Thiên Hành Kiện 3: Kích Đãng Phong Lôi

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 26
Trọng Bảo Của Quốc Gia

❊ ❊ ❊

Vừa tới cửa phủ Văn hầu, tôi nhảy xuống ngựa, tên lính gác liền bước tới hỏi: "Người nào?"

Tôi bước lên trước nói: "Tiểu nhân Sở Hưu Hồng, có việc quan trọng diện kiến Văn hầu đại nhân."

Tên gác cổng có lẽ cũng đã quên mất vị hạ tướng quân từng một thời hiển hách là tôi rồi, bảo: "Ngươi ở ngoài cửa chờ nghe truyền lệnh."

Hắn có vẻ khá nghênh ngang tự đắc, đại để là người gặp nhiều rồi, ngay cả những võ quan đương chức đến cầu kiến Văn hầu cũng đều phải khép nép cung kính, một kẻ áo vải như tôi dĩ nhiên chẳng lọt vào mắt hắn. Tôi bất đắc dĩ, đành thấp thỏm đứng ngồi không yên đợi ở đó. Một lát sau, người nọ đi ra nói: "Đại nhân mời ngươi vào." Giọng điệu hắn cũng lộ chút kinh ngạc, có lẽ nghe thấy Văn hầu dùng từ "mời" nên có phần khó hiểu.

Tôi chẳng màng tới hắn, vội vã lao vào trong. Tới sảnh khách treo bức hoành phi "Văn Dĩ Tải Đạo", tôi quỳ xuống ngoài cửa, lớn tiếng thưa: "Tiểu nhân Sở Hưu Hồng, cầu kiến Văn hầu đại nhân."

Văn hầu đang xem một tờ giấy da dê, vẻ mặt trĩu nặng tâm sự, nghe thấy tiếng tôi, ngài bèn cất giấy da đi rồi nói: "Sở tiên sinh, vào đi."

Tôi bước vào trong, lại hành đại lễ nói: "Đại nhân, tiểu nhân đa tạ ân cứu mạng của đại nhân."

Văn hầu mỉm cười nói: "Ngươi có chuyện gì thì nói nhanh, hẳn không phải cố ý tới chỉ để tạ ơn ta đâu nhỉ."

Giọng ngài đã ôn hòa hơn nhiều, tôi định thần lại, nói: "Tiểu nhân vừa nghĩ ra, thành Đông Bình có một điểm yếu chí mạng, phải nghiêm phòng người rắn dùng thủy công."

Lời tôi vừa dứt, Văn hầu lập tức biến sắc, hỏi: "Ngươi cũng nghĩ như vậy?"

Tôi không kìm được thốt lên: "Còn có người khác cũng nghĩ thế sao?" Vốn tưởng chỉ có mình nghĩ ra, trong lòng còn đắc ý vài phần, nhưng nghe Văn hầu bảo người khác cũng nghĩ tới, tôi không khỏi có chút thất vọng. Văn hầu nói: "Không sao, ngươi nói đi, vì sao phải đề phòng?"

"Hồi tiểu nhân tới thành Đông Bình, từng thấy người rắn đắp đê trên mặt sông, nhưng con đê lớn lại không khép miệng. Mùa xuân năm nay, thành Đông Bình mưa không nhiều, nhưng mặt sông lại dâng cao, vì vậy tiểu nhân cho rằng, hành động đắp đê của người rắn thực chất là để tích nước."

Văn hầu tay trái vỗ mạnh vào lòng bàn tay phải, nói: "Quả nhiên." Ngài mỉm cười, đưa tờ giấy da dê trong tay cho tôi: "Ngươi xem đi."

Tôi kinh ngạc nhận lấy tờ giấy, trên đó viết: "Mạt tướng cho rằng, thành Đông Bình kiên cố không thể phá, lại có thành Đông Dương tương trợ lẫn nhau, kiên thủ không khó, điều đáng lo nhất là thủy công, nên dặn Thiệu tử chú ý đề phòng." Lời ký tên phía sau là Đặng Thương Lam.

Văn hầu nói: "Thương Lam hiện đang ở đảo Cú La, hắn am hiểu thủy chiến, thư gửi tới nói như vậy, mà Thiệu Phong Quan cũng bảo phải phòng người rắn thủy công, cần dần dần di tản bình dân trong thành, ta đang do dự bất quyết, ngươi cũng nói thế, vừa hay giúp ta hạ quyết tâm."

Phải di tản bình dân? Đó chẳng phải là tính chuyện bỏ thành sao? Tôi không khỏi buột miệng: "Sao có thể bỏ thành?"

Văn hầu cười khổ nói: "Kẻ địch dẫn nước dìm thành, có mấy cách hóa giải?"

Thủy công đánh thành, cách hóa giải chỉ có đào thêm mương rãnh thoát nước, nếu không thì phải gia cố thành trì tử thủ, kiên trì tới khi viện quân kéo đến đánh tan địch. Nhưng người rắn hung hãn như thế, thành Đông Bình tuy có thể phòng thủ, song muốn ra ngoài thành đào nhánh sông ngay dưới mí mắt người rắn thì tuyệt đối không thể, còn việc phái viện quân đánh tan người rắn lại càng không thể hơn. Có thể nói, nếu người rắn thuận lợi dùng thủy công đánh thành Đông Bình, đó sẽ là một thế cờ chết không thể hóa giải, ngoài việc bỏ thành ra chẳng còn kế sách nào hay. Thế nhưng Thiệu Phong Quan đề nghị di tản bình dân, một khi người rắn không dùng thủy công, ắt sẽ chuốc lấy sự thóa mạ của tất cả mọi người, đó không phải là việc có thể dễ dàng quyết định. Tôi có phần bất an nói: "Vậy ý của đại nhân..."

Văn hầu nói: "Dân có thể rút, quân không thể lui."

Ngài nói vô cùng kiên định, khiến cả người tôi run lên. Ý của Văn hầu chính là thà toàn quân bị diệt cũng không thể bỏ thành Đông Bình. Tôi không biết rốt cuộc Văn hầu tính toán điều gì, muốn hỏi mà không dám hỏi nhiều, Văn hầu cũng biết mình có phần lỡ lời, bèn cười nói: "Chuyện này liên quan đến cơ mật, Sở tiên sinh đã nói với ai chưa?"

Tôi đáp: "Chưa từng nói với ai."

Văn hầu ngẫm nghĩ một lát rồi nói: "Vậy thì tốt. Thành Đông Bình thủ được ba tháng, vậy chỉ cần thành Bắc Ninh thủ thêm ba tháng nữa, thời gian sẽ đủ dùng."

Ngài vỗ vỗ vai tôi, mỉm cười nói: "Sở tướng quân, đao nằm trong bao chẳng tổn hao độ bén. Muốn đánh người, ắt phải lùi nắm đấm về sau, đạo lý này, ngươi hẳn phải hiểu chứ."

Ngài lại gọi tôi là "tướng quân", ý đó là vẫn muốn trọng dụng tôi sao? Tôi trào dâng một cơn xúc động, thưa: "Sở Hưu Hồng nguyện nghe theo đại nhân điều động, muôn chết không từ."

Văn hầu nói: "Dưới trướng ta có hai tướng Thủy, Hỏa, Sở tướng quân trong họ ngươi có hai chữ Mộc, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, chính là viên tướng thứ ba trời sinh đất tạo, ha ha, ngươi phải cố gắng đấy."

Ngài nói rất nhẹ nhàng, nhưng lại chẳng khác nào một tiếng sét ngang tai. Dưới trướng Văn hầu rõ ràng là ba tướng Thủy, Hỏa, Phong, tại sao ngài lại nói chỉ có hai? Chẳng lẽ... Tôi không dám nghĩ tiếp nữa. Thật ra không cần nghĩ cũng biết, thành Đông Bình bị phá là chuyện tất yếu, chỉ là vừa muốn bảo toàn thực lực, lại vừa không để người ta cảm thấy là sợ chiến bỏ chạy, cách tốt nhất là hy sinh một người. Thiệu Phong Quan ban đầu bị phái tới thành Đông Bình, vốn đã mang hàm ý hy sinh ở đó. Nếu lần đó Nhị thái tử chết trận, chắc chắn sẽ đem Thiệu Phong Quan ra gánh tội thay.

Lần này Văn hầu có thể hy sinh Thiệu Phong Quan, sau này nếu thấy hữu dụng, ngài chẳng lẽ sẽ không hy sinh tôi sao?

Lúc rời khỏi phủ Văn hầu, tâm thần tôi đã bất định. Văn hầu đồng ý để bình dân di tản, đó đã là biết nghe lời phải rồi. Nếu tôi ở vị trí của ngài, e rằng cũng không đồng ý để trọng binh ở Đông Bình không đánh mà lui. Nhưng mà Chân Dĩ Ninh hiện giờ cũng đang ở trong thành Đông Bình, Văn hầu không cho rút quân, chẳng lẽ muốn để Chân Dĩ Ninh cũng chết ở trong thành sao?

Tôi thở dài một tiếng. Nghe ý của Văn hầu thì đã nắm chắc phần thắng, liệu việc như thần rồi, tôi bận tâm chuyện này làm gì cho mệt. Trở về chỗ ở, tôi thắp nến, đọc bù cuốn "Lôi Đình Nỗ Tường Giải". Đọc kỹ xong chương đầu, người cũng mệt lử, lại ngồi xếp bằng trên giường một lát mới ngủ thiếp đi. Chẳng hiểu vì sao, lúc ngồi xếp bằng trong cũi lại có một cảm giác chân khí lưu chuyển trong cơ thể, giờ đây lại hiếm khi cảm nhận được. Đôi khi tôi thật sự hoài nghi thuật nhiếp tâm đột nhiên thi triển đêm hôm đó chỉ là mình nằm mơ. Nhưng Tiết Văn Diệc rõ ràng cũng đã nói, Trần Trung từng bàn bạc với hắn, hắn cũng đưa cho Trần Trung một cái ống truyền thanh, chứng tỏ chuyện đó không hề sai, nếu tiểu Phương kia không trúng thuật nhiếp tâm của tôi, Vệ Tông Chính chắc chắn sẽ không thả tôi ra dễ dàng như vậy, chỉ sợ sẽ nảy sinh trắc trở.

Nghĩ tới nghĩ lui cũng không thông. Liền hai ngày sau, tôi đều nghiền ngẫm cuốn "Lôi Đình Nỗ Tường Giải" kia, mệt thì ngồi xếp bằng một lát. Ngày thứ ba dạy xong tiết học, vừa về tới chỗ ở, tạp dịch trường quân sự mang tới một bọc nhỏ bọc bằng vải thô. Tôi thấy chữ viết trên đó là nét bút của Tiết Văn Diệc, biết đó hẳn là chiếc nỏ cầm tay tôi nhờ hắn chế tạo, liền lập tức mở ra. Bên trong là một chiếc nỏ cầm tay và một chiếc hộp gỗ. Thân nỏ hình trụ tròn được đẽo gọt từ thiết mộc, nhưng cánh nỏ lại làm bằng thép. Tôi cầm lên xem thử, chiếc nỏ này chế tác cực kỳ tinh xảo, từng bộ phận đều đã tôi qua lửa, cầm nặng trịch trĩu cả tay. Bên trong mảnh vải thô này còn có chữ viết, là thư của Tiết Văn Diệc, hắn nói với tôi rằng chiếc nỏ tôi cần vì uy lực khá lớn, tầm bắn có thể tới bốn mươi bước, trong vòng hai mươi bước đủ để bắn xuyên giáp sắt, dùng gỗ làm thì độ bền không đủ, cho nên các bộ phận trọng yếu đều do hắn nhờ Kim phủ làm bằng thép tinh luyện.

Tôi ước lượng sức nặng, chiếc nỏ này tuy hơi nặng một chút, nhưng một tay tôi vẫn có thể vận dụng linh hoạt. Tiết Văn Diệc chỉ đưa cho tôi sáu mũi tên. Bởi vì nỏ nhỏ hơn cung tên thông thường rất nhiều, tên cũng ngắn, chế tác lại tinh vi, do đó tên cũng phải chế tạo riêng, đều đúc bằng thép, ngay cả lông đuôi tên cũng làm bằng lá thép, nếu bắn hết tên thì nỏ cũng hết tác dụng. Chuyện trên đời, thật đúng như lời Tiết Văn Diệc nói, mười phần thì có tới tám chín phần chẳng được như ý.

Nhận được chiếc nỏ này, tôi không nhịn được muốn thử ngay. Sau thân nỏ có ba lỗ cắm, vừa vặn có thể tra tên vào, tôi lắp tên xong, nhắm vào một cái cây cách đó hơn mười bước, bóp cò một tiếng "tạch", một mũi tên bắn vụt ra như điện xẹt, cắm phập vào thân cây. Cắm vào cực sâu, chỉ lộ ra phần đuôi tên bên ngoài. Tôi giật mình, vội vàng bước qua xem xét, mũi tên này ngập quá sâu, tôi phải dùng hết sức mới nhổ ra được.

Uy lực của chiếc nỏ này quả thực khiến người ta kinh ngạc. Tiết Văn Diệc thiết kế cũng rất tinh xảo, bình thường vì dây nỏ không căng sẵn nên giắt bên mình cũng không sợ cướp cò, mà sau khi bắn ra một phát, thân nỏ lắp tên sẽ tự động xoay sang trái một phần ba vòng, một lỗ nỏ khác có lắp tên liền chuyển tới, chỉ cần bóp cò lần nữa là có thể phát tiễn. Nếu tay trái và tay phải phối hợp nhịp nhàng, một tay lắp tên một tay bắn thì có thể bắn liên tiếp không ngừng nghỉ. Trên lưng ngựa thì không có tác dụng lớn, nhưng khi đơn đả độc đấu, hoặc khi đánh lén, đây lại là một món vũ khí tuyệt hảo. Còn có... thích sát.

Nghĩ tới đây, tôi không khỏi bật cười. Chẳng lẽ tôi thực sự muốn làm một thích khách sao? Hiện giờ tuy tôi vẫn làm giáo quan ở trường quân sự, nhưng đã không còn quân chức. Có lẽ, tôi cũng chỉ có thể làm một thích khách thôi.

Cầm nỏ đứng trước cửa, tôi bỗng cảm thấy một nỗi xót xa. Nhớ lại chí hướng từng có thuở nhỏ, giờ đây đều đã trở nên nực cười dường ấy. Tôi thẫn thờ ngước nhìn lên bầu trời.

Đã là đầu hạ rồi, cây cối cành lá sum suê, nhưng khi gió thổi qua, vẫn có lá cây rụng xuống. Những chiếc lá vàng úa theo gió rơi rụng, xoay tròn đáp xuống mặt đất. Chiếc lá này bị nắng gắt hun cháy khô vàng, một bước giẫm lên liền tan thành tro bụi.

Việc ở trường quân sự không nhiều. Hằng ngày dẫn học viên trong lớp múa đao luyện kiếm, nghiên cứu binh pháp, buổi tối rảnh rỗi thì vẫn ngồi xếp bằng luyện khí. Ngồi xếp bằng thời gian dài, tuy thân thể ngày càng tráng kiện, nhưng môn thuật nhiếp tâm kia lại càng mù tịt không lần ra manh mối. Nếu Chân Thanh Tử còn ở đây, tôi còn có thể tìm ông ta hỏi han, nhưng thầy trò Chân Thanh Tử và Hư Tâm Tử giờ đây chẳng biết đã đi đâu mất dạng.

Tin tức chiến sự từ cả hai phương nam bắc dồn dập truyền về. Chiến sự thành Đông Bình ngày càng bất lợi, ý đồ dùng nước nhấn chìm thành Đông Bình của người rắn đã quá rõ ràng, nhờ chuẩn bị chu đáo, tuyệt đại bộ phận bình dân Đông Bình đều đã qua sông lên phía bắc, hoặc dời tới các cứ điểm dọc bờ sông, trong thành hầu như toàn là quân phòng thủ, vẫn đang giằng co với người rắn. Quyết định bỏ thành Đông Bình của Văn hầu từng bị Nhị thái tử dâng biểu hạch tội, nhưng Văn hầu biện giải rằng ngoài cách này ra không còn kế nào hay hơn, hơn nữa lương thảo tài vật của thành Đông Bình phần lớn đã được di tản, người rắn dẫu có hạ được thành trì thì cũng chỉ chiếm được một tòa thành trống. Nhị thái tử tuy bị tước binh quyền, nhưng dưới lời lẽ đại nghĩa lẫm liệt, khảng khái sục sôi của ông ta, Đế quân cũng tỏ ý thành Đông Bình không thể không đánh mà lui. Dưới sức ép ồn ào nghiêng hẳn về một phía của cả triều đình lẫn dân gian, Văn hầu đành phải hạ lệnh cho quân thủ thành Đông Bình xuất chiến. Nhưng vừa giao chiến đã tổn thất nặng nề, quân phòng thủ xuất chiến thiệt hại ba ngàn người, sau trận chiến kiểm điểm lại, Lộ Cung Hành cũng dâng thư lên Nhị thái tử, giải thích rõ tình thế chiến cục, bảo toàn thực lực lui binh là thượng sách, Nhị thái tử mới không còn lời nào để nói.

Một khi thành Đông Bình thất thủ, thành Đông Dương cách sông trông chừng ứng cứu lẫn nhau với thành Đông Bình thế tất cũng không trụ nổi. Trận chiến này vì chuẩn bị chu đáo nên sẽ không chịu tổn thất quá lớn, nhưng người rắn chiếm được thành Đông Bình thì sẽ lập tức vượt sông tiến lên phía bắc. Cục diện hiện tại lại trở về tình cảnh như khi Thương Nguyệt công làm phản năm xưa, e rằng chẳng ai có thể ngờ tới. Trong cơn nguy khốn lần đó có Văn hầu xoay chuyển càn khôn, lần này liệu kỳ tích có thể tái hiện hay không? Chẳng ai biết được. Có lẽ, là chẳng ai dám nghĩ nhiều thì đúng hơn.

Thành Đông Bình bị phá là chuyện tất yếu rồi, tuy cũng biết sẽ không đến mức toàn quân bị diệt như khi thành Cao Thứ bị công phá, nhưng ai nấy vẫn nơm nớp lo sợ. Song có ba người Thiệu Phong Quan, Tất Vĩ, Lộ Cung Hành trăm phương ngàn kế phòng ngự, tin tức thành vỡ lại không đến sớm như dự liệu.

"Ngày mùng bảy tháng năm, người rắn đắp năm con đê ở hạ lưu, thủy quân thành Đông Bình một ngày ba lần xuất kích, giết hai trăm tên địch, tổn thất một ngàn người, phá hủy ba con đê. Hiện người rắn đang ráo riết tu sửa."

"Ngày mười ba tháng năm, thành Đông Bình lại tập kích ban đêm, người rắn đã có đề phòng, uổng công vô ích. Nhờ rút lui có trật tự, thương vong không quá trăm người."

"Ngày hai mươi tháng năm, năm con đê ở hạ lưu đã khép miệng, người rắn đã có thể xông thẳng tới chân thành Đông Dương, thành Đông Dương không thể ra khỏi thành trợ chiến."

"Ngày mùng năm tháng sáu, nước sông đã ngập cổng thủy, điều năm ngàn quân phòng thủ ngày đêm gia cố tường thành. Nước sông mỗi ngày dâng cao hơn ba tấc."

---❊ ❖ ❊---

Văn thư cáo cấp tựa bông tuyết bay tới hết bức này đến bức khác, thời gian đã trôi tới cuối tháng sáu, mùa giữa hè. Trong tiếng ve râm ran, mùa hè năm nay ở đế đô bề ngoài chẳng khác gì mùa hè những năm trước, vương tôn công tử vẫn tìm nơi tránh nóng, bách tính bình dân vì mưu sinh nuôi gia đình vẫn cặm cụi bươn chải dưới ánh nắng gay gắt, chỉ có điều trong lòng mọi người dần dần có chút hoang mang lo sợ. Hồi đầu năm khi tin quân Nam chinh bị tiêu diệt truyền về, người rắn còn ở rất xa, dẫu khiến người ta chấn động nhưng họ vẫn cảm thấy đó là chuyện xa xôi. Thế nhưng hiện tại, những kẻ ngoại tộc thực sự này đã tới bờ nam đại giang, lại sắp sửa vượt sông lên phía bắc, dường như giơ tay ra là đã có thể chạm tới rồi.

Tôi vẫn dạy học trong trường quân sự. Những ngày này ngoài việc dạy học, ngồi xếp bằng, luyện thương, rảnh rỗi thì cũng cùng Ngô Vạn Linh, Tiết Văn Diệc ra ngoài uống rượu. Trương Long Hữu công việc quá bận, hiếm khi gặp mặt, lúc uống rượu nhắc tới chiến cuộc cũng không khỏi cảm thán thở dài. Tuy tin tức chán nản nối đuôi nhau kéo đến, nhưng cũng nghe nói Văn hầu ngay từ lúc điều quân hai công Thanh Nguyệt, Hồng Nguyệt về hộ giá thì đã bí mật luyện binh ở thành Hùng Quan. Thành Hùng Quan là danh thành phía đông bắc đế đô, trước kia vốn là nơi đóng quân của mười hai vạn thường trú quân đế đô, từ khi quân Nam chinh toàn quân bị diệt, số còn lại phần lớn cũng đã được đưa tới thành Đông Bình, thành Hùng Quan gần như biến thành một tòa thành trống. Văn hầu chiêu mộ lưu dân bốn phương nhập ngũ để huấn luyện, chuyện này tôi cũng đã sớm nghe phong phanh, chỉ có điều tính ra mới chỉ huấn luyện được năm tháng, trước kia tân binh nhập ngũ phải thụ huấn nửa năm, đóng quân các nơi nửa năm, một năm sau mới tính là có thể ra chiến trường, tôi không biết đội ngũ này hiện tại có thể có bao nhiêu sức chiến đấu. Có điều trong mắt người thường, có một nhánh phục binh như vậy ít nhiều cũng khiến lòng người yên ổn hơn.

Văn hầu lệnh cho thành Đông Bình tử thủ, cũng là để tranh thủ thời gian huấn luyện tân quân chăng.

Ngày mười sáu tháng sáu. Đây là ngày nóng nhất trong năm. Theo định sẵn thì ngày mùng một tháng bảy lớp tốt nghiệp sẽ tốt nghiệp sớm, lúc này trường quân sự cũng trống vắng đi không ít. Tôi dẫn học viên trong lớp luyện tập một hồi thuật đâm chém, ai nấy đều mệt đến mồ hôi đầm đìa. Vừa kết thúc tiết học, bản thân tôi cũng khát không chịu nổi, bước tới bên thùng trà múc một bát uống ừng ực. Thứ trà này dĩ nhiên không phải cống phẩm của tỉnh Chi Giang hay tỉnh Thiên Thủy, chỉ là loại trà tầm thường do thương buôn chở tới, hơi có chút vị trà mà thôi. Song chỉ cần một bát trà này, uống vào cũng khiến miệng lưỡi sinh tân dịch, sảng khoái mát mẻ cả người.

Đám học viên cũng tranh nhau múc trà uống, tôi chợt thấy đằng xa có một kỵ sĩ phi ngựa tới rất nhanh. Tôi đặt bát trà xuống, quát to: "Tập hợp!" Tuy quân kỷ nghiêm minh, nhưng đám học viên này dẫu sao tuổi đời còn quá nhỏ, cũng không thể quá mức khắt khe, song nếu người khác tới thấy học viên do tôi dẫn dắt lộn xộn thế này thì mặt mũi tôi cũng chẳng đẹp đẽ gì.

Đám học viên lập tức xếp hàng ngay ngắn. Quân kỷ của bọn họ chủ yếu do Ngô Vạn Linh chấn chỉnh, trông cũng khá ra dáng. Trời nóng thế này mà người kia phi ngựa nhanh như vậy, chỉ sợ cũng có việc hệ trọng muốn nói.

Người nọ đến rất nhanh, tới trước mặt mới nhìn rõ là một giáo quan khác của trường quân sự. Hắn cưỡi ngựa tới trước mặt, cũng chẳng xuống ngựa, chỉ ghì cương quay đầu ngựa lại bảo: "Mau về đi, Thái tử điện hạ và Văn hầu đại nhân đều tới rồi, khẩn cấp triệu tập, cử hành lễ tốt nghiệp ngay bây giờ."

Tôi giật mình, hỏi: "Là vì chuyện thành Đông Bình sao?"

Hắn đã thúc ngựa quay về, ngoái đầu lại trên lưng ngựa nói: "Phải, rạng sáng hôm nay, người rắn phá đê dìm thành Đông Bình, toàn bộ quân phòng thủ trong thành đã rút sang thành Đông Dương."

Thành Đông Dương nhỏ hơn thành Đông Bình một chút, nhưng thành trì kém xa thành Đông Bình về độ kiên cố. Mất đi thế ỷ giốc với thành Đông Bình, thành Đông Dương đơn thương độc mã, phần nhiều vẫn phải bỏ rơi. Đến nước này, cánh cửa phòng thủ vòng ngoài của đế đô coi như mở toang, người rắn có thể thẳng tiến không chút trở ngại. Một khi công phá thành Bắc Ninh, đế đô sẽ chẳng còn hiểm yếu nào để phòng thủ nữa. Tuy biết việc bỏ thành là không thể tránh khỏi, nhưng khi tin tức thực sự ập đến, vẫn khiến người ta bàng hoàng.

Dẫn học viên trở về trường quân sự, các lớp đã lục tục kéo tới. Hai ngàn học viên của bốn mươi lớp vây kín thao trường, chen chúc chật ních, hàng đầu tiên là những học viên tốt nghiệp, từng người đều đã ăn mặc tề chỉnh chỉnh tề. Chờ người tới đông đủ, Thái tử trước tiên nói vài câu chẳng ngứa chẳng đau. Ngài trên danh nghĩa là Tế tửu của trường quân sự, tự nhiên có việc gì cũng phải để ngài phát biểu trước. Ngài nói xong, tới lượt Phó tế tửu Văn hầu huấn thị. Tôi biết lời của Văn hầu mới là vấn đề chính, bèn vểnh tai lắng nghe.

Văn hầu thoạt đầu chỉ nói vài câu bình thường, khi ngài nói tới câu: "Đất nước đã đến lúc nguy vong, con người phải giữ trọn tấm lòng trung nghĩa, ắt phải xả thân nơi sa trường, bảo vệ gia đình, che chở non sông." Nói tới đây, cuối cùng cũng đề cập đến việc để các lớp tốt nghiệp ra trường sớm.

Học viên năm thứ năm của trường quân sự theo lệ thường phải tới tháng chín mới tốt nghiệp, nhưng năm nay tình thế khẩn cấp, trên thực tế nhánh tân quân mà Văn hầu huấn luyện đã hòm hòm rồi, hiện tại bắt buộc phải có một lượng lớn võ quan trung và hạ tầng bổ sung vào, bốn trăm người tốt nghiệp của tám lớp này liền trở thành nguồn nhân tài khan hiếm nhất. Võ quan và binh lính cũng cần một thời gian mài giũa phối hợp, tôi nhớ Vũ Chiêu hồi đầu năm từng nói về việc lớp tốt nghiệp sẽ ra trường sớm, nhưng ngày đã định vốn còn nửa tháng nữa, nay việc rút lui ở thành Đông Bình thế tất sẽ lập tức kéo ngọn lửa chiến tranh tới thành Bắc Ninh, việc chẳng nên chậm trễ, chuyện tốt nghiệp sớm lại được đẩy sớm thêm một lần nữa.

Nhìn từng người trẻ tuổi hiên ngang dũng cảm bước lên đài nhận bội đao, đám học viên lớp dưới ở dưới đài ai nấy vỗ tay đến đỏ cả lòng bàn tay. Trong mắt họ, lứa võ quan trẻ tuổi này uy phong biết bao, người nào người nấy ngưỡng mộ khôn xiết.

Những trang nam nhi trẻ tuổi này, một nửa sẽ phải ngã xuống nơi chiến trường chăng? Có lẽ, họ cũng đang ở độ tuổi mới biết rung động đầu đời, bắt đầu thích những thiếu nữ nào đó, nhưng có ai biết được, sang năm liệu còn có thể gặp lại họ nữa hay không?

Lúc này dưới đài bỗng vang lên một tiếng ầm ĩ, gần như toàn trường học viên đều reo hò dậy sóng. Đó là đã trao đao tới người cuối cùng, người cuối cùng này tên là Chung Ngu Cốc, nghe nói là học viên thiên tài đứng đầu khóa tốt nghiệp năm nay bất kể là thương thuật trên ngựa, đao pháp dưới đất hay là binh pháp. Tuy học viên tốt nghiệp vừa ra trường tùy theo thành tích tốt xấu đều được phong làm bách phu trưởng hoặc thập trưởng, nhưng mười người cuối cùng được gọi là "Kim Đao Thập Kiệt", bội đao được ban thưởng là đao mạ vàng, có chút khác biệt với loại thông thường, hồi tôi tốt nghiệp cũng không thể đoạt được. Mười người này sau này chưa chắc ai cũng nên trò trống lớn, nhưng võ quan từ cấp thiên tướng quân trở lên trong quân ngũ gần như có một nửa ngày trước từng nhận được kim đao. Chung Ngu Cốc này là người đứng đầu Kim Đao Thập Kiệt, hơn nữa thương, đao, binh pháp đều đứng thứ nhất, lại càng hiếm thấy, có thể nói là danh tướng trời sinh. Tuổi hắn cũng chỉ mười tám mười chín, khí vũ hiên ngang, khoác trên mình bộ quân phục thẳng thớm, trông vừa can trường vừa phóng khoáng, khi nhận lấy bội đao thì quỳ một gối xuống, lớn tiếng thưa: "Điện hạ và đại nhân thương lính như con, chúng tôi cảm kích rơi lệ, tất sẽ xông pha trận mạc, dũng cảm giết địch, để báo đáp muôn một ơn vua. Nhược bằng có kẻ khiếp nhược, trời đất người đời cùng tru diệt."

Chung Ngu Cốc này xem ra đúng là văn võ song toàn, hai câu này ngắn gọn súc tích mà đanh thép vang dội, song cũng có thể là do giáo quan chuẩn bị trước cho hắn. Lễ trao đao kết thúc, tiếp theo là thượng cờ quân đội, hát quân ca, tốp học viên tốt nghiệp sắp sửa lên đường xuất chinh. Do thời gian quá gấp gáp, bài quân ca hát lên có chút lộn xộn, nhưng vẫn mang khí thế nuốt trọn non sông, vang dội tận mây xanh:

"Cầm tiết đường hoàng, hướng về bốn phương.

Vốc nước sông trời chùi lau đao thương.

Ngựa sắt giáo vàng, vạn dặm ưng dương.

Như vầng thái dương mọc lên biển đông rực rỡ huy hoàng,

Đất ta dân ta, nước ta bờ cõi ta.

Cầm tiết đường hoàng, giữ vững bốn phương.

Ngắm ngọn gió dài phần phật thổi bay áo bước lên đường.

Mở cõi mở cờ, vạn dặm long tương.

Như mặt trời đứng bóng rực rỡ huy hoàng,

Thịt nát xương tan, về báo quân vương."

Trong quân vốn lấy bài "Táng Ca" của Na Đình Thiên làm quân ca, vị Đệ nhị đại Đế quân sau này cảm thấy bài hát đó không may mắn, bèn lệnh cho học sĩ Hàn Lâm viện làm bài ca này. Giai điệu bài hát này hùng tráng, câu từ cũng đủ hoa mỹ, nhưng chẳng hiểu sao, tôi luôn cảm thấy không lay động lòng người bằng bài "Táng Ca" kia. Chỉ là đám học viên đều hát đến giàn giụa nước mắt, trong tiếng hát, lá cờ nọ dần dần kéo lên. Trên bầu trời mây trắng từng cụm, lá cờ chiến đỏ như máu phần phật tung bay trong gió, trông hệt như một vệt máu loang lổ dính trên bầu trời.

Trong tiếng hát, ánh mặt trời chói chang tựa như hàng vạn ngọn giáo dài màu vàng phóng xuống, đâm xuyên lồng ngực, rách toạc khóe mắt. Tôi bất giác một phen choáng váng, nhất thời chẳng biết mình đang ở cõi nào. Thịt nát xương tan, về báo quân vương ư? Có lẽ, tướng sĩ tắm máu nơi chiến trường rốt cuộc chỉ để báo đáp cái thứ "ơn vua" chẳng hề có nguồn cơn, thậm chí có phần nực cười kia mà thôi. Trong mắt Đế quân và hoàng tộc tông thất, tất cả mọi người trên thế gian này thực chất chỉ là công cụ để khai cương thác thổ, bảo vệ bốn phương cho đế quốc. Dẫu có chinh chiến chém giết, lập nên công lao hãn mã, thì trong mắt Đế quân bọn họ, cùng lắm cũng chỉ là "ưng dương long tương" mà thôi.

Tôi không biết người khác có nhận ra vẻ mặt khác thường của mình hay không, chỉ là tôi có chút muốn cười, muốn cười một cách lạnh lùng.

Tiếng hát vang thấu tầng mây, trong lòng những người trẻ tuổi đang cất cao tiếng hát kia có lẽ đang bừng bừng ngọn lửa nhiệt tình khao khát được hy sinh vì đất nước. Thuở nào đó, thứ nhiệt huyết như lửa cháy ấy tôi cũng từng có, chỉ là dần dà đã lụi tàn. Trên chiến trường mưa máu gió tanh, trong cuộc huyết chiến giữa lằn ranh sinh tử, dòng máu dẫu nóng đến đâu rồi cũng sẽ nguội lạnh mà thôi.

Văn hầu đứng trên đài, trong mắt ngài lấp lánh ánh lệ mờ nhạt. Trong lòng ngài đang nghĩ gì? Có lẽ là nhìn thấy đám học viên này, ngài đang lo lắng cho an nguy của Chân Dĩ Ninh trong thành Đông Bình chăng. Con người Chân Dĩ Ninh không có lấy một chút tính khí kiêu căng xa xỉ của đám con nhà quyền quý, văn võ song toàn, lần này nhờ có hắn nên Văn hầu mới hết lòng cứu tôi như vậy. Văn hầu không cho quân thủ thành Đông Bình rút lui, Chân Dĩ Ninh chỉ sợ cũng ở trong thành. Mấy tháng trôi qua rồi, vết thương của hắn chắc hẳn đã lành, lần đầu tiên gặp Chân Dĩ Ninh, hắn vẫn còn là tham quân dưới trướng Tất Vĩ, từ trên chiếc thuyền nhỏ phóng vọt lên boong thuyền của tôi, thân thủ nhanh nhẹn phi phàm, với bản lĩnh bực đó, chắc là sẽ không xảy ra chuyện gì đâu nhỉ?

Buổi lễ kết thúc, Thái tử lập tức rời đi. Với tính cách của ngài, ở trong những dịp thế này dĩ nhiên chẳng thể ngồi yên, tôi cho học viên trong lớp giải tán, đang định trở về thì có người bước tới bảo: "Sở Hưu Hồng, Văn hầu đại nhân cho mời."

Văn hầu gọi tôi qua? Tôi không khỏi thấy mờ mịt chẳng hiểu gì, bèn đi theo hắn. Văn hầu là Phó tế tửu trường quân sự, cũng là người thực tế quản lý trường, có một nha môn công đường rất lớn. Lúc tôi bước tới cửa, chỉ thấy ngoài cửa có hai thị vệ đứng gác, cửa lớn đóng chặt, người dẫn tôi tới làm động tác mời nói: "Sở tiên sinh, mời vào."

Tôi gõ cửa, Văn hầu ở bên trong nói: "Vào đi." Tôi đẩy cửa bước vào, quỳ xuống hành lễ thưa: "Tiểu nhân Sở Hưu Hồng, bái kiến đại nhân."

"Đứng dậy đi."

Tôi đứng dậy, Văn hầu lại chỉ ra cửa bảo: "Đóng cửa lại."

Tôi khép cửa lại. Chẳng hiểu vì sao, trong lòng tôi dâng lên một nỗi bất an mờ mịt. Văn hầu gọi tôi đến không biết có việc gì, nhưng tôi luôn cảm thấy dường như có gì đó không ổn. Văn hầu đang ngồi trên chiếc ghế lớn, trong phòng phảng phất một mùi rượu nồng nặc. Tôi lại khom người nói: "Đại nhân, không biết gọi tiểu nhân tới có việc gì?"

Văn hầu ngẩng đầu nhìn tôi. Ánh mắt ngài sắc như một mũi dao, đâm vào tim khiến tôi giật thót một cái, đang lo lắng không biết có phải lại có tin xấu gì, đến cả cái chân dạy học này tôi cũng ngồi không yên chăng, thì Văn hầu đã hỏi: "Ngươi năm nay bao nhiêu tuổi rồi?"

"Tiểu nhân sống uổng hai mươi ba tuổi."

Tôi thấp thỏm thưa. Văn hầu hỏi tuổi tác của tôi rốt cuộc là để làm gì? Đừng có câu tiếp theo lại nói một câu đại loại như "sống đến tuổi này cũng đã đủ rồi" đấy nhé? Tôi đang nghĩ vẩn vơ thì Văn hầu thở dài một tiếng nói: "Lớn hơn Dĩ Ninh bốn tuổi à."

Là nói Chân Dĩ Ninh sao? Tôi mỉm cười nói: "Chân tham quân tuy tuổi còn trẻ nhưng văn võ toàn tài, thực là nhân tài kiệt xuất, tiểu nhân ngoài việc lớn hơn mấy tuổi thì thực sự kém xa ngài ấy."

Văn hầu nhìn tôi, dường như muốn xem lời này của tôi có phải là lời dối lòng hay không, trong lòng tôi lại có chút kinh hãi, chỉ sợ mình nói sai điều gì, Văn hầu lại thở dài một tiếng ảo não: "Phải đấy, ngươi kém Dĩ Ninh xa lắm."

Nếu là nói người khác, cho dù bảo tôi kém Lộ Cung Hành xa lắm thì tôi cũng chẳng phục, nhưng nhắc tới Chân Dĩ Ninh, tôi lại có phần tâm phục khẩu phục. Hắn tuy tuổi đời còn trẻ, nhưng thực sự đã mang dáng dấp của một danh tướng ngút trời, người vừa tỉ mỉ như sợi tóc, thân thủ nhanh nhẹn, lại khoan hậu nhân từ như hắn, tôi quả thực chưa từng thấy người thứ hai, với gia thế và bản lĩnh bực này, sau này trở thành một danh tướng vượt qua cả hai hầu Văn Võ cũng hoàn toàn có khả năng. Văn hầu có một người thừa kế như vậy, thực sự là phúc phận của vạn dân, khi ngài trăm tuổi khuất núi Chân Dĩ Ninh kế vị Văn hầu, tôi ở dưới trướng Chân Dĩ Ninh chắc chắn sẽ càng như cá gặp nước, xem ra, Văn hầu mà thọ ngắn một chút khéo lại là chuyện tốt...

"Sở Hưu Hồng, ngươi nói xem, tuổi thọ con người dài ngắn khác nhau, lẽ nào thực sự là do ông trời định sẵn?"

Tôi giật nảy mình, sụp quỳ ngay xuống đất, dập đầu thưa: "Tiểu nhân đáng chết." Đầu óc tôi cũng choáng váng cả lên. Văn hầu chẳng lẽ cũng biết thuật đọc tâm sao? Vừa rồi tôi đúng là đang rủa ngài chết sớm, Văn hầu ắt hẳn sẽ thẹn quá hóa giận cho xem. Tôi đang run rẩy, Văn hầu lại dùng giọng run rẩy bảo: "Ngươi... ngươi cũng biết rồi sao?"

Lời này là có ý gì? Chẳng lẽ lời ngài nói không phải nhắm vào tôi sao? Tôi đang suy nghĩ thì bỗng nhiên trong đầu lóe lên một tia sáng, tôi buột miệng thốt lên: "Chân Dĩ Ninh ngài ấy..."

Văn hầu uống cạn chén rượu trong tay, dằn mạnh xuống bàn, nói: "Đều do ta hại nó, nó... nó mới mười chín tuổi thôi mà."

Tiếng thở dài này nặng nề như tảng đá vạn cân đè xuống, tôi cũng đã sững sờ chết lặng. Chân Dĩ Ninh tử trận rồi sao? Tôi như hẫng chân một cái, cả người nghiêng ngả, suýt chút nữa ngã nhào, vội vàng vịn lấy mép bàn nói: "Tin tức này có chuẩn xác không? Đại nhân, người lành ắt có trời phù hộ, nói không chừng chỉ là tin truyền nhầm thôi."

Văn hầu hừ một tiếng: "Không cần an ủi ta." Ngài bước tới trước sảnh đường, nhìn bức tranh lụa treo ở đó, lại thở dài thườn thượt: "Ai, lẽ nào kỳ trân dị bảo thực sự phải chịu trời ghen đất ghét hay sao?"

Ngài quay người nhìn tôi, hai hàng nước mắt già nua đã đầm đìa khuôn mặt. Ngài vốn luôn cười tươi niềm nở, đôi khi tôi còn tưởng nụ cười của ngài được dán lên mặt bằng thứ keo dán nào đó, nhưng lúc này ngài chẳng khác gì một ông già bình thường vừa mất đi đứa con trai khi tuổi đã xế chiều. Ngay cả người có vô số con cái như Đế quân, chết mất một đứa cũng sẽ đau lòng, huống chi Văn hầu chỉ có duy nhất một mụn con trai là Chân Dĩ Ninh. Tôi cũng chẳng biết nói gì, chỉ biết lặng lẽ đứng nép một bên.

Văn hầu nhanh chóng gạt khóe mắt, vỗ vỗ vai tôi bảo: "Sở Hưu Hồng, ngươi về đi. Vận nước ngày một suy vi, còn trông cậy vào đám các ngươi chống đỡ."

Chân Dĩ Ninh chết rồi, tin tức này vẫn khiến tôi hoang mang tột độ, tôi chẳng biết mình quay về bằng cách nào, trong đầu chỉ luẩn quẩn bóng hình của Chân Dĩ Ninh. Người thanh niên tiền đồ rộng mở dường ấy lại lặng lẽ kết thúc một kiếp người như vậy, số phận cũng thật quá đỗi bất công. Có lẽ, nếu hắn còn sống, thế giới này cũng có thể sẽ là một bộ dạng khác chăng.

Vừa về tới chỗ ở, từ xa đã nghe thấy có người gọi tên tôi. Đó là Tiết Văn Diệc, tôi bước qua, gượng gạo lấy lại tinh thần nói: "Tiết huynh, sao huynh lại rảnh rỗi ghé qua đây?"

Hắn vì vẫn chưa thể đi lại, hiện giờ vẫn phải ngồi trên xe lăn, do một tên tiểu sai đẩy. Hắn bảo: "Ta có chút việc tìm huynh, huynh giúp ta đối chiếu lại danh sách những người tử trận trong đội của huynh trước kia."

Hắn đưa cho tôi một phong giấy da dê, tôi nhận lấy hỏi: "Để làm gì?"

"Đế quân hạ lệnh cho Bộ Công dựng bia Trung Quốc, muốn khắc tên tất cả những người tử trận lên đó." Hắn nhìn tôi, có chút lo lắng hỏi: "Sao thế? Mặt mày đen như than vậy."

"Chân Dĩ Ninh tử trận rồi." Tôi vừa nói xong, chợt nhớ ra Tiết Văn Diệc chẳng biết Chân Dĩ Ninh là ai. Tiết Văn Diệc nói: "Chân Dĩ Ninh là bạn của huynh sao? Đừng nghĩ nhiều nữa, thành Cao Thứ chết một lúc mười vạn người, nếu huynh muốn đau lòng thì mười kiếp cũng đau không hết. Người chết đã khuất rồi, chúng ta vẫn phải tìm mọi cách để sống tiếp."

Tiết Văn Diệc chỉ thuận miệng nói vậy, nhưng tôi lại chấn động dữ dội, lẩm bẩm: "Phải đấy, vẫn phải tìm mọi cách để sống tiếp."

Trời gần hoàng hôn, vầng dương đỏ ối chìm dần về tây, nhuộm ráng chiều phương tây thành một màu tím tựa như máu. Khói sương chập choạng quét tới như sóng cuộn sấm rền, dường như muốn nuốt chửng tất cả. Trong thời buổi loạn lạc thế này, có lẽ có kẻ sẽ thăng quan tiến chức vùn vụt, nhưng đối với tuyệt đại đa số mọi người mà nói, chỉ là tìm mọi cách để sống sót mà thôi, tôi cũng vậy.

Nửa đêm ngày mười bốn, người rắn bất ngờ phát động tấn công vào cửa bắc, đánh đổi bằng thương vong gần một ngàn tên để đào thủng tường thành, nước sông tràn ngược vào thành, rạng sáng ngày mười lăm tháng sáu, thành Đông Bình bị phá. Nhưng thành Đông Bình đã sớm có đề phòng, tuyệt đại bộ phận bình dân đã di tản, mà số thuyền bè gấp rút đóng thêm trong thành cũng đã đủ để chuyên chở năm vạn binh lính trong thành, hai ngàn bình dân rút chạy không kịp theo quân phòng thủ lên thuyền chém ra một con đường máu chạy thoát lên phía bắc. Trên mặt sông, quân đế quốc và quân người rắn đã diễn ra trận thủy chiến thực sự đầu tiên. Do người rắn không có thuyền bè chính quy nào, tướng lĩnh thủ thành Đông Bình lại chỉ huy bài bản, quân phòng thủ tổn thất không lớn, chỉ bị đánh chìm một chiếc thuyền tầm trung, tổng cộng thương vong một ngàn bảy trăm bình dân, hơn chín trăm binh lính, Tham quân Tiên phong doanh quân đế quốc Chân Dĩ Ninh đã trận vong trong trận chiến này. Hiện tại quân phòng thủ tạm thời đóng ở thành Đông Dương, nhưng thành Đông Dương sau khi mất đi bình phong che chắn của thành Đông Bình thì phần nhiều khó lòng duy trì, do đó quân thủ thành nhân lúc người rắn chưa vượt sông ồ ạt bắc phạt đã từng bước rút về thành Bắc Ninh, chuẩn bị cho một trận quyết chiến sinh tử.

Tin tức này đến ngày mười chín đã truyền khắp đế đô. Trận chiến này tuy thất bại, nhưng trên thực tế quân đội đế quốc tổn thất rất nhỏ, thế nhưng vào cái ngày nóng nhất trong năm lại có tin dữ thế này dội tới, vẫn khiến lòng người bực bội bất an, khắp nơi đều có người lan truyền tin vỉa hè, thậm chí có kẻ nói người rắn đã công phá thành Bắc Ninh, sắp sửa đánh tới tận đế đô. Điều này dĩ nhiên tuyệt đối không thể, người rắn hành quân không nhanh, dẫu có thế như chẻ tre đi chăng nữa thì từ thành Đông Dương tới thành Bắc Ninh cũng phải mất bốn năm ngày đường. Thực lực của thành Bắc Ninh cũng không thể coi thường, căn bản không thể nào vừa chạm trán là tan vỡ ngay được.

Thành Đông Bình là tòa kiên thành có số có má của đế quốc, trong số mười hai danh thành xếp hạng phải nằm trong nhóm năm vị trí đầu, thế nhưng thành Đông Bình thời Thương Nguyệt công phản loạn chỉ thất thủ do tướng giữ thành hàng giặc dâng thành rốt cuộc đã bị người rắn hạ gục, đây cũng là một sự thật trần trụi. Trong mắt đám bách tính, thành Cao Thứ, thành Đông Bình, hai tòa đại thành lọt vào nhóm mười hai danh thành nối tiếp nhau thất thủ, lại càng khiến lòng người hoang mang tột độ. Đế quốc có mười chín hành tỉnh gồm chín tỉnh phía nam và mười tỉnh phía bắc, những danh thành nằm ở dải đông nam có bốn thành gồm thủ phủ Chi Giang là Đông Bình, thủ phủ Mân Dung là Nam An, thủ phủ Quảng Dương là Ngũ Dương, thủ phủ Nam Ninh là Cao Thứ. Sau khi Thương Nguyệt công phản loạn, trong thành Nam An chỉ tạm thời đóng một ngàn quân thủ hộ, sau khi thành Cao Thứ bị phá, quân thủ hộ đã bỏ thành chạy về bắc, như vậy bốn danh thành phía đông nam đã thất thủ mất ba. Mười hai danh thành thì một phần tư đã rơi vào tay người rắn.

Ngày hai mươi, Đế quân hạ chiếu tế lễ những người chết trận, Vũ hầu, Thẩm Tây Bình, Lục Kinh Ngư được phối thờ trong Thái miếu, hơn mười vạn binh lính thì dựng thêm bia Trung Quốc trước đài Quốc Thương. Trải qua mấy trăm năm của đế quốc, tên của những người chết trận đã khắc kín tấm bia Quốc Thương rồi, huống chi còn có biết bao nhiêu binh lính vô danh, lúc còn sống họ chỉ là một tên lính vô danh tiểu tốt, chết đi rồi thì ngay cả cái tên cũng chẳng thể lưu lại.

Do đang giữa thời chiến, việc tế lễ sẽ không quá long trọng, ít nhất sẽ không long trọng bằng Tiết Thiên Thọ. Hôm dựng bia Trung Quốc, Tiết Văn Diệc nhận lệnh đốc công, hắn bèn mượn việc công làm việc tư, bảo tôi cùng Trương Long Hữu, Ngô Vạn Linh tranh thủ thời gian lên núi Hoa Biểu xem thử, kiếm cớ uống vài chén. Hắn nói "người chết đã khuất rồi", kể ra cũng đúng là lời nói đi đôi với việc làm. Quả thực, người chết trận quá nhiều, muốn đau lòng cũng chẳng biết bắt đầu từ đâu.

Ngày hai mươi mốt, thời tiết rất đẹp, lại là ngày nghỉ, tôi và Ngô Vạn Linh từ sáng sớm đã ra khỏi cửa tây lên núi Hoa Biểu. Lên tới núi, Trương Long Hữu và Tiết Văn Diệc đã có mặt ở đó, chúng tôi tìm một chỗ ngồi xuống, Tiết Văn Diệc lấy ra một vò rượu, chúng tôi ngồi quây quần bên nhau, nhìn thợ thuyền dựng bia. Bia Trung Quốc không lớn bằng bia Quốc Thương, nhưng cũng cao hơn ba trượng, là một khối khổng lồ, mười vạn cái tên phủ kín toàn bộ phiến đá bia. Một lúc chết trận mười vạn người, chuyện này trong lịch sử mấy trăm năm của đế quốc cũng chưa từng có tiền lệ, một số thân nhân người chết cũng đã đến từ rất sớm, những cô nhi quả phụ mặc đồ tang, phát ra từng tràng tiếng khóc kìm nén không dứt. Dưới chân núi là một dải đồng ruộng, lúa trên ruộng mọc xanh um tùm, mơn mởn ướt át, vài người nông dân đang cặm cụi làm lụng trên đồng.

Tôi bưng chén rượu nhìn họ, trong lòng bất giác lại nhói lên một cơn đau xót.

Lúc này những kẻ đang ngậm ngùi nuốt nước mắt vào trong lòng, chẳng biết có bao nhiêu người. Những người năm ngoái vẫn còn đây, sang đến năm nay, đều đã biến thành một hồi ức đang dần dần phai nhạt.

Tiết Văn Diệc thở dài nói: "Chúng ta suýt chút nữa cũng biến thành những cái tên trên tấm bia này rồi."

Ngô Vạn Linh cũng thở dài: "Nếu chúng ta chết cùng một chỗ, khéo khi đến cái tên cũng chẳng để lại được."

Mười vạn cái tên, nhìn vào cũng thực sự thấy rợn người kinh hãi, mà số bình dân chết trong khói lửa chiến tranh lại càng chẳng biết là bao nhiêu. Trương Long Hữu nhấp một ngụm rượu trong chén, chêm vào một câu ở bên cạnh: "Đừng có đa sầu đa cảm quá, có lưu lại được tên tuổi hay không thì tính là cái thá gì."

Tiết Văn Diệc nói: "Hồi nhỏ gia phụ bảo với ta, người chết để danh, báo chết để da. Than ôi, cái tên này chẳng lẽ còn quan trọng hơn cả tính mạng sao?"

Ngô Vạn Linh nói: "Cha ta là một thương nhân nhỏ, ông ấy chỉ nói với ta rằng, làm người phải có tiền, có địa vị, danh tiếng chẳng quan trọng cho lắm."

Tôi cười ha hả nói: "Hồi nhỏ ta lại nghe cha ta bảo, sau này nhất định phải có quyền có thế, làm quan lớn, phát tài to. Nếu biết ta bây giờ ngay cả quân chức cũng bị cách tuột, ông ấy nhất định sẽ tức chết mất, hề hề."

Bọn họ đều cười ồ lên. Làm quan lớn, phát tài to, lời này nghe vào dĩ nhiên chẳng êm tai bằng những lời hoa mỹ như "hy sinh vì nước", "thề chết đền nợ nước", nhưng thực chất lại là lời nói thật lòng nhất, kỳ thực điều cha của bọn họ nói cũng đều mang ý tứ này. Ngô Vạn Linh nén cười, quay sang Trương Long Hữu đang ngồi uống rượu một mình nói: "Trương huynh, lệnh tôn đại nhân cũng từng nói lời như vậy chứ?"

Trương Long Hữu cau mày, nói: "Không biết, ta không có cha."

Ngô Vạn Linh bảo: "Sao có thể không có cha..." Hắn đột nhiên nuốt ngược lời lại. Trương Long Hữu nói như vậy, có lẽ là có nỗi niềm khó nói, những chuyện này cũng chẳng tiện hỏi nhiều. Tiết Văn Diệc đứng ra hòa giải: "Đừng nói mãi chuyện sống với chết nữa, uống rượu đi. Bốn người chúng ta vào sinh ra tử, có thể cùng nhau trốn thoát khỏi thành Cao Thứ, đó chính là duyên phận do trời định sẵn."

Tôi nói: "Phải đấy, người chết đã khuất, người sống cứ tạm kéo dài hơi tàn, trời có sập xuống thì người bị đè bẹp cũng chẳng phải riêng một mình ta."

Trương Long Hữu bỗng đứng phắt dậy, lớn tiếng nói: "Chính thế! Chúng ta từng chung hoạn nạn, hôm nay có thể ngồi lại bên nhau, từ nay về sau, bốn người chúng ta là huynh đệ đồng sinh cộng tử."

Lòng tôi dâng lên một luồng ấm áp, cũng đứng dậy theo: "Nói hay lắm! Sau này nếu có ai làm quan lớn phát tài to, không được quên những huynh đệ khác. Tiết huynh, Trương huynh, Ngô huynh, các huynh ngàn vạn lần đừng quên ta nhé."

Tiết Văn Diệc bật cười phì một tiếng: "Sở huynh, trước kia huynh lúc nào cũng nghiêm trang đĩnh đạc, giờ đây cũng biết bỡn cợt thế sự rồi đấy." Hắn ngừng lại một chút, lại nói: "Nói về chuyện làm quan thì Trương huynh hiện giờ đã được cất nhắc làm Chủ sự viên ngoại lang Thổ phủ, thăng thêm một bước nữa là thành Thị lang rồi, chúng ta chúc mừng huynh ấy trước đi."

Biên chế của Bộ Công là dưới quyền Thượng thư có hai Tả Hữu Thị lang, mỗi phủ trong năm phủ Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ đều có năm viên ngoại lang, người phụ trách chính gọi là Chủ sự viên ngoại lang. Trương Long Hữu thăng làm viên ngoại lang chưa được bao lâu, vậy mà chớp mắt đã biến thành Chủ sự viên ngoại lang, xem ra hắn ở trước mặt Văn hầu cũng là một sủng thần đắc lực.

Chúng tôi đều đã có vài phần hơi men, ngay cả Trương Long Hữu rốt cuộc cũng để lộ một nụ cười mỉm. Thế nhưng trong lòng tôi vẫn có chút bất an. Huynh đệ ư? Tiền Văn Nghĩa cũng từng được coi là huynh đệ kết giao của tôi hồi ở Tiên phong doanh, cuối cùng hắn vẫn phản bội tôi đấy thôi. Lòng người luôn luôn đổi thay, huynh đệ ngày hôm nay, ngày mai chẳng biết sẽ biến thành nông nỗi nào. Vũ hầu năm xưa và Thương Nguyệt công tình riêng vô cùng thắm thiết, nghe đồn họ còn có ý kết làm thông gia kết duyên con cái, nhưng Vũ hầu đối phó với Thương Nguyệt công vẫn tàn độc đến tột cùng. Tôi nhìn họ, họ vẫn đang nói cười vui vẻ, chẳng ai biết tôi đang suy nghĩ những điều này.

Lúc này, một viên tiểu lại bước tới thưa: "Tiết đại nhân, bia Trung Quốc đã dựng xong, chuẩn bị đào móng đất, xin mời Tiết đại nhân đi thị sát."

Bia Trung Quốc tuy thấp hơn bia Quốc Thương một chút, nhưng cũng cao tới ba trượng. Tấm bia đá cao nhường ấy dĩ nhiên không thể là một khối đá khổng lồ nguyên vẹn, mà là dùng rất nhiều phiến đá đục mộng rồi lắp ghép lại với nhau, tuy là việc của thợ đá nhưng thực ra lại giống việc thợ mộc hơn, thế nên mới để Tiết Văn Diệc, một kẻ tinh thông nghề mộc đảm nhiệm việc đốc công. Đá đều đã được đánh số thứ tự, mỗi khối đều nặng tới cả ngàn cân, đá nặng dường ấy mà dựng lên được chẳng phải việc dễ dàng. Người già truyền miệng lại rằng, vị Đế quân năm xưa khi dựng bia Quốc Thương chỉ muốn dựng một tấm bia đá khổng lồ, một mực ham cao chuộng lớn, không ngờ đục đá thì dễ, nhưng dựng ghép lên lại khó hơn lên trời. Khi bia Quốc Thương dựng tới hai trượng cao, muốn nâng đá lên tiếp thì giàn giáo đều không chịu nổi sức nặng. Sau này dân gian có người hiến kế, dùng đất đắp móng bia cao dần lên, thông qua gò đất đó để khiêng đá lên, cuối cùng mới dựng xong tấm bia Quốc Thương. Kế sách này tuy đơn giản nhưng lại cực kỳ hiệu quả, cho nên bây giờ dựng bia Trung Quốc cũng dùng biện pháp này. Hiện giờ bia đã dựng xong, gò đất đắp móng vẫn chưa đào đi, chỉ lộ ra phần ngọn bia. Tiết Văn Diệc nhìn thoáng qua rồi bảo: "Được rồi. Ngươi cất đám rượu này đi."

Một lát nữa có thể Văn hầu và Thái tử đều sẽ tới, nếu họ thấy chúng tôi đang uống rượu, nói không chừng sẽ phật ý. Tôi nói: "Được rồi, chúng ta mang theo chút rượu qua đó, tế bái những huynh đệ đã chết trận một chút."

Những cái tên trên bia Quốc Thương rốt cuộc cũng xa vời với chúng tôi, còn tấm bia Trung Quốc này lại có không ít cái tên mà chúng tôi quen biết. Kỳ Liệt, Đàm Thanh, Khổng Khai Bình, Thân Đồ Nghị, Vương Đông, Kim Thiên Thạch, Ngu Đại, những người đồng đội từng sớm tối kề vai sát cánh cùng tôi, tên của họ chắc hẳn đều nằm trên tấm bia này chứ?

Móng đất đã đào được một phần nhỏ, để lộ ra nửa phần trên của bia Trung Quốc, nơi đó đã khắc dày đặc chi chít những cái tên, xếp ở vị trí đầu tiên chính là ba chữ "Đường Sinh Thái", theo sau đó là Lục Kinh Ngư và Thẩm Tây Bình. Ba người này là ba vị chủ tướng cao nhất của quân Nam chinh, nhưng hiện tại hài cốt của họ đều chẳng biết lưu lạc nơi phương nào. Tôi muốn tìm tên của đám Kỳ Liệt, nhưng tên quá nhiều, chi chít chằng chịt, tôi căn bản không sao tìm thấy.

Theo từng lớp đất được đào xuống, những cái tên lộ ra ngày một nhiều. Tôi nghe thấy hơi thở của đám Tiết Văn Diệc cũng trở nên nặng nhọc dồn dập, những cái tên khắc sâu vào đá tảng ấy cũng nặng trịch đè nặng lên tim chúng tôi hệt như những tảng đá kia, phảng phất một thứ áp lực không thể nào cản nổi, ánh nắng rực rỡ xung quanh cũng như thoáng chốc ảm đạm hẳn đi.

Mắt tôi nhòe lệ, bên tai thỉnh thoảng lại vẳng đến tiếng khóc than của vài người phụ nữ và trẻ nhỏ. Khi móng đất từng chút một được đào dỡ ra, cuối cùng, bia Trung Quốc đã lộ ra hoàn toàn bên ngoài.

Chúng tôi bất giác cùng quỳ rạp xuống đất, Tiết Văn Diệc được Trương Long Hữu đỡ lấy cũng quỳ xuống theo. Tôi rót một bầu rượu xuống trước bia, muốn nói điều gì đó, nhưng cổ họng nghẹn ngào, chẳng thể thốt nên lời.

Rượu đổ xuống mặt đất, bùn đất ướt đẫm một mảng, tựa như vệt tích của những giọt nước mắt.

Tế bái người chết xong, chúng tôi lui sang một bên, để tạp dịch lau chùi bia đá cho sạch sẽ. Ngô Vạn Linh đỡ Tiết Văn Diệc ngồi lại vào xe lăn, hắn vừa ngồi ngay ngắn thì bỗng chau mày, hỏi: "Đó là cái gì vậy?"

Dưới chân núi có một đoàn xe đang từ ngoài cửa tây đi ra, bên cạnh có trọng binh canh gác. Một tên tạp dịch bên cạnh nghe thấy lời Tiết Văn Diệc, dừng chiếc giẻ lau trên tay lại nói: "Đại nhân, đó là xe của Nội phủ đấy ạ."

Tiết Văn Diệc nói: "Nội phủ? Chẳng lẽ Đế quân có ý định tuần du về tây để lánh nạn chiến tranh rồi sao?"

Nội phủ chính là kho tàng báu vật của đế quốc. Đế quốc có ba đại Nội phủ, đế đô có hai cái, một nơi khác tương đối xa, nằm trong núi sâu của tỉnh Xương Đô ở phía tây bắc. Thanh Nguyệt công trấn thủ Xương Đô tuy cũng cùng với Thương Nguyệt công liệt vào hàng Tam công, nhưng do chi tộc của ông ta bắt nguồn từ hoàng tộc tông thất nên Đế quân cực kỳ tín nhiệm ông ta, Xương Đô cũng là quê gốc của Đế quân, vì thế một Nội phủ liền do Thanh Nguyệt công đời đời trấn thủ. Đại khái là Đại Đế lúc mới dựng nước, vì sợ vận nước không dài lâu, vạn nhất con cháu bị người ta đuổi khỏi ngai vàng thì để lại một kho trân bảo ở quê gốc, cũng là để có vốn liếng mà làm lại từ đầu, đông sơn tái khởi. Hiện tại Đế quân chỉ sợ vẫn chưa nảy sinh ý định đi về phía tây, nhưng kể từ khi người rắn công phá thành Đông Bình, kinh sư chấn động, bèn dời trước một phần của cải đi, đỡ phải đến lúc nguy cấp lại trở tay không kịp. Thế nhưng có toan tính như vậy, chỉ sợ trong lòng đã sinh lòng khiếp sợ trước thế công của người rắn rồi.

Đoàn xe này có tới hơn hai mươi cỗ xe lớn, nếu không phái trọng binh áp tải, chỉ sợ đi giữa đường sẽ bị người ta cướp mất. Nhưng đường dài xóc nảy trong cơn hỗn loạn, cỗ xe không ngừng xóc nảy, chỉ sợ rất nhiều đồ dễ vỡ trên xe sẽ bị hư hại. Ngô Vạn Linh bỗng thở dài thườn thượt, nói: "Những bảo vật này gặp phải kiếp nạn này, thực là đáng tiếc."

Trương Long Hữu ở một bên cười nói: "Ngô huynh, huynh quá lo xa rồi. Bảo vật tuy quý giá, rốt cuộc cũng chỉ là chuyện vụn vặt râu ria, bảo vật thực sự đang nằm ở ngay đây này."

Hắn giơ roi ngựa chỉ về phía trước. Ngô Vạn Linh và Tiết Văn Diệc đều có chút khó hiểu hỏi: "Trương huynh chỉ cái gì?"

"Các huynh nhìn xem, vạn dặm giang sơn trước mắt này, đó mới là trân bảo thực sự. Những trân bảo này chẳng ai có thể hủy diệt được, vĩnh viễn sừng sững giữa đất trời. Trân bảo rồi sẽ tiêu biến, sẽ đổ vỡ, nhưng non sông thì trường tồn mãi mãi."

Lời hắn nói ra khí phách ngút trời, Ngô Vạn Linh không cách nào phản bác, chỉ biết cười trừ nói: "Lời này của huynh cũng có lý. Chỉ là những bảo vật này một khi đổ vỡ thì vĩnh viễn không thể khôi phục lại được nữa, chịu kiếp nạn binh đao này rồi phiêu bạt tan tác, thực sự quá đỗi đáng tiếc."

Trương Long Hữu có phần chẳng thèm bận tâm nói: "Chỉ cần thế giới này vẫn còn, vậy thì tất cả mọi thứ đều có thể làm lại từ đầu, sợ cái gì chứ."

Ngô Vạn Linh thấy tôi nãy giờ đứng bên cạnh không nói một lời, bèn bảo: "Sở huynh, huynh cũng thử nói xem nào."

Đoàn xe đang chậm rãi lăn bánh trên con đường lớn. Chở quá nhiều đồ nên xe đi cũng không nhanh, từ lưng chừng núi nhìn xuống, đoàn xe nọ trông như những con thuyền nhỏ đang lướt đi giữa cánh đồng lúa mì xanh ngắt. Tôi nói: "Thứ quý giá nhất trên đời này, hẳn phải là những thứ kia."

Tôi chỉ tay vào những người nông dân đang cặm cụi làm lụng trên cánh đồng lúa mì. Tiết Văn Diệc ngẩn ra, hỏi: "Là cái gì?"

"Những con người kia. Thứ quý giá nhất trên thế gian này, chính là thiên hạ thương sinh. Bất kể là đàn ông hay đàn bà, già hay trẻ, mỗi một người đều là thứ quý báu nhất của đất trời. Trân bảo dễ mất, non sông trường tồn, nhưng nếu như không có con người, tất cả những thứ này còn có ý nghĩa gì nữa?"

Họ đều có chút không đồng tình mà cười mỉm, Trương Long Hữu nói: "Lời của huynh nghe chẳng khác nào thuyết cộng hòa của Thương Nguyệt rồi đấy."

Thương Nguyệt công rêu rao quân Cộng hòa là "lấy người làm trọng, lấy dân làm gốc", phế bỏ đế chế, cho rằng mọi người đều bình đẳng. Thế nhưng ở trong thành Cao Thứ, quân Cộng hòa vì muốn tử thủ mà giết người làm thức ăn, hành vi như vậy làm sao có thể nói là "lấy người làm trọng" cho được? Kỳ thực là tôi nhớ lại hồi ở trong trại người rắn, nghe tên người rắn tên là Mộc Côn kia nói cái gì mà thế giới này vốn dĩ là thiên hạ của người rắn, sau này mới bị loài người chúng ta chiếm đoạt. Nếu như thế giới này thực sự bị người rắn thâu tóm, vậy thì trân bảo vô số, hiểm ải núi sông còn có tác dụng gì nữa? Đế quân vào những lúc thế này không nghĩ tới chuyện mở toang Nội phủ để khao thưởng tướng sĩ yên lòng quân, chỉ nghĩ tới việc tẩu tán bảo vật, thực sự là đảo lộn gốc ngọn.

Nhưng dẫu là lời nói của tôi thì cũng chẳng có ai coi ra gì đâu nhỉ. Tôi có phần ngơ ngác nhìn đoàn xe kia mỗi lúc một đi xa, uốn lượn men theo con đường núi mà khuất dần.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ tianyashuku.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.