hình Thiết Phong và Dương Dịch rời đi, gã vẫn bị giữ lại Tiền Phong Doanh. Giờ tôi quay lại thống lĩnh Tiền Phong Doanh, người từng tạm quyền thống lĩnh như gã lại bị Tào Văn Đạo vượt mặt, phải lùi xuống làm Kiêu kỵ Nhị Doanh. Sau khi xuất phát, gã nhìn tôi với ánh mắt rất kỳ quặc, lúc nào cũng lảng tránh tôi. Quả thực, từng bán đứng tôi một lần, gã nhất định không thể ngờ tôi lại có ngày phục chức. Dù so với lúc ấy gã đã thăng một cấp, còn tôi vẫn giữ nguyên quân hàm cũ, nhưng tôi vẫn cao hơn gã năm cấp bậc.

Chúng tôi xuất phát vào ngày mười bảy tháng mười một. Sau khi tôi rời đi, Tiền Phong Doanh cũng lập được không ít chiến công, hiện đang trong đợt luân phiên nghỉ ngơi, vừa mới từ thành Bắc Ninh rút xuống, chẳng ngờ chưa kịp nghỉ chân đã phải giục ngựa tiến về thành Phù Đôn. Tuy bọn họ không nói thẳng ra mồm, nhưng trong bụng đều có đôi phần oán thán.

Bấy giờ đang là tiết đông, cỏ cây phần lớn đã khô vàng. Nếu là mùa hè, cỏ dại trên đường mọc um tùm sẽ khiến việc hành quân vô cùng khó khăn, lúc đó e là bọn họ còn chửi rủa dữ hơn nữa. Tôi ghìm Phi Vũ lại, ngoảnh đầu nhìn đội ngũ phía sau. Chưa đầy một ngàn người vẫn xếp thành một hàng dài gần như không thấy điểm dừng, uốn lượn men theo đường núi. Trời cũng sắp tối, tôi cao giọng hô: "Truyền lệnh xuống, toàn quân dừng chân nghỉ ngơi tại chỗ, chuẩn bị dùng bữa."

Từ Đế Đô đến thành Phù Đôn mất chừng hơn mười ngày đường. Dù lộ trình tương đương từ thành Đông Bình đến Đế Đô, nhưng đoạn này phần lớn là đường núi, mấp mô gập ghềnh, khúc khuỷu hiểm trở, kém xa đường quan lộ năm ngựa chạy thênh thang từ thành Đông Bình đến Đế Đô, bởi vậy thời gian đi đường cũng tốn gần gấp đôi. Tôi vẫn còn nhớ lần trước tới đây đã đụng phải Tằng Vọng Cốc trên đường. Tỉnh Thiên Thủy kể từ sau loạn Lý Đoan thì dân chúng lầm than, kẻ vào rừng làm giặc cướp cũng rất nhiều, khiến con đường này càng thêm hoang vu. Chúng tôi rời khỏi Đế Đô được ba ngày, hiện đang ở trong địa phận tỉnh Ất Chi, đi thêm vài ngày nữa là sẽ tới bờ cõi tỉnh Thiên Thủy.

Quân sĩ tập kết lại một chỗ, cứ mười người vây quanh một đống lửa, chốc lát trên con đường này đã bập bùng những đốm lửa rải rác. Tôi tháo yên ngựa trên lưng Phi Vũ xuống, ngồi bệt trên mặt đất nướng một chiếc màn thầu nguội ngắt. Màn thầu khi nguội vừa khô vừa cứng, nhưng nướng trên lửa lại bốc lên mùi thơm cháy xém, xắt thêm một miếng thịt nướng kẹp vào giữa, mỡ nóng sôi sùng sục thấm đẫm vỏ bánh, ăn vào vừa giòn vừa thơm, hương vị quả thực không tồi. Tôi đang ăn thì Tào Văn Đạo bước tới ngồi xuống bên cạnh hỏi: "Sở tướng quân, uống rượu không?"

Tôi đón lấy bình rượu hớp một ngụm. Rượu của gã cũng chẳng ngon lành gì, nhạt toẹt vô vị, chỉ hơi thoang thoảng chút hơi men mà thôi. Tôi dặn: "Cậu bảo anh em cẩn thận một chút, đoạn đường này không yên ổn đâu, phải vực dậy mười hai phần tinh thần đấy."

Tào Văn Đạo cũng nốc một ngụm rượu, quẹt miệng nói: "Tôi đã lệnh cho bọn họ không được lơ là cảnh giác rồi. Mẹ kiếp, cái thằng Tiền Văn Nghĩa cũng mặt dày mày dạn đi cùng chúng ta cơ đấy."

Tiền Văn Nghĩa từ lúc xuất phát tới giờ vẫn chưa từng nói với tôi câu nào, có lẽ gã cũng chẳng còn mặt mũi nào mà nhìn tôi. Tôi hạ giọng: "Nói khẽ thôi, gã cũng chẳng có lỗi gì lớn."

"Cái thứ tiểu nhân tráo trở hai mặt như nó mà lại không có lỗi à?" Tào Văn Đạo có vẻ không phục. Dù tôi là cấp trên của gã, xét về quân hàm cao hơn gã tới năm cấp, nhưng gã nói chuyện với tôi xưa nay vẫn giữ nguyên cái giọng điệu này, tôi cũng chẳng nỡ trách móc. Thực ra Tào Văn Đạo là người rất cẩn thận tỉ mỉ, chỉ có điều tính tình nóng nảy bộc trực, âu cũng là bản tính trời sinh. Con người mang tính khí như gã trái lại rất đáng tin cậy, có một nói một, có hai nói hai, chẳng giống kẻ thâm trầm như Tiền Văn Nghĩa.

Tôi nói: "Tiền tướng quân tự có nỗi khó xử của riêng mình, cũng đừng quá khắt khe với gã." Nói những lời này chẳng phải vì tôi độ lượng gì, chỉ là hiện giờ Tiền Văn Nghĩa dù sao cũng là Kiêu kỵ một doanh, tôi không thể vô duyên vô cớ làm khó gã.

Tào Văn Đạo cũng chẳng còn cách nào cãi lại tôi, bèn nốc thêm ngụm rượu, bực dọc buông một câu: "Nó cũng biết điều đấy, không dám lén phén tới gây sự."

Tiền Văn Nghĩa tuy kiệm lời ít nói, nhưng mệnh lệnh tôi ban xuống gã vẫn chấp hành răm rắp không sai một ly. Doanh ngũ do gã dẫn dắt đã thấp thoáng dáng dấp Tiền Phong Doanh năm xưa, dường như còn nghiêm cẩn chỉnh tề hơn cả năm trăm người dưới trướng Tào Văn Đạo.

Trời đã sập tối. Gió núi rít qua, rừng thông reo vi vu tựa như tràng gầm thét miên man bất tận. Nhìn vào màn đêm đặc quánh trước mắt, trong lòng tôi bỗng trào dâng một cảm giác trống trải khôn cùng.

Đời người như mộng, năm tháng như đao. Lưỡi đao ấy cắt đứt mộng dài, cũng rạch vào đáy lòng con người biết bao vết thương rỉ máu, những điều còn ghi nhớ được rốt cuộc sót lại mấy phần? Có lẽ chẳng bao lâu nữa, tôi sẽ quên hết sạch sành sanh mọi thứ, tất cả những gì trong quá khứ rồi sẽ dần trôi đi như một giấc chiêm bao.

Tôi đứng dậy, cất bước tiến về phía trước. Sắc trời đã tối hẳn, chỉ còn vương lại một dải ráng chiều nơi phương tây. Ánh ráng đỏ tía dần phai nhạt. Đã bao lâu rồi nhỉ, khi tôi còn là một đứa trẻ, tôi cũng từng ngắm nhìn bóng hoàng hôn như thế này.

Đó là chuyện hồi mới bước chân vào trường võ bị. Khi ấy tôi vẫn chỉ là một đứa trẻ chưa lớn, vào buổi hoàng hôn của ngày đầu tiên nhập học, bởi một nỗi hoang mang bất chợt ập đến, tôi đã một mình đứng trên ngọn đồi cạnh trường ngóng về nơi xa xăm. Tôi không hề nhớ nhà, cha quá đỗi nghiêm khắc với tôi, bởi vậy tôi luôn mang nỗi sợ hãi mỗi khi nghĩ đến việc về nhà. Thế nhưng ngày hôm ấy, khi ánh ráng chiều rực rỡ cuộn trào nơi chân trời, điều tôi cảm nhận được lại là sự trống rỗng và cô độc tột cùng. Đó là nỗi cô độc quên hết thảy mọi điều, ngỡ như giữa trời đất bao la này chỉ còn lại độc một mình tôi, dù có gào thét rách họng cũng chẳng một ai đoái hoài lắng nghe.

Trời đất là vĩnh hằng, còn đời người thì ngắn ngủi tựa giọt sương mai đọng trên đầu ngọn cỏ, chớp mắt đã tan biến không dấu vết. Những lời hào hùng tráng chí như "chinh phục thế giới", suy cho cùng chẳng qua chỉ là một câu nói ngông cuồng nực cười mà thôi. Thứ bị chinh phục chẳng phải là thế giới, mà chỉ là con người; còn chúng ta, vĩnh viễn chỉ là những kẻ tù đày của thế giới này.

Tôi đang miên man suy nghĩ thì một cơn gió lạnh lại thổi tới, khiến tôi rùng mình ớn lạnh. Vì phải đi đường dài, chiến giáp đều xếp cả trên xe, bên trong áo khoác tôi chỉ lót một lớp giáp mềm, lúc này quả thực có chút lạnh giá. Vừa định quay lại bên đống lửa sưởi ấm, bỗng nhiên giữa đội ngũ vang lên một hồi náo động.

Tào Văn Đạo đang ngồi nướng màn thầu bên đống lửa, nghe tiếng liền nhảy bật dậy, quát lớn: "Có chuyện gì thế?"

Tôi bảo: "Để tôi qua đó xem sao, cậu ở lại đây, cẩn thận một chút."

Nghe thanh âm kia không có vẻ gì là kinh hoàng hoảng loạn, e là cũng chẳng có gì nghiêm trọng. Tôi tung người nhảy lên lưng ngựa, phi tới giữa hàng ngũ, quát hỏi: "Có việc gì?"

Một viên bách phu trưởng bước tới hành lễ nói: "Thưa Thống chế, có mấy tên dân lưu tán đột nhiên chui ra xin đồ ăn."

Bấy giờ tôi mới để ý bên đống lửa có ba người quần áo rách rưới đang ngồi ngấu nghiến gặm thức ăn, Tiền Văn Nghĩa đang ngồi ngay bên cạnh họ. Tôi nhảy xuống ngựa bước lại gần, hỏi: "Này, các người từ đâu tới?"

Ba người ấy gồm hai nam một nữ, một già hai trẻ. Người đàn ông chừng hơn bốn mươi tuổi, cô gái khoảng mười tám mười chín, còn thiếu niên kia trông mới độ mười lăm mười sáu, có lẽ là một gia đình ba người. Nghe thấy tiếng tôi, cả ba người giật nảy mình đứng dậy, quỳ rạp xuống trước mặt tôi khóc lóc: "Tướng quân, chúng con là dân tị nạn trốn ra từ tỉnh Thành Muội, đây là con trai và con gái của con. Ba ngày nay chúng con chưa có hạt cơm nào vào bụng, xin tướng quân rủ lòng từ bi thương xót."

Trong bốn tỉnh Trung Tây, cương vực tỉnh Thành Muội là kỳ quái nhất, nằm áp sát tỉnh Thiên Thủy, dải đất trải dài hình chữ nhật hẹp, nam bắc cách nhau hàng ngàn dặm, mà nơi hẹp nhất từ đông sang tây chỉ có hơn hai trăm dặm. Ấy là bởi tỉnh Thành Muội dựa theo địa thế núi non mà lập, kẹp giữa hai rặng núi lớn sừng sững muôn trùng, đường sá hiểm trở gian nan. Toàn tỉnh ngoài phần phía bắc giao thông tương đối thuận tiện, những nơi còn lại đều là chốn man hoang hẻo lánh. Thủ phủ Thạch Hổ Thành của tỉnh Thành Muội vốn là một tòa thành lớn trong mười hai danh thành, dân số toàn tỉnh chừng một triệu hai trăm ngàn người thì có tới hơn một triệu người tụ cư ở mười dặm phía bắc. Trong mười chín hành tỉnh của đế quốc, tỉnh có sự phân hóa nam bắc sâu sắc nhất chính là Thành Muội. Phần phía nam tỉnh Thành Muội thậm chí còn nằm lui về phía nam so với tỉnh Thiên Thủy, có lẽ lúc này cũng đã rơi vào tay quân Xà Nhân. Nếu ba người này trốn ra từ tỉnh Thành Muội, tính ra cũng cùng một con đường năm xưa tôi từng trốn khỏi thành Cao Thứ.

Tôi quan sát họ một lượt. Cậu thiếu niên tuy quỳ dưới đất nhưng miệng vẫn nhai ngấu nghiến, còn cô thiếu nữ kia lại mang dáng vẻ điềm tĩnh ôn hòa. Vừa nhìn thấy nàng, tim tôi bỗng khẽ thắt lại, ánh mắt của nàng mang lại cho tôi một cảm giác quen thuộc mơ hồ, nhưng lại chẳng thể nhớ ra là ai. Tướng mạo nàng khá đoan trang, đôi mắt to long lanh có thần, rất rạng rỡ, pha lẫn đôi nét e thẹn. Vì bộ y phục trên người đã rách nát tả tơi nên để lộ ra một mảng da thịt trắng ngần nơi đầu vai, khiến không ít binh sĩ đứng quanh lén lút liếc nhìn. Vừa trông thấy nàng, lòng tôi như bị giáng một đòn nặng nề. Tôi thở dài, quay sang bảo viên bách phu trưởng: "Lấy ba bộ y phục tới đây, mang thêm chút lương khô nữa."

Viên bách phu trưởng mang ba bộ y phục tới. Trong quân doanh cũng chỉ có mấy bộ thường phục của binh lính, tôi đưa đồ cho họ rồi nói: "Thực sự áy náy, súc vật kéo xe của quân đội chúng tôi không thể cho các người mượn được, may mà Đế Đô cũng chẳng còn xa, các người đi thêm chừng mười ngày nữa chắc chắn sẽ tới nơi."

Từ Thành Muội lặn lội tới tận chốn này, đường sá quả thực quá đỗi gian nan. Người đàn ông đón lấy đồ đạc, hai mắt bỗng trào lệ, dập đầu lia lịa: "Đa tạ tướng quân, đa tạ tướng quân."

Tôi thở dài nói: "Đêm nay các người cứ nghỉ lại đây đi."

Người đàn ông đáp: "Tướng quân, các ngài còn có quân vụ tại thân, chúng con chẳng dám làm phiền, xin được chút đồ ăn thế này đã là vạn hạnh lắm rồi. Văn Mỹ, Văn Hoa, mau, dập đầu tạ ơn tướng quân đi."

Đây là lần đầu tiên gã mở miệng nói chuyện với tôi. Gã nói rất khẽ, tôi cũng hạ giọng đáp: "Bất kể là thật hay giả, việc họ đói khát mấy ngày nay là sự thật."

Tiền Văn Nghĩa giật mình, nói: "Sở tướng quân, hóa ra ngài cũng nhìn ra rồi."

Tôi cười nhạt: "Đúng vậy. Đầu ngón trỏ và ngón cái tay phải của người đàn ông đó có vết chai dày, đó là vết tích do người thường xuyên giương cung tạo thành. Y phục cô thiếu nữ kia rách rưới, theo lẽ thường khi nhận được áo thì việc đầu tiên gã phải làm là khoác lên người con gái, đằng này gã lại không. Quần áo rách nát đến mức ấy, đáng lý trên mình phải cáu bẩn lắm, nhưng phần da thịt lộ ra ngoài của họ lại chẳng hề có dấu vết bị sương gió nắng cháy, cho nên bộ quần áo rách rưới này sợ là mới thay vội vào thôi."

Tiền Văn Nghĩa há hốc mồm không thốt nên lời. Tôi nhảy lên lưng ngựa, dặn: "Bảo anh em tăng cường cảnh giới, tuyệt đối không được sơ suất. Trên đoạn đường này có một tên cựu tướng của Lý Đoan là Tằng Vọng Cốc đang tụ tập tàn quân thoắt ẩn thoắt hiện, phải đề phòng hắn ra tay với chúng ta."

Tôi vừa định giục ngựa quay về, Tiền Văn Nghĩa bỗng lại cất tiếng: "Sở tướng quân, nếu ngài đã nhìn ra sơ hở của họ, sao không giữ họ lại?"

Tôi thở dài nói: "Vạn nhất ta nhìn lầm thì sao? Ai, chỉ cần không xảy ra chuyện gì, cứ mặc họ đi đi."

Tôi vội quay về giục Tào Văn Đạo cũng phải siết chặt phòng bị. Ngồi trên lưng ngựa, lòng tôi lại dâng lên đôi chút bàng hoàng. Có thực là như những lời tôi vừa nói với Tiền Văn Nghĩa không? Kỳ thực, là bởi vì nhìn thấy ánh mắt của nàng kia, khiến tôi nhớ đến một người chăng?

Lồng ngực tôi lại thắt quặn từng cơn, nhói lên một nỗi đau đớn khôn nguôi. Tà áo màu vàng nhạt, những ngón tay trắng ngần như tuyết, tiếng đàn tỳ bà thánh thót như ngọc rơi trên mâm bạc. Con người ấy, kiếp này đời này, tôi vĩnh viễn chẳng thể nào gặp lại được nữa rồi... Tôi ngửa mặt lên trời, ép giọt lệ chực trào nuốt ngược vào khóe mắt, thế nhưng nỗi đau quặn thắt nơi đáy tim thì mãi mãi chẳng thể nào xóa nhòa.

Đêm ấy trôi qua bình yên vô sự, có lẽ là do tôi đa nghi quá chăng. Dẫu vậy tôi vẫn không dám lơ là, hạ lệnh toàn quân đề cao cảnh giác gấp bội. Đi thêm hai ngày nữa, đoàn quân đã tiến đến Quỷ Khiếu Lâm.

Người của Tằng Vọng Cốc vốn quen dùng cung tiễn tập kích, nếu hắn phát động đánh lén trong Quỷ Khiếu Lâm thì quả là một chuyện vô cùng gai góc. Trước bìa rừng Quỷ Khiếu Lâm, tôi lệnh cho toàn quân dừng lại nghỉ ngơi hồi sức một đêm, sáng sớm hôm sau lập tức nhổ trại xuất phát, dự tính sẽ dốc toàn lực một hơi vượt qua Quỷ Khiếu Lâm trong vòng một ngày. Dưới trướng Tằng Vọng Cốc chỉ có chừng trăm người, thực lực kém xa Tiền Phong Doanh, nghĩ lại cũng không cần phải quá đỗi lo âu.

Lúc tiến vào Quỷ Khiếu Lâm, Tào Văn Đạo cưỡi ngựa sóng vai cùng tôi, vừa đi vừa đánh mắt dò xét xung quanh, tặc lưỡi nói: "Cái nơi này âm u ghê rợn thật, nếu có kẻ phục kích ở đây thì khó đối phó lắm đấy."

Tôi nói: "Chính là thế. Nhắc các cánh quân phải hết sức cẩn thận, Tằng Vọng Cốc tuy người ít nhưng tiến thoái như gió, tuyệt đối không thể xem thường. Bảo tiền quân chú ý dò đường, đề phòng bọn chúng đào hầm bẫy trên lối đi."

Ban đầu các cánh quân nghe nói Tằng Vọng Cốc chỉ có hơn trăm người thì phần lớn đều tỏ vẻ chẳng thèm bận tâm. Nếu đối đầu trực diện, đám quỷ quân của Tằng Vọng Cốc dĩ nhiên chẳng bõ bèn gì, nhưng Tằng Vọng Cốc chắc chắn sẽ không đời nào ngốc nghếch giao phong chính diện với quân ta.

Lúc này đã tiến sâu vào trong Quỷ Khiếu Lâm, chỉ nghe bốn bề gió rít gào như ma quỷ khóc than trong đêm tối, nỉ non rền rĩ không dứt. Quỷ Khiếu Lâm rộng tới hai trăm dặm vuông, muốn vượt qua trong một ngày cũng chẳng phải chuyện dễ dàng. Bấy giờ đã gần trưa, nhưng cây cối trong rừng cao vút chọc trời, dù đã sang đông song vẫn còn vô số tầng lá chưa rụng hết, bên trong vẫn tối tăm mịt mù không thấy ánh mặt trời. Tào Văn Đạo thúc ngựa vượt lên trước, cất tiếng quát lớn: "Đinh Hiếu, cẩn thận đấy!"

Đinh Hiếu là viên bách phu trưởng đảm nhiệm vị trí tiên phong dưới trướng Tào Văn Đạo. Gã vốn là thuộc hạ cũ của Lục Kinh Ngư, tính tình tháo vát, làm việc rất đắc lực. Gã ngoảnh đầu đáp: "Tuân lệnh!"

Gã vừa dứt lời, đột nhiên từ phía tây vang lên một hồi la inh ỏi. Tiếng la đồng vang lên quá đỗi bất ngờ khiến tai tôi lùng bùng "ong ong", con ngựa Phi Vũ cũng giật mình hoảng hốt chồm hai chân trước lên hí vang. Tôi ghìm chặt dây cương, quát lớn: "Toàn quân xuống ngựa, chuẩn bị nghênh chiến, đề phòng hướng đông!"

Tằng Vọng Cốc cuối cùng cũng tập kích rồi! Không ngờ chỉ với hơn trăm người mà hắn thực sự dám mò tới tấn công, dẫu tôi vẫn luôn đề phòng nhưng khi sự việc xảy ra thật vẫn có chút ngỡ ngàng. Hắn lại giở trò cũ rích. Trong Quỷ Khiếu Lâm, chiến mã không thể phát huy tốc độ phi nước đại, sau khi làm lũ ngựa kinh sợ, hắn sẽ lập tức xả tên như mưa. Hai bên đường cây cao chọc trời, cành lá tuy rụng nhiều nhưng vẫn rậm rạp, nếu có kẻ nấp trên ngọn cây thì căn bản không thể nhìn thấy. Tằng Vọng Cốc chiếm cứ Quỷ Khiếu Lâm đã lâu, việc đánh lén trong rừng ắt hẳn đã quá đỗi thuần thục. Mánh khóe quen thuộc của hắn xưa nay vẫn vậy: trước tiên làm kinh động ngựa chiến, sau đó bắn một đợt mưa tên, đợi chúng tôi dạt sang phía bên kia đường né tránh thì lại phát động mai phục từ hướng ngược lại, cứ thế làm rối loạn thế trận của quân ta. Lần trước hắn tập kích đoàn sứ giả cống nạp của Tây Phủ Quân, mưu kế sử dụng cũng y hệt như thế này.

Tôi tung người nhảy xuống ngựa, kéo Phi Vũ nép sát vào bên xe lương, dán chặt mắt về phía đông con đường. Đúng lúc đó, từ hướng đông lại ập xuống một trận mưa tên, nhưng quân ta đã có phòng bị từ trước, đợt tên này phần lớn đều bị gạt phăng. Tôi vung thương hất văng một mũi tên bắn về phía Phi Vũ. Đột nhiên từ phía tây con đường lại rộ lên một hồi thanh la chát chúa, tên bay xuống tức thì thưa thớt hẳn. Tào Văn Đạo cầm thương chạy xộc lại nói: "Sở tướng quân, chúng nó định tháo chạy kìa, để tôi đi lấy đầu thằng Tằng Vọng Cốc này về!"

Tôi đảo mắt nhìn quanh, ba quân nhờ nghe tôi dặn dò kỹ lưỡng về thủ đoạn quen thuộc của Tằng Vọng Cốc nên đợt đánh lén vừa rồi không hề làm rối loạn đội hình. Hơn nữa phần lớn binh sĩ nghe lời tôi cảnh báo quỷ quân của Tằng Vọng Cốc thiện xạ nên trên mình đều mặc giáp trụ chỉnh tề, số người bị thương rất ít, thương vong e là chẳng có ai. Tôi gật đầu: "Được, cậu điểm hai trăm người, chúng ta cùng đuổi theo, nhân cơ hội này chém chết Tằng Vọng Cốc để con đường này được thái bình."

Tào Văn Đạo nở một nụ cười hưng phấn, gầm lên: "Tuân lệnh!"

Tằng Vọng Cốc đánh lén chúng tôi, phần lớn là muốn cướp đoạt chút lương thảo, bởi thế đòn tấn công của hắn chắc chắn không thể kéo dài, một kích không thành là đã manh nha ý định thoái lui. Đã dám mò tới đánh lén thì quyết không thể để hắn ung dung toàn mạng rút lui, chí ít cũng phải bắt hắn trả giá đắt, cho hắn biết tới thì dễ mà về thì khó. Tào Văn Đạo nôn nóng lập công, ngực tôi cũng bùng lên một ngọn lửa chiến ý hừng hực.

Dặn dò Đinh Hiếu mấy câu, bảo gã cùng Tiền Văn Nghĩa tạm thời thống lĩnh số tàn quân còn lại, tôi siết chặt ngọn trường thương, dẫn bọn Tào Văn Đạo đuổi riết về hướng đông.

Người của Tằng Vọng Cốc di chuyển thoăn thoắt trên các ngọn cây, nhưng dẫu có linh hoạt đến mấy cũng chẳng thể nào nhanh nhẹn bằng chúng tôi chạy dưới mặt đất. Tôi nhìn những tán lá cây rung lên bần bật từng chập, chốc chốc lại có lá rụng lả tả, đó chính là do bọn chúng va quẹt phải khi di chuyển. Đang sải bước chạy, Tào Văn Đạo đã rút cây trường cung sau lưng ra, quát lớn: "Rơi xuống cho ông!"

Cung thuật của gã chưa hẳn đã cao siêu tột bậc, nhưng vừa chạy vừa giương cung bắn chuẩn xác thế này cũng kể là hiếm có. Dây cung vừa bật lên "phựt" một tiếng giòn giã, một bóng người liền thảm thiết rú lên, từ trên ngọn cây rơi thẳng xuống đất. Trong hàng ngũ Tiền Phong Doanh lập tức vang lên một tràng reo hò, những binh sĩ mang theo cung tên đua nhau giương cung bắn loạn xạ lên trên. Dù không nhìn rõ tình hình trên cây, nhưng tên phóng lên dày đặc như nêm, lại có thêm mười mấy bóng người trúng tên rớt lảo đảo xuống. Những thân cây ấy đều cao tới vài trượng, có kẻ trúng tên không phải vết thương chí mạng nhưng ngã từ độ cao ấy xuống cũng đủ nát thịt tan xương, chết đi sống lại.

Đám người của Tằng Vọng Cốc điên cuồng tháo chạy một hồi, đến lúc này hơi thở đã đứt quãng, buộc phải khựng lại một nhịp. Chỉ một thoáng khựng lại ấy thôi, rốt cuộc đã bị chúng tôi phản kích trúng đích. Tôi thừa hiểu Tằng Vọng Cốc chịu thiệt hại này thế nào cũng bắn trả, bèn dán chặt mắt nhìn lên đỉnh đầu. Nào ngờ bọn chúng chỉ khựng lại trong chớp mắt rồi lại cắm đầu lao về phía trước, tuyệt nhiên không hề bắn trả một mũi tên nào.

Tào Văn Đạo lại đặt một mũi tên lên dây, miệng chửi bới om sòm: "Mẹ kiếp, nếm thêm một phát của ông nữa này!" Gã kéo căng cung như trăng tròn, buông tay bắn vút đi, "xoẹt" một tiếng, một mảng lá cây bị phạt đứt rơi lả tả, nhưng lần này e là không trúng đích. Gã vừa toan giương cung bắn tiếp thì một mũi tên xé toạc tán lá, nhắm thẳng đỉnh đầu gã lao xuống vun vút. Mũi tên này bắn tới cực nhanh, lòng tôi thắt lại, vội vàng rút phắt Bách Tịch đao ra, thét lớn: "Cẩn thận!" Ngọn thương tay trái chống mạnh xuống đất mượn lực nhảy vọt lên, vung đao chém phăng về phía mũi tên hiểm ác. "Xoảng" một tiếng, mũi tên bị tôi phạt đứt làm đôi, gãy văng đi đằng nào chẳng rõ. Sắc mặt Tào Văn Đạo cũng có chút tái nhợt, chửi rủa: "Thằng khốn kiếp!" Mũi tên trong tay gã lập tức đặt lên dây cung, nhắm thẳng hướng mũi tên vừa phóng tới mà bắn trả, nhưng mũi tên bắn đi chẳng nghe thấy động tĩnh gì, xem chừng lại trượt nữa rồi.

Tôi đảo mắt nhìn quanh, binh sĩ Tiền Phong Doanh đều là những cựu binh dạn dày trăm trận, chỉ có mười mấy người bị thương nhẹ, còn quỷ quân Tằng Vọng Cốc rơi rụng dưới đất cũng có mười mấy tên, phần lớn đều ngã chấn thương bất tỉnh nhân sự. Những kẻ này đều mặc áo xanh lục, hèn chi ẩn nấp giữa tầng lá biếc chúng tôi rất khó nhận ra. Tôi vỗ nhẹ vào thắt lưng thì tay quờ phải khoảng không, bấy giờ mới sực nhớ cây thủ nỏ đã cất trong xe hành lý không mang theo. Đợt tập kích lần này của Tằng Vọng Cốc quả là mất nhiều hơn được, tổn thất nặng nề. Tôi vừa định bảo mọi người dừng lại không đuổi nữa thì Tào Văn Đạo bỗng quái thanh la lớn: "Chúng nó nhảy xuống đất rồi kìa!"

Cách phía trước chừng hơn trăm bước chân, có một toán người nhảy ào xuống đất. Tào Văn Đạo đã gầm lên: "Anh em, chém sạch đầu lũ này cho ông!" Gã quàng cây cung ra sau lưng, dẫn đầu lao thốc tới. Tôi toan ngăn gã lại nhưng sao kịp nữa, một toán binh sĩ đã bám sát gót gã phi như bay về phía trước. Đám người nhảy xuống đất tháo chạy có độ bốn năm mươi tên, ai nấy đều vận áo xanh, trên mình không mặc giáp mềm, nếu cận chiến thực sự căn bản không thể là đối thủ của quân ta, Tào Văn Đạo hẳn đinh ninh tóm gọn lũ này dễ như trở bàn tay.

Tôi để lại mười mấy người tại chỗ trói gô đám quỷ quân nằm la liệt trên mặt đất lại, lòng nơm nớp lo Tào Văn Đạo sẽ lọt vào bẫy của Tằng Vọng Cốc nên vội vàng dẫn số người còn lại đuổi riết theo sau. Tuy nhiên người của Tằng Vọng Cốc không nhiều, lại chia làm hai cánh, cánh này nhiều lắm cũng chỉ có chừng ấy tên, e là cũng chẳng nghĩ ra được cạm bẫy gì ghê gớm. Chỉ là không rõ Tằng Vọng Cốc có trà trộn trong đám này hay không, nếu thực sự có thể xách được thủ cấp của hắn tới thành Phù Đôn thì quả là một phen phô trương thanh thế trước mặt Tây Phủ Quân.

Người của Tằng Vọng Cốc sau khi xuống đất thì chạy càng nhanh hơn, binh sĩ Tiền Phong Doanh vì mang giáp trụ nặng nề nên chạy rất tốn sức, thành thử khoảng cách có phần bị kéo giãn ra. Nhưng lính Tiền Phong Doanh toàn là quân xông pha từ nơi hòn tên mũi đạn mà ra, huấn luyện bài bản, lúc luyện binh ngày thường có một bài tập bắt buộc là mang giáp hành quân, bởi vậy vẫn cắn đuôi rất ráo riết, duy trì cự ly tầm hai ba trăm bước. Cứ đuổi theo kiểu này e là sẽ mất dấu, tôi vừa toan cất giọng bảo Tào Văn Đạo dừng lại thì phía trước bỗng mở ra một khoảng không gian thoáng đãng, xuất hiện một bãi đất trống mênh mông.

Đó là một thung lũng, nhìn từ xa thấy có vài nếp nhà lụp xụp, ắt hẳn là sào huyệt của Tằng Vọng Cốc. Lòng tôi mừng thầm, nhưng thoáng chốc lại thấy có điều gì đó bất an. Bọn chúng dẫn dụ chúng tôi tới chốn này, lẽ nào thực sự có mai phục? Binh pháp có câu: "Thung lũng sâu, rừng rậm rạp, chớ có khinh suất dấn thân vào", âu cũng là đạo lý ấy. Tào Văn Đạo cũng đã dừng bước, đang đứng chống nạnh gào thét: "Lũ súc sinh chúng mày, có gan thì ra đây đấu một trận sống mái với ông nội mày xem!" Nhưng gã cũng không dám khinh suất xông bừa vào trong. Tên này tuy tính tình thô lỗ cộc cằn nhưng làm việc lại khá cẩn trọng.

Tôi dẫn người đuổi kịp Tào Văn Đạo, ngoảnh lại quát lớn: "Bày trận!" Tiền Phong Doanh quả không hổ danh là thuộc hạ năm xưa của Lục Kinh Ngư, lập tức dàn thành một hàng ngang chỉnh tề, chặn đứng cửa thung lũng. Lúc này xung quanh không còn cây cối rậm rạp, chẳng cần bận tâm Tằng Vọng Cốc tập kích từ trên đỉnh đầu nữa, chỉ cần đề phòng có kẻ đâm lén sau lưng là xong. Điều đáng sợ nhất lúc này là khi xông vào thung lũng, ngộ nhỡ trên hai vách núi có phục kích mười mấy người rồi lăn đá tảng xuống thì quân ta chắc chắn sẽ chịu thiệt thòi lớn.

Tôi bước tới cạnh Tào Văn Đạo, gã hạ giọng hỏi: "Thống chế, tính sao đây?"

Đám người của Tằng Vọng Cốc đứng ở cửa thung lũng nhưng không bắn tên nữa, chỉ mượn cây cối và gờ đá nơi cửa cốc để che chắn thân mình, đề phòng chúng tôi bắn tên tới. Thế trận này quả thực trông giống như đã bước vào đường cùng ngõ hẻm, đang cố sức giãy chết chống cự. Tôi nói: "Tằng Vọng Cốc có thể nhiều lần thoát khỏi các đợt càn quét của Tây Phủ Quân, tuyệt đối không phải hạng tầm thường, mọi người phải cẩn thận."

Chúng tôi bất kể về trang bị hay quân số đều chiếm ưu thế tuyệt đối. Vạn nhất mà trúng mai phục thật thì tôi chẳng còn mặt mũi nào nhìn ai nữa. Tào Văn Đạo gật đầu nói: "Để tôi dẫn một nửa anh em lên trước thám thính xem hư thực ra sao, Sở tướng quân, ngài ở lại đây chú ý tiếp ứng."

Tôi dặn: "Cậu phải đề phòng chúng mai phục trên vách núi lăn đá xuống đấy."

Tào Văn Đạo vâng dạ một tiếng, điểm một nửa quân số bước lên phía trước. Tôi dẫn một nửa còn lại giương sẵn cung tên nhắm thẳng về phía trước, chỉ cần có một bóng người ló đầu ra là lập tức buông tên bắn liền. Gã vừa sải bước tiến lên được hai bước, đột nhiên có một bóng người từ trong thung lũng bước ra, cất tiếng gọi: "Này..."

Hắn mới chỉ thốt lên được một tiếng, mấy chục binh sĩ quanh tôi đã đồng loạt buông dây cung. Mấy chục mũi tên xé gió lao tới, người nọ hét thảm một tiếng, vội vã lùi vào trong né tránh, nhưng bả vai đã trúng một tên. Tôi giơ tay ngăn cản mọi người tiếp tục bắn, bảo: "Khoan đã, dường như bọn chúng có điều muốn nói."

Người nọ lại tập tễnh bước ra ngoài. Nhìn từ đằng xa, chỉ thấy trên vai hắn vẫn còn cắm một mũi tên, hắn gào lên: "Các người rốt cuộc là quân lính ở đâu tới?"

Tào Văn Đạo đứng cách hắn chỉ chừng vài chục bước chân, cất giọng sang sảng: "Bọn ta là Tiền Phong Doanh do Sở Hưu Hồng tướng quân thống lĩnh. Tằng Vọng Cốc có ở đó không? Bảo hắn tự giác mang đầu dâng lên, những người còn lại sẽ tha cho con đường sống."

Đám người bên kia im phăng phắc một hồi. Bỗng nhiên, có một giọng nói the the cất lên: "Là tên Sở Hưu Hồng phải không?"

Giọng nói ấy chứa chan một nỗi oán độc ngút trời, dù lúc này đang là giữa trưa nắng gắt, ánh dương rực rỡ, tôi vẫn bất giác rùng mình ớn lạnh. Tào Văn Đạo xoay người nhìn tôi, có lẽ vô cùng kinh ngạc vì danh tiếng của tôi lại lớn đến mức này. Tôi bước lên phía trước, cao giọng hỏi: "Các hạ chính là Tằng Vọng Cốc?"

Lần trước đi cùng bọn Đường Khai về Đế Đô, giữa đường bị Tằng Vọng Cốc mai phục, tôi đã chém chết một tên của bọn chúng, khi ấy Tằng Vọng Cốc đã thề sẽ lấy mạng tôi. Vừa nghe thấy thanh âm này, tôi lập tức nhớ lại khung cảnh ngày hôm ấy. Khi đó nghe giọng Tằng Vọng Cốc the thé the thé tựa như một đứa trẻ mười lăm mười sáu tuổi, trong lòng tôi từng lấy làm kỳ lạ khôn cùng.

Từ sau một gờ đá, một bóng người thấp bé chầm chậm bước ra. Người này cũng vận áo khoác xanh lục, trên mặt đeo một chiếc mặt nạ quỷ dữ tợn, sau lưng đeo một cây trường cung. Hắn bước ra ngoài, đặt cây cung và bao tên xuống đất, lại rút từ thắt lưng ra một thanh đao, chỉ thẳng vào mặt tôi quát lớn: "Ta chính là Quỷ Đầu Tằng! Sở Hưu Hồng, còn nhớ lời ta nói năm xưa không?" Thanh đao của hắn không rõ là mạ vàng hay thế nào mà toàn thân óng ánh sắc vàng, tỏa ra ánh quang rực rỡ.

Tôi tiến lên vài bước nói: "Đương nhiên nhớ. Nhưng lời ấy e là không thực hiện được rồi. Tằng Vọng Cốc, ngươi lập tức buông vũ khí đầu hàng, ta sẽ tha mạng cho đám thuộc hạ của ngươi, chỉ giải một mình ngươi về thành Phù Đôn."

Tằng Vọng Cốc đeo mặt nạ trên mặt nên không nhìn rõ biểu cảm, chỉ có đôi mắt kia như muốn phun ra lửa. Hắn quát: "Thối tha! Họ Sở kia, ngươi có gan thì ra đây quyết đấu sinh tử một trận với ta!"

Tôi bật cười: "Ta là thống soái một quân, đạo làm tướng không cậy dũng khí của kẻ thất phu. Ngươi rốt cuộc có hàng hay không?"

Tằng Vọng Cốc the thé thét lên: "Đồ nhát gan như chuột!"

Tôi sa sầm nét mặt, quát lớn: "Bắn tên!"

Sau lưng tôi lập tức ào ra một đợt mưa tên rợp trời. Tằng Vọng Cốc có lẽ cũng không ngờ tôi lại dứt khoát hạ lệnh bắn tên như thế, hắn vội vã lùi bật về sau, thanh đao trong tay múa tít thành một quầng sáng bảo vệ quanh thân. Cách làm này tuy có phần chẳng mấy quang minh chính đại, nhưng hạng người như Tằng Vọng Cốc xưa nay chuyên trò đánh lén khách qua đường, tôi cũng chẳng rảnh rỗi hơi đâu mà nói chuyện quân tử với hắn. Nếu để hắn chạy thoát, tôi thực sự không dám đuổi sâu vào rừng nữa, chi bằng dứt khoát bắn chết hắn cho xong, số thuộc hạ còn lại kia cũng đỡ uổng mạng.

Lúc này khoảng cách chỉ còn chưa đầy trăm bước, Tiền Phong Doanh vừa bắn tên ra thì đột nhiên từ sau những tảng đá kia cũng bay vọt ra một loạt mưa tên dày đặc, nhắm thẳng vào tôi. Tôi không ngờ Tằng Vọng Cốc cũng có chung toan tính ấy, trong lòng kinh hãi tột độ, Bách Tịch đao đã tuốt khỏi vỏ, cả người vội vã lùi bật ra sau. Tên của bọn chúng phóng ra tuy không dày bằng Tiền Phong Doanh, nhưng mấy chục mũi tên cùng lúc bắn tới vẫn cực kỳ khó chống đỡ. Tào Văn Đạo kêu lên một tiếng kinh hãi, cùng một người lính khác xông tới, hai người vung đao gạt phăng những mũi tên bắn về phía tôi. Chỉ nghe "á" một tiếng thảm thiết, người lính kia động tác tuy nhanh nhưng vẫn bị một mũi tên cắm phập vào yết hầu, thân hình vẫn đứng sừng sững không ngã, những mũi tên bay tới găm vào giáp gã nghe "keng keng" chát chúa.

Người lính này vì tôi mà chết! Tôi cố đè nén ngọn lửa giận ngút trời trong lồng ngực, trấn tĩnh lại tinh thần, nhìn sang thì thấy trước mặt Tằng Vọng Cốc là một đống tên gãy vụn. Hắn chẳng cần ai giúp đỡ mà không một mũi tên nào bắn trúng được thân thể hắn, thậm chí có những mũi tên còn găm lệch vào vách núi cách hắn tới ba bốn thước. Xem ra thuật bắn cung của binh sĩ Tiền Phong Doanh cũng vàng thau lẫn lộn, chẳng bì được với tài xạ kích của đám quỷ quân dưới trướng Tằng Vọng Cốc. Tôi gầm lên: "Ra tay! Một tên cũng không được tha!"

Tằng Vọng Cốc và thuộc hạ đang đứng ngay cửa thung lũng, lúc này xông lên, nếu trên núi có mai phục thì chính bọn chúng cũng sẽ bị đá đè bẹp dí, xem ra bọn chúng thực sự đã cùng đường mạt lộ mới tháo chạy về đây. Tôi vì toan tính quá nhiều mà khiến một người anh em phải bỏ mạng, trong lòng vừa tự trách vừa căm phẫn sục sôi, đã chẳng còn ý định khoan nhượng cho bất kỳ ai nữa, nhất quyết phải giết sạch sành sanh toán người của Tằng Vọng Cốc.

Tào Văn Đạo gầm lên: "Tất cả theo ta!" Gã vốn đứng ở phía trước tôi, dồn sức lao vọt lên. Hai trăm người giữa biển quân ngàn vạn thì chẳng thấm vào đâu, nhưng trong thung lũng hẹp này đồng loạt xông trận thì thực sự mang khí thế dời non lấp bể không gì cản nổi. Tôi bám sát ngay sau lưng Tào Văn Đạo, chẳng buồn dùng trường thương mà siết chặt thanh Bách Tịch đao trong tay, khóa chặt bóng dáng Tằng Vọng Cốc. Hắn khiêu chiến tôi, tôi không nhận lời, nhưng lúc này buộc phải phân cao thấp một trận với hắn. Tôi đã hạ quyết tâm, nhất định phải chém lấy thủ cấp của hắn để tế điện anh linh người huynh đệ đã khuất.

Tằng Vọng Cốc vẫn đứng sừng sững bất động, tay cầm đơn đao, tựa như đang đợi tôi xông tới. Dẫu mặt hắn bị chiếc mặt nạ che kín, nhưng tôi dường như vẫn thấy rõ nụ cười khẩy nơi khóe môi hắn. Tôi sải một bước dài vọt qua trước mặt Tào Văn Đạo, tung người nhảy vọt lên cao, gầm lên thịnh nộ: "Nộp mạng đi!"

Nhát đao này bổ thẳng xuống đỉnh đầu hắn. Nào ngờ vừa xông tới trước mặt hắn, tôi bỗng cảm giác như có ai đó dùng sức mạnh kinh người giằng lấy thanh đao của mình. Sức mạnh này ập đến quá đỗi bất ngờ khiến tôi kinh hãi tột cùng, vội liếc mắt sang bên cạnh vì ngỡ có kẻ nào tiếp chiêu đỡ đao cho hắn, thế nhưng bên cạnh làm gì có bóng người nào! Trong lòng tôi kinh sợ tột độ, chỉ cảm thấy trên thân đao vẫn truyền đến một luồng lực hút kỳ lạ, tuy lực không quá lớn nhưng thanh đao của tôi đã hoàn toàn mất phương hướng, không còn chém chuẩn về phía Tằng Vọng Cốc nữa. Đúng lúc này, Tằng Vọng Cốc nhảy bật lên, the thé thét: "Kẻ chết là ngươi!"

Lưỡi đao của hắn đâm thẳng tắp vào ngực tôi. Lòng tôi kinh hãi không thôi, trên thanh Bách Tịch đao vẫn truyền tới luồng lực kỳ quái ấy, ngỡ như có một người vô hình đang ghì chặt lấy đao của tôi vậy. Tôi gồng sức giật mạnh thanh đao, nhân đà quét ngang một nhát, dẫu thực sự có người vô hình đi chăng nữa thì cú giật này của tôi cũng chắc chắn thoát khỏi sự khống chế của đối phương. Thế nhưng lực kéo trên tay hắn chẳng hề suy suyển mảy may. Bên cạnh bỗng vang lên tiếng kêu thất thanh của Tào Văn Đạo: "Cái trò tà ma quỷ quái gì thế này?"

Đao của Tằng Vọng Cốc đã cận kề lồng ngực, mà thanh Bách Tịch đao của tôi vẫn chậm mất một nhịp, không kịp thu về che chắn trước ngực. Tim tôi thắt lại, vội hít sâu một hơi dài, lồng ngực nhân đà thót lại một vòng. Con người ta khi hít thở vốn là như vậy, muốn hóp ngực thót bụng thì phải hít một hơi trước, lồng ngực co lại một vòng sẽ khiến đà đao của Tằng Vọng Cốc giảm đi nửa phần uy thế, vả lại tôi còn có giáp mềm hộ thân, chắc hẳn có thể chống đỡ được nhát đao này của hắn.

"Xoẹt" một tiếng, mũi đao của hắn rạch một đường thật mạnh lên lớp giáp mềm nơi ngực tôi, nhưng không hề thấy đau đớn, xem ra chưa rạch rách da thịt. Nhìn thanh đao sắc vàng chói lọi của hắn, bàn tay tôi bỗng buông lỏng, Bách Tịch đao tuột khỏi tay rơi xuống, bàn tay phải chộp chuẩn xác vào sống đao của Tằng Vọng Cốc, đồng thời tung một cước đá văng ra, chưởng trái nhân thế chém thẳng vào cổ tay hắn. Tằng Vọng Cốc không ngờ tôi lại dám vứt đao tay không đoạt kiếm như thế, hắn vốn định rút đao chém tiếp nhưng sống đao đã bị tôi nắm chặt. Hắn không có lá gan dám vứt bỏ vũ khí như tôi nên hai tay vẫn siết chặt lấy chuôi đao, bàn tay trái của tôi đã túm chặt lấy cổ tay hắn, cú đá phía dưới cũng giáng thẳng vào bụng dưới của hắn.

"Bốp" một tiếng nặng nề, hắn bị cú đá của tôi hất văng ra sau chừng ba bốn thước. Tôi đáp chân xuống đất, lại thấy Tào Văn Đạo và đám binh sĩ đang chật vật chống đỡ. Không hiểu vì sao động tác của bọn họ lại vô cùng chậm chạp vụng về, tựa như bộ chiến giáp trên người nặng tới hàng trăm cân vậy. Một toán quỷ quân mặc áo xanh đang điên cuồng tấn công họ, bọn họ tả xung hữu đột, trông chừng sắp không chống cự nổi nữa rồi. May sao đám quỷ quân kia đều không mang theo binh khí sắt thép, phần lớn chỉ dùng gậy gỗ vót nhọn, bị nện vài phát vẫn còn gắng gượng chịu đựng được.

Khóe mắt tôi liếc qua, kinh ngạc thấy thanh Bách Tịch đao của mình lúc này đang dính chặt vào vách núi đá. Khi tôi buông đao chẳng hề dùng sức ném đi, mà vị trí tôi đứng cách vách đá tới năm sáu thước, lẽ nào Bách Tịch đao tự biết bay xa hơn nửa trượng ư? Điều kỳ lạ là lúc này tôi cầm thanh đao của Tằng Vọng Cốc trên tay lại chẳng hề thấy có điều gì bất thường.

Rốt cuộc là chuyện quái quỷ gì thế này? Đột nhiên, đầu óc tôi lóe lên một tia sáng, tôi đã hiểu thấu sự huyền diệu trong đó.

Hóa ra Tằng Vọng Cốc quả thực có mai phục, chỉ có điều cạm bẫy này vô cùng đặc biệt. Tôi cao giọng quát lớn: "Những ai không mặc chiến giáp mau xông lên, bằng không thì rút hết ra khỏi thung lũng mau!"

Binh sĩ Tiền Phong Doanh phần lớn đều mặc giáp trụ, số người không mặc giáp chỉ có độ hai ba mươi người. Sau tiếng quát của tôi, tôi lao vọt tới cạnh Tào Văn Đạo, đúng lúc một tên quỷ quân cầm chiếc gậy gỗ vót nhọn đâm thẳng vào mặt Tào Văn Đạo. Trên cánh tay Tào Văn Đạo cũng dính thêm mấy vết rách toạc, gã mặc chiến giáp nên gậy gỗ căn bản không đâm xuyên qua được, vết thương không đáng ngại, nhưng nếu chiếc gậy này đâm trúng mặt thì quả là nguy to. Tôi lao tới bên cạnh gã, chiếc gậy gỗ đã cận kề ngay trước mặt, tôi vung thanh đao chém mạnh từ trên xuống dưới, lưỡi đao tay phải miết dọc theo thân gậy gỗ lướt xuống, "rắc" một tiếng giòn tan, hai ngón tay tên kia bị tôi phạt đứt lìa, chiếc gậy gỗ tuột khỏi tay, hắn ôm lấy bàn tay đẫm máu rú lên đau đớn. Tôi chẳng buồn bận tâm xử lý hắn nữa, lấy vai húc mạnh vào người Tào Văn Đạo, đẩy gã lùi lại mấy bước, gầm lên: "Mau ra ngoài!"

Lúc này những binh sĩ không mặc giáp đã ùa vào. Bọn họ tuy không hiểu nguyên do của mệnh lệnh này nhưng vẫn chấp hành răm rắp, một số binh sĩ mặc giáp cũng vội vã lột bỏ giáp trụ rồi xông vào tiếp ứng. Quỷ quân tuy thiện xạ bắn tên nhưng cận chiến đao thương gậy gộc thế này thì kém xa đám binh sĩ Tiền Phong Doanh dạn dày trận mạc, mà số lượng binh sĩ xông vào lại ngày một đông, bọn chúng căn bản không thể nào chống đỡ nổi nữa. Lính Tiền Phong Doanh ai nấy đều liều mạng xông pha, ra tay tàn nhẫn không chút nương tình, trên mặt đất lại nằm la liệt thêm mười mấy xác chết quỷ quân, những kẻ còn sống sót phần lớn đều mang thương tích đầy mình.

Tôi vừa toan vung đao chém tiếp thì đột nhiên giọng nói the thé của Tằng Vọng Cốc lại vang lên: "Dừng tay! Ta theo các người đi! Đừng giết nữa!"

Tôi giật mình kinh hãi, chỉ thấy Tằng Vọng Cốc đang tập tễnh lê từng bước chầm chậm tiến về phía tôi. Hắn trúng một cước của tôi, có lẽ cũng bị chấn thương nội tạng, bước đi có phần lảo đảo. Tôi hạ đao xuống, quát lớn: "Toàn quân dừng tay!"

Khi nãy bọn Tào Văn Đạo vừa xông vào, có vài binh sĩ do cử động khó khăn cũng đã bị trọng thương, lúc này việc cấp bách nhất là cứu chữa cho số binh sĩ ấy. Tôi nhìn Tằng Vọng Cốc bước tới gần, lạnh lùng hỏi: "Tằng Vọng Cốc, ngươi nhận thua rồi sao?"

Tằng Vọng Cốc ngẩng cao đầu nói: "Ta không phục. Nếu ta cũng có hai trăm người thì các người chắc chắn kẻ nào cũng chết không có chỗ chôn thây."

Tào Văn Đạo mắng: "Chết đến đít rồi mà còn mạnh mồm!" Gã được người ta giúp lột bỏ chiến giáp, lúc này cũng bước tới đứng cạnh tôi. Ngoại thương của gã không nhẹ, một cánh tay bị máu nhuộm đỏ tươi nhưng gã dường như chẳng hề hay biết.

Tằng Vọng Cốc nói: "Ta đi theo các người, chỉ xin các người tha mạng cho những người này."

Tào Văn Đạo giận dữ quát: "Bây giờ không có điều kiện gì hết, giết sạch!"

Gã nổi trận lôi đình, toan lao lên thì tôi đưa tay cản lại, nhìn Tằng Vọng Cốc hỏi: "Ngươi nói thật lòng đấy chứ?"

Hắn chìa hai tay ra, người đứng bất động. Tôi nhìn hắn nói: "Ngươi có biết rằng tướng bại trận thì không có tư cách đàm phán điều kiện không? Ta không đồng ý."

Bất kể Tằng Vọng Cốc có muốn hay không, hiện giờ hắn căn bản không còn đường trốn chạy nữa. Tôi căm ghét việc hắn dùng loại cạm bẫy độc địa này, nếu hắn thực sự có hai trăm người thì quân ta dù không toàn quân bị diệt thì chí ít cũng phải thương vong quá nửa. Tôi đã hạ quyết tâm, tuyệt đối không động lòng trắc ẩn nữa, một mống cũng không tha.

Đám quỷ quân nhìn nhau ngơ ngác, đột nhiên có một tên quỷ quân vóc dáng nhỏ nhắn bước ra, quỳ sụp xuống trước mặt Tằng Vọng Cốc khóc nấc lên: "Tằng phu nhân, kiếp sau xin gặp lại."

Giọng nói người này trong trẻo ngọt ngào, hóa ra chính là cô thiếu nữ tên "Văn Mỹ" hôm trước. Nàng ta quả nhiên là người của Tằng Vọng Cốc, nhưng tôi còn chưa kịp nổi giận thì đã sững sờ. Nàng ta lại gọi Tằng Vọng Cốc là "Tằng phu nhân", lẽ nào Tằng Vọng Cốc lại là nữ nhi?

Tằng Vọng Cốc chầm chậm gỡ chiếc mặt nạ quỷ trên mặt xuống, để lộ ra một dung nhan kiều diễm tuyệt trần. Năm xưa Dạ Ma Đại Vũ từng nói với tôi rằng Tằng Vọng Cốc nghe đồn là luyến đồng của Lý Đoan, lời ấy chẳng phải là bịa đặt, chỉ có điều bọn họ đã nghĩ sai hướng. Tằng Vọng Cốc thực chất là thiếp thất của Lý Đoan, hèn chi tôi cứ đinh ninh nàng là một đứa trẻ mười lăm mười sáu tuổi.

Khi Tằng Vọng Cốc gỡ mặt nạ xuống, binh sĩ Tiền Phong Doanh đều đồng thanh bật ra một tiếng thở dài thảng thốt. Cô nàng Văn Mỹ kia trông cũng không đến nỗi nào, nhưng đứng cạnh Tằng Vọng Cốc thì thực sự trở nên vô cùng mờ nhạt. Tằng Vọng Cốc có thể coi là một tuyệt đại giai nhân, bọn họ thở dài ắt hẳn cũng là vì tiếc thương cho một mỹ nhân nghiêng nước nghiêng thành sắp bị chém đầu lấy mạng. Tằng Vọng Cốc quay sang nhìn tôi, nói: "Sở tướng quân, ta tung hoành ở chốn này bấy lâu nay, không ngờ lại gãy cánh trong tay các ngài. Khi Lý đại nhân còn sống, dốc cạn binh mã toàn tỉnh Thiên Thủy cũng chẳng có đội quân nào bì kịp các ngài. Chỉ mong Sở tướng quân thấu hiểu đức hiếu sinh của trời cao, thả cho đám đàn bà con trẻ trong thung lũng của ta một con đường sống."

Lòng tôi lúc này rối như tơ vò. Tôi nói muốn giết sạch quỷ quân, nhưng căn bản không ngờ trong hàng ngũ quỷ quân lại có cả phụ nữ và trẻ con. Tôi nhìn trừng trừng vào nàng, gằn từng tiếng: "Ngươi có hứa sẽ giải tán thuộc hạ, từ nay về sau không tập kích quân đội đế quốc qua lại nữa không?"

Tào Văn Đạo đứng cạnh tôi sốt ruột giục: "Sở tướng quân, con mụ này mồm mép trơn tru lừa gạt người ta đấy, không thể thả được đâu!"

Tôi ngoảnh lại nhìn phía sau, binh sĩ Tiền Phong Doanh ai nấy đều lặng thinh đứng trơ ra đó. Họ theo tôi tới đây truy sát giặc, lúc này đã có năm người hy sinh, nếu tôi thả Tằng Vọng Cốc đi, không biết họ có bất phục hay không. Tâm trạng phiền muộn rối bời, tôi quay sang quát Tào Văn Đạo: "Câm mồm!"

Tôi chưa bao giờ gắt gỏng với gã như thế, Tào Văn Đạo cũng sững sờ trong thoáng chốc, không dám nói thêm lời nào nữa. Tôi cao giọng hỏi: "Hỡi các anh em, ý các người thế nào?"

Đám binh sĩ nhìn nhau, chẳng một ai chịu mở miệng. Có lẽ chưa từng có một viên tướng nào đi hỏi ý kiến bọn họ về những chuyện như thế này bao giờ. Một người lính già trạc tuổi bốn mươi lên tiếng: "Người chết thì không thể sống lại, giết thêm người cũng chẳng giải quyết được gì, Sở tướng quân ngài cứ định đoạt đi."

Ánh mắt Tằng Vọng Cốc bỗng sáng lên, nói: "Nếu Sở tướng quân thực sự có thể tha mạng cho họ, Tằng Vọng Cốc xin tự vẫn để tạ tội."

Tôi nói: "Tự vẫn thì không cần. Các người cũng đã hại chết năm người anh em của ta, sau này nếu còn xảy ra chuyện tập kích quân ta nữa, khi ấy đừng trách ta không biết thương hoa tiếc ngọc, ta sẽ lột da xẻo từng miếng thịt trên người ngươi đấy."

Nàng khẽ mỉm cười nói: "Sở tướng quân quả là bậc nam nhi trượng phu, ca ca ta chết dưới tay ngài cũng coi như không uổng mạng. Tằng Vọng Cốc này còn sống ngày nào, quyết sẽ không bao giờ đối địch với Sở tướng quân nữa."

Nàng đưa mắt nhìn thanh đao trong tay tôi, tôi liền ném thanh đao trả lại cho nàng, quát: "Mau cút đi, bớt dài dòng lôi thôi lại."

Nàng nhặt thanh đao lên, nhìn tôi hỏi: "Sở tướng quân, sao ngài lại biết được bí mật ở nơi này?"

Tôi rảo bước tới bên vách núi, nhặt thanh Bách Tịch đao lên. Thanh đao như bị dính chặt vào vách đá, phải dùng chút sức mới giật ra được. Tôi đáp: "Cách đây không lâu ta vừa đọc qua cuốn 'Hoàng Dư Chu Hành Ký' của Thiên Cơ pháp sư năm xưa, trong đó có chép: 'Trong núi có loại đá hút được đồ sắt, tựa như mẹ hiền kéo con thơ, bởi thế gọi là đá nam châm'. Ta nghĩ vách núi này phần lớn đều là đá nam châm, bởi vậy các người mới không dùng đồ sắt, còn thanh đao của ngươi dùng cũng là đao bằng đồng."

Tằng Vọng Cốc hé môi cười nói: "Sở tướng quân quả là bậc văn võ toàn tài, nếu ngài sinh sớm ba mươi năm, e rằng thiên hạ này đã là của ngài rồi."

Nàng đột nhiên lật ngược lưỡi đao, tay phải đập mạnh vào sống đao chém phăng xuống, một bàn tay bị lưỡi đao chặt đứt lìa bay vút lên không trung, máu tươi phun xối xả đẫm nửa thân người. Văn Mỹ thất thanh hét lên, xé vội một mảnh vải buộc chặt cổ tay đứt lìa của nàng, khóc gào: "Phu nhân!" Tằng Vọng Cốc nhìn về phía tôi, nói: "Văn Mỹ, làm thế này mới giúp Sở tướng quân ăn nói với thuộc hạ của ngài ấy được."

Tôi không ngờ nàng lại dám chặt tay để tỏ rõ lòng dạ, trong thoáng chốc chẳng thốt nên lời. Gương mặt Tằng Vọng Cốc đã không còn giọt máu, nàng cắn răng nén cơn đau đớn cùng cực, quỳ sụp xuống trước mặt tôi nói: "Đa tạ ơn tha mạng của Sở tướng quân, đa tạ tấm lòng nhân từ của các vị tướng quân."

Nàng không sợ chết, lời tạ ơn tha mạng ấy thực chất là tạ ơn tôi đã tha cho đám thuộc hạ của nàng. Tôi cố giữ vẻ bình thản, nói: "Tằng Vọng Cốc, hãy nhớ kỹ lời ngươi đã nói." Rồi quay sang bảo Tào Văn Đạo: "Chúng ta đi."

Tào Văn Đạo liếc nhìn đám người phía sau, hạ giọng thì thào: "Sở tướng quân, có cần tôi cho người làm thịt sạch bọn chúng không?"

Tôi thở dài một tiếng. Tào Văn Đạo thực ra rất cẩn thận, lúc này giết sạch bọn Tằng Vọng Cốc mới là thượng sách để diệt trừ hậu họa vĩnh viễn. Thế nhưng thượng sách này dẫu tôi có làm được thì sau này sợ rằng cũng cắn rứt lương tâm. Tôi nói: "Tào tướng quân, trước đây ta từng lập một lời thề, kiếp này đời này tuyệt đối không giết đàn bà, cậu đừng ép ta phải phá vỡ lời thề." Tôi dĩ nhiên chưa từng lập lời thề nào như thế, nhưng lúc này đã thốt ra miệng thì lập lời thề này bây giờ cũng chẳng muộn màng gì.

Tào Văn Đạo ngẩn người ra một thoáng, rồi bảo: "Thế cũng được, dù sao bọn chúng cũng chết mất một nửa rồi, chẳng làm nên trò trống gì nữa đâu."

Cõng thi thể của năm người anh em đã khuất quay lại nơi vừa bị tập kích ban nãy, Đinh Hiếu cũng đang sốt ruột đợi chờ. Thấy chúng tôi mình đầy máu me trở về, gã giật nảy mình, quỳ rạp trước mặt tôi hỏi: "Thống chế, Tào tướng quân, hai ngài không sao chứ?"

Tôi đáp: "Không sao. Ở đây thế nào rồi?"

Đinh Hiếu báo cáo: "Mấy tên kia thấy không bắn lay chuyển được trận thế của ta thì tự mình rối loạn, bị chúng tôi bắn chết mười mấy tên."

Bên vệ đường xếp ngay ngắn mười mấy thi thể. Tôi thở dài bảo: "Cùng với anh em của chúng ta, đem chôn cất chung một chỗ đi. Những anh em bị thương mau chóng chữa trị, chúng ta phải nhanh chóng rời khỏi Quỷ Khiếu Lâm này."

Đinh Hiếu vâng lệnh, quay người đi truyền lệnh ngay. Tôi trèo lại lên lưng ngựa, Tào Văn Đạo lúc này cũng dắt ngựa tiến lại gần tôi, ghé tai hỏi nhỏ: "Sở tướng quân, ngài vẫn còn đề phòng Tằng Vọng Cốc lật lọng sao?"

Tôi gật đầu: "Phải, lòng phòng người không thể không có."

Tào Văn Đạo ngẫm nghĩ một hồi, như lấy hết can đảm nói: "Sở tướng quân, tôi thực sự cảm thấy ngài hơi có lòng dạ đàn bà. Đã sợ bọn chúng lật lọng thì chi bằng dứt khoát giải quyết một thể cho xong, đoạn tuyệt hậu họa."

Tôi thở dài nói: "Tào tướng quân, cậu trước kia là mãnh tướng dưới trướng Lục tước gia. Năm đức tính của người quân tử gồm 'Nhân, Nghĩa, Tín, Liêm, Dũng', cái Dũng của Lục tước gia cậu đã học được rồi, nhưng cái Nhân của ngài ấy thì cậu lại thiếu đôi phần. Ngài thà chịu hình phạt của quân hầu chứ không nỡ lạm sát bình dân, chúng ta há có thể ham sát thành tính như thế sao?"

Tào Văn Đạo hỏi: "Nhưng ngài không sợ con ả Tằng Vọng Cốc kia tráo trở sao?"

"Ta từng đọc được một câu nói, rằng người nhân từ thì biết thương xót con người, ai ai cũng có quyền được sống tiếp, cho nên ta thà thả lầm còn hơn giết oan."

Tôi nói hơi lớn tiếng, mấy người lính đứng bên cạnh đều cảm động trước lời nói của tôi. Người lính già vừa lên tiếng phụ họa khi nãy gật đầu đồng tình: "Sở tướng quân nói quả không sai. Tạo thuận tiện cho người cũng là tạo thuận tiện cho mình, chuyện gì có thể không giết thì vẫn nên nương tay thì hơn."

Khi tiến vào thành Phù Đôn thì trời đã ngả bóng hoàng hôn. Chúng tôi ngồi thuyền vượt sông, tới khi đến được cổng bắc thì trong thành đã có một đám người túa ra đứng đợi sẵn ở cửa bắc. Đi đầu là hai kỵ mã, chính là Đô đốc và Phó đô đốc của Tây Phủ Quân: Chu Nặc và Đào Thủ Chuyết. Chu Nặc cưỡi ngựa sóng vai cùng tôi vào thành, cất giọng vô cùng vồ vập: "Sở tướng quân, hồi đầu năm vừa gặp ngài là ta đã biết ngài ắt làm nên đại nghiệp, quả nhiên không ngoài dự đoán, ha ha."

Tôi mỉm cười đáp: "Chu đô đốc quá khen rồi, tiểu tướng chẳng qua chỉ gặp may mắn ngẫu nhiên, có gì đáng nhắc tới đâu. Chu đô đốc tận tụy vì nước, là rường cột của quốc gia, lần này triều đình cải cách quân chế, tôi phụng mệnh Thái tử và Văn Hầu đại nhân tới đây, một là để tấn phong tước vị cho Chu đô đốc, hai là dưới trướng Chu đô đốc nghe lệnh sai bảo, còn mong Đô đốc chiếu cố cho."

Chu Nặc cười lớn: "Đó là điều đương nhiên. Nay yêu thú hoành hành, chúng ta tự khắc phải đồng tâm hiệp lực để báo đáp thiên ân."

Tôi cũng cười, nhưng trong bụng chỉ mải suy đoán ý tứ sâu xa trong lời nói của gã. Đào Thủ Chuyết đi bên cạnh với vẻ mặt không chút cảm xúc, gã ắt hẳn nằm mơ cũng không ngờ Văn Hầu lại phái tôi tới đây. Khi gã hiến kế muốn hãm hại tôi, chắc nằm mộng cũng chẳng thể ngờ tôi lại có ngày trở mình ngoạn mục đến thế. Giờ đây thời thế đổi thay, tôi đã trở thành khâm sai phụng mệnh vương triều mà đến, lại còn nắm rõ chân tướng việc gã tố cáo Chu Nặc, dẫu gã có túc trí đa mưu đến đâu thì lúc này chắc chắn cũng đang hồn xiêu phách lạc. Tôi bỗng nảy sinh ý định muốn trêu chọc gã một phen, bèn lên tiếng: "Đào đô đốc, lần này ngài tuy chưa được tấn tước, nhưng Thái tử cũng đã gia phong cho Đào đô đốc làm Thiên tướng quân, Đào đô đốc chớ nên có suy nghĩ thừa thãi đấy nhé."

Sau khi Lý Đoan bại vong, tước vị Tư Thần Bá của hắn đã được chuyển trao cho Chu Nặc. Tước vị và chức hàm hiện tại của Chu Nặc là Tư Thần Bá kiêm Phó tướng quân, Đào Thủ Chuyết giữ chức phó, được gia phong làm Thiên tướng quân. Quân hàm trước kia của gã ngang hàng với tôi, đều là Hạ tướng quân, thế nhưng cái chức Hạ tướng quân của gã là có thực quyền, dưới trướng nắm giữ tới hai vạn binh mã, uy quyền hơn hẳn cái danh hão huyền chỉ thống lĩnh hơn ngàn người của một Hạ tướng quân như tôi. Đến lúc này tôi mới thấu hiểu, sau đợt cải cách quân hàm, việc Văn Hầu cho tôi phục chức Hạ tướng quân quả thực là dành cho tôi một sự ưu ái và coi trọng tột bậc.

Đào Thủ Chuyết gượng cười nói: "Sở tướng quân nói đùa rồi. Thủ Chuyết này một lòng chỉ muốn phò tá Chu đô đốc, mong sớm ngày dẹp yên mối họa yêu thú, nguyện vọng cả đời chỉ có bấy nhiêu thôi."

Da mặt gã cũng dày thật đấy, nói ra những lời chính khí hiên ngang như vậy mà mặt không hề biến sắc chút nào. Tôi cũng khẽ mỉm cười, đáp: "Điều đó là dĩ nhiên rồi."

Đào Thủ Chuyết lúc này chắc chắn đang chửi rủa tôi thậm tệ trong bụng rồi, nghĩ vậy tôi thấy có chút buồn cười.

Đến Đô Đốc phủ, Chu Nặc dẫn năm vị Chỉ huy sứ của năm lộ quân Tây Phủ quân sau khi tái biên chế tới ra mắt tôi. Tây Phủ quân vẫn mang quá nhiều dấu ấn độc lập, quân chế mới vẫn chưa thể áp dụng tại nơi này, đúng lý ra những Chỉ huy sứ này đều phải là Đô thống mới phải. Chỉ huy sứ nhất lộ quân tên là Cốc Ninh, hắn cũng xuất thân từ gia đình quân hộ ở tỉnh Thiên Thủy, ba đời đều là bộ tướng dưới trướng Chu Nặc, có thể xem là tâm phúc của y. Chỉ huy sứ nhị lộ quân tên là Dạ Ma Thiên, Chỉ huy sứ tam lộ quân tên là Thượng Sư Tiếp. Nghe thấy cái tên "Dạ Ma Thiên", tôi liền nhớ tới gã binh sĩ Tây Phủ quân tên là Dạ Ma Đại Vũ từng quen biết khi cùng Đường Khai về Đế đô. Dạ Ma Đại Vũ từng nói cho tôi biết, "Dạ Ma" chỉ là thị tộc của người tộc Dạ Ma bọn họ, bản danh của hắn vốn là một cái tên vừa quái dị vừa dài dòng, gã Dạ Ma Thiên này có lẽ cũng có một bản danh dài dòng quái dị khác.

Ba lộ này do Chu Nặc trực tiếp thống lĩnh, còn đệ tứ và đệ ngũ lộ lại là nhân mã của Đào Thủ Chuyết. Chỉ huy sứ tứ lộ là cháu trai của Đào Thủ Chuyết, tên là Đào Bách Hồ; Chỉ huy sứ ngũ lộ tên gọi Thịnh Xương. Đào Bách Hồ tuổi tác cũng chỉ vừa ngoài ba mươi, nhưng cả người toát ra một vẻ tinh khôn lanh lợi, người này chắc chắn là một trí tướng, còn Thịnh Xương trông lại đôn hậu, thật thà.

Năm vị Chỉ huy sứ này ai nấy đều tương đối tài giỏi, người đời đồn đại Tây Phủ quân ở trong núi là thiên hạ vô địch, e rằng cũng không ngoa. Tây Phủ quân từ trên xuống dưới vẫn chưa nhiễm phải những thói hư tật xấu của Đế quốc quân, tuy rằng quân bị không bằng Đế quốc quân, nhưng sĩ khí lại vượt trội hơn nhiều. Nhất là cách đây không lâu bọn họ vừa đánh lui đợt tiến công đầu tiên của Xà nhân, ai nấy đều hăng hái phấn chấn, ngạo nghễ coi trời bằng vung.

Sau khi tuyên đọc chiếu thư khao thưởng cho Chu Nặc, y nói tối nay sẽ mở tiệc tẩy trần cho tôi tại Đô Đốc phủ, bảo tôi về nghỉ ngơi trước một lát. Tôi vẫn được sắp xếp ở tại Lai Nghi quán, có điều lần này Chu Nặc lại dành cho tôi căn phòng thượng hạng. Lai Nghi quán tuy lớn nhưng cũng chẳng thể chứa nổi hơn một nghìn người của Tiền phong doanh, thế nên ngoại trừ Tào Văn Đạo và Tiền Văn Nghĩa mỗi người được một phòng riêng, số binh lính còn lại đều được sắp xếp tới quân doanh nghỉ ngơi.

Trở về phòng, tôi chỉ cảm thấy xương cốt toàn thân như rã rời, giáp mềm cũng chưa cởi, ngã lưng xuống là ngủ ngay. Giường nệm nơi này mềm mại êm ái, nhớ tới lần trước đến đây chỉ được ở phòng khách tầm thường, hai lần đãi ngộ quả đúng là một trời một vực.

Tôi vừa nằm được một chốc, ngoài cửa bỗng vang lên giọng của Tào Văn Đạo: "Sở tướng quân, cùng đi tắm đi."

Tôi mở cửa, chỉ thấy vai hắn vắt một chiếc khăn tắm, chiến giáp đã cởi từ lâu, đang đứng trước cửa vẻ mặt đầy hào hứng. Vừa thấy tôi ra, hắn liền nói: "Sở tướng quân, người trong dịch quán nói dưới lầu có suối nước nóng có thể tắm được, chúng ta đi mở mang tầm mắt chút đi." Hắn có lẽ chưa từng thấy suối nước nóng bao giờ nên đã nóng lòng muốn thử.

Tôi gật đầu nói: "Đúng thế, lần trước tới ta cũng từng tắm một lần."

Tôi cởi giáp mềm, từ trong tủ lấy ra một bộ quần áo mới. Chu Nặc sắp xếp quả thực chu đáo, trong tủ đã để sẵn hai bộ y phục cả trong lẫn ngoài, tôi cầm một bộ lên ướm thử, không ngờ lại vừa vặn như may đo riêng vậy. Tôi không khỏi giật mình, Tào Văn Đạo lại có chút sốt ruột, bước vào nói: "Sở tướng quân, đi thôi."

Tôi nhìn bộ quần áo, nói: "Chu Nặc quả thực rất lợi hại."

"Sao lại thấy thế? Tôi thấy ông ta cũng chỉ đến thế mà thôi."

Tôi gấp quần áo lại rồi nói: "Y chuẩn bị cho chúng ta quần áo vừa vặn đến mức này, ngươi không cảm thấy kỳ lạ sao?"

Tào Văn Đạo bĩu môi đáp: "Sở tướng quân, ngài chỉ toàn nghi thần nghi quỷ, chuyện đó thì có gì to tát đâu?"

Hắn căn bản chẳng thèm để tâm đến chuyện này, tôi cười cười, cũng không nói thêm gì nữa. Thế nhưng, chuẩn bị hai bộ quần áo vừa vặn tuy chỉ là chuyện nhỏ nhặt, song Chu Nặc ngay cả chuyện vụn vặt này cũng tính đến, người này tuyệt đối không phải kẻ đơn giản. Nếu như y thực sự có dã tâm bất thần, tôi phải làm sao đây?

Tôi cầm quần áo bước ra khỏi cửa, vừa khép cửa lại liền nói: "Gọi Tiền Văn Nghĩa một tiếng đi."

Tào Văn Đạo lại bĩu môi: "Gọi hắn làm gì, chẳng lẽ Sở tướng quân ngài bị người ta lừa chưa thấy đủ sao?"

"Không thể nói như vậy, Tiền tướng quân hiện giờ cùng thuyền với chúng ta, tự nhiên phải đồng tâm hiệp lực. Cứ gọi hắn một tiếng đi."

Tào Văn Đạo hơi miễn cưỡng đi về phía phòng của Tiền Văn Nghĩa, gõ cửa nói: "Tiền tướng quân, Sở tướng quân mời ngài cùng đi tắm." Nghe lời hắn nói, tôi có chút buồn cười. Tào Văn Đạo tuy hơi thô lỗ nhưng không hề lỗ mãng, trong lòng dù chứa đầy bất mãn với Tiền Văn Nghĩa, nhưng lời nói ra miệng vẫn rất nhã nhặn ôn hòa.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ tianyashuku.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.