"Sở tướng quân, mời lên thuyền."
Một tên thân binh lễ phép nói với tôi, nhưng tôi hiểu rằng, hắn có ăn nói cung kính đến đâu thì thân phận của tôi lúc này vẫn chỉ là một tù nhân.
Cùng hạ đạt với vũ thư xá tội cho tôi là lệnh triệu hồi Nhị thái tử. Do cuộc tập kích ban đêm do Nhị thái tử trù tính thất bại, Đế quân hạ gấp lệnh triệu hồi, lệnh cho Nhị thái tử về Đế đô nghe mệnh. Chuyện này đại khái cũng là kế sách của Văn hầu, tin tức của Đế quân mới linh thông đến thế. Nhị thái tử hẳn cũng đã biết mình trúng kế của Thiệu Phong Quan, khắp người hắn quấn đầy băng gạc ngồi ở đầu thuyền, miệng vẫn không ngừng chửi rủa.
Tôi bước lên ván cầu đi lên thuyền, Lộ Cung Hành đi theo bên cạnh, dẫn tôi tới hành lễ với Nhị thái tử. Nhị thái tử lại không hung hãn độc ác như mấy hôm trước, chỉ nhàn nhạt gật đầu một cái. Dù tôi không còn mối lo mất mạng, nhưng vẫn bị áp giải về kinh với tư cách kẻ tình nghi trọng đại trong vụ hành thích Nhị thái tử.
Vừa định theo người vào khoang thuyền, bấy giờ một tên thân binh vội vã chạy lại bẩm báo: "Điện hạ, Thiệu tướng quân và Tất tướng quân tới tiễn hành."
Một toán người cưỡi ngựa tiến về phía bến tàu, đi đầu chính là hai người Thiệu Phong Quan và Tất Vĩ. Nhị thái tử hừ lạnh một tiếng, ngoảnh mặt sang chỗ khác. Thiệu Phong Quan lừa dối hắn bấy lâu, trước đây hắn vẫn ngỡ Thiệu Phong Quan là người cùng một phe với mình, lúc này tuy không đến mức chửi bới ầm ĩ nhưng tuyệt đối chẳng thèm nể mặt. Còn Tất Vĩ mang danh viện quân, thực chất lại muốn lấy mạng hắn, Nhị thái tử chắc hẳn cũng đã đoán được đôi phần.
Nhìn dáng vẻ của hắn, trong lòng tôi bỗng dâng lên một nỗi đồng bệnh tương lân. Dưới góc nhìn của tôi, Nhị thái tử truy đuổi ép ép tôi không buông, chẳng mảy may có lòng trắc ẩn, nhưng trên thực tế hắn cũng là kẻ bị người ta hãm hại, tình cảnh của tôi và hắn cũng có phần na ná nhau.
Nghĩ tới những điều này, mối căm hận của tôi đối với Nhị thái tử bỗng chốc vơi đi không ít. Nếu tôi là Nhị thái tử, chắc chắn cũng sẽ truy bức gắt gao một kẻ bị tình nghi như tôi thôi.
Tất Vĩ và Thiệu Phong Quan bước lên thuyền, cả hai đồng thời hành đại lễ, Tất Vĩ còn cất giọng đầy xúc động: "Trước mặt quân thù không có điện hạ chỉ huy, mạt tướng cùng chư quân đều mất hết chủ kiến, chỉ mong điện hạ sớm dưỡng lành thương thế, quay lại tiền tuyến."
Gã quả là có thiên phú diễn kịch, còn kín kẽ không tì vết hơn cả kế sách gã dùng. Nếu không biết rõ nội tình, ai nấy ắt sẽ nghĩ Tất Vĩ thực sự mong mỏi Nhị thái tử ở lại tọa trấn trong quân. Nhị thái tử cười khẩy một tiếng, nói: "Tất tướng quân nói đùa rồi, cô vô đức vô tài, thực chất chỉ là khối ung nhọt thừa thãi của tướng sĩ tiền tuyến. Sau khi cô hồi kinh, cựu quân của cô do tướng quân Lộ Cung Hành thống lĩnh, không được chậm trễ sai sót."
So với một Nhị thái tử cương ngạnh tự phụ, đối phó với Lộ Cung Hành chắc chắn khó hơn gấp trăm lần. Song tôi nghĩ Tất Vĩ chỉ cần ép được Nhị thái tử đi là đã đạt được mục đích, với Lộ Cung Hành trái lại còn có khả năng đồng tâm hiệp lực. Thế nhưng, mục đích gã ép Nhị thái tử rời đi rốt cuộc là gì? Chẳng lẽ là vì Thái tử?
Tôi đứng bên cạnh quan sát mấy người này, đáy lòng từng cơn lạnh lẽo trào dâng. Đại địch trước mắt, những kẻ này không nghĩ tới việc đồng lòng đối ngoại, trái lại còn kiềm chế lẫn nhau. Nhị thái tử tự nhận mình là "ung nhọt thừa thãi", nghe ra cũng có ý vị thâm sâu. Hắn có lẽ đã ý thức được trong mắt Thiệu Phong Quan và Tất Vĩ, mình đúng là cái ung nhọt vướng víu, có hắn ở đây thì đệ nhất công lao không đến lượt người khác, đây hiển nhiên là tình cảnh Văn hầu không muốn thấy nhất. Có lẽ Nhị thái tử vừa đi, chiến cục sẽ lại có chuyển biến chăng.
Tất Vĩ nói: "Điện hạ anh minh thần võ, có thể ở tiền tuyến đốc chiến, thực là phúc phận của tam quân. Nhưng đao thương không có mắt, điện hạ lấy thân thể vạn kim đích thân mạo hiểm nơi tên bay đạn lạc, nếu có gì sơ sẩy, thần đẳng thực tội không thể tha. Kính mong điện hạ an tâm tĩnh dưỡng, sớm ngày khang phục, đó chính là phúc phận của mạt tướng."
Gã nói năng hết sức nghiêm trang chỉnh tề, như thể tất cả đều xuất phát từ tận đáy lòng. Tôi đứng một bên nhìn gã mặt không đổi sắc thốt ra những lời ấy, không khỏi bội phục da mặt gã dày đến mức nào. Tất Vĩ không tính là một viên tướng túc trí đa mưu, nhưng kẻ này gặp người nói tiếng người, gặp quỷ nói tiếng quỷ, quả thực có bản lĩnh của gã.
Nhị thái tử cười lạnh: "Được như vậy thì tốt." Hắn rướn người dậy, nghiêm giọng: "Lộ Cung Hành."
Lộ Cung Hành khom mình: "Mạt tướng có mặt."
Nhị thái tử đưa tay tháo thanh yêu đao bên hông xuống. Thanh đao này không phải món đồ thường ngày Nhị thái tử hay mang. Đao đeo thường ngày của hắn cực kỳ hoa lệ, còn thanh yêu đao này tuy bề ngang rộng hơn đao thông thường một chút, nhưng trên vỏ đao hầu như không có hoa văn trang trí, mộc mạc không chút tì vết. Nhị thái tử nói: "Lộ tướng quân, sau khi cô về Đế đô, quân trấn thủ thành Đông Bình giao cho ngươi toàn quyền chỉ huy, ngươi có thể tùy cơ hành sự. Thanh Trấn Nhạc đao này tạm thời do ngươi nắm giữ, hiệu lệnh toàn quân như cô đích thân giáng lâm."
Lộ Cung Hành đón lấy, hành một đại lễ: "Mạt tướng tuân chỉ."
Giọng điệu Nhị thái tử nghiêm khắc tột cùng, những người xung quanh đều sững sờ kinh hãi. Tất Vĩ lắp bắp: "Điện hạ, là... Trấn Nhạc đao sao?"
Trấn Nhạc đao là bội đao của Quân Thánh Na Đình Thiên. Kể từ khi Đế quốc lập quốc đến nay, thanh Trấn Nhạc đao này cùng với Định Quốc đao mà Đại Đế sử dụng được hợp xưng là "Trấn Quốc chi bảo". Được gọi là "Trấn Quốc chi bảo", dĩ nhiên có nguyên do về mặt văn tự, nhưng cũng bởi trong quân có một thuyết cho rằng, nếu chỉ luận riêng về quân công thì Na Đình Thiên đã vượt qua cả Đại Đế, bởi thế bội đao của Na Đình Thiên thực chất là bảo đao đệ nhất của Đế quốc. Hai thanh Trấn Nhạc, Định Quốc vốn luôn được cất giữ trong quốc khố, không ngờ lại được đeo bên hông Nhị thái tử, hơn nữa thanh bảo đao đã trở thành huyền thoại này lại tầm thường bình dị, chẳng chút bắt mắt như thế, thực sự khiến người ta kinh ngạc khôn cùng.
Trấn Nhạc đao được nâng trên tay Lộ Cung Hành, Nhị thái tử nói: "Không sai. Năm xưa Quân Thánh Na Đình Thiên tung hoành ngang dọc, công vô bất khắc, chiến vô bất thắng, thanh đao đeo bên mình chính là đao này!"
Nói đến chữ "đao" cuối cùng, hắn đột nhiên vung tay nắm chặt lấy chuôi đao, nương theo một tiếng "choảng", đao đã ra khỏi vỏ. Tựa như rút ra một làn sóng nước, dư âm tựa sợi tơ dài vương vấn không dứt. Trên mặt đại giang, tiếng sóng cuộn trào cũng không át nổi thanh âm Trấn Nhạc đao tuốt vỏ. Những người xung quanh bất giác cùng lắng nghe thanh âm mảnh như tơ ấy tản mác ra xa.
Nhị thái tử dựng thẳng thanh đao lên. Lúc này vầng thái dương vừa mọc, hắn quay mặt về hướng đông. Trấn Nhạc đao vừa ra khỏi vỏ trông vẫn chẳng có gì bắt mắt, nhưng vừa giơ lên, thân đao đột nhiên tỏa ra hàn quang rực rỡ, trên lưỡi đao có dị quang lưu chuyển. Dưới ánh ban mai chiếu rọi, thân đao dường như dài thêm hơn một thước, ngay cả ánh đao cũng như ngưng tụ thành hữu hình hữu chất, đủ sức chém sắt như chém bùn. Trong khoảnh khắc, đầu thuyền tựa hồ hóa thành trời đông giá rét, hàn khí thấu xương.
Đao vẫn là một thanh đao bình thường, cũng không hề có sát khí quá mức dữ dội, nhưng lại khiến bất cứ ai nhìn vào cũng phải cảm thấy một nỗi kinh hãi dâng tràn. Dị tượng này có lẽ là nhờ sóng nước cùng ánh nắng sớm huyễn hóa ra, song khí thế quân lâm thiên hạ bực này đâu còn là một thanh đao nữa, quả thực tựa như có thiên quân vạn mã đang dàn trận nghiêm mật, đủ sức nghiền nát mọi chướng ngại thành tro bụi.
Thanh đao của Nhị thái tử vừa giơ lên, Lộ Cung Hành đứng mũi chịu sào, lập tức quỳ sụp xuống. Dù tôi đứng ở một bên cũng cảm thấy trong lòng trào dâng một luồng hàn ý khó lòng kháng cự, đang ra sức gồng mình để không quỳ xuống thì bỗng nghe hai tiếng "bịch bịch", hai tên thân binh áp giải tôi đã quỳ rạp xuống trước. Tựa như có sự lây lan, đám thân binh đứng cạnh Nhị thái tử cùng tùy tùng của Tất Vĩ, Thiệu Phong Quan cũng lần lượt quỳ xuống, đầu thuyền thoáng chốc quỳ rạp cả một mảng lớn.
Lúc này, chỉ còn tôi, Tất Vĩ và Thiệu Phong Quan ba người vẫn đứng.
Thanh đao này thực sự sở hữu một sức mạnh ma mị, có thể đoạt lấy hồn phách con người. Dù tôi dốc sức tự nhủ không được sợ hãi, nhưng đầu gối vẫn không kìm được mà mềm nhũn ra. Trước đây tôi luôn nghĩ Bách Tịch đao của mình là bảo đao thuộc hàng nhất nhì thiên hạ, không ngờ Trấn Nhạc đao lại mang uy nghiêm bực này.
Đây không phải thứ do bản thân thanh đao toát ra, mà là uy nghiêm của vị danh tướng tuyệt thế từng sử dụng nó mấy trăm năm trước lưu lại.
Tôi cắn răng đứng vững, nhưng hai chân đã bắt đầu run rẩy, chẳng biết còn có thể chống đỡ được bao lâu. Nhị thái tử biết mình đi sai một nước cờ, trúng kế của Tất Vĩ và Thiệu Phong Quan khiến danh vọng trong quân rớt xuống ngàn trượng, lúc này hẳn là muốn ra oai phủ đầu với hai người bọn họ. Nếu không phải vào lúc sáng sớm thế này, không mượn nhờ sóng nước đại giang thì chưa chắc đã có được uy thế dường ấy, cùng lắm chỉ là một thanh khoái đao sắc bén mà thôi. Nhưng cái quát lớn đầy túc mục của Nhị thái tử, rồi Lộ Cung Hành đi đầu quỳ xuống, lập tức tiếp thêm vô biên sát khí, tựa như đã đoạt mất hồn phách của tất cả mọi người. Mà việc Nhị thái tử đem thanh Trấn Nhạc đao này ra cũng là để đối chọi ngang ngửa với thanh Xích Thành đao mà Văn hầu giao cho Tất Vĩ.
Tất Vĩ và Thiệu Phong Quan bị tiếng quát của Nhị thái tử làm cho kinh hãi đến run rẩy cả người. Gân xanh trên trán Tất Vĩ hằn rõ dưới da, mồ hôi túa ra ròng ròng, Thiệu Phong Quan cũng chẳng khá khẩm hơn là bao. Cả hai người chắc chắn đều không cam lòng quỳ lạy Nhị thái tử, nhưng Nhị thái tử lúc này đã tựa như hóa thân của Na Đình Thiên, thực sự không phải thứ bọn họ có thể kháng cự. Trong tâm khảm mỗi người quân nhân, Na Đình Thiên là thiên thần, là danh tướng tuyệt thế chỉ có thể ngước nhìn, dẫu đầu óc họ có tỉnh táo đến đâu cũng khó lòng chống đỡ được cú đánh mãnh liệt giáng thẳng vào tâm trí này.
Đây cũng là một loại nhiếp tâm thuật.
Đầu óc tôi đã bắt đầu mơ hồ, sắp sửa quỳ sụp xuống thì bất chợt nghĩ tới mấy chữ này, không khỏi giật bắn mình.
Pho 《Đạo Đức Tâm Kinh》 tôi đã học thuộc lòng làu làu, nhưng xưa nay vẫn chẳng tìm ra manh mối, thế nhưng lúc này trong đầu lại như có tia chớp xé toang, trong khoảnh khắc dường như đã nhìn thấu điều gì.
Đúng vậy, đây chính là nhiếp tâm thuật!
Nhị thái tử có lẽ từng học qua một chút nhiếp tâm thuật. Thực ra mỗi người ít nhiều đều biết một chút thuật này, thu hút sự chú ý của người khác, khiến người ta làm theo lời căn dặn của mình, đó há chẳng phải là một dạng nhiếp tâm thuật sao? Những thứ Nhị thái tử biết chẳng qua chỉ là chút da lông bề ngoài. Nhị thái tử đột nhiên rút bội đao của Na Đình Thiên, chính là đánh trúng vào chỗ sơ hở chung trong lòng giới quân nhân, lập tức nắm bắt lấy tâm phách của những người xung quanh.
Nghĩ tới đây, tôi hít sâu một hơi, ngón tay cái bên phải bấm mạnh vào đốt thứ hai của ngón tay giữa. Cơn đau truyền từ ngón tay khiến thân hình tôi chợt chùng xuống, vừa rồi còn như lơ lửng trên không trung, lúc này đã giẫm vững trên mặt đất.
Thứ Nhị thái tử vận dụng chính là nguyên lý của nhiếp tâm thuật, dẫu hắn không thể khống chế thân thể người khác như Trịnh Chiêu, nhưng cũng đủ khiến những người bên cạnh thất hồn lạc phách.
Nghĩ thông được điểm này, sức mạnh tà dị của Trấn Nhạc đao dường như lập tức tan biến không vết tích. Thứ Nhị thái tử đang cầm trong tay chỉ là một thanh yêu đao sáng loáng. Ánh đao lấp loáng bị ánh thái dương chiếu rọi đến mức không nhìn rõ hình dáng, nhưng cũng chỉ có thế mà thôi.
Đao rốt cuộc cũng chỉ là đao. Nếu thanh đao này nằm trong tay Na Đình Thiên, thứ uy nghiêm không thể cản phá ấy đủ để nghiền nát ý chí kiên cường nhất, nhưng nằm trong tay Nhị thái tử, Trấn Nhạc đao cũng chỉ là một thanh đao mà thôi.
Thiệu Phong Quan và Tất Vĩ vẫn đang liều mình chống chọi. Thiệu Phong Quan trông chừng còn gượng được, nhưng Tất Vĩ đã có dấu hiệu muốn quỵ gối. Tất Vĩ tướng mạo uy mãnh, nhưng xem ra thực chất thua xa sự kiên cường của Thiệu Phong Quan. Lúc này trong lòng gã chắc chắn vô cùng khổ sở, mồ hôi trên đầu tuôn ra đầm đìa, mắt thấy sắp sửa quỳ rạp xuống thì đột nhiên có tiếng vó ngựa phi nước đại xông tới, kỵ sĩ trên lưng ngựa lớn tiếng thét vang: "Thiệu tướng quân, Tất tướng quân, xà nhân lại tới công thành rồi!"
Đó là một tên truyền lệnh binh. Nghe tiếng hô của người này, Tất Vĩ bỗng thả lỏng toàn thân, thở phào một hơi dài như trút được gánh nặng, khom mình nói với Nhị thái tử: "Điện hạ, mạt tướng cùng Thiệu tướng quân xin phép lên mặt thành tổ chức phòng thủ, thứ lỗi cho mạt tướng thất lễ."
Nhị thái tử rút Trấn Nhạc đao ra chẳng qua cũng chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, nhưng Tất Vĩ ắt hẳn cảm thấy như đã trôi qua rất lâu. Vừa rồi tôi cũng có cảm giác như đã trôi qua một hai canh giờ, bọn Thiệu Phong Quan không biết đây là nhiếp tâm thuật, chắc chắn càng thấy giây phút ngắn ngủi này dài đằng đẵng hơn. Thiệu Phong Quan cũng hành lễ, chợt nói: "Điện hạ, mạt tướng đã đem chuyện của Sở tướng quân bẩm báo lên Thái tử điện hạ, xin điện hạ sau khi về Đế đô hãy châm chước định đoạt."
Nhị thái tử cũng bị tiếng thét lớn của tên truyền lệnh binh làm cho giật mình, lập tức thu đao vào bao. Thần sắc hắn cũng trở nên uể oải tột cùng, nghe Thiệu Phong Quan nói vậy, hắn liếc nhìn tôi một cái, chậm rãi nói: "Cô tự có chủ ý, hừ."
Thiệu Phong Quan trước đây luôn xuất hiện với tư cách tâm phúc của Nhị thái tử, Nhị thái tử đối với gã răm rắp nghe theo, rốt cuộc suýt nữa bỏ mạng trong tay xà nhân, đến mức uy tín trong quân mất sạch, tất cả đều là nhờ ơn Thiệu Phong Quan ban tặng. Hắn đối với Thiệu Phong Quan chắc chắn đã hận thấu xương tủy, huống chi lời này rõ ràng là một sự uy hiếp trắng trợn. Thái tử dĩ nhiên nhu nhược vô năng, nhưng sau lưng Thái tử có Văn hầu chống lưng, đối với Văn hầu, Nhị thái tử cũng không dám quá mức càn rỡ.
Thiệu Phong Quan chẳng thèm để tâm, lại hành lễ với Nhị thái tử một cái rồi cùng Tất Vĩ rời đi. Trước khi xoay người, gã lại nhìn tôi một cái, khẽ gật đầu như muốn bảo tôi hãy yên tâm. Tôi không tố giác Tất Vĩ với Nhị thái tử, cố nhiên là sợ lời đe dọa của gã, nhưng Thiệu Phong Quan vẫn không tiếc trở mặt hoàn toàn với Nhị thái tử để đe dọa hắn, quả là người giữ đúng chữ tín. Từ khi bị giam giữ tới nay, tôi chán ghét cùng cực bất cứ kẻ nào, nhưng hành động này của Thiệu Phong Quan lại nằm ngoài dự liệu của tôi, đáy lòng bất giác dâng lên một tia ấm áp.
Thiệu Phong Quan và Tất Vĩ đã dẫn người hướng về cửa nam. Lộ Cung Hành lúc này đã đứng dậy, hắn lại hướng về phía Nhị thái tử hành một đại lễ: "Điện hạ, Sở tướng quân thực sự vô tội, kính mong điện hạ bàn bạc kỹ lưỡng, chớ nên hành sự khinh suất. Mạt tướng cáo từ."
Hắn nói xong cũng lên ngựa rời đi, Nhị thái tử có chút ngơ ngẩn nhìn theo bóng lưng hắn, hồi lâu sau mới ngẩng đầu quát: "Nhổ neo!"
Thuyền từ từ rời bến. Trải qua đợt tập kích đường thủy của xà nhân, cửa bắc đã tăng cường phòng bị, trên lầu thành bố trí trọng binh dày đặc. Tôi bị hai tên thân binh áp giải vào khoang, trước khi bước qua cửa, tôi lại ngoái đầu nhìn thành Đông Bình. Tòa danh thành sừng sững uy nghiêm này sau khi tắm mình trong khói lửa chiến tranh vẫn toát ra một khí thế kiên cố bất khả xâm phạm.
Lúc đến, tôi còn là chủ tướng của một chi thiên sư, nằm mơ cũng không ngờ mình lại rời đi nhanh chóng với thân phận một tù nhân thế này. Tôi không khỏi cười khổ một tiếng rồi bước vào trong.
Bởi xà nhân từng tập kích từ mặt sông, Nhị thái tử quyết định chuyến hồi kinh này sẽ đi đường bộ. Tuy đường bộ xóc nảy hơn, nhưng bờ bắc đại giang vẫn nằm trong sự khống chế của Đế quốc, tự nhiên an toàn hơn nhiều. Con thuyền này xuất phát từ thành Đông Bình, vượt sông tới thành Đông Dương. Tướng thủ thành Đông Dương là một thiên tướng của Thiệu Phong Quan, quy mô thành Đông Dương chỉ bằng một nửa Đông Bình, nhưng hiện tại quân đồn trú trong thành chỉ có khoảng năm sáu nghìn, so với thành Đông Bình căng thẳng tột độ thì bên trong Đông Dương vẫn là một cảnh tượng thái bình an lạc.
Tướng thủ thành đã nhận được mệnh lệnh của Thiệu Phong Quan, dẫn theo chư tướng đứng chờ sẵn ở bến tàu cửa nam. Nhị thái tử xuống thuyền, đám thân binh vây quanh hắn, tôi cũng bị hai tên thân binh áp giải đi theo sau. Viên tướng thủ thành quỳ trên mặt đất nói: "Điện hạ, mạt tướng Liêm Bách Sách cung nghênh đại giá điện hạ."
Người Liêm Bách Sách rất thấp bé, dáng vẻ nom khá tinh khôn, rất giống với trung quân quan Gia Cát Phương của Thiệu Phong Quan. Thiệu Phong Quan là một trí tướng, người gã dùng cũng mang dáng dấp na ná gã, từng người đều tinh khôn tháo vát, nhưng lại thiếu đi những dũng tướng xông pha hãm trận. Song nếu gộp Tất Vĩ và Thiệu Phong Quan làm một, ắt sẽ là một vị tướng lĩnh hoàn mỹ trí dũng song toàn.
"Đi mau, nghĩ cái gì thế hả!"
Một tên thân binh đẩy tôi một cái. Vừa rồi tôi mải suy nghĩ nên bước hơi chậm. Hai tay tôi bị trói chặt vào nhau, chân bị buộc bằng một sợi dây dài chừng một bước, đi lại như vậy không thành vấn đề nhưng chạy thì chịu, chỉ có thể chậm rãi bước từng bước một. Đã tới nước này rồi mà dường như cũng chưa tới lượt tôi bình phẩm sự hơn thua của Thiệu Phong Quan và Tất Vĩ, tôi bất giác có chút buồn cười. Liêm Bách Sách lại chú ý tới tôi, đứng từ đằng xa nhìn ngó một chặp, cũng không lên tiếng.
Nhị thái tử xua tay nói: "Liêm tướng quân miễn lễ. Thành Đông Dương có tọa lung không?"
Sắc mặt Liêm Bách Sách biến đổi, nói: "Điện hạ, ngài định dùng tọa lung để nhốt hắn giải về Đế đô sao?"
Giọng Nhị thái tử không lớn nhưng tôi đã nghe rõ mồn một, mặt mày lập tức trắng bệch. Tọa lung là một loại cực hình dùng khi Tam Pháp Ty xét xử phạm nhân. So với những cực hình khác, tọa lung trông không quá kinh hãi, chẳng qua chỉ là một cái lồng gỗ, bốn vách buộc đầy những cọc gỗ vót nhọn, đầu nhọn hướng vào trong, chừa lại một khoảng trống vừa đủ cho một người ngồi. Nếu người ngồi bên trong ngồi thẳng ngay ngắn thì chẳng hề hấn gì, chỉ là tọa lung thường bắt ngồi liền ba bốn ngày. Người ở trong tọa lung hễ mệt mỏi ngả người sang bên cạnh, những chiếc cọc nhọn ấy lập tức đâm sâu vào da thịt, cơn đau dữ dội sẽ lập tức đánh thức người ta dậy, ngay cả chợp mắt một cái cũng không xong. Mà dẫu có muốn tự sát, vì không đủ không gian nên chỉ có thể để cọc gỗ từ từ đâm vào cơ thể, nỗi thống khổ ấy thực sự không phải thứ con người chịu đựng nổi. Dù là trang hảo hán gan góc đến đâu, sau khi ngồi trong lồng gỗ ba ngày, nỗi đau khổ sống không bằng chết ấy cũng sẽ khiến người ta bắt khai gì khai nấy, ngay cả lập tức bị chém đầu cũng chẳng thấy đáng sợ nữa. Nghe Nhị thái tử vậy mà lại muốn nhốt tôi vào tọa lung giải về Đế đô, tôi không khỏi run rẩy cả người.
Hiện giờ tay chân tôi đều bị trói, Nhị thái tử thực sự muốn nhốt tôi vào tọa lung giải về Đế đô thì chính là có ý muốn hành hạ tôi đến chết trên đường. Thà chết một cách thống khổ tột cùng như thế, chẳng thà đánh cược một phen. Tôi vận đủ sức lực vào hai cánh tay, chỉ chờ phát lực đánh ngã ngay hai tên thân binh bên cạnh. Dẫu có chết dưới loạn đao thì cũng tốt hơn vạn lần ngồi trong tọa lung mười mấy ngày.
Tôi vừa mới có động tĩnh, "xoảng" một tiếng, hai thanh trường đao đồng thời xuất hiện trước mặt và sau lưng tôi. Hai thanh trường đao này là do hai thị vệ thân cận còn sót lại của Nhị thái tử rút ra. Ban đầu thị vệ thân cận của Nhị thái tử có bảy người, trong trận tập kích ban đêm đã tử trận mất năm người, nhưng bảy thị vệ này đều không phải hạng tầm thường. Còn nhớ lần đầu tôi về Đế đô gặp Thái tử, bên cạnh Thái tử cũng có bảy thị vệ thân cận bản lĩnh cao cường, bọn họ đồng loạt xuất bảy ngọn thương khiến tôi không còn chút dư địa nào để hoàn thủ. Bảy thị vệ bên phía Nhị thái tử cũng chẳng hề thua kém bảy người của Thái tử, hiện giờ tuy chỉ còn lại hai người, nhưng tiếng tuốt vỏ của hai thanh trường đao chỉ vang lên một tiếng duy nhất, điều đó chứng tỏ hành động của họ vô cùng ăn ý, đồng thời rút đao trong cùng một khoảnh khắc, mà hai đao vung ra lại lập tức phong tỏa hoàn toàn trước sau của tôi. Lúc này tôi hễ có chút dị động nào cũng đều nằm trong tầm khống chế của họ.
Thế nhưng, chết dưới lưỡi đao của họ cũng dễ chịu hơn ngồi tọa lung nhiều. Tôi đột ngột ngồi thụp xuống, co một chân móc lấy một tên thân binh bên cạnh. Tên thân binh kia chắc chắn không ngờ tôi còn dám làm vậy, bị tôi móc chân một cái, cả người "vù" một tiếng văng ra ngoài, va thẳng vào tên thị vệ phía trước.
Có tên thân binh này cản trở, tên thị vệ phía trước không thể một đao chế phục tôi được nữa. Tuy tôi hất tên thân binh về phía trước, nhưng toàn bộ tinh thần của tôi thực chất đều đặt vào kẻ phía sau.
Muốn đối phó với hắn, chỉ có thể xuất kỳ bất ý.
Sau khi dùng một chân hất văng tên thân binh, người tôi đã nửa nằm trên mặt đất, thanh đao phía sau liền ở ngay phía trên mặt tôi. Một khi thế đao của hắn hạ xuống, tôi sẽ như con sâu nằm dưới lưỡi búa lớn, chẳng còn chút sức lực phản kháng nào, huống hồ lúc này tôi chưa đứng thẳng dậy được, tay chân lại bị trói, chân bị buộc bằng sợi dây dài một bước, ngay cả vung chân đá cũng không xong.
Con đường sống duy nhất hiện giờ là phải làm đứt sợi dây. Giải phóng được đôi chân, ít nhất tôi có thể chạy thục mạng tứ phía, mà đôi chân rảnh rang rồi thì hai ba người bình thường sẽ không phải đối thủ của tôi. Nghĩ thông suốt, tôi vặn vai trên mặt đất, hai chân trước sau đồng thời bay lên, không đợi tên thị vệ kịp phản ứng, sợi dây giữa hai chân tôi đã quấn quanh lưỡi đao của hắn một vòng.
Chỉ cần dùng lực thêm một chút, sợi dây dưới chân sẽ bị lưỡi đao cắt đứt. Trong lòng tôi vui vẻ, hai chân liền co lại, ngờ đâu hai chân vừa co xuống lại thấy dưới chân hoàn toàn không có lực cản. Tôi thất kinh, bả vai chợt nhói lên một cơn đau dữ dội, tên thị vệ kia vậy mà lại buông tay khỏi thanh trường đao, tung một cước đá thẳng vào vai tôi.
Cú đá này lực đạo cực lớn, tôi bị hắn đá đến mức toàn thân như rời từng khúc xương. Thấy tên thị vệ lại tung thêm một cước nữa, tôi lập tức khom người đưa tay chụp lấy chuôi đao giữa hai chân.
Hai tên thị vệ này đều dùng loại đao lưỡi hẹp, hơi cong. Loại đao này dân đảo di hay dùng, về sau một số võ sĩ ở Đế đô phát hiện loại đao này tuy không thích hợp để xông trận xung phong, nhưng khi đánh bộ lại có uy lực rất lớn, hơn nữa nhẹ nhàng sắc bén, linh hoạt hơn nhiều so với khoát nhẫn đao trên lưng ngựa, nên cũng dùng làm yêu đao. Loại đao này tuy tôi không quen dùng cho lắm, nhưng có vũ khí trong tay, trong lòng cũng an định hơn nhiều.
Ngón tay tôi vừa chạm vào chuôi đao thì trước mặt bỗng thấy hàn khí rợn ngợp, một đao trước mặt đã chém thẳng xuống. Đây là tên thị vệ phía trước đã đẩy phăng tên thân binh bị tôi ngáng ngã để xông lên tấn công. Tôi dùng hai ngón tay kẹp chặt chuôi đao, hai chân tách ra, sợi dây giữa hai chân lập tức bị lưỡi đao cắt đứt, nhưng thanh đao của tên thị vệ kia đã áp sát ngay trước mặt tôi.
Đao khí lạnh buốt bức ép sống mũi tôi đau nhói, lúc này tôi tránh không thể tránh, chỉ đành bó tay chịu trói. Nếu đao của hắn dùng thêm một chút lực, mũi đao sẽ xuyên thẳng qua óc.
Lòng tôi lạnh toát, nào ngờ thanh đao kia lại không hạ xuống, trái lại còn nghe tên thị vệ cất lời khen ngợi: "Sở tướng quân hảo bản lĩnh!"
Tuy tôi đánh cho bọn họ trở tay không kịp, nhưng tay chân bị trói, mà đối thủ tính cả hai tên thân binh thì đúng là một chọi bốn, vậy mà vẫn có thể đoạt được một thanh đao, điều này cũng khiến hắn không khỏi tán thán. Chỉ là lúc này đâu phải lúc để hắn khen ngợi, hắn chỉ hơi khựng tay một chút, hai cánh tay tôi đã đẩy tới, hai bàn tay chộp chặt lấy thanh trường đao, chém xéo lên trên.
Nếu tôi vung ngang nhát đao này, chắc chắn có thể chém đứt hai chân hắn. Chỉ là vừa rồi hắn nương tay không tấn công, ra chiêu cũng giữ vẻ trung hậu, tôi thực sự không nỡ hạ độc thủ bực này.
Nhát đao này đánh trúng vào đao của hắn. Hắn một tay cầm đao, còn tôi dùng cả hai tay, "keng" một tiếng, hai đao va chạm, tia lửa bắn tung tóe. Đao của hắn bị tôi hất văng sang một bên, tôi đắc thủ một chiêu liền co một chân quỳ trên boong tàu, trường đao vạch qua lại hai đường đan chéo nhau, bức lui hắn mấy bước rồi lập tức đứng bật dậy. Người vừa đứng vững, chân trái liền tung một cú đá ngược ra sau cực mạnh. Tên thị vệ phía sau đang tung một cước đá vào lưng tôi, tôi dùng đao đối phó kẻ phía trước nhưng lại càng lưu tâm đến cước pháp của kẻ phía sau hơn. Cú đá này tôi dùng gót chân quét vào mũi chân hắn, "bốp" một tiếng, cước pháp của tên thị vệ kia tuy giỏi nhưng lại không tàn nhẫn bằng tôi, cú đá này của tôi hất hắn lộn nhào ra sau, có lẽ xương ngón chân cũng bị tôi đá gãy mất hai ngón, vừa ngã xuống là không gượng dậy nổi nữa.
Đá văng kẻ phía sau, tôi rung cổ tay một cái, đao thế đại thịnh. Tuy đang ở trên thuyền, mười phần thì tôi khó thoát cả mười, nhưng đằng nào cũng là chết, chết uất ức nhục nhã trong tọa lung, tôi thà làm một tên phản nghịch chiến tử nơi này.
Đao của tôi múa càng lúc càng nhanh, tên thị vệ kia lùi từng bước một, đã lâm vào cảnh tả hữu nghễnh ngãng, khó lòng chống đỡ. Đao pháp của tôi ở trường quân hiệu xưa nay luôn đứng trong tốp đầu, sau này ở tỉnh Thiên Thủy từng chứng kiến Trảm Ảnh đao của Chu Nặc, đao pháp lại càng tiến bộ vượt bậc, hiện giờ nếu chỉ luận về đao pháp thì trong quân có lẽ chẳng mấy ai hơn được tôi. Tên thị vệ này đao pháp tuy mạnh, nhưng rốt cuộc hắn thua xa Chu Nặc, nếu hai người bọn họ liên thủ thì tôi có lẽ sẽ bại, nhưng đơn đả độc đấu thì tôi lại dư sức tung hoành.
Bỗng nhiên, "vút" một tiếng, một mũi tên sượt qua tai tôi, cắm phập vào cột buồm phía sau. Tôi vốn đang ép tên thị vệ kia lùi từng bước, nhưng cũng bị mũi tên này làm cho giật mình đứng khựng lại, thu đao lùi một bước, tựa lưng vào cột buồm. Chỉ thấy Liêm Bách Sách tay cầm một cánh cung chắn trước mặt Nhị thái tử, trên dây cung vẫn còn gài một mũi tên. Hắn thấy tôi dừng tay, liền nghiêm giọng quát: "Sở tướng quân, nếu còn không buông đao chịu trói, mũi tên tiếp theo ta sẽ bắn vào ngực ngươi."
Hắn cố ý bắn trượt sao? Tôi cười cười nói: "Liêm tướng quân, bị tên bắn chết vẫn là cái chết mà chiến sĩ nên có, dẫu sao cũng tốt hơn chết dần chết mòn trong tọa lung."
Liêm Bách Sách nghiến răng, lại nghiêm giọng: "Sở tướng quân, mạt tướng nhận mệnh lệnh của Thiệu tướng quân trấn thủ thành Đông Dương, vốn là thế ỷ dốc tương trợ, nương tựa lẫn nhau. Trong thành xưa nay không có tù nhân, không có tọa lung đâu."
Không có tọa lung, chẳng lẽ không làm ngay một cái được sao? Tôi vừa định mở miệng thì Nhị thái tử thò đầu ra nói: "Sở Hưu Hồng, ngươi còn dám làm càn nữa thì sẽ bị xử trảm ngay lập tức không tha."
Tôi giận dữ quát: "Không tha thì không tha!" Tôi rung thanh đao lên, mũi đao lại chĩa về phía tên thị vệ. Muốn xông tới trước mặt Nhị thái tử, hắn là chướng ngại đầu tiên, chỉ có tốc chiến tốc thắng thì tôi mới có cơ hội giết tới trước mặt Nhị thái tử.
Sắc mặt tên thị vệ đã biến đổi, lúc này đao khí trong tay tôi còn thịnh hơn vừa rồi, trong lòng hắn đã sinh nỗi sợ hãi nên đao pháp càng thêm hỗn loạn. Tôi đâm một đao về phía ngực hắn, hắn cuống cuồng vung đao ra đỡ, cổ tay tôi xoay một vòng, thanh đao của hắn bị lưỡi đao xoay tít của tôi va phải liền dạt sang một bên. Đao của tôi đã xuyên qua đao thế của hắn, mũi đao chạm sát vào ngực hắn.
Chỉ cần thêm một chút lực, hắn sẽ bị tôi đâm thủng một lỗ. Dẫu vừa rồi hắn có phần nương tay với tôi, nhưng tôi tuyệt đối sẽ không nương tay, đằng nào tôi cũng phải chết, trước khi chết kéo theo một kẻ đệm lưng cũng tốt.
Đừng trách ta, trách số mạng ngươi không tốt đi.
Khóe miệng tôi giật giật, đang định nở một nụ cười lạnh thì bỗng vai phải truyền đến một cơn đau xé ruột, một mũi đoản tiễn đã cắm phập vào vai tôi!
Mũi tên này không dài, nhưng phần lộ ra ngoài da chỉ có hơn nửa thước, e rằng phần cắm sâu vào da thịt cũng dài chừng ấy. Mũi tên này đến quá đỗi đột ngột, tôi thậm chí chẳng cảm nhận được một chút điềm báo nào, trong lòng không khỏi kinh hãi tột độ. Mũi tên bắn sâu đến mức này, một cánh tay phải của tôi chỉ e đã tàn phế. Tuy lúc này vẫn chưa cảm thấy quá đau đớn, nhưng nỗi sợ hãi từ tận đáy lòng đã khiến tôi run rẩy khắp người. Tôi nhìn sang một bên, Liêm Bách Sách đang hạ cây cung xuống, lạnh lùng nói: "Sở tướng quân, nếu ngươi còn không đầu hàng thì thứ cho mạt tướng vô lễ."
Trên đầu thuyền chẳng có chỗ nào để ẩn nấp, nếu Liêm Bách Sách hạ lệnh bắn tên, tôi có mọc cánh cũng khó lòng thoát được. Vừa rồi tôi còn có một luồng huyết khí dũng cảm, nghe thấy giọng nói của hắn, tôi chỉ cảm thấy lòng nguội lạnh, thanh đao cũng rơi bộp xuống đất.
Liêm Bách Sách bước tới, nhặt thanh đao lên giao cho một tên binh sĩ bên cạnh, nói: "Người đâu, đưa Sở tướng quân xuống."
Hai tên binh sĩ thành Đông Dương bước lại kéo tôi dậy, Liêm Bách Sách bỗng khẽ nói: "Sở tướng quân xin cứ yên tâm, mạt tướng cam đoan sẽ đưa Sở tướng quân bình an tới Đế đô."
Tôi có chút ngơ ngác nhìn hắn, trên vai, máu từ vết thương do tên bắn đang ứa ra. Dù cánh tay phải vẫn chưa có cảm giác gì nhiều, nhưng vết thương nặng thế này, trước khi lành lặn tôi chắc chắn không thể cầm đao được nữa, lúc này dẫu có phản kháng tiếp cũng chỉ phí công vô ích. Tuy nhiên, một câu nói này của Liêm Bách Sách lại khiến tôi nhìn thấy một tia hy vọng. Liêm Bách Sách là bộ tướng của Thiệu Phong Quan, Thiệu Phong Quan giao phó trọng trách lớn dường này cho hắn, người này tự nhiên vô cùng tài giỏi. E rằng Thiệu Phong Quan đã dặn dò hắn phải bảo vệ tôi bình an tới Đế đô. Chỉ cần tôi có thể tới Đế đô, có Chân Dĩ Ninh nói giúp, thì cái mạng này của tôi coi như nhặt về được rồi.
Tôi từ từ đứng dậy, Liêm Bách Sách đột nhiên vươn tay, một phát rút phắt mũi tên trên vai tôi ra. Tôi kinh hãi tột độ, đầu tên găm sâu vào thịt, rút ra như thế chỉ e cả mảng thịt cũng bị kéo theo, cứ ngỡ miệng hắn nói một đằng nhưng thực chất lại muốn hại tôi, đang lúc hối hận thì mũi tên rút khỏi vai lại không hề đau đớn như tưởng tượng, rút ra chỉ là một đoạn ngắn ngủn mà thôi, mũi tên này vậy mà không có đầu tên, chỉ là một đoạn thân tên. Nửa đoạn thân tên này cắm vào thịt không sâu, hèn chi tôi không cảm thấy quá đau đớn.
Liêm Bách Sách cất đoạn tên gãy đi, lại bước tới trước mặt Nhị thái tử nói điều gì đó. Một tiểu binh bên cạnh thấy tôi có vẻ kinh ngạc, liền nhỏ giọng nói: "Sở tướng quân, Liêm tướng quân có tài bách bộ xuyên dương, bắn thủng bảy lớp giáp, ngài ấy cố ý dùng tên gãy để bắn ngài đấy."
Tiễn thuật của Liêm Bách Sách xem chừng còn cao hơn những cao thủ tiễn thuật cỡ Đàm Thanh, Giang Tại Hiên trước đây một bậc. Nếu hắn bắn tôi bằng một mũi tên bình thường, với khoảng cách ngắn như vậy, muốn giết chết tôi là chuyện dễ như trở bàn tay. Hắn dùng tên gãy để bắn tôi, xem ra thực sự là do Thiệu Phong Quan đã dặn dò trước.
Nhị thái tử lúc này bỗng cất tiếng: "Liêm tướng quân, không cần thiết, ta có thân binh hộ vệ là đủ rồi."
Liêm Bách Sách nói: "Điện hạ, nay đao binh bốn phía, trên đường bộ thường có lưu dân làm loạn. Điện hạ là thiên kim chi thể, nếu có điều gì bất trắc, Thiệu tướng quân cùng mạt tướng có muôn lần chết cũng không chuộc hết tội, bởi vậy Thiệu tướng quân đã lệnh cho mạt tướng điểm đủ một bách nhân đội hộ tống điện hạ vào kinh, lương thảo đều đã chuẩn bị chu tất, điện hạ không cần phải từ chối."
Nhị thái tử mang theo mấy chục tên thân binh, vốn dĩ cũng đã đủ, nhưng nếu Liêm Bách Sách phái một bách nhân đội thì thân binh của hắn lại trở thành thiểu số, sẽ bị người ta kiềm chế, không thể muốn làm gì thì làm. Thiệu Phong Quan để Liêm Bách Sách ra mặt mới nói rõ chuyện này, lúc này ván đã đóng thuyền, Liêm Bách Sách đem mọi chuyện đổ hết lên đầu Thiệu Phong Quan, Nhị thái tử dẫu có ra sức phản đối thì Liêm Bách Sách nói năng đâu ra đấy, toàn là những đại đạo lý kiểu như lo lắng cho điện hạ, Nhị thái tử muốn phản bác cũng không tìm được lý lẽ, hắn đâu thể bảo mạng mình không đáng tiền. Mà có bách nhân đội này hộ vệ, Nhị thái tử muốn tra tấn tôi trên đường đi cũng không xong.
Nhị thái tử bất đắc dĩ liếc nhìn Liêm Bách Sách một cái, không nói thêm gì nữa, quay sang bảo một tên thị tùng bên cạnh: "Chuẩn bị ngựa, mau lên đường."
Một tên thị vệ giật mình nói: "Điện hạ, không nghỉ ngơi một đêm rồi hẵng đi sao?"
Nhị thái tử quát: "Nhiều lời!" Hắn ngồi vào cỗ kiệu đã chuẩn bị sẵn cho mình, lại quát lớn: "Liêm tướng quân, cô phải đi ngay bây giờ, bách nhân đội của ngươi điểm đủ rồi thì đuổi theo sau đi."
Hắn không ngăn được Liêm Bách Sách phái bách nhân đội, nên cố tình đi gấp gáp như vậy để khiến đối phương trở tay không kịp chăng. Khóe miệng Liêm Bách Sách nở một nụ cười, nói: "Điện hạ không cần lo lắng, mạt tướng đã điểm đủ bách nhân đội, có thể xuất phát ngay lập tức."
Nhị thái tử ngẩn người, sắc mặt sa sầm xuống. Liêm Bách Sách tính toán không sót một nước, việc gì cũng đã liệu định trước, hắn thực sự không phải đối thủ của Liêm Bách Sách. Tôi chỉ sợ hắn sẽ thẹn quá hóa giận, ngộ nhỡ sống chết không chịu để bách nhân đội hộ tống thì sao? Liêm Bách Sách dẫu sao cũng chỉ là một võ quan.
Nhưng sắc mặt Nhị thái tử chỉ hơi trầm xuống, trầm giọng quát: "Đi thôi!" Cỗ kiệu của hắn đã bắt đầu chuyển bánh. Tôi có chút khó hiểu, lại thấy khóe miệng Liêm Bách Sách giật giật, dường như có một nụ cười mang chút ý xấu, bất giác bừng tỉnh đại ngộ.
Nếu Nhị thái tử từ chối "hảo ý" của Liêm Bách Sách, vậy thì trên đường xảy ra chuyện ngoài ý muốn gì liền có thể đoán ra được. Dẫu hắn có bị tập kích trên đường về Đế đô thì cũng chẳng trách được ai, Nhị thái tử chắc chắn đã nghĩ tới điều này, cho dù trong lòng căm phẫn tột cùng thì lúc này cũng không dám trở mặt với Liêm Bách Sách. Hắn nắm lấy sơ hở trong tờ xá thư thắng được một nước, nhưng ngay sau đó lại rơi vào toan tính của Thiệu Phong Quan, cho tới lúc này, hắn đã bị Thiệu Phong Quan dắt mũi mà đi.
Cho dù địa vị của Nhị thái tử cao hơn Thiệu Phong Quan rất nhiều, trên danh nghĩa Thiệu Phong Quan tuyệt đối phục tùng hắn, nhưng thực chất Nhị thái tử gần như là con rối trong tay gã, nếu Thiệu Phong Quan thực sự muốn lấy mạng hắn, với tính cách cương ngạnh tự phụ như Nhị thái tử thì mười cái mạng cũng phải táng gia bại sản. Xem ra, câu nói "thượng binh phạt mưu" trong 《Hành Quân Thất Yếu》 thực sự là lời chí lý.
Tôi bị hai tên binh sĩ dẫn tới trước mặt Liêm Bách Sách. Hiện giờ đổi thành quân thủ thành Đông Dương áp giải tôi, bọn họ tuy không dám lơ là nhưng đối với tôi rất cung kính. Liêm Bách Sách nhìn tôi, mỉm cười: "Sở tướng quân, từ đây từ biệt, không biết ngày nào mới gặp lại."
Hắn nói rất ôn hòa. Tôi nhạt giọng: "Gặp hay không gặp đều chẳng còn là chuyện quan trọng nữa, lần này ta còn chẳng biết tính mạng mình giữ được bao lâu."
"Sở tướng quân, thế sự như cờ, ngày nay đâu biết được chuyện ngày mai, có những lời không nên nói thì tốt nhất vẫn nên quên đi thôi."
Ánh mắt hắn mang hàm ý sâu xa, nhưng tôi cũng thực sự không dám tin sâu vào những kẻ tâm cơ sâu khôn lường như bọn họ, chỉ gật đầu nói: "Chuyện cần quên, ta đã sớm quên rồi."
"Vậy thì tốt." Hắn xoay người, cất tiếng gọi: "Đưa cỗ đại xa chuẩn bị cho Sở tướng quân lại đây."
Bên cạnh có hai tên binh sĩ đánh một cỗ xe lớn lại. Thùng của cỗ xe này là một cái lồng gỗ rất lớn, nhưng bốn phía được bọc kín bằng bạt, nhốt mười mấy người cũng vừa. Liêm Bách Sách nhường đường cho tôi, nói: "Sở tướng quân, xin chịu thiệt thòi ở trong cỗ tù xa này mấy ngày, mọi việc tới Đế đô, Thiệu tướng quân đều đã dặn dò ta thu xếp thỏa đáng rồi."
Hắn cố ý nhấn mạnh mấy chữ "Thiệu tướng quân", tôi tự nhiên hiểu được ngụ ý trong lời hắn, không nói thêm gì nữa.
Thiệu Phong Quan này dường như thực sự có ý cứu tôi. Ban nãy nghe Nhị thái tử nói muốn tống tôi vào tọa lung, tôi đã rơi xuống vực sâu tuyệt vọng, nhưng lúc này lại một lần nữa nhen nhóm lên khát vọng cầu sinh. Chỉ cần có Văn hầu chống lưng phía sau, Nhị thái tử dẫu có muốn hãm hại tôi thì tôi cũng chưa chắc không thể biến nguy thành an.
Khi bước vào cỗ tù xa kia, tôi không khỏi giật mình kinh ngạc. Bên trong chuẩn bị sẵn một bộ chăn đệm mới tinh, đâu có giống tù xa, quả thực giống như cỗ xe lớn của các công tử khi đi du ngoạn. Tôi quay đầu lại nhìn, Liêm Bách Sách đứng ở đuôi xe mỉm cười với tôi, nói: "Thiệu tướng quân lệnh cho ta chuẩn bị cỗ tù xa này, lúc vội vàng làm còn sơ sài thất lễ, mong Sở tướng quân lượng thứ."
Tôi không khỏi có chút buồn cười. Nếu đây là tù xa, thì làm tù nhân quả thực gần như một sự hưởng thụ. Tôi chợt nghĩ, cỗ tù xa này muốn chuẩn bị xong xuôi cũng không thể vội vàng mà làm tươm tất thế được, xem ra Thiệu Phong Quan thực sự có tâm muốn cứu tôi.
Nghĩ tới khuôn mặt chẳng bao giờ cười, lúc nào cũng rầu rĩ ủ ê của Thiệu Phong Quan, tôi không khỏi có chút cảm thán. Tục ngữ có câu người không thể nhìn tướng mạo, vẻ ngoài của Thiệu Phong Quan trông chẳng có gì đặc biệt, nhưng con người này quả thực phi thường. Nhị thái tử tuy có tiếng là văn võ song toàn, thực chất hơn nửa là lời khen quá đà, còn Tất Vĩ thích dùng kế nhưng lại không giỏi dùng kế, không thể coi là soái tài. Thiệu Phong Quan đứng cuối trong bốn tướng "Địa, Hỏa, Thủy, Phong", nhưng thực chất còn vượt xa Tất Vĩ nhiều.
Đế quốc không phải là không có tướng tài. Nhị thái tử thực ra cũng không quá kém cỏi, nếu hắn không mang thân phận tông thất thì rất có thể sẽ là một võ quan trung cấp khá cừ, Tất Vĩ và Thiệu Phong Quan lại càng là những tướng tài hiếm có, Liêm Bách Sách này cũng là một trí tướng vô cùng xuất sắc. Chỉ là những người này mỗi người mang một tâm tư riêng, cản trở lẫn nhau, thực sự khó lòng phát huy được thực lực vốn có. Theo lý mà nói, thành Đông Bình tập trung nhiều tinh binh cường tướng như thế, đám xà nhân do Sơn Đô dẫn đầu dẫu có lợi hại đến đâu cũng không thể là đối thủ của chúng tôi.
Đây đúng là trời muốn diệt chúng tôi vậy.
Dù biết mình sẽ không gặp nguy hiểm đến tính mạng nữa, nhưng trong lòng tôi lại chẳng thể vui vẻ nổi.
Liêm Bách Sách có lẽ thấy vẻ mặt tôi đầy âu lo, liền nói: "Sở tướng quân cứ yên tâm, chuyến hộ tống ngài về Đế đô lần này, Thiệu tướng quân đặc ý lệnh cho thuộc hạ tiền phong doanh của ngài dẫn đội, Sở tướng quân cũng không cần lo lắng điện hạ sẽ gây bất lợi cho ngài."
Thuộc hạ tiền phong doanh của tôi? Tôi lập tức nhớ ngay tới Tào Văn Đạo. Chẳng lẽ lại là Tào Văn Đạo hộ tống tôi sao? Tiền phong doanh hiện giờ nằm trong tay Tiền Văn Nghĩa, gã tuy phản bội tôi nhưng tài năng của gã đủ để đảm đương trọng trách này, Tào Văn Đạo chưa chắc đã phục gã, nói không chừng lại đúng là hắn. Tôi đang định hỏi thì Liêm Bách Sách đã hướng ra bên ngoài nói: "Trần tướng quân, qua đây bái kiến Sở tướng quân."
Trần tướng quân? Tôi nhất thời chưa nhớ ra viên tướng nào trong tiền phong doanh mang họ Trần, một người đã sải bước đi tới, ở cửa xe khom mình hành lễ: "Thống lĩnh, mạt tướng Trần Trung, bái kiến Thống lĩnh."
Là Trần Trung! Tôi không khỏi giật mình một phen. Viên dũng tướng sức mạnh vô song này là con cháu của Trần Khai Đạo trong mười hai danh tướng năm xưa, người này tuy thiếu tài ứng biến, nhưng một khi nhận mệnh lệnh là chấp hành không chút sai lệch, điểm xuất chúng hơn cả là sức mạnh của hắn lớn đến mức đủ sức địch lại xà nhân, làm việc cũng một lòng tiến tới không lùi bước. Hắn vốn là một tiểu quân quan trong doanh của Hình Thiết Phong, tôi với hắn không thân quen gì, nhưng thần lực của hắn lại để lại ấn tượng cực kỳ sâu sắc trong tôi. Vừa thấy hắn, lòng tôi bất giác run lên.
Hình Thiết Phong với tôi vốn chẳng hòa thuận, sau khi tập kích ban đêm trở về, chính Hình Thiết Phong đã đâm đơn tố cáo tôi trước mặt Tất Vĩ, rốt cuộc mới gây ra bao nhiêu chuyện rắc rối thế này, Nhị thái tử cũng một mực cắn chặt tôi là kẻ phản nghịch. Thiệu Phong Quan không gọi ai khác, lại cố tình gọi hắn tới, rốt cuộc là có ý gì? Thuộc hạ của hắn lại không phải người của tiền phong doanh chúng tôi, có lẽ Thiệu Phong Quan đặc ý phái một mình hắn tới thống lĩnh toàn đội.
Tôi nhìn Trần Trung, Trần Trung lại chỉ cung kính hành lễ một cái rồi lui xuống. Lúc này Liêm Bách Sách vẫy tay với tôi nói: "Sở tướng quân, chúc ngài thượng lộ bình an."
Hắn hạ cánh cửa xuống, tôi nghe thấy tiếng khóa lớn lách cách trên cửa. Vừa rồi tôi đã quên mất thân phận tù nhân của mình, lúc này nghe tiếng ổ khóa vang lên mới giật mình tỉnh ngộ.
Dù cái lồng gỗ này được bài trí tiện nghi khác thường, nhưng rốt cuộc vẫn chỉ là một cái lồng giam mà thôi.
Tôi ngồi trên ghế, sờ vào tấm bạt phủ làm vách xe. Dưới tấm bạt là những khúc gỗ thô to, một khi tháo tấm bạt ra, cái lồng gỗ này sẽ lộ rõ nguyên hình. Chỉ là có tấm bạt này che phủ, luôn khiến người ta cảm thấy nơi đây là một chỗ ở thoải mái.
Bởi xà nhân từng tập kích trên đại giang một lần, Nhị thái tử lần này hồi kinh không dám đi đường thủy nữa mà đi bằng đường lớn. Với tốc độ bình thường, từ Đế đô tới thành Đông Bình chừng hai nghìn dặm, giục ngựa thêm roi, ngày đêm gấp gáp thì mỗi ngày có thể đi hơn năm trăm dặm, vậy thì ba bốn ngày là có thể tới nơi. Nhị thái tử mang thương tích trên người, dĩ nhiên không thể đi gấp như thế, vừa đi vừa nghỉ, nếu đi khẩn trương thì khoảng mười ngày mới về tới Đế đô, nếu trên đường chậm trễ một chút thì ít nhất cũng phải mười hai mười ba ngày.
Mười hai mười ba ngày, trong mười hai mười ba ngày này liệu thành Đông Bình có xảy ra biến cố gì không? Sau khi Nhị thái tử rời đi, hai vạn quân đích hệ của hắn sẽ do Lộ Cung Hành thống lĩnh. Với tài năng của Lộ Cung Hành, chắc chắn sẽ không như Nhị thái tử xung khắc như nước với lửa với Tất Vĩ, nói không chừng trái lại sẽ mở ra một cục diện tốt đẹp hơn.
Tôi nằm trên giường, ôm đầu suy nghĩ. Ánh nắng xuyên qua tấm bạt chiếu vào trong, ấm áp có phần hơi nóng.
Mùa hè sắp đến rồi chăng. Tôi ngồi dậy.
Hôm nay đã là ngày hai mươi tám tháng Ba. Cách thời điểm thành Cao Thứ bị phá tròn hai tháng. Hai tháng trước, tôi còn ở trong thành Cao Thứ liều mạng chém giết với xà nhân, hai tháng sau, đã trở thành kẻ tình nghi mưu sát Nhị thái tử bị áp giải về kinh, giao cho Tam Pháp Ty xét xử.
Từ thành Đông Bình về Đế đô phải đi qua địa giới ba tỉnh Chi Giang, Kiến Từ, Phương Dương. Tỉnh Kiến Từ tuy dân số thưa thớt nhưng diện tích lại rộng lớn, đoạn đường trong địa phận Kiến Từ vô cùng hoang vu. Mà từ thành Đông Bình kéo dài tới thành Bắc Ninh do Đồ Phương trấn thủ, suốt dọc đường này đều không có quân đồn trú, nếu Thiệu Phong Quan muốn giở trò gì với Nhị thái tử thì phần nhiều sẽ ra tay trong địa phận Kiến Từ.
Chúng tôi tiến vào địa giới Kiến Từ vào ngày thứ ba. Nơi giáp ranh giữa tỉnh Chi Giang và tỉnh Kiến Từ đã hoang vu tàn tạ không chịu nổi, mấy ngôi làng thỉnh thoảng bắt gặp trên đường cũng cực kỳ đổ nát, dân làng quần áo rách rưới, ánh mắt đờ đẫn nhìn chúng tôi đi qua. Còn nhớ khi đi theo đoàn cống sứ tỉnh Thiên Thủy tới Đế đô, khi ấy trên đường cũng từng thấy một vài thôn làng. Dẫu một đông một tây, nhưng những thôn làng này lại chẳng khác nhau là bao.
Ở trong lồng gỗ rảnh rỗi không có việc gì làm, tôi lại theo cuốn 《Đạo Đức Tâm Kinh》 mà đả tọa. Những ngày này tôi ngày nào cũng đả tọa, chẳng biết có tiến triển gì không, tóm lại tâm tư của người khác tôi vẫn chẳng đọc hiểu được chút nào. Nói không chừng, câu nói của Trịnh Chiêu rằng độc tâm thuật phải dựa vào thiên phú cũng chẳng sai, tôi vốn thiếu thiên phú để học môn này. Nhưng đả tọa có thể giúp bản thân quên đi nhiều điều, tuy trong lồng gỗ này bài trí rất thoải mái, nhưng ngày nào cũng giam mình bên trong, chưa từng được bước ra ngoài một lần, thực sự ngột ngạt vô cùng.
Tôi đang đả tọa thì bỗng có người ở phía trước cất giọng hét lớn: "Dừng!" Cỗ xe ngựa lập tức dừng lại.
Đó là Nhị thái tử muốn nghỉ ngơi. Hai ngày nay luôn như vậy, nhân lúc trời chưa tối Nhị thái tử đã dừng lại, mỗi ngày chỉ đi chừng ba bốn canh giờ, quãng đường đi được có lẽ chưa đầy hai trăm dặm. Tốc độ này cũng chẳng khác thuyền là bao.
Tuy tôi được đãi ngộ khá hậu hĩnh nhưng vẫn không thể bước ra khỏi lồng gỗ. Lúc này chỉ nghe "xoạt" một tiếng, tấm bạt phủ lồng gỗ được kéo lên một nửa, trước mắt tôi thoáng chốc sáng bừng, người cũng thấy khoan khoái hơn nhiều.
Trần Trung sau khi kéo tấm bạt ra liền hành lễ với tôi nói: "Sở tướng quân, thực sự xin lỗi, mạt tướng không thể thả ngài ra ngoài, chỉ đành mở thế này cho thoáng khí thôi."
Tôi thở phào một hơi dài, nói: "Thế này là tốt lắm rồi."
Tịch dương ngả bóng sau núi, lá cây bên đường cũng như được phủ lên một lớp ánh vàng. Vì ít người nên cây cối càng thêm vẻ xanh tươi rậm rạp, cơn gió phả vào mặt cũng mang theo hương thơm thanh mát của đất đai. Dù cách một lớp lồng gỗ, nhìn ngắm xung quanh vẫn khiến lòng dạ thanh thản hẳn ra.
Trần Trung lúc này cầm một ống tre đựng cơm đi tới nói: "Sở tướng quân, mời dùng cơm."
Tỉnh Chi Giang có rất nhiều tre, món cơm lam ống tre này cũng là thứ người ta thường ăn khi đi xa. Vì tre có ở khắp nơi, bỏ gạo vào trong rồi đặt lên lửa nấu, vừa không phải mang theo nồi niêu xoong chảo, cơm nấu ra lại có mùi thơm thanh khiết của lá tre, mùi vị cũng rất ngon.
Tôi ăn từng miếng lớn, Trần Trung cũng cầm một ống cơm lam ngồi ăn, bỗng nhiên phía trước xảy ra một trận hỗn loạn. Trần Trung đặt đũa xuống, trèo lên chỗ cao nhìn ngó rồi quát lớn: "Có chuyện gì thế?"
Một tên binh sĩ bỗng chạy lại nói: "Trần tướng quân, thử hổ! Có ba con thử hổ!"
Có thử hổ! Lòng tôi bỗng chùng xuống. Thử hổ là loài dã thú hung dữ nhất trong bờ cõi Đế quốc, trên đường về Đế đô tôi cũng từng chạm trán một con, lần đó vì cứu nàng mà tôi suýt nữa mất mạng. Hiện giờ Nhị thái tử đi ở tít đằng trước, chỉ e ba con thử hổ này nhắm vào bọn họ mà tấn công.
Tính tình thử hổ vô cùng tàn bạo, khác hẳn những loài mãnh thú khác, hễ cắn là dây dưa không buông. Đàn cừu của người chăn cừu gặp phải một con thử hổ thường sẽ bị nó cắn chết không chừa lại một con. Có ba con thử hổ cùng tới, không biết đám thân binh thị vệ của Nhị thái tử có chống đỡ nổi không.
Trần Trung vớ lấy ngọn thương bên cạnh, quát lớn: "Người của đội một theo ta!"
Hắn tung người lên ngựa, dẫn theo mười người lao về phía trước. Bách nhân đội này vốn là thuộc hạ của Liêm Bách Sách, Trần Trung e rằng cũng chẳng quen thuộc, toàn đội lập tức trở nên nhốn nháo hỗn loạn, người thì đi vớ lấy thương, người lại đi dắt ngựa, bóng người chen chúc, trật tự rối loạn tột cùng.
Trần Trung thực sự thiếu tài ứng biến. Tôi bị nhốt trong lồng cũng không ra ngoài được, nhưng dẫu thử hổ có xông tới thì tôi ở trong lồng trái lại là an toàn nhất. Tôi ngồi xuống, đang định tiếp tục ăn cơm, vừa mới ngồi xuống bỗng nghe "phập" một tiếng, một mũi tên bắn trúng vào một cây cột bên cạnh.
Thứ này dĩ nhiên không thể do thử hổ bắn ra được. Tôi giật bắn mình, cả người lập tức nằm rạp xuống sàn xe.
Có kẻ muốn thừa cơ hỗn loạn lấy mạng tôi!
Tôi vừa kinh hãi vừa giận dữ, đầu óc rối bời như một mớ bòng bong, dán chặt mắt vào hướng mũi tên bắn tới. Đây có thể là ai bắn? Một tên binh sĩ bên cạnh cũng chú ý tới, lớn tiếng hô: "Có người bắn tên!" Nhưng tiếng hét của hắn trái lại càng khiến xung quanh thêm phần hỗn loạn.
Liệu có phải Thiệu Phong Quan muốn giết người diệt khẩu?
Nhị thái tử muốn lấy khẩu cung từ miệng tôi, lúc này chưa chắc đã giết tôi. Hắn mà muốn giết tôi thì trước kia đã có thể giết từ sớm rồi, cũng chẳng cần phải đợi tới ngày hôm nay, vậy thì tám chín phần mười là do Thiệu Phong Quan phái người ra tay. Thiệu Phong Quan này nói thì hay lắm, hóa ra lại tính toán mưu đồ này!
Tôi đã căm giận tột cùng nhưng lại không dám cử động bừa bãi. Tù xa tuy lớn nhưng cũng chỉ dài chừng một trượng, rộng chừng năm thước, ở một nơi chật hẹp thế này, muốn giết tôi là chuyện dễ như trở bàn tay.
"Phập" một tiếng, lại có một mũi tên bắn tới. Mũi tên này xuyên qua khe cột, cắm phập vào sàn xe, cách chỗ tôi nằm chưa đầy hai thước. Mũi tên cắm rất sâu, đuôi tên vẫn không ngừng rung lên bần bật. Mũi tên này có không ít người đã chú ý tới, một tên binh sĩ kêu lên: "Có người muốn hành thích Sở tướng quân!"
Bọn họ không có người chỉ huy, một đám người chen chúc trước xe, dường như muốn vây quanh bảo vệ tôi, nhưng làm vậy lại càng khiến tình hình thêm hỗn loạn. Tôi chộp lấy cái bàn trà chắn trước người, nghiêm giọng quát lớn: "Những người trước xe đứng yên tại chỗ, dùng khiên chắn cho ta, những người ở vòng ngoài tiến lên truy bắt thích khách!"
Cảnh tượng này giống hệt như lần tôi theo đoàn cống sứ của bọn Đường Khai về Đế đô, bị Tằng Vọng Cốc phục kích ở Quỷ Khiếu Lâm. Tôi bất giác nhìn ra sau lưng, chỉ sợ phía bên kia cũng sẽ có thích khách xuất hiện.
Những người lính kia nghe tiếng quát của tôi liền tự động chia làm hai hàng, hàng đi đầu đuổi về phía trước, hàng còn lại giơ khiên vây quanh hai bên. Đỉnh lồng giam này có ván gỗ che chắn, trừ phi dùng Lôi Đình Nỏ mới có thể bắn xuyên qua, nên cũng không cần lo lắng.
Lúc này phía trước vang lên mấy tiếng gầm giận dữ của mãnh thú, rồi lại truyền đến một hồi hoan hô, hẳn là ba con chuột cọp kia đã bị hạ gục. Tôi lại không dám phân tâm, chỉ chăm chú nhìn quanh bốn phía, nào dám có nửa phần khinh suất. Nhưng thích khách kia có lẽ nhát gan, hai mũi tên không trúng thì tuyệt nhiên không bắn thêm mũi nào nữa.
Đúng lúc này, từ tiền trận truyền đến một tràng tiếng vó ngựa, Trần Trung dẫn mười người kia quay lại. Hắn vừa trở về, binh lính nơi này cũng bật ra một hồi kinh hô. Toàn thân hắn đầy máu, gần như giống như vừa lăn một vòng trong vũng máu ra vậy. Một viên tiểu quân quan tiến lên đón, kinh ngạc hỏi: "Trần tướng quân, ngài bị thương sao?"
Trần Trung cắm phập cây đại thương trong tay xuống đất, nhảy xuống ngựa nói: "Sở tướng quân không xảy ra chuyện gì chứ?" Động tác của hắn rất tự nhiên, không giống người bị thương. Tiểu quân quan kia đáp: "Vừa rồi có thích khách."
Trần Trung giật mình, sải bước lớn đi tới trước xe tù. Đến nơi, hắn hành một đại lễ, nói: "Thống lĩnh, ngài không sao chứ?"
Hắn vẫn luôn coi tôi là Thống lĩnh của Tiền Phong Doanh. Tôi nói: "Không sao. Ngươi có bị thương không?"
Trần Trung nhếch miệng cười nói: "Súc sinh kia làm sao đả thương được ta, bị ta xé làm đôi, trên người mới dính chút thứ bẩn thỉu này. Sở tướng quân, ngài phải cẩn thận đấy, Thiệu tướng quân đã dặn dò ta phải đề phòng thích khách."
Thiệu Phong Quan đã dặn dò sao? Câu nói gần như châm chọc này lại chẳng khiến tôi chấn động bằng câu trước đó. Con chuột cọp kia lại bị hắn ngạnh sinh sinh xé làm đôi ư? Thần lực toàn thân của Trần Trung này thực sự kinh người tới cực điểm, nếu Thiệu Phong Quan sai hắn đến giết tôi, tôi chẳng có chỗ nào để trốn, dưới cỗ sức mạnh bực này thực sự là không hề có đường né tránh.
Lúc này phía trước lại có người hô: "Điện hạ giá đáo!" Trần Trung giật mình, nói: "Điện hạ sao lại qua đây? Thống lĩnh, xin đợi một lát, ta đi kiến giá Điện hạ." Hắn quay người lại quát lũ lính bên cạnh: "Bảo vệ Thống lĩnh cho cẩn thận, không được để xảy ra sai sót!"
Lúc này giọng nói của Nhị thái tử vang lên: "Sở tướng quân có xảy ra chuyện gì không?" Hắn ngồi trên một cỗ liễn, do hai tên thân binh khiêng tới. Trần Trung đến trước mặt hắn, quỳ xuống nói: "Điện hạ xin cứ yên tâm, Sở tướng quân không sao."
Cỗ liễn của Nhị thái tử đã tới trước lồng giam, hắn nói: "Ngươi bảo đám lính này lui ra." Trần Trung vâng dạ liên thanh, nói: "Mau tránh ra, để Điện hạ qua."
Nhị thái tử đến trước lồng giam, nhìn tôi, bỗng nhiên thở dài một tiếng: "Sở tướng quân, để ngươi phải chịu tai bay vạ gió thế này, trong lòng cô thật có điều hổ thẹn."
Nếu hắn mắng chửi tôi mấy câu thì đó còn là việc nằm trong dự liệu của tôi, nhưng tôi hoàn toàn không ngờ hắn lại nói như vậy. Tôi chỉ cảm thấy nghẹn nơi cổ họng, quỳ xuống nói: "Điện hạ, mạt tướng tuyệt không có dã tâm bất quỹ, mong Điện hạ minh xét."
Nhị thái tử nhìn tôi, hồi lâu, thở dài một tiếng, khẽ nói: "Ta cũng biết."
Nhị thái tử tuy cương trực cố chấp, nhưng cũng chẳng phải kẻ ngốc, hắn hẳn phải biết chứ. Chỉ vì sự tranh đoạt giữa hai vị thái tử mà tôi kẹp ở giữa biến thành công cụ tranh chấp của hai bên, nhất là sự việc hiểm nghèo vừa rồi lại càng khiến hắn nhớ tới cảnh tượng tôi xông vào doanh trại Xà Nhân cứu hắn, lúc này có lẽ trong lòng hắn cũng nảy sinh áy náy. Tôi nhìn hắn, sống mũi cay cay, suýt chút nữa rơi lệ.
Nhị thái tử dường như cũng không nỡ nhìn tôi thêm, nói: "Khởi liễn, chúng ta về trong xe."
Hai tên lính kia lại khiêng hắn đi về phía trước. Nhìn bóng lưng hắn, tôi suýt nữa đã cất tiếng gọi, muốn nói cho hắn biết toàn bộ chân tướng, nhưng lời đến khóe miệng lại khựng lại, rốt cuộc vẫn không thốt ra.
Lúc này toán lính bị tôi sai đi lùng bắt thích khách đã quay về, bọn họ cầm một cây cung và vài mũi tên, nhỏ giọng nói với Trần Trung. Bàn bạc một hồi, Trần Trung đi tới sai người đóng thêm một lớp ván gỗ bên ngoài lồng giam này để đề phòng thích khách lại có hành động.
Tôi lắng nghe tiếng mấy người lính đang đóng đinh ván gỗ, đầu óc cảm thấy trống rỗng mơ hồ. Thích khách này mười phần thì có đến tám chín là do Thiệu Phong Quan phái tới, nhưng nếu như tôi đem mọi chuyện nói hết với Nhị thái tử, Nhị thái tử rốt cuộc sẽ đối phó với tôi thế nào? Liệu sẽ giống như Thiệu Phong Quan nói là giết tôi diệt khẩu, hay là coi tôi làm tâm phúc, dùng tôi để lật đổ Tất Vĩ, thậm chí lật đổ Văn Hầu, kéo luôn cả Thái tử xuống ngựa?
Tôi nghĩ ngợi miên man, trước mắt chỉ thấy hoa cả lên, trong lòng cũng rối bời thành một mối.