Isra đến New York ngay hôm sau đám cưới của cô, trên một chuyến bay dài mười hai tiếng từ Tel-Aviv[1]. Lần đầu tiên cô thấy thành phố là khi nó thoáng hiện lên qua cửa sổ máy bay trong lúc họ đang đáp xuống sân bay John F. Kennedy. Mắt cô mở to và mũi cô áp sát vào cửa sổ. Cô nghĩ là mình đang yêu mất rồi. Chính thành phố này là thứ đã hớp hồn cô, với những tòa nhà cao tầng không tì vết, phải có đến cả hàng trăm tòa như thế. Từ trên cao, Manhattan trông thật mảnh khảnh, nom những tòa nhà như muốn bẻ nó ra làm hai, như thể dải đất bé nhỏ ấy không cân nổi sức nặng của chúng. Khi máy bay gần chạm đất, Isra cảm tưởng như cả người cô đang sưng lên. Nền trời Mahattan không còn trông giống như một bàn đồ chơi nữa, mà trở nên hùng vĩ, với lớp lớp những pháo đài và thành lũy trồi lên như những tràng pháo hoa bắn tung lên trên bầu trời, tất cả đều cao lớn và uy quyền đến choáng ngợp, khiến Isra cảm thấy nhỏ bé, cùng lúc lại làm cô hoang mang bởi vẻ đẹp của chúng, như thể chúng là những nhân vật cổ tích đang bước ra đời thực vậy.
Ngay cả khi cô đã đọc cả nghìn cuốn sách, không gì có thể so sánh nổi với cảm giác cô đang có, đang hít hà cảnh tượng trước mắt.
Cô ước gì mình có thể thấy đường chân trời khi máy bay hạ cánh, cho dù lúc này nó chỉ còn một vệt mờ với chút sắc xanh ở cuối tầm mắt. Nếu Isra nheo mắt lại, cô cảm tưởng như mình đang ngắm nhìn cảnh núi đồi ở Palestine, những tòa nhà trông như những dải đồi lờ mờ ở phía xa. Cô tự hỏi không biết trong những ngày tới, cô sẽ còn được nhìn thấy những gì nữa.
“Đây là quận Queens.” - Adam nói với cô khi họ đứng xếp hàng chờ taxi ngoài sân bay. Khi họ ngồi trong chiếc minivan, Isra ngồi gần cửa sổ, hy vọng Adam sẽ ngồi cạnh cô nhưng Fareeda và Sara lại thế chỗ anh. “Sẽ mất khoảng bốn mươi phút để đến nhà anh ở Brooklyn...” - Adam tiếp lời khi anh ngồi xuống cạnh em trai mình ở hàng ghế giữa: “Đấy là nếu không tắc đường.”
Isra quan sát Queens qua cửa sổ taxi, mắt mở to và ngấn nước dưới ánh nắng những ngày tháng Ba. Cô tìm những tòa nhà không tì vết mà cô thấy trên máy bay, nhưng cô không còn bắt gặp chúng trong tầm mắt mình nữa. Tất cả những gì cô thấy là những con đường xám xịt dài đến vô tận, uốn cong và nối vào nhau, với xe hơi - phải đến hàng trăm chiếc - chạy vù vù quanh những con đường không ngừng nghỉ. Adam nói, chỉ còn hai dặm nữa là đến đường rẽ xuống Brooklyn, còn Isra nhìn theo tài xế taxi nối vào làn trái, đi theo biển chỉ nút giao Belt Parkway.
Họ chạy trên con đường cao tốc hẹp sát biển đến nỗi, Isra có cảm tưởng như lúc nào họ cũng có thể trượt chân và ngã xuống nước. Cô không biết bơi. “Sao mình chạy sát biển thế ạ?” - Mãi rồi cô cùng dám đánh tiếng hỏi, mắt nhìn những con tàu lớn ở phía xa và những đàn chim vút bay trên bầu trời.
“Ôi dào thế này chưa là gì đâu!” - Adam nói - “Chờ đến khi em nhìn thấy cây cầu kia...”
Và rồi nó cũng xuất hiện, ngay trước mắt cô, vươn dài, ánh bạc và duyên dáng, như một chú chim khổng lồ với đôi cánh vượt cả đại dương. “Đấy là cầu Verrazzano-Narrows.” - Adam nói, nhìn mắt Isra đang mở to - “Đẹp quá phải không?”
“Đẹp thật!” - Cô nói, có phần hơi hoảng loạn: “Mình có chạy qua đó không anh?”
“Không!” - Adam nói: “Cây câu này nối liền Brooklyn với đảo Staten.”
“Nó đã bao giờ sập chưa?” - Cô thì thầm, mắt vẫn dán vào cây cầu khi họ tiến gần.
Cô có thể nghe thấy tiếng anh cười khi anh trả lời: “Anh chưa nghe tới chuyện đấy.”
“Nhưng nhìn nó mỏng manh thật đấy. Trông như nó có thể gãy bất cứ lúc nào.”
Adam cười. “Thư giãn đi em ơi!” - Anh nói: “Chúng ta đang ở thành phố vĩ đại nhất thế giới. Tất cả mọi thứ ở đây đều được xây dựng bởi những kiến trúc sư và kỹ sư bậc thầy. Thế nên, em cứ yên tâm tận hưởng cảnh quan đi.”
Isra cố gắng thả lỏng người. Cô có thể nghe thấy tiếng Khaled cười khúc khích ở ghế trước. “Lại làm tôi nhớ lần đầu tiên Fareeda nhìn thấy cây cầu.” - Ông quay lại để nhìn vợ mình: “Tôi thể, bà ấy suýt khóc vì sợ.”
“Chắc là thế rồi!” - Fareeda nói, dù Isra để ý bà trông vẫn có vẻ khá lo lắng khi họ chạy dưới cầu. Khi họ chạy qua được phía bên kia, Isra thở mạnh, cảm thấy như trút được gánh nặng vì cây cầu đã không sập xuống đầu họ.
Phải đến khi họ rẽ ra khỏi đại lộ, Isra mới được thấy Brooklyn lần đầu tiên. Nó không giống như những gì bạn mong đợi. Tráng lệ là từ bạn có thể dùng để miêu tả Mahattan nhưng khi đem ra so sánh, Brooklyn trông có phần đơn điệu, nhạt nhòa, như thể nó không thuộc về chỗ ngay kế bên vậy. Tất cả những gì cô thấy là những căn nhà gạch buồn tẻ che phủ bởi tranh tường và graffiti, nhiều cái còn đổ nát và những con người chen qua từng con phố đông nghẹt với vẻ mặt nghiêm trọng. Nó khiến cô bối rối. Khi lớn lên, cô vẫn thường tự hỏi về thế giới bên ngoài Palestine, rằng nó có đẹp như những nơi mà cô vẫn thường đọc trong sách hay không. Cô đã từng chắc chắn rằng nó sẽ như vậy khi ngắm nhìn đường chân trời ở Manhattan, háo hức được gọi nơi đây là nhà. Nhưng giờ đây, nhìn Brooklyn qua cửa sổ, thấy những bức vẽ graffiti nguệch ngoạc trên tường và khắp các tòa nhà, cô tự hỏi liệu có phải những cuốn sách cô đọc đã sai còn mẹ cô đã đúng khi bà nói rằng, thế giới này sẽ chỉ toàn những điều chán chường, cho dù cô có ở đâu đi chăng nữa.
“Nhà mình ở Bay Ridge.” - Adam nói khi người lái taxi dừng trước một dãy nhà gạch cũ. Isra, Fareeda và Sarah đứng trên lề đường khi những người đàn ông dỡ vali xuống. Một tay Adam xách vali của Isra, tay kia chỉ các dãy nhà xung quanh: “Rất nhiều người Ả Rập ở New York sống trong khu này...” - Anh nói: “Em sẽ cảm thấy như đang ở nhà ngay thôi.”
Isra đảo mắt quanh khu phố. Gia đình Adam sống trong một con phố dài, dưới hàng cây với những dãy nhà xếp chồng lên nhau như những cuốn sách đặt trên giá. Hầu hết các ngôi nhà xây bằng gạch đỏ, mặt tiền cong lại. Nhà nào cũng có hai tầng trên và một tầng hầm, với một cái cầu thang ngắn, hẹp dẫn từ cửa trước lên tầng một. Ngăn cách giữa những ngôi nhà và vỉa hè là những cái cổng sắt. Khu phố nom có vẻ được giữ gìn cẩn thận - không cống nước lộ thiên hay rác rưởi vứt vương vãi và những con đường thì được phủ bê tông láng mịn, không còn sỏi đá. Nhưng xung quanh hầu như không có cây cối gì, ngoại trừ hàng cây Tiêu huyền[2] London được trông trên vỉa hè. Không có hoa quả để hái, không có ban công, không có sân trước. Cô hy vọng ít ra thì họ cũng có sân sau.
“Tới nơi rồi!” - Adam nói khi họ đến cửa trước của một căn nhà được đánh số 545.
Adam mở cửa trước và dẫn cô vào nhà. “Nhà ở đây cũng hơi chật chội...” - Anh nói khi họ bước vào hành lang. Cô có thể thấy hết cả tầng một từ hành lang. Bên trái cô là phòng khách và đi xuống chút nữa là bếp. Bên phải cô là cầu thang dẫn lên tầng hai và khuất đằng sau là phòng ngủ.
Isra nhìn quanh phòng khách. Cho dù nó bé hơn phòng khách của bố mẹ cô ở nhà nhưng được trang hoàng như thể đây là một ngôi biệt thự vậy. Ở đây, đỏ là tông màu chủ đạo: Sàn nhà trải thảm Thổ Nhĩ Kỳ màu đỏ thẫm, bộ đi-văng màu vang đỏ, rồi cả những chiếc gối ôm cũng đỏ nốt. Từ thảm, đi-văng, gối đến rèm cửa đều được trang trí bằng một kiểu họa tiết mạ vàng. Trong góc phòng có thêm một chiếc sofa bằng da đã sờn nằm bỏ xó và một chiếc bình vàng sáng bóng nép mình bên cạnh.
“Em có thấy thích không?” - Adam hỏi.
“Đẹp lắm anh ạ.”
“Anh biết chỗ này không được sáng sủa và thoáng mát như nhà ở quê mình...” - Mắt anh hướng về phía những cánh cửa sổ đang giấu mình đằng sau tấm rèm vừa dày vừa dài - “Nhưng mọi thứ ở đây nó vốn vậy, mình có làm gì khác được đâu.”
Có điều gì đó trong giọng nói của anh làm cho Isra nhớ lại ngày hôm ấy ở trên ban công và cái cách mà mắt anh lần theo những chùm nho, ngắm nhìn khung cảnh rộng mở. Cô tự hỏi không biết anh có đang thầm mong ước được quay lại Palestine, không biết một ngày nào đó anh có muốn trở về nhà.
“Anh có nhớ nhà không?” - Giọng cô cất lên làm chính cô giật mình và ánh mắt cô buông xuống sàn nhà.
“Có.” - Adam nói - “Anh nhớ chứ.”
Isra nhìn lên và thấy mắt anh vẫn đang dán vào những cái rèm cửa. “Có bao giờ anh nghĩ mình sẽ trở về không?” - Cô hỏi.
“Có lẽ là một ngày nào đó...” - Anh nói - “Nếu mọi thứ tốt hơn.” Anh quay lưng đi và bước xuống hành lang. Isra đi theo.
“Bố mẹ anh sẽ ở tầng một.” - Adam nói, tay chỉ vào phòng ngủ - “Sarah và em trai anh sẽ ngủ ở trên gác.”
“Thế mình ở đâu?” - Cô hỏi, hy vọng rằng phòng ngủ của mình sẽ có cửa sổ.
Anh chỉ tay vào cánh cửa đang đóng ở cuối hành lang: “Dưới lầu.”
Adam mở cửa và ra hiệu chỉ cho cô đi xuống. Cô làm theo lời anh, trong đầu tự hỏi làm sao họ có thể sống nổi dưới tầng hầm. Nếu trên lầu đã chẳng có nổi chút ánh sáng, thì dưới tầng hầm sẽ như thế nào đây? Cô ngó xuống những bậc cầu thang. Ngay lập tức, cô cảm thấy choáng ngợp bởi bóng tối. Cô đưa hai tay trước mặt, chân dò từng bước, càng đi xuống ánh sáng càng mờ dần.
Khi chân cô chạm đáy cầu thang, tay cô liền với lên tường, mò mẫm tìm công tắc đèn. Cảm giác lạnh lẽo len qua kẽ tay cô, cho đến khi cô tìm thấy cái công tắc và bật đèn lên.
Một cái gương lớn bằng vàng treo trước mặt cô. Cô thấy lạ là họ lại đặt gương ở nơi ảm đạm, không người trú ngụ như thế này. Để gương trong bóng tối, không có ánh sáng để phản chiếu thì có ích gì cơ chứ?
Cô bước vào căn phòng đầu tiên dưới tầng hầm, đưa mắt nhìn quanh không gian lờ mờ. Căn phòng hẹp và trống rỗng - bốn bức tường xám, trần trụi, ngoại trừ ô cửa sổ bên tay trái cô và khung cửa đóng ở chính giữa phòng. Isra mở cửa, nó dẫn lối đưa cô đến căn phòng thứ hai, to hơn căn phòng thứ nhất một chút, bên trong được trang bị gồm chiếc giường đôi lớn, thêm cái tủ kéo nhỏ và một tấm gương lớn. Đằng sau tấm gương là chiếc tủ quần áo nhỏ và bên cạnh đó là ô cửa dẫn đến buồng tắm. Isra biết rằng đây sẽ là phòng ngủ của họ và nó không hề có cửa sổ.
Cô nhìn ngắm hình bóng mình trong gương. Gương mặt cô nom nhợt nhạt và xám xịt dưới ánh đèn huỳnh quang, cô cứ nhìn mãi cái dáng vóc bé nhỏ, yếu ớt của mình. Cô thấy một cô bé đang gào thét và cố gắng kháng cự khi bị mẹ trói chặt vào bộ váy cưới. Đáng nhẽ ra cô bé ấy nên van xin và la hét phản kháng khi bị người cha nhét vào chiếc xe taxi chở cô ra sân bay. Nhưng cô là một đứa hèn. Cô đã quay mặt đi. Từ bây giờ, đây sẽ là khuôn mặt thân thuộc duy nhất mà mình thấy, Isra tự nhủ. Và cô không chịu nổi việc phải nhìn nó.
Trên tầng, mùi hương ngai ngái của rau ngải đắng tỏa ngập tràn căn bếp. Fareeda đang pha một ấm trà chai. Bà đứng bên cạnh bếp, lưng còng xuống, mắt nhìn vô định về phía hơi nước đang sôi.
Nhìn bà, Isra nhớ về cái cây maramiya[3] trong khu vườn chốn quê nhà và cái cách mà mẹ cô thường ngắt vài lá vào mỗi buổi sáng, bỏ vào pha cùng trà để giúp cho việc dễ tiêu hóa của Yacob. Isra tự hỏi, liệu Fareeda có trồng cây maramiya như mẹ cô, hay bà dùng lá ngải đắng khô mua ở chợ để thay thế.
“Con có thể giúp mẹ được gì không, hamati[4] ơi?” - Isra hỏi, chân tiến lại gần bếp. Đây là lần đầu tiên cô gọi Fareeda là mẹ chồng.
“Không, không cần đâu!” - Fareeeda nói, lắc đầu - “Mà đừng gọi ta là hamati. Cứ gọi Fareeda là được rồi.”
Từ bé đến lớn, Isra chưa bao giờ nghe ai gọi một người phụ nữ có chồng bằng tên thật của họ. Mẹ cô luôn được nhắc đến dưới cái danh nghĩa là Umm Waleed, hay mẹ của Waleed, đứa con trai lớn của bà, chứ không phải là Sawsan. Ngay cả bà dì Widad của cô, người không có đứa con trai nào, cũng không được gọi bằng tên thật của mình. Mọi người gọi dì là Mart Jamal, vợ của Jamal.
“Mẹ không thích cái từ đó!” - Fareeda nói, đoán từ nét mặt khó hiểu của Isra - “Nó làm cho mẹ cảm thấy già.”
Isra cười, mắt nhìn ấm trà đang sôi.
“Hay là con đi dọn sufra đi?” - Fareeda nói - “Mẹ đang nấu mấy thứ để hai mẹ con mình cùng ăn.”
“Adam đâu ạ?”
“Nó đi làm rồi.”
“Ồ thế ạ!” - Isra mong anh nghỉ ở nhà hôm nay, để đưa cô đi dạo vòng quanh khu phố, giới thiệu về Brooklyn cho cô. Ai lại đi làm ngay sau ngày cưới cơ chứ?
Tại sao em trai anh lại không chạy mấy việc lặt vặt hộ anh? Isra muốn hỏi, nhưng cô lại sợ mình nói điều gì đó sai. Cô hắng giọng và nói: “Omar với Ali có đi cùng với anh ấy không ạ?”
“Mẹ cũng không biết chúng nó đi đâu..” - Fareeda nói - “Bọn con trai khó bảo lắm, thích đi là đi thích ở là ở, không như con gái. Mình không quản nổi chúng nó đâu con ạ.” Bà đưa cho Isra một chồng đĩa và nói: “Chắc là con cùng biết rõ quá rồi, con cũng có em trai mà.”
Isra cười yếu ớt: “Vâng ạ.”
“Sarah!” - Fareeda gọi.
Sarah đang ở trong phòng ngủ trên tầng. “Dạ, mẹ!” - Con bé đáp vọng xuống.
“Xuống đây và giúp Isra dọn sufra!” - Fareeda nói. Bà quay về phía Isra - “Mẹ không muốn con bé tưởng rằng từ giờ nó được miễn việc nhà vì có con ở đây. Vấn đề là ở chỗ đấy!”
“Con bé có nhiều việc phải làm không hở mẹ?” - Isra hỏi.
“Tất nhiên rồi!” - Fareeda nói, mắt hướng lên ngưỡng cửa để tìm Sarah - “Năm nay nó mười một tuổi rồi, về cơ bản thì cũng gần bằng một người phụ nữ rồi đấy. Tại sao ư? Khi mẹ bằng tuổi nó, bà ngoại thậm chí còn không phải nhấc một ngón tay. Mẹ phải nấu không biết bao nhiêu nồi lá nho cuộn[5], rồi còn phải nhào bột cho cả gia đình.”
“Đó là vì mẹ không phải đi học, mẹ ơi!” - Sarah nói - “Mẹ có thời gian để làm mấy việc đó. Con còn có bài tập về nhà để làm.”
“Bài tập của con để sau cùng được!” - Fareeda nói, tay đưa cho con bé cái ấm ibrik đựng chai - “Rót trà ra, khẩn trương lên.”
Sarah rót trà ra bốn cái cốc thủy tinh. Isra để ý con bé không hề tỏ ra khẩn trương như mẹ nó yêu cầu.
“Chai xong chưa?” - Giọng một người đàn ông cất lên.
Isra quay lại và thấy Khaled đứng ở ngưỡng cửa. Cô quan sát ông một cách kỹ càng. Tóc ông dày và bạc, da ông vàng và nhăn nheo. Ông tránh không nhìn vào mắt cô khiến cô tự hỏi liệu có phải vì ông cảm thấy không thoải mái khi thấy cô không đội hijab hay không. Nhưng cô không phải đội hijab trước mặt ông. Ông giờ đã là bố chồng cô, và theo luật Hồi giáo thì điều này đồng nghĩa với việc ông trở thành mahram[6] của cô, cũng giống như bố cô vậy.
“Con có thích khu này không, Isra?” - Khaled nói, mắt đảo qua sufra. Cũng không khó để nhận ra ông đã từng có một thời trai trẻ bảnh bao, cho dù những đường nét trên gương mặt ông đã mờ đi và râu quai nón đã ngả bạc.
“Đẹp lắm, ami[7] ạ!” - Isra nói, tự hỏi liệu gọi ông là bố chồng có khiến ông khó chịu như Fareeda khi cô gọi bà là mẹ chồng hay không.
Fareeda nhìn chồng, miệng cười toe toét: “Giờ ông đã là ami rồi cơ đấy, ông già ạ!”
“Bà thì chắc còn là thiếu nữ!” - Ông nói với một nụ cười - “Thôi nào!” Ông ra hiệu cho họ ngồi xuống và bảo: “Ăn thôi!”
Isra chưa bao giờ nhìn thấy nhiều thức ăn trên sufra đến vậy. Hummus[8] với bò bằm và hạt thông. Phô mai halloumi[9] rán. Trứng bác. Falafel. Những quả ô liuxanh và đen. Labne[10] và za’atar[11]. Bánh mì pita tươi. Ngay cả trong tháng Ramadan) khi mẹ nấu tất cả những món mà gia đình cô yêu thích và cũng là lúc Yacob xài sang mua thịt về, cả nhà cô cũng chưa bao giờ có nhiều thức ăn đến thế. Hơi nóng bốc lên nghi ngút từ các món ăn hòa quyện vào nhau, khiến cả căn phòng bên cạnh cũng thơm nức hương vị quê nhà.
Fareeda quay sang Khaled, mắt bà dán chặt vào khuôn mặt ông: “Hôm nay ông có định làm gì không?”
“Tôi không biết” - Ông chấm miếng bánh mì vào dầu ô liu và za’atar rồi hỏi: “Sao?”
“Tôi cần ông đưa tôi xuống phố.”
“Bà cần gì?”
“Thịt và mấy thứ đồ tạp hóa.”
Isra cố để không nhìn chằm chằm vào Fareeda. Dù bà không hơn tuổi mẹ cô là mấy nhưng họ không có điểm nào tương đồng. Không hề có sự sợ hãi ẩn sau giọng nói của bà. Bà cũng không buồn hạ mắt xuống khi có sự hiện diện của Khaled. Isra tự hỏi không biết Khaled có đánh bà hay không.
“Con có phải đi không, bố?” - Sarah hỏi với sang từ phía bên kia bàn rồi nói tiếp: “Con mệt.”
“Con ở nhà với Isra cũng được.” - Ông nói mà không buồn nhìn lên.
Sarah thở phào nhẹ nhõm. “Tạ ơn Chúa! Con ghét đi mua đồ tạp hóa.”
Isra nhìn Khaled nhấm nháp tách trà chai, không mảy may xáo động trước sự táo bạo của Sarah. Nếu Isra mà dám ăn nói với Yacob kiểu vậy ông sẽ cho cô ăn ngay một cái tát. Nhưng có lẽ ở Mỹ cha mẹ không đánh con cái mình. Cô tưởng tượng ra viễn cảnh cô được Fareeda và Khaled nuôi dạy ở Mỹ, tự hỏi không biết cuộc đời cô sẽ khác như thế nào.
Một lúc sau, Khaled xin phép rời bàn ăn để đi chuẩn bị quần áo. Isra và Sarah cũng đứng dậy, thu dọn bát đĩa và cốc để đem vào bồn rửa. Fareeda vẫn ngồi, miệng nhấm nháp trà.
“Fareeda!” - Khaled gọi với từ phía hành lang.
“Shu?[12] Ông lại muốn gì nữa?”
“Rót cho tôi thêm một cốc chai nữa.”
Fareeda bỏ thêm một viên falafel vào mồm. Nom bà chẳng có vẻ gì là sốt sắng khi phải phục vụ chồng. Isra nhìn Fareeda thản nhiên nhấm nháp trà, cảm thấy vừa bối rối vừa lo lắng. Bao giờ thì bà mới đi rót chai cho Khaled đây? Hay là Isra đi rót hộ bà? Cô nhìn Sarah nhưng con bé cũng không hề tỏ ra quan tâm. Isra ép bản thân mình phải thư giãn. Có khi đây là cách mà các bà vợ nói chuyện với chồng mình ở Mỹ. Có khi mọi thứ ở đây rốt cuộc cũng khác.
Adam về nhà sau khi mặt trời lặn. “Mặc quần áo vào!” Anh bảo cô - “Anh đưa em ra ngoài.”
Isra cố gắng kìm nén sự phấn khích của mình. Cô đứng trước cửa sổ phòng khách một lúc lâu, quan sát những hàng cây tiêu huyền bên ngoài, tự hỏi không biết chúng thơm mùi của gỗ, mùi quả ngọt, hay một hương thơm nào đó mà cô chưa từng biết. Quay mặt vào kính, cô cố tránh để Adam không nhìn thấy má cô đang đỏ bừng lên.
“Em có nên bảo Fareeda chuẩn bị để đi cùng không?” - Cô hỏi.
“Không, không cần!” - Adam cười: “Mẹ anh biết Brooklyn trông như thế nào rồi.”
Ở dưới nhà, trước tấm gương vuông treo trên tường trong phòng ngủ, Isra đang không biết cô nên mặc gì. Cô đi đi lại lại quanh phòng, thử hết chiếc hijab màu này đến màu khác. Nếu như cô còn ở nhà, cô sẽ đội chiếc khăn màu tím oải hương, được điểm xuyết bằng những sợi kim tuyến màu bạc. Nhưng giờ cô đang ở Mỹ. Có khi cô nên đội khăn màu đen hay nâu, như thế thì cô sẽ không bị nổi quá. Có khi không. Có khi một màu nào đó nhạt sẽ hợp hơn, bởi chúng làm cô trông tươi sáng và hạnh phúc.
Khi cô đang cân nhắc xem tông da của cô có hợp với chiếc khăn trùm đầu màu xanh rêu thì Adam bước vào phòng. Anh nhìn cô đây lo lắng và qua gương, cô có thể thấy quai hàm anh đang xiết chặt lại. Anh tiến lại gần cô, ánh mắt dán chặt vào đầu cô. Trong lúc anh di chuyển, cô cảm thấy như có cái gì đấy đang sưng lên trong lông ngực mình và nó cứ dịch dần lên phía cổ họng cô. Anh đang nhìn chiếc khăn hijab của cô lúc này như cái cách mà anh nhìn nó hôm nào trên ban công và cho đến bây giờ, Isra mới hiểu, hóa ra anh không thích cô đội nó chút nào cả.
“Em biết là em không cần phải đội cái thứ đó đúng không?” - Cuối cùng thì Adam cũng cất tiếng.
Cô chớp mắt nhìn anh bàng hoàng. “Thật mà!” - Anh ngừng lại - “Em thấy đấy, mọi người ở đây không ai quan tâm việc em để lộ tóc ra ngoài. Không việc gì phải che đậy cả.”
Isra không biết phải nói gì. Từ bé đến lớn, cô vẫn được dạy rằng điều quan trọng nhất mà một cô gái theo đạo Hồi phải làm là đội khăn hijab. Kín đáo là đức tính cao quý nhất của người phụ nữ. “Nhưng thế còn đức tin của chúng ta?” - Cô thì thầm - “Còn Chúa?”
Adam nhìn cô thương hại: “Isra à, ở đây mình phải sống cẩn thận. Rất nhiều người từ những đất nước đang có chiến tranh đến Mỹ để lánh nạn. Có một số là người Ả Rập. Có một số là tín đồ Hồi giáo. Có một số là cả hai, như chúng ta vậy. Nhưng chúng ta có thể sống ở đây cả đời và không bao giờ trở thành người Mỹ. Em nghĩ em đang làm điều đúng đắn bằng việc đội khăn hijab nhưng khi người Mỹ nhìn em, họ không thấy như vậy. Họ sẽ không thấy ở em sự khiêm nhường, hay bản chất tốt đẹp. Tất cả những gì họ thấy là một người không thuộc về thế giới của họ, một kẻ lạc loài.” - Anh thở dài, ngước lên nhìn cô: “ Sống ở đây đúng là không dễ dàng gì. Nhưng những gì chúng ta có thể làm chỉ là cố gắng để hòa nhập mà thôi.”
Isra cởi chiếc khăn hijab ra khỏi đầu và gấp nó lại bên mép giường. Cô chưa bao giờ nghĩ đến một ngày mình sẽ không phải đội khăn khi ra đường. Nhưng khi đứng trước gương, nhìn những lọn tóc đen dài rủ xuống vai, cô bỗng thấy phấn chấn trở lại. Có lẽ đây sẽ là lần đầu tiên cô nếm được vị của tự do. Không có lý do gì để từ chối nó trước khi cô có thể thử để biết hương vị của nó sẽ ra sao.
Họ rời nhà một lúc sau đó. Isra lo lắng vuốt tóc khi cô bước ra khỏi cửa. Adam có vẻ không để ý cho lắm. Anh nói với cô rằng đi bộ là cách tốt nhất để trải nghiệm Brooklyn, chứ không phải là bằng xe hơi hay tàu điện. Và thế là họ đi bộ. Ánh trăng soi sáng bầu trời vắng sao, chiếu rọi những hàng cây trên lề đường. Họ tản bộ xuống dãy nhà vừa dài vừa hẹp trên phố Bảy Mươi Hai và khi họ tới góc phố, Isra bỗng cảm thấy như ai đó đã đưa cô đến một thế giới khác.
“Đây là đại lộ số Năm!” Adam nói - “Trái tim của khu Bay Ridge.” Xung quanh Isra lấp lánh ánh đèn. Con phố được nối dài bởi vô số các cửa hiệu lớn nhỏ nào tiệm bánh, nhà hàng, hiệu thuốc, những văn phòng luật sư. “Bay Ridge là con phố đa dạng nhất ở Brooklyn..” - Adam nói khi họ đang dạo bước: “Dân nhập cư từ khắp nơi trên thế giới đến đây để sinh sống. Em có thể thấy điều đó qua những món ăn như há cảo thịt, kofta[13], cá hầm, bánh mì challah[14]. Em có thấy khu đó không?” - Adam chỉ về phía xa: “Tất cả những cửa tiệm ở khu đó là của người Ả Rập. Có một cửa hàng bán thịt halal[15] ở góc phố Alsalam. Chủ Nhật nào bố anh cũng qua đây để mua thịt cho cả nhà. Còn kia là tiệm bánh của người Liban, họ nướng bánh saf[16] tươi mỗi ngày. Vào tháng Ramadan, họ cũng cho thêm phô mai, xi-rô và vừng vào bánh giống như ở nhà mình vậy.”
Isra đảo mắt qua những cửa hàng trên khu phố. Cô cảm giác như đang bị mê hoặc. Cô nhận ra mùi thơm của món kibbeh[17] nhồi thịt, thịt cừu shawarma[18], sốt xi-rô đặc quánh trong bánh baklava[19], cả mùi thoang thoảng của double-apple hookah[20]. Những thứ mùi quen thuộc khác cùng đang vương lại trong không khí. Mùi húng quế tươi. Mùi của những đường ống bị nghẽn lại bởi dầu mỡ. Mùi cống, mùi mô hôi. Tất cả quyện vào nhau, trở thành một bản thể nguyên vẹn. Và bỗng chốc, Isra cảm thấy như thể cô vừa chui lọt một vết nứt trên sàn xi măng và hạ cánh xuống sân nhà.
Xung quanh cô tấp nập người đi xuống phố, tay đẩy xe đẩy và xách những túi đồ tạp hóa, lăn qua lăn lại các cửa hàng như những viên bi. Nhìn họ không giống những người Mỹ trong trí tưởng tượng của cô, rằng phụ nữ tô son màu đỏ tươi còn đàn ông mặc com lê đen bóng. Ngược lại, những người phụ nữ ở đây trông không khác cô là mấy, ăn mặc giản dị và nhã nhặn, nhiều người vẫn đội hijab. Và những người đàn ông nhìn cũng tựa Adam, với nước da màu ô liu và bộ râu thô cứng, mặc kiểu quần áo dành những người lao động vất vả.
Isra không biết phải nghĩ gì khi nhìn ngắm những khuôn mặt quen thuộc lướt qua trên đại lộ số Năm. Những người này cũng như họ mà thôi, cố gắng để hòa nhập với cuộc sống ở Mỹ. Nhưng họ vẫn đội hijab, họ không hề thay đổi về ngoại hình. Vậy tại sao Adam lại khăng khăng bắt cô phải thay đổi con người cô?
Sau một lúc nhìn theo những người trên phố, Isra không còn nghĩ về chiếc khăn hijab của mình nữa. Thay vào đó, cô nghĩ về những bóng hình trôi dạt dưới ánh đèn đường, sống ở Mỹ nhưng không phải người Mỹ, về những người phụ nữ có cùng chung số phận với cô, những người phụ nữ rời bỏ quê hương, để rồi bị giằng xé giữa hai luồng văn hóa, phải vật lộn, đấu tranh để bắt đầu một cuộc sống mới. Cô tự hỏi rồi cuộc đời cô sẽ đi đâu về đâu.
Đêm hôm đó, Isra đi ngủ sớm. Lúc Adam đang tắm, Isra nghĩ tốt nhất là cô nên ngủ trước khi anh quay lại. Đây là đêm đầu tiên cô ở một mình với anh và cô biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu cô vẫn còn thức. Cô biết anh sẽ ấn cơ thể anh vào trong cô. Cô biết nó sẽ làm cô đau. Cô cũng biết - dù cô không chắc là mình tin điều này - rằng sẽ có một ngày cô học được cách tận hưởng nó. Mẹ đã dạy cô như thế. Kể cả thế đi chăng nữa, cô vẫn chưa cảm thấy sẵn sàng. Nằm trên giường, cô nhắm mắt thật chặt, cố gắng kìm nén những suy nghĩ của mình. Cô cảm giác như thể mình đang chạy trốn trong hoảng loạn, quay cuồng giữa một vòng tròn.
Cô có thể nghe thấy tiếng Adam tắt vòi nước từ trong nhà tắm, anh kéo màn che bồn tắm ra, rồi chững lại, dò dẫm thứ gì đó trong tủ trên lavabo. Cô kéo chăn lên để che người như một tấm khiên. Không dám nhúc nhích giữa tấm ga giường lạnh lẽo, cô hé mắt nhìn anh khi anh bước vào phòng. Trên người anh không có gì ngoài chiếc khăn tắm và cô thấy được toàn cảnh thân hình săn chắc, nâu óng của anh, cả hàng lông đen và thô cứng trên ngực Adam. Trong khoảnh khắc anh đứng đó, nhìn cô như thể cô đã sẵn sàng để nhìn anh nhưng cô không thể ép mình mở to mắt. Anh cởi chiếc khăn tắm ra và tiến về phía cô. Cô nhắm chặt mắt lại, hít vào thở ra, cố gắng thư giãn. Nhưng cơ thể cô cứ cứng đờ ra khi anh lại gần.
Anh trèo lên giường, kéo tấm ga giường lại và vươn tay ra để chạm vào cô. Cô nhích ra khỏi tầm với của anh cho đến khi cô nghĩ cô sẽ lần sang phía bên kia giường. Nhưng anh tóm lấy cô và ấn cô xuống nệm. Và rồi cơ thể anh đã ở trên cô. Cô có thể ngửi thấy hơi thở đầy mùi khói khi anh phả hơi vào mặt cô. Tay cô run lên bần bật, cô giấu những ngón tay mình dưới bộ váy ngủ màu ngà. Anh kéo tay cô ra, giật váy cô xuống và cởi bỏ đồ lót của cô - bộ đồ lót màu trắng mà mẹ cô đã chuẩn bị riêng cho đêm nay, để Adam biết cô còn trinh trắng. Chỉ có Isra là không cảm thấy trinh trắng. Cô cảm thấy dơ bẩn và hoảng loạn.
Adam khóa tay quanh hông cô, ghim chặt cơ thể đang vật lộn của cô. Cô nhắm chặt mắt khi anh kéo chân cô ra, nghiến răng khi anh đẩy mình vào trong cô. Và rồi cô nghe thấy một tiếng hét. Liệu nó có phải của cô? Cô sợ đến nỗi không mở nổi mắt. Có điều gì đó trong bóng tối trấn an cô, một điều gì đó quen thuộc. Nằm đó, nhắm mắt, những kỷ niệm xưa cũ bỗng xâm nhập vào trong cô. Cô thấy mình đang chạy nhảy trên một cánh đồng rộng mở, tay hái sung, rồi chọn ra những quả ngon nhất để phần cho mẹ. Bà đang cầm một cái giỏ trống không chờ cô trên đỉnh đồi. Cô thấy mình chơi bi trong sân, đuổi theo những viên bi khi chúng lăn xuống đôi. Cô thấy mình thổi hoa bồ công anh trong nghĩa địa, đọc lại những lời cầu kinh trên mỗi bia mộ.
Và rồi, cô cảm thấy có gì đấy đang chảy xuống đùi mình. Cô biết đó là máu. Cô cố phớt lờ đi cảm giác nóng ran giữa hai chân mình, như thể có ai đang xuyên thủng cô, cố quên đi sự thật rằng cô đang ở trong một căn phòng xa lạ với một người đàn ông xa lạ, buộc cô phải mở hết những gì bên trong mình. Cô ước gì được mẹ cảnh báo về cảm giác bất lực mà người phụ nữ phải chịu khi một người đàn ông xâm chiếm lấy cơ thể mình, về nỗi nhục nhã lấp kín tâm trí khi cô phải từ bỏ chính mình và ép bản thân phải nằm yên. Nhưng điều này hoàn toàn bình thường, Isra tự nói với mình. Nó phải là như thế.
Cô cứ nằm đó, còn Adam tiếp tục đẩy anh vào cô, nhanh và liên tục, cho đến khi anh thở ra một hơi thật sâu rồi ngã gục trên người cô. Rồi anh nhấc mình lên và lết ra khỏi giường.
Isra xoay người và úp mặt xuống ga giường. Căn phòng vừa tối vừa lạnh, cô kéo chăn lên để che đi phân cơ thể đang sởn gai ốc của mình. Anh đã đi đâu? Một lúc sau, cô nghe thấy tiếng anh bước vào phòng tắm. Anh bật đèn lên và cô nghe thấy tiếng anh mở tủ trên lavabo. Sau đó, anh tắt điện và quay vào trong phòng.
Isra không biết tại sao nhưng trong phút chốc cô nghĩ rằng mình sẽ chết. Cô mường tượng ra cảnh Adam lấy dao cắt cổ cô, bắn vào ngực cô, hay thiêu cháy cô. Điều gì khiến cô nghĩ ra những điều kinh khủng ấy thì cô không biết. Nhưng khi cô nằm dài trên đệm này, tất cả những gì cô thấy là bóng tối và máu.
Cô cảm thấy anh đang lại gần cô và tim cô bắt đầu căng lên. Cô không thấy mặt anh nhưng cô cảm thấy anh đang đặt tay lên đầu gối của mình và theo bản năng, chân cô giật lại. Anh rướn lại gần hơn. Anh chậm rãi kéo dạng hai chân của cô ra, rồi anh ấn một miếng giẻ vào giữa da thịt của cô.
Anh hắng giọng. “Anh xin lỗi!” - Anh nói: “Nhưng anh phải làm như thế này.”
Nằm đó run rẩy, Isra nghĩ về Fareeda. Cô tưởng tượng ra cảnh bà lẻn xuống phòng cô hồi sáng, miệng cười xảo quyệt trong khi tay đặt một bọc vải màn vào tủ nhà tắm cho con trai bà dùng tối nay. Isra hiểu rõ Adam đang làm gì. Anh đang thu thập bằng chứng.
❀ ❀ ❀
[1] Tel-Avi: Thủ đô của Israel, ND.
[2] Họ Tiêu huyền hay còn gọi là Chò nước, là giống thực vật có hoa. Cây tiêu huyền London là một giống lai ghép được trồng rộng rãi ở nhiều thành phố trên thế giới. Họ này chỉ chứa một chi duy nhất là chi Platanus, với khoảng 6 đến 10 loài, cây thân gỗ cao, có nguồn gốc ở vùng ôn đới và cận nhiệt đới của Bắc bán cầu.
[3] (Tiếng Ả Rập): Là cây cỏ xô thơm, ND.
[4] (Tiếng Ả Rập): Nghĩa là Mẹ chồng, ND.
[5] Lá nho cuộn (stuffed grape leaves): Món ăn đặc trưng của vùng Trung Đông và bán đảo Balkan, làm từ lá nho cuốn với các loại nhân khác nhau, ND.
[6] (Tiếng Ả Rập): Những người mà phụ nữ Hồi giáo được phép cởi bỏ hijab trước mặt, bao gồm người cùng huyết thống, hay những người thân trong gia đình nhà chồng, ND.
[7] (Tiếng Ả Rập): Nghĩa là Bố chồng, ND.
[8] Một loại sốt chấm phổ biến trong các món ăn của người Ả Rập, làm từ đậu gà nghiền nhuyễn trộn với bơ vừng, dầu ô liu, nước cốt chanh, muối và tỏi, ND.
[9] Một loại phô mai muối có nguồn gốc từ vùng Địa Trung Hải. Halloumi có nhiệt độ tan chảy cao, nên khi nướng hay rán lớp vỏ bên ngoài thường trở nên vàng giòn, ND.
[10] Sữa chua kiểu Hy Lạp - một loại sữa chua đặc và nhiều kem hơn loại sữa chua thông thường, ND.
[11] Hỗn hợp gia vị làm từ các loại thảo mộc khô trộn với vừng, hạt thù du khô, muối và các loại gia vị khác, phổ biến trong văn hóa ẩm thực của người Ả Rập và các nước Trung Đông, ND.
[12] (Tiếng Ả Rập): Từ cảm thán, diễn tả sự ngạc nhiên hay bực dọc. Ở đây "shu" có thể hiểu nôm na là "Gì cơ?", ND.
[13] Món thịt viên phổ biến trong văn hóa ẩm thực của vùng Nam Á, Trung Đông, Đông Âu và Bắc Phi, ND.
[14] Món bánh mì của người Do Thái, thường được dùng trong các ngày lễ tôn giáo, ND.
[15] (Tiếng Ả Rập) hợp pháp. Ở đây Halal chỉ những sản phẩm từ thịt được giết mổ theo nghi thức Hồi Giáo, ND.
[16] Một loại bánh mì dẹt phổ biến ở bán đảo Ả Rập và vùng Levant ở Tây Á giáp với phía Đông Địa Trung Hải, ND.
[17] Một loại chả viên có nguồn gốc từ vùng Levant, làm bằng yến mạch, hành tây, thịt băm và các loại gia vị Trung Đông, ND.
[18] Thịt nướng cả tảng trên thanh quay (tương tự như món thịt nướng kẹp trong bánh mì doner kebab của Thổ Nhĩ Kỳ), ND.
[19] Một loại bánh ngọt làm từ nhiều lớp bột phủ trên các loại hạt trộn với mật ong hoặc xi rô. Đây là món tráng miệng đặc trưng của vùng Levant và Trung Đông, cũng như Hy Lạp, Đông Âu, Bắc Phi và Trung Á, ND.
[20] Hookah (hay còn gọi là shisha), có thể hiểu đại khái là một dạng thuốc lào của người Ả Rập. Ở đây Double-apple hookah chỉ một loại hookah mùi táo nhưng đậm đặc hơn các loại hookah mùi táo thông thường, ND.