Ngày nào cũng vậy, suốt phần lớn mười bảy năm của cuộc đời mình, Isra đều nấu ăn với mẹ. Cô thường cuộn từng lá nho trong những buổi chiều ấm áp, hay nhồi mì bí ngòi hoặc ninh những nồi súp đậu láng khi trời mát mẻ và vườn nho ngoài hiên trở nên trống không. Trong kia sẽ là mẹ cô tất tả với căn bếp, như thể cả hai đang thủ thỉ một bí mật gì đó. Hơi nước quẩn quanh hai mẹ con, cho tới khi hoàng hôn buông những vệt nắng màu cam qua cửa sổ. Nhìn ra ngoài, từ đỉnh núi, gia đình Hadid có thể ngắm nhìn quang cảnh của cả miền quê - những triền đồi bao phủ bởi những mái nhà gạch hoa đỏ, tươi sáng, dày dặn và có nét gì đó hoang dại. Isra hay mở toang cửa sổ vì cô yêu mùi của quả vả và hạt hạnh nhân ùa vào mỗi sáng, cả tiếng sột soạt từ nghĩa địa râm ran mỗi tối.
Tối đã muộn và tiếng gọi lời cầu nguyện maghrib[1] đã đến gần, nghĩa là chuyện bếp núc cũng sắp phải xong. Isra và mẹ sẽ đi vào nhà vệ sinh, xắn tay áo lên và rửa đi chút nước sốt đỏ còn dính lại trên ngón tay của mình. Isra đã bắt đầu quỳ xuống cầu nguyện bên cạnh mẹ từ nầm cô lên bảy, năm lần mỗi ngày. Gần đây, cô bỗng mong chờ tới những lần cầu nguyện này hơn, để được đứng bên cạnh mẹ, vai chạm vai, chân sượt qua chân mẹ. Đây là thời gian duy nhất trong ngày mà Isra được cảm nhận sự tiếp xúc của con người. Cô nghe thấy tiếng adhan[2] đặc sệt gọi họ đến để cầu nguyện.
“Lời cầu maghrib hôm nay phải chờ sau mất rồi!” - Mẹ của Isra nói bằng tiếng Ả Rập, mắt nhìn ra ngoài cửa sổ bếp: “Khách của chúng ta đã tới.”
Vừa nghe thấy tiếng gõ cửa, bà chạy vội đến bồn rửa, rửa tay thật nhanh và lau khô tay bằng một cái giẻ sạch. Đi ra khỏi bếp, bà cuốn chiếc áo choàng màu đen quanh vóc dáng bé nhỏ của mình và đội một cái khăn hijab[3] cùng màu để che đi mái tóc đen dài. Dù mẹ chỉ mới ba mươi lăm tuổi nhưng Isra nghĩ bà trông già hơn thế nhiều, bởi những nếp nhăn của một đời lao động vất vả hằn trên gương mặt.
Mẹ nhìn thẳng vào mắt Isra: “Đừng có quên rửa tay cho sạch mùi tỏi trước khi ra chào khách.”
Isra rửa tay cố không làm dính bẩn vào bộ váy choàng kaftan[4] màu hồng mà mẹ đã chọn cho cô.
“Trông con có được không mẹ?”
“Trông được.” - Mẹ nói, quay mặt chuẩn bị đi: “Nhớ cài hijab cẩn thận không tóc lại hở ra đấy. Nhà ta không muốn khách có ấn tượng không tốt đâu.”
Isra làm theo những gì cô được bảo. Từ sảnh, cô đã nghe thấy tiếng cha mình, ông Yacob, lặp lại tiếng chào salaam[5] thường lệ khi ông dẫn khách vào phòng khách. Ngay sau đó, ông vội xuống bếp để hỏi xin nước và cô sẽ với lấy ba cái tách thủy tinh từ chạn bát để chuẩn bị cho ông. Những vị khách sẽ thường ca thán về sườn đồi dốc dẫn đến nhà của họ, nhất là trong những hôm như thế này, khi bầu không khí ngày càng nóng, cảm giác như nơi này chỉ cách mặt trời có vài phân. Isra sống tại một trong những ngọn đồi dốc nhất ở Palestine, trên một mảnh đất mà Yacob thường khoe là ông mua vì nó có tầm nhìn đẹp và điều đó khiến cho ông thấy mình thật là oai, cứ như là một ông vua vậy. Isra cứ lặng lẽ nghe ông phán đủ điều. Cô không bao giờ dám nói với Yacob rằng, nhà họ thực ra chẳng có gì oai cả. Sự thật là, gia đình Yacob đã bị sơ tán khỏi căn nhà ven biển ở Lydd khi ông mới mười tuổi, trong thời gian Israel chiếm đóng Palestine. Đây là lý do tại sao họ sống ở ngoại ô Birzeit, trên một ngọn đồi dốc nhìn ra hai bãi tha ma - bên trái là nghĩa địa của người Kitô giáo còn bên phải là nghĩa địa của người theo đạo Hồi. Nó là một miếng đất mà không ai muốn ở và cũng là miếng đất duy nhất mà họ có thể chi trả được.
Dù sao chăng nữa, Isra vẫn thích nhìn quang cảnh từ đỉnh đồi ở Birzeit. Nhìn qua hai khu nghĩa địa, cô có thể thấy ngôi trường nữ sinh của mình, một tòa nhà bốn tầng chằng chịt những dây nho và chéo sang một chút, cách một cánh đồng cây hạnh nhân, là ngôi đền mosque[6] mái vòm màu xanh mà ông Yacob và ba người anh em của ông hay cầu nguyện, trong khi cô và mẹ cầu nguyện ở nhà. Nhìn ra ngoài cửa sổ, Isra cảm thấy vừa khát khao, lại vừa sợ. Vượt ra ngoài rìa làng cô liệu có những gì? Cô vừa muốn đi ra ngoài kia và khám phá thế giới, vừa muốn sống trong sự yên ổn và an toàn, bao bọc bởi những thứ mà cô đã biết. Và câu nói của mẹ lại vang lên trong tâm trí cô: Chỗ của người phụ nữ là ở nhà! Ngay cả khi Isra muốn bỏ đi, cô cũng không biết đi đâu.
“Đi pha một ấm chai[7] đi!” - Yacob nói khi ông bước vào bếp và Isra đưa cho ông cốc nước. Ông nói: “Nhớ bỏ vài lá bạc hà vào nữa.”
Isra không cần ông phải nhắc, cô đã thuộc lòng những tục lệ này. Cô đã xem mẹ cô phục vụ và tiếp đãi khách từ khi cô bắt đầu có thể nhớ. Mẹ luôn để một hộp sô-cô-la Mackintosh ở trên bàn cà phê trong phòng khách khi nhà có khách và bà luôn mời họ hạt dưa rang trước khi dọn ra bánh baklava[8]. Ngay cả đồ uống cũng phải mang ra theo thứ tự: Đầu tiên là trà chai bạc hà và cuối cùng là cà phê kiểu Thổ Nhĩ Kỳ. Mẹ bảo, đảo lộn trật tự là một sự xúc phạm. Isra đã từng được nghe một người phụ nữ kể chuyện về lần bà ấy được nhà hàng xóm tiếp bằng một tách cà phê Thổ Nhĩ Kỳ: “Tôi bước ra ngoài cửa ngay lập tức...” - Người phụ nữ kể lại: “Như thế có khác nào họ đuổi tôi đâu.”
Isra vừa với lấy bộ tách sứ màu đỏ vàng, vừa để ý tiếng mẹ ngoài phòng khách. Cô có thể nghe thấy tiếng Yacob đang bật cười và sau đó là tiếng cười của những người đàn ông khác. Isra tự hỏi điều gì khiến họ cười.
Vài tháng sau đó, vào tuần ngay trước khi Isra sang tuổi mười bảy, lúc Isra đi học về, cô thấy Yacob ngồi trong phòng khách với chàng trai trẻ và cha mẹ của anh ta. Mỗi lần nhớ lại ngày hôm đấy, ngày mà cô được cầu hôn lần đầu tiên, điều mà cô nhớ nhất là lúc Yacob mắng chửi mẹ cô thậm tệ sau khi khách về. Ông tức giận vì bà không mời khách chai bằng bộ tách chén cổ mà họ dành riêng cho những dịp đặc biệt. “Bây giờ thì người ta biết là nhà mình nghèo!” - Yacob hét lên, lòng bàn tay ông quặp chặt lại. Mẹ không nói gì cả, lẳng lặng lủi vào bếp. Cái nghèo chính là lý do tại sao Yacob lại sốt sắng trong việc gả cưới Isra. Mấy đứa con trai giúp ông cày cấy ruộng đồng, kiếm đồng ra đồng vào. Một ngày nào đó, chúng nó sẽ nối dõi dòng họ của gia đình. Con gái chỉ như một người khách vãng lai, lặng lẽ chờ đợi một người đàn ông đến và rước đi, cùng với tất cả những gánh nặng tài chính mà cô đặt lên vai cả gia đình.
Từ dạo đấy đã có hai người đàn ông cầu hôn Isra - một anh thợ bánh mì ở Ramalah và một anh lái taxi ở Nablus - nhưng Yacob từ chối cả hai. Ông không thể ngừng nói về một gia đình từ Mỹ đến thăm để tìm con dâu và bây giờ thì Isra hiểu tại sao ông lại từ chối hai người kia: Ông đang mong đợi một lời cầu hôn khác.
Isra không chắc mình cảm thấy thế nào về việc di cư sang Mỹ, một nơi mà cô chỉ biết qua những bản tin, hay đọc qua trong thư viện ở trường. Từ những gì cô tìm hiểu, văn hóa phương Tây có vẻ không hà khắc như văn hóa của cô. Điều này khiến cô vừa phấn khích vừa sợ hãi. Cuộc đời cô sẽ thế nào nếu cô chuyển đến Mỹ? Một cô gái cổ hủ như cô sẽ thích nghi như thế nào ở một nơi cấp tiến như Mỹ?
Cô thường thức cả đêm suy nghĩ về tương lai của mình, nóng lòng không biết cuộc đời mình sẽ ra sao khi cô bước ra khỏi nhà Yacob. Liệu sẽ có một người đàn ông yêu cô? Cô sẽ có bao nhiêu đứa con? Cô sẽ đặt tên cho chúng là gì? Có những đêm, Isra mơ rằng cô sẽ cưới được người đàn ông mà mình yêu và họ sẽ sống trong một căn nhà nhỏ trên đỉnh đồi, với cửa sổ rộng mở và mái nghiêng màu đỏ. Những đêm khác, cô lại mơ thấy khuôn mặt của những đứa con mình, hai trai hai gái. Chúng ngước lên nhìn cô và chồng cô, nom như một gia đình hạnh phúc mà cô vẫn thường đọc trong sách. Nhưng rồi những hy vọng ấy chẳng đến với cô nữa. Cô chưa bao giờ tưởng tượng ra cuộc sống ở Mỹ. Cô không biết từ đâu để bắt đầu nữa. Và nhận ra điều này khiến cô sợ hãi.
Cô ước mình có thể mở miệng để nói với cha mẹ mình rằng: Không! Đây không phải là cuộc sống mà con mong muốn. Nhưng Isra đã học được từ nhỏ rằng, biết vâng lời là cách duy nhất để thể hiện sự yêu thương. Vì thế mà cô chỉ dám thách thức một cách vụng trộm, phần lớn là với những cuốn sách. Mỗi buổi tối khi đi học về, sau khi đã ngâm gạo và đi phơi quần áo cho những người anh trai của mình, dọn bữa tối ra sufra[9] và đi rửa bát, Isra sẽ lặng lẽ rút về phòng và đọc cạnh khung cửa sổ mở tung, dưới ánh trăng mờ mờ soi sáng từng trang sách. Đọc sách là một trong rất nhiều điều mà mẹ cấm cô làm nhưng cô không bao giờ nghe lời.
Cô nhớ có lần đã nói với mẹ rằng, cô không thể tìm được quả dâu tằm nào trên cây nhưng thực ra cô dành cả buổi chiều đọc sách trong khu mộ. Tối đấy, Yacob đã đánh cô hai lần, như một hình phạt cho sự coi thường luật lệ. Ông gọi cô là sharmouta[10], đồ con đĩ. Ông nói ông sẽ cho cô thấy chuyện gì xảy ra nếu bọn con gái không biết vâng lời, rồi ông xô cô vào tường và cầm thắt lưng đánh cô. Căn phòng bỗng trở nên trắng bệch. Mọi thứ trông nhợt nhạt. Cô nhắm mắt lại cho đến khi cơ thể tê lại, cho đến khi cô không thể di chuyển nổi nữa. Nhưng nghĩ lại giây phút đó, khi nỗi sợ dâng lên, cô còn cảm thấy một điều gì nữa từ sâu bên trong. Một sự can đảm lạ lùng.
Isra sắp xếp những cái chén bốc hơi lên khay và bước vào phòng khách. Mẹ nói có một mẹo để giữ thăng bằng, đó là đừng bao giờ nhìn vào hơi nước bốc lên nên thay vào đó, cô nhìn xuống đất. Trong phút chốc, Isra ngừng lại. Từ khóe mắt, cô có thể nhìn thấy những người đàn ông và đàn bà ngồi đối diện nhau ở trong phòng. Cô hé lên nhìn trộm mẹ, bà ngồi thu mình như thường lệ: Đầu bà cúi xuống và mắt bà dán vào tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ màu đỏ trước mặt. Isra liếc nhìn họa tiết trên thảm. Nào là xoắn ốc, nào là xoáy, cả hai thứ cuộn tròn chung một kiểu, cái này nối đuôi cái kia. Cô quay mặt đi. Cô nóng lòng muốn lén nhìn chàng trai trẻ nhưng cô cảm giác Yacob đang theo dõi mình và cô có thể nghe thấy tiếng ông vang lên bên tai: Một người con gái đúng mực không bao giờ nhìn chằm chằm vào một người đàn ông nào cả!
Mắt Isra dán xuống đất nhưng cô vẫn cho phép mình liếc sang phía bên kia sàn. Cô để ý đôi tất của anh chàng, xám sọc hồng với những đường khâu trắng ở phía trên. Nó khác với những gì cô thường thấy trên đường phố Birzeit. Cô cảm thấy như có gì đang châm chích da mình.
Làn hơi nước bốc lên từ khay chén bao phủ khuôn mặt Isra. Cô nhanh chóng đảo quanh phòng cho đến khi cô đã mời nước tất cả những người đàn ông. Tiếp đến, cô mời nước người mẹ của chàng trai. Isra để ý hình như cái khăn hijab màu xanh dương đậm của bà ấy bị rơi ra, để lộ mái tóc nhuộm henna[11] của bà. Isra chưa bao giờ thấy một người phụ nữ Hồi giáo nào đội hijab kiểu này ngoài đời cả. May ra chỉ có ở trên tivi, trong những bộ phim Ai Cập đen trắng mà Isra và mẹ hay xem cùng nhau, hay những video ca nhạc từ Lebanon[12], với những người phụ nữ ăn mặc khêu gợi nhảy múa, hay phần minh họa trong cuốn sách yêu thích của Isra, Nghìn lẻ một đêm, tuyển tập truyện cổ tích Trung Đông ở thời Trung Cổ. Nhưng chưa bao giờ cô thấy thế này ở Birzeit.
Khi Isra cúi người, cô có thể thấy mẹ chàng trai đang quan sát mình. Bà có dáng người đầy đặn, lưng khom, cười hơi méo. Đôi mắt hình hạt hạnh nhân của bà nheo lại ở phía đuôi. Từ vẻ mặt bà, Isra đoán chắc bà không hài lòng với ngoại hình của cô lắm. Dù gì thì mẹ cũng hay nói rằng cô là một cô gái mờ nhạt - khuôn mặt đù đờ như bột mì và mắt thì đen như than chì. Điểm nổi bật nhất của Isra có lẽ là mái tóc, đen và dài như dòng sông Nile. Tiếc là không ai có thể thấy điều đó dưới lớp khăn hijab cô đội trên đầu. Mà kể cả có đi chăng nữa cũng chẳng làm nên điều gì khác biệt, Isra nghĩ. Cô là một cô gái tầm thường.
Suy nghĩ ấy khiến cô nhói đau. Đứng trước mặt mẹ chàng trai, cô thấy môi mình đang run lên. Cô bước về gần phía bà, tay cô giữ chặt cái khay. Cô có thể cảm thấy Yacob đang lườm cô, cô có thể nghe thấy cả tiếng ông hắng giọng. Hình như, cô thấy cả mẹ ấn ngón tay vào đùi cô. Nhưng Isra vẫn ngả về phía người phụ nữ, cái chén sứ trong tay cô rung lên và cô hỏi: “Bác có muốn dùng cà phê Thổ Nhĩ Kỳ không ạ?”
Nhưng câu hỏi của cô chẳng có hiệu quả gì. Những vị khách từ Mỹ chả buồn để ý rằng cô mời họ cà phê trước. Sau đó, gia đình nhà trai đã đưa ra lời cầu hôn và Yacob đồng ý ngay lập tức, khuôn miệng ông nở rộng, đó là nụ cười tươi nhất của Yacob mà Isra chưa từng thấy từ trước tới nay.
“Con nghĩ gì mà mời cà phê Thổ Nhĩ Kỳ trước?” - Mẹ mắng cô khi tất cả các vị khách đã rời đi hết và bà cùng Isra quay lại trong bếp để nấu cho xong: “Con không còn bé nữa đâu - sắp mười tám rồi đấy! Con định ở cái nhà này mãi hay sao?”
“Lúc đấy con hơi run...” - Isra lí nhí, mong rằng Yacob sẽ không phạt cô - “Không may thôi ạ.”
“Đúng là không may rồi!” - Mẹ cởi chiếc áo choàng ra khỏi thân hình mỏng manh của bà - “Như cái lần con bỏ muối vào trà của Umm Ali[13] vì bà ấy bảo con gầy như cái cột đèn.”
“Hôm đấy cũng là không may thôi ạ!”
“Con phải thấy may là gia đình họ không câu nệ phép tắc như nhà ta...” - Mẹ nói: “...Không thì đã đi tong cơ hội đi Mỹ rồi.”
Isra nhìn mẹ với đôi mắt ướt: “Con sẽ ra sao khi ở Mỹ mẹ nhỉ?”
Mẹ không nhìn lên. Bà đứng còng lưng thái hành, tỏi và cà chua - ba nguyên liệu chính trong bữa ăn của họ. Isra hít hà những mùi hương quen thuộc. Cô ước gì mẹ ôm cô, thủ thỉ vào tai cô rằng mọi thứ sẽ ổn thôi, có chăng bà còn khâu thêm cho cô một vài cái khăn hijab nữa phòng khi ở Mỹ không có. Nhưng mẹ im lặng.
“Phải thấy biết ơn...” - Rồi mẹ cô cũng cất tiếng, tay bà bỏ một nắm hành vào trong chảo: “Chúa đã trao cho con một cơ hội tốt. Một tương lai tốt ở Mỹ. Tốt hơn ở đây.” - Bà vung tay qua cái quầy rỉ sắt, chiếc thùng phuy cũ họ dùng để đun nước tắm, sàn nhựa vinyl bong tróc - “Con thích sống thế này lắm sao? Mùa đông không có sưởi, đệm thì mỏng dính, thức ăn cũng chẳng đủ?”
Isra không nói gì, mắt lơ đãng nhìn cái chảo đang cháy xèo xèo. Mẹ với ra, nâng cằm cô lên: “Con có biết có bao nhiêu đứa con gái sẵn sàng đánh đổi để được vào vị trí của con, rời Palestine để đến Mỹ hay không?”
Isra gằm mắt xuống. Cô biết mẹ nói đúng nhưng cô chẳng thể hình dung nổi cuộc sống ở Mỹ. Ngặt nỗi, Isra cũng không cảm thấy cô thuộc về Palestine, nơi mà mọi người quá cẩn thận, sống trọng lễ nghi, bằng không sẽ bị xa lánh. Isra mơ về những thứ lớn hơn như không bị bó buộc vào những tập quán, như những chuyến phiêu lưu và trên hết, là tình yêu. Mỗi tối, khi đọc xong và giấu sách dưới nệm, Isra nằm trên giường tự hỏi yêu là thế nào nhỉ và thế nào là cảm giác được yêu. Cô có thể tưởng tượng ra chàng trai ấy, kể cả khi cô chẳng biết mặt anh ta. Anh ấy sẽ xây cho cô một phòng thư viện chứa tất cả những câu chuyện và bài thơ mà cô yêu thích. Họ sẽ đọc bên cửa sổ mỗi đêm - Rumi, Hafez và Gibran[14]. Cô sẽ kể cho anh nghe về những ước mơ của cô và anh sẽ lắng nghe. Cô sẽ pha trà chai bạc hà mỗi sáng và nấu súp mỗi tối. Họ sẽ đi dạo trên núi, tay nắm tay và lần đầu trong đời, cô cảm thấy xứng đáng được ai đó yêu. Nhìn Isra và chồng cô ấy kia... - Mọi người sẽ nói - Tình yêu của họ chỉ có trong cổ tích.
Isra hắng giọng: “Nhưng mẹ ơi, còn tình yêu thì sao?”
Mẹ trừng mắt nhìn cô qua làn hơi: “Sao là sao?”
“Con luôn muốn được yêu!”
“Yêu? Con nói gì vậy? Mẹ đã nuôi một sharmouta?”
“Không... Không ạ..” - Isra ngập ngừng: “Nhưng nhỡ con và người cầu hôn con không yêu nhau thì sao?”
“Yêu nhau? Tình yêu thì có liên quan gì tới hôn nhân? Con nghĩ mẹ và cha con yêu nhau sao?”
Isra đảo mắt xuống đất: “Con nghĩ, ít ra thì hai người cũng có chút gì...”
Mẹ thở dài: “Sớm muộn rồi con cũng sẽ hiểu ra cuộc sống của người phụ nữ chẳng có chỗ cho tình yêu. Con chỉ cần duy nhất một thứ thôi và đó là sự kiên nhẫn.”
Isra cố gắng kiềm chế sự thất vọng của mình. Cô cẩn thận chọn những từ tiếp theo: “Có lẽ, phụ nữ ở Mỹ sẽ có cuộc sống khác.”
Mẹ nhìn cô không chớp mắt: “Khác là khác thế nào?”
“Con không biết...” - Isra nói, hạ giọng xuống để mẹ cô không giận: “Có thể, văn hóa Mỹ không nghiêm khắc như văn hóa của chúng ta. Có thể, phụ nữ được đối xử tốt hơn...”
“Tốt hơn?” - Mẹ mỉa mai. Bà lắc đầu, tay vẫn xào rau: “Ý con là giống mấy câu chuyện cổ tích mà con thích ấy hả?”
Cô cảm thấy mặt cô đỏ ửng lên: “Không, không phải như thế!”
“Vậy thì như thế nào?”
Isra muốn hỏi mẹ ràng liệu hôn nhân ở Mỹ có giống cuộc hôn nhân của cha mẹ cô, khi mà người đàn ông quyết tất cả mọi việc trong gia đình và đánh vợ thẳng tay nếu bà có lỡ làm trái ý ông. Lần đầu Isra thấy Yacob đánh mẹ, cô mới lên năm. Tất cả chỉ vì một miếng thịt cừu chưa chín. Isra vẫn nhớ ánh mắt của mẹ van xin Yacob dừng lại, trông mặt ông như sưng lên trong lúc đánh bà. Bóng tối xâm chiếm lấy Isra khi một nhận thức mới trong cô mở ra, về một thế giới không chỉ có trẻ em bị đánh, mà cả các bà mẹ nữa. Nhìn vào mắt mẹ cô đêm đó, nghe bà than khóc dữ dội, trong cô dấy lên một cơn thịnh nộ khó quên.
Cô cân nhắc lại lời nói của mình: “Mẹ có nghĩ rằng, ở Mỹ, phụ nữ được tôn trọng hơn hay không?”
Mẹ lườm cô lại lần nữa: “Tôn trọng?”
“Hay chăng họ có giá trị hơn... Con không biết nữa.”
Mẹ đặt cái muôi khuấy xuống: “Nghe này, con gái! Cho dù con đi xa khỏi Palestine đi chăng nữa, một người phụ nữ vẫn chỉ là phụ nữ. Ở đây hay ở bất cứ đâu. Vị trí sẽ không thay đổi naseeb[15] hay vận mệnh của mình đâu con ạ.”
“Nhưng điều đó không công bằng.”
“Giờ con còn quá trẻ để hiểu nổi những điều này...” - Mẹ nói: “...nhưng con phải luôn nhớ...” - tay bà nâng cằm Isra lên: “Chẳng có gì ngoài kia cho phụ nữ cả, ngoài bayt wa dar[16], căn nhà và tổ ấm. Hôn nhân, thiên chức làm mẹ - đó là giá trị duy nhất của người phụ nữ.”
Isra gật đầu nhưng bên trong cô từ chối chấp nhận những gì bà nói. Cô ấn lòng bàn tay xuống đùi, cố ngăn cho những giọt nước mắt không rơi. Mẹ sai rồi, cô tự nói với bản thân mình. Chỉ vì bà không tìm thấy hạnh phúc với Yacob không có nghĩa là cô cũng thế. Cô sẽ yêu chồng mình theo cái cách mà mẹ cô chưa hề yêu Yacob - cô sẽ cố gắng để hiểu anh và chiều lòng anh - rồi chắc chắn bằng cách này cô sẽ có được tình yêu của anh.
Nhìn lên, Isra nhận ra tay mẹ đang run. Đôi giọt nước mắt rơi xuống má bà.
“Mẹ, mẹ đang khóc đấy à?”
“Không, không...” - Bà quay mặt đi - “Mấy củ hành này hăng quá.”
Đến tận ngày thành hôn theo nghi lễ Hồi giáo, tức là một tuần sau, Isra mới gặp lại chàng trai cầu hôn mình. Anh ta tên là Adam Ra’ad. Ánh mắt Adam chạm vội tới cô khi giáo sĩ đọc kinh Thánh Qur’an[17] và mắt hai người chạm nhau lần nữa khi họ thốt ra từ qubul, tôi đồng ý ba lần. Việc ký kết hợp đồng hôn nhân diễn ra nhanh chóng và đơn giản, không như bữa tiệc cưới cầu kỳ sẽ được tổ chức sau khi Isra nhận được visa để di cư. Isra nghe trộm Yacob nói rằng, chắc sẽ chỉ mất vài tuần thôi, vì Adam là công dân Mỹ.
Từ cửa sổ bếp, Isra có thể nhìn thấy Adam đang hút thuốc ở bên ngoài. Cô để ý cách mà anh đi qua đi lại trên vỉa hè nhà họ, cười nhếch miệng, mắt nheo lại. Từ khoảng cách gần, trông anh trạc ba mươi, có khi già hơn một chút, với những nếp nhăn bắt đầu hiện hình trên gương mặt. Ria mép anh được cắt tỉa cẩn thận, che đi môi trên. Isra tưởng tượng cảm giác khi hôn anh và má cô ửng đỏ. Adam, cô nghĩ. Adam và Isra. Nghe cũng hay chứ nhỉ.
Adam mặc một chiếc áo xanh dương đậm, cúc xếp ở phía trước với quần kaki màu da, gấu vén lên ngang mắt cá chân. Giày da của anh bóng lộn, có những cái lỗ nhỏ ở trên và gót đen chắc chắn, ra dáng cao cấp: Đôi chân anh chạm xuống đất một cách nhẹ nhàng. Cô hình dung ra phiên bản trẻ hơn của anh, chân đất chơi đá bóng trên những con phố Birzeit. Cũng không khó để tưởng tượng. Chân anh giữ thăng bằng trên con đường gồ ghê như thể anh lớn lên từ những miền đất như thế này. Anh bao nhiêu tuổi khi anh rời Palestine? Khi anh còn là một đứa trẻ? Một cậu thanh niên? Một người đàn ông?
“Sao con và Adam không ra ban công ngồi?” - Yacob bảo Isra khi Adam quay vào trong nhà. Adam bắt gặp ánh mắt cô và anh cười, để lộ hàng răng đã xỉn màu. Cô quay đi. “Đi đi...” - Yacob giục: “Hai đứa cần có thời gian tìm hiểu nhau.”
Mặt Isra đỏ bừng khi cô dẫn Adam ra ban công. Adam đi theo cô, nhìn xuống đất đăm chiêu, hai tay đút túi quần. Cô tự hỏi anh có lo lắng không nhỉ nhưng cô đã dẹp đi suy nghĩ đó. Anh là đàn ông. Mà đàn ông thì lo lắng điều gì cơ chứ?
Ngoài kia là một buổi sáng tháng Ba đẹp trời. Thời tiết lý tưởng để đi hái trái cây. Isra mới cắt tỉa cây vả dựa sát vách tường nhà cô để chuẩn bị cho một mùa hè đơm bông. Bên cạnh cây vả là hai cây hạnh nhân mọc chéo bắt đầu ra hoa. Isra nhìn mắt Adam mở to khi anh ngưỡng mộ cảnh vật xung quanh. Hàng nho phủ kín ban công, từng ngón tay anh lần theo những cụm chồi nho sẽ nhú thành quả vào mùa hè. Nhìn vào vẻ mặt anh, cô tự hỏi liệu trước đây anh đã từng thấy cây nho hay chưa. Chắc không phải từ khi anh còn nhỏ. Cô muốn hỏi anh thật nhiều điều. Tại sao nhà anh lại rời Palestine và họ rời đi từ khi nào? Họ đến Mỹ bằng cách nào? Cô mở miệng, cố tìm từ ngữ nhưng chẳng thể nói nổi thành câu.
Có một chiếc xích đu bằng sắt ở giữa ban công. Adam đến đó ngồi và chờ cô ra cùng anh. Cô hít một hơi thật sâu khi ngồi xuống cạnh anh. Họ có thể nhìn thấy hai khu nghĩa địa từ chỗ họ ngồi, cả hai đều đổ nát và Isra đỏ mặt khi cô nhận ra điều này. Cô mong Adam không vì thế mà đánh giá thấp cô. Cô cố gắng tìm sức mạnh trong những lời Yacob thường dạy cô: “Con người ta không quan trọng sống ở đâu, chỉ cần đó là nhà của con thì mãi mãi là nhà của con. Là nơi con được sống trong hòa bình trên mảnh đất của mình.’’[18]
Buổi sáng ấy thật tĩnh lặng. Họ cứ ngồi đó, tâm trí phiêu dạt giữa cảnh vật. Isra cảm thấy gợn gợn ở sống lưng. Cô không ngừng nghĩ về những vị thần len lỏi trong nghĩa trang và những đống hoang tàn. Từ bé, cô đã nghe vô số câu chuyện về những sinh vật siêu nhiên nhập hồn vào con người. Rất nhiều phụ nữ sống xung quanh đã thề là họ thấy ma quỷ hiện hình ở hai khu nghĩa trang. Isra lẩm nhẩm cầu nguyện. Cô tự hỏi liệu lần đầu tiên ngồi với người chồng của mình mà lại đối diện nghĩa trang thì có phải điềm gở không nhỉ.
Bên cạnh cô, Adam nhìn lơ đãng vào khoảng không phía trước. Anh đang nghĩ gì nhỉ? Tại sao anh không nói gì? Hay anh đang đợi cô lên tiếng trước? Chắc hẳn anh phải lên tiếng trước rồi! Cô nhớ lại những cuộc gặp gỡ giữa đàn ông và đàn bà mà cô đã đọc trong sách. Đầu tiên là lời giới thiệu, sau đó đến những câu chuyện riêng tư và từ đó tình cảm nảy nở. Đó là cách mà hai người yêu nhau. Hay chí ít, đó là cách mà chàng thủy thủ Sinbad đã phải lòng công chúa Shera trong Nghìn lẻ một đêm. Ngoại trừ việc phần lớn câu chuyện kể Shera là chim. Isra quyết định rằng cô thực tế hơn thế.
Adam quay lại nhìn cô. Cô nuốt nước bọt, chỉnh lại mép khăn trùm đầu. Ánh mắt anh ve vuốt những sợi tóc đen lộ ra ở phía dưới tấm khăn. Cô chợt nhận ra rằng anh chưa bao giờ thấy tóc cô. Cô đợi anh nói gì đó nhưng anh chỉ yên lặng nhìn. Mắt anh di chuyển lên xuống và đôi môi anh bắt đầu hé mở. Có điều gì đó trong mắt anh làm cô bối rối. Một sự mãnh liệt. Hay điều gì khác? Trong cái nhìn của anh, cô thấy thấp thoáng những gì còn lại của cuộc đời mình chồng chất lên nhau như những trang sách. Giá như cô có thể lướt qua những trang sách ấy, để cô biết có những gì đang chờ ở phía trước.
Isra buông ánh nhìn của anh và hướng mắt cô về phía nghĩa địa. Có lẽ anh đang lo lắng gì chăng, cô tự nhủ với bản thân mình. Hay anh không thích mình? Cũng có lý. Dù gì thì cũng chưa có ai khen cô đẹp cả. Đôi mắt cô nhỏ và tối, quai hàm lại hơi góc cạnh. Đã có nhiều lần, mẹ chế nhạo cái nét sắc sảo của cô. Bà chê mũi cô nhọn và dài, trán lại quá lớn. Cô chắc Adam đang nhìn vào trán của cô. Cô kéo khăn trùm đầu xuống. Đáng nhẽ cô nên mang ra đây hộp sô-cô-la Mackintosh mà mẹ hay để dành cho những dịp đặc biệt. Hay là cô nên đi pha trà. Cô định mời anh ăn nho nhưng lại nhớ ra, nho vẫn chưa chín.
Khi cô quay lại về phía Adam, cô thấy đầu gối anh rung lên. Trong nháy mắt, anh tiến lại gần và hôn lên má cô.
Isra tát anh.
Vẫn còn sốc, cô chờ anh xin lỗi, hay khẽ khàng giải thích anh không có ý muốn hôn cô nhưng cơ thể anh không kìm chế được. Nhưng anh quay đi, chôn vùi ánh mắt về phía hai khu mộ.
Gắng gượng lắm, cô mới ép mình hướng mắt về phía nghĩa trang. Cô nghĩ, có lẽ có điều gì len lỏi ở giữa những ngôi mộ mà cô không thấy được, một bí mật nào đó có thể giải thích chuyện gì vừa xảy ra. Cô nhớ về câu chuyện trong Nghìn lẻ một đêm, khi mà nàng công chúa Shera muốn biến thành người để cưới chàng Sinbad. Isra không hiểu. Có ai lại muốn sống cuộc đời của một người phụ nữ trong khi có thể biến thành chim cơ chứ?
“Anh ấy cố hôn con...” - Isra kể lại với mẹ sau khi Adam và gia đình anh đi về, cố tình nói khẽ để Yacob không nghe thấy.
“Ý con là sao, cậu ta cố hôn con á?”
“Anh ấy cố hôn con... và con tát anh ấy! Mẹ ơi, con xin lỗi! Mọi chuyện xảy ra nhanh quá, nên con cũng không biết làm gì khác.” - Cô giấu bàn tay đang run lên của mình vào giữa hai đùi.
“Tốt!” - Mẹ lên tiếng sau một hồi lâu im lặng: “Phải giữ không để cậu ta chạm vào con cho đến khi cưới xin xong. Nhà mình không muốn gia đình người Mỹ kia đi khắp nơi bêu rếu rằng cha mẹ đã nuôi dạy một sharmouta. Đàn ông là thế, con biết đấy. Luôn luôn đổ lỗi cho phụ nữ.” - Mẹ giơ ngón tay út của mình lên: “Không cho cậu ta cái gì, kể cả một ngón tay.”
“Không, tất nhiên là không rồi ạ!”
“Danh dự của gia đình là tất cả. Phải đảm bảo là cậu ta không chạm vào con một lần nữa.”
“Vâng, con sẽ làm như thế. Mẹ yên tâm!”
Ngày hôm sau, Adam và Isra đi xe buýt tới Jerusalem, đến Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ, nơi mà mọi người nộp hồ sơ xin thị thực di dân. Isra lo lắng vì cô lại ở một mình với Adam nhưng cô cũng chẳng làm gì khác được. Yacob không đi cùng họ được bởi vì ông có hawiya[19] và điều này khiến ông gặp nhiều khó khăn khi di chuyển đến Jerusalem. Isra cũng có hawiya, nhưng vì từ giờ, cô kết hôn với công dân Mỹ, cô sẽ gặp ít khó khăn hơn khi băng qua các trạm kiểm soát.
Những trạm kiểm soát là lý do mà Isra chưa bao giờ đến Jerusalem, cũng như các thành phố khác ở Palestine. Dưới sự khống chế của chính quyền Israel, người Palestine không thể đi lại trong những thành phố này mà không có giấy phép. Mỗi điểm kiểm soát trong hàng trăm trạm gác và rào chắn quân đội mà Israel xây dựng trên đất của Palestine đều yêu cầu giấy phép thông hành. Điều này hạn chế người Palestine di chuyển giữa các thành phố và nhiều khi, ngay cả trong chính thành phố của mình. Một số điểm kiểm soát quản lý bởi binh sĩ Israel được trang bị vũ trang kỹ lưỡng và che chắn bởi những hạm đội xe tăng; các điểm khác là những cánh cổng khóa trái khi binh sĩ không làm nhiệm vụ. Adam chửi thề mỗi khi họ phải dừng lại trước những hàng rào chắn. Anh phát bực bởi sự kiểm soát chặt chẽ của quân đội Israel và tình hình giao thông đông đúc. Từ nhưng gì cô học ở trường, Isra có thể hiểu đôi chút mỗi lần Adam nói chuyện bằng tiếng Anh với những sĩ quan người Israel khi anh đưa cho họ kiểm tra cuốn hộ chiếu Mỹ của mình và cô cảm thấy ấn tượng với khả năng ngôn ngữ của anh.
Cuối cùng thì họ cũng tới Lãnh sự quán nhưng vẫn phải đứng xếp hàng và chờ thêm vài tiếng đồng hồ nữa. Isra đứng đằng sau Adam, cúi đầu và chỉ hé miệng khi cô được hỏi đến. Nhưng Adam hiếm khi nói lời nào và cô tự hỏi, có phải anh vẫn giận vì bị cô tát hồi trên ban công hay không. Cô cân nhắc nói lời xin lỗi nhưng cô thầm nghĩ, mình chẳng làm gì sai để phải xin lỗi cả. Mặc dù họ đã ký hợp đồng hôn nhân theo truyền thống của người Hồi giáo, anh không có quyền gì để mà hôn cô như vậy cả, cho đến đêm mà họ chính thức thành hôn. Nhưng lời xin lỗi vẫn nán lại trên môi cô. Cô nhắc nhở bản thân mình phải ép nó xuống.
Tại cửa sổ chính của tòa Lãnh sự, họ được thông báo là Isra sẽ có thị thực trong mười ngày tới. Giờ thì, Yacob có thể bắt đầu lên kế hoạch tổ chức đám cưới, cô nghĩ khi họ dạo quanh Jerusalem sau đó. Đảo bước trên những con đường nhỏ hẹp của thành phố cổ kính, Isra cảm thấy choáng ngợp. Cô ngửi thấy mùi hoa cúc, cây xô thơm[20], bạc hà và đậu lăng từ các bao tải đang mở được xếp trước một cửa hàng gia vị và hương thơm ngọt ngào của bánh knafa[21] mới nướng từ một dukan[22] gần đó. Cô thấy những cái lồng sắt nhốt thỏ và gà trước quầy bán thịt, vài cửa tiệm bày ra đủ thứ trang sức mạ vàng. Những người đàn ông có tuổi hattas[23] bán những chiếc khăn quàng đầy màu sắc ở góc phố. Những người phụ nữ mặc đồ đen từ đầu đến chân rảo bước trên đường. Chỉ có vài người đội những chiếc khăn hijab có thêu họa tiết, mặc quần bó và đeo kính râm tròn. Những người còn lại không đội hijab và Isra biết họ là người Israel. Tiếng giày cao gót của họ gõ lách cách trên những vỉa hè không bằng phẳng. Những cậu thanh niên huýt sáo. Những chiếc xe hơi len lỏi qua từng con đường hẹp, bấm còi, để lại một vệt khói dầu ở phía sau. Binh lính Israel đi tuần trên phố, trên cơ thể mảnh khảnh của họ đeo những cây súng trường. Không khí đầy bụi bẩn và tiếng ồn.
Adam gọi bánh kẹp falafel[24] từ một xe bán hàng rong gần nhà thờ Al-Aqsa cho bữa trưa. Khi họ ăn, Isra chăm chú ngắm nhìn mái vòm phủ vàng trên nóc nhà thờ trong sự thán phục.
“Em thấy có đẹp không?” - Adam hỏi, miệng nhồm nhoàm.
“Đẹp ạ!” - Isra trả lời: “Em chưa đến đây bao giờ.”
Adam quay lại phía cô: “Thật không?”
Cô gật đầu.
“Tại sao?”
“Tại vì đến đây khó lắm ạ.”
“Anh đi lâu quá rồi, anh quên mất sống ở đây là như thế nào. Chúng ta có khi phải dừng ở nửa tá rào chắn các loại ấy nhỉ. Thật vô lý!”
“Anh đi khỏi Palestine khi nào?”
“Nhà anh đến New York năm 1976, khi anh mười sáu tuổi. Bố mẹ anh có quay về đây vài lần nhưng anh phải ở lại để trông nom cửa hàng deli[25] của bố.” - Adam vừa nhai vừa kể.
“Anh đã vào trong nhà thờ bao giờ chưa?”
“Tất nhiên rồi. Nhiều là đằng khác. Hồi bé, anh nghĩ anh muốn trở thành một imam[26]. Một tu sĩ, em biết đấy. Có mùa hè, anh dành cả tháng Ramadan[27] ngủ trong nhà thờ này. Anh thuộc lòng cuốn kinh Qur’an.”
“Thật ư?”
“Thật.”
“Thế ở Mỹ anh làm gì? Anh có phải là tu sĩ không?”
“Không.”
“Thế anh làm gì?”
“Anh cũng có một cửa hàng deli.”
“Nhưng tại sao anh không trở thành một imam?' - Isra hỏi, cảm thấy bạo dạn hơn chút ít.
“Ở Mỹ, anh không làm thế được.”
“Ý anh là gì?”
“Bố cần anh giúp chăm lo công việc kinh doanh của gia đình. Anh phải từ bỏ ước muốn của mình.”
“À...” - Isra ngừng lại - “Em tưởng anh sẽ khác...”
“Tại sao lại khác?”
“Em vẫn cứ nghĩ...” - Cô ấp úng, cố gắng tìm từ ngữ tốt hơn.
“Nghĩ gì?”
“Em chỉ mặc định là anh sẽ được tự do.” Anh nhìn cô một cách hiếu kỳ.
“Anh biết đấy, vì anh là đàn ông.”
Adam không nói gì cả, anh cứ tiếp tục nhìn cô chằm chằm. Cuối cùng, anh nói: “Anh cảm thấy tự do!” rồi quay đi chỗ khác.
Khi họ ăn nốt phần bánh kẹp, Isra quan sát Adam một hồi. Cô không ngừng suy nghĩ về cái cách mà khuôn mặt anh đanh lại khi nhắc đến giấc mơ thời thơ ấu. Nụ cười gượng ép của anh. Cô mường tượng ra cảnh anh đứng trong nhà thờ giữa tháng Ramadan, dẫn đầu lời cầu nguyện maghreb[28], thuật lại những lời dạy trong kinh Qur’an với chất giọng khí thế, nhịp nhàng. Hình ảnh ấy chợt khiến cô mềm lòng khi nghĩ về cảnh anh phải làm việc đằng sau quầy thu ngân, tính tiền và chất hàng lên kệ trong lúc anh muốn lĩnh xướng lời cầu kinh. Và lần đầu tiên, khi ngồi cạnh anh, Isra nghĩ, có lẽ cuối cùng thì để yêu anh cùng không khó đến thế.
Isra dành buổi tối cuối cùng ở Birzeit để ngồi dựa lưng vào chiếc ghế kim loại mạ vàng. Môi cô tô son màu dâu tằm, làn da cô được che phủ bởi những lớp voan màu trắng, tóc cuốn cao, điểm kim tuyến. Xung quanh cô, những bức tường như quay vòng. Cô nhìn chúng cứ lớn dần lên cho đến khi cô cảm thấy mình như vô hình, rồi thu bé lại như thể muốn nghiền nát cô. Từng người phụ nữ trong những bộ quần áo sặc sỡ sắc màu đang nhảy múa xung quanh cô. Những đứa trẻ trốn vào trong góc nhà ăn bánh baklava và uống Pepsi. Tiếng nhạc lớn vang lên như tiếng pháo hoa. Mọi người reo hò, tay vỗ theo nhịp mà trái tim cô đang run lên. Cô gật đầu và mỉm cười để cảm ơn những lời chúc mừng của họ nhưng từ sâu thẳm trong lòng, cô không chắc mình có thể kìm giữ nước mắt được bao lâu. Cô tự hỏi không biết những vị khách này có hiểu chuyện gì đang xảy ra. Liệu họ có nhận ra chỉ còn vài tiếng nữa là cô sẽ bước lên máy bay với một người đàn ông mà cô gần như không biết gì về anh ta để đến một đất nước mà văn hóa cũng chẳng phải của cô.
Adam ngồi bên cạnh cô. Anh mặc bộ vest đen nổi lên trên nền áo sơ mi trắng. Anh là người đàn ông duy nhất trong lễ đường. Những người khác có phòng riêng của họ, cách biệt khỏi những người phụ nữ đang nhảy múa. Kể cả em trai của Adam là Omar và Ali, người mà Isra mới gặp vài phút trước lễ cưới, cũng bị cấm. Cô không biết được họ bao nhiêu tuổi nhưng chắc độ đôi mươi. Cứ một lúc lại có một người đàn ông thò đầu qua lén nhìn những người phụ nữ trên sàn nhảy và một người phụ nữ sẽ nhắc anh ta phải ở yên trong khu vực dành cho đàn ông. Isra nhìn quanh phòng để tìm những đứa em của mình. Chúng còn quá bé để ngồi trong phòng của đàn ông và cô thấy chúng đang chạy nhảy ở góc xa của hội trường. Cô tự hỏi, liệu mình có bao giờ được gặp lại chúng nữa hay không.
Nếu hạnh phúc có thể đo đếm được bằng âm thanh, có lẽ trong căn phòng này, mẹ Adam là người hạnh phúc nhất. Fareeda là một người phụ nữ to lớn, vóc dáng rộng và Isra cảm giác cái sàn nhảy như lún xuống bởi sự hiện diện của bà. Bà mặc một chiếc áo choàng màu đỏ và đen, với những họa tiết phương Đông thêu trên tay áo và một chiếc thắt lưng đính tiền vàng quấn quanh cái vòng eo đây đà của bà. Phấn kohl[29] màu đen nhòe quanh viền mắt của bà. Bà hát theo từng bài hát đầy tự tin, tay xoay một chiếc gậy trắng dài trong không khí. Cứ tầm mỗi phút, bà lại đưa tay lên miệng và phát ra tiếng zughreta[30]. Đứa con gái duy nhất của bà là Sarah, trông khoảng tầm mười một tuổi, đang tung những cánh hồng lên sân khấu. Sarah là một phiên bản trẻ hơn, mảnh khảnh hơn của mẹ cô: Mắt hình hạnh nhân sẫm màu, những lọn tóc đen xoăn thả bồng bềnh, da ánh vàng lấp lánh như hạt lúa mì. Isra có thể mường tượng ra một Sarah phiên bản trưởng thành cũng ngồi như Isra đang ngồi bây giờ, vóc dáng mảnh khảnh của cô bị chôn vùi trong bộ váy cưới. Cô nhăn mặt khi nghĩ đến cảnh ấy.
Cô nhìn quanh tìm mẹ. Mẹ ngồi trong góc cuối hội trường, loay hoay với những ngón tay của mình. Từ khi lễ cưới bắt đầu đến giờ, bà vẫn chưa hề rời ghế. Hay có lẽ bà buồn quá nên không nhảy nổi nữa, Isra nghĩ. Hay bà sợ người khác hiểu nhầm. Hồi bé, Isra vẫn thường nghe nhiều người phụ nữ khác chê bai những bà mẹ của cô dâu ăn mừng quá náo nhiệt ở các đám cưới, như thể họ vui mừng vì cuối cùng cũng tống khứ được con gái mình đi vậy. Cô thầm hỏi, có khi nào trong lòng mẹ cũng đang mừng thầm vì sắp gả được cô đi hay không.
Adam nện xuống mặt trống darbuka[31]. Giật mình, Isra rời mắt khỏi mẹ. Cô thấy Fareeda trao cho Adam cái gậy màu trắng và kéo anh xuống sàn nhảy. Anh nhảy với một tay cầm gậy, tay bên kia ôm trống. Âm nhạc ổn đến đinh cả tai. Những người phụ nữ xung quanh vỗ tay, mắt nhìn Isra đây ganh tị như thể cô vừa giành lấy một thứ gì đó mà họ xứng đáng nhận được hơn. Cô có thể nghe thấy những gì họ đang nghĩ trong đầu. Sao một cô gái trông nhạt nhòa thế này mà lại có được may mắn như vậy? Đáng ra phải là con gái của họ được đi Mỹ thì mới đúng.
Sau đó là điệu nhảy đôi của Adam và Isra. Cô thực tình không biết phải làm sao. Dù mẹ vẫn hay ca thán về việc cô phải học nhảy khi đến các sự kiện, nói rằng như thế sẽ tốt cho hình ảnh của cô, rằng các bà mẹ chồng tương lai để ý đến cô hơn nếu cô chịu bước lên sàn nhảy nhưng cô lại chưa bao giờ nghe theo bà. Cô không cảm thấy tự nhiên khi phải nhảy tự do trên sân khấu và thể hiện bản thân mình một cách công khai. Nhưng có vẻ Adam lại thấy hoàn toàn thoải mái. Anh nhảy lên bằng một chân, một tay buông sau lưng, tay kia vẫy chiếc gậy trong không khí. Với lá cờ Palestine quấn quanh cổ và chiếc mũ tarboosh[32] bằng nhung đỏ trên đầu, Isra nghĩ, trông anh như một vị Sultan[33].
“Dùng tay đi!” - Anh mở miệng.
Cô nâng cả hai tay lên trên eo, đu đưa cổ tay. Cô có thể thấy Fareeda đang gật đầu tỏ vẻ hài lòng. Một nhóm những người phụ nữ vây quanh họ, tay vẫy theo nhịp trống darbuka. Họ mặc áo choàng màu đỏ thêu họa tiết, với những đồng tiền vàng gắn vào hông. Một số người nâng những ngọn nến đang cháy lên. Những người khác thắp một cây nến lên mỗi ngón tay, đung đưa bàn tay của họ trong không khí dưới ánh nến lung linh. Một người phụ nữ còn đội cả vương miện có nến xếp thành hàng xung quanh, nhìn cứ cảm tưởng như đầu cô ta đang bốc lửa. Cả sàn nhảy sáng long lanh như đèn chùm.
Nhạc tắt. Adam nắm lấy khuỷu tay Isra và dẫn cô về phía sàn nhảy. Fareeda theo đằng sau, tay mang một chiếc giỏ màu trắng. Isra mong là cô có thể quay về chỗ ngồi của mình nhưng Adam dừng giữa sân khấu.
“Quay mặt về phía mọi người...” - Anh nói với cô.
Fareeda mở giỏ, để lộ ra vô số trang sức bằng vàng ở bên trong. Dưới đám đông rộ lên những tiếng “ô” và “à”. Bà trao cho Adam từng món nữ trang và anh đeo những vật phẩm này lên người Isra. Isra nhìn tay anh chăm chú. Ngón tay anh dài và dày, còn cô cố để không tỏ ra vẻ lúng túng. Chẳng mấy chốc mà cổ cô đã nặng trĩu dây chuyền, những đồng xu vừa dày vừa lạnh áp vào da cô. Những cái lắc tay thắt chặt cổ tay cô như những sợi dây thừng, hai đầu có hình như những con rắn. Đôi hoa tai hình đồng xu xuyên qua tai cô và những chiếc nhẫn che đi từng ngón tay của cô. Sau khi trưng ra hai mươi bảy món trang sức vàng, Fareeda tung cái rổ lên và phát ra thêm một tiếng zughreta nữa. Đám đông reo hò, còn Isra ngồi đó, ngay trước mặt họ, bao phủ bởi vàng, không cử động nổi, như một cô ma-nơ-canh đang được trưng bày.
Cô không biết điều gì đang chờ đợi mình ở phía trước và cũng chẳng thể làm gì để thay đổi được thực tế. Cô rùng mình khi nhận ra điều này. Nhưng những cảm giác này chỉ là nhất thời mà thôi, Isra tự nhủ với bản thân mình. Rồi sớm thôi, cô sẽ đặt chân đến nước Mỹ, xứ sở của sự tự do, nơi mà may chăng cô sẽ có được tình yêu như cô vẫn hằng mong ước và sống một cuộc đời tốt hơn mẹ cô. Isra mỉm cười khi nghĩ đến những viễn cảnh ấy. Và có lẽ, nếu thánh Allah ban tặng cho cô những đứa con gái, chúng cũng sẽ sống cuộc đời tốt hơn cô.
❀ ❀ ❀
[1] Maghrib: Hay còn gọi là lời cầu nguyện hoàng hôn, là lời cầu nguyện thứ năm trong lời cầu nguyện hằng ngày của người Hồi giáo, ND.
[2] Adhan: Tiếng gọi các tín đồ Hồi giáo đến nhà thờ để cầu nguyện vào các thời điểm định sẵn trong ngày, ND.
[3] Hijab: Khăn trùm đầu và ngực, thường được phụ nữ Hồi giáo đội để che tóc khi có sự xuất hiện của đàn ông không phải thành viên trong gia đình, như một cách thể hiện sự giản dị và khiêm tốn, ND.
[4] Kaftan: Áo/váy choàng truyền thống của người Ả Rập, bắt nguồn từ nền văn minh Lưỡng Hà, ND.
[5] Salaam: Một lời chúc bình an, thường được dùng làm lời chào trong tiếng Ả Rập, ND.
[6] Thánh đường Hồi giáo, nơi thờ phụng của những người theo đạo Hồi, ND
[7] Chai: một loại trà truyền thống của Ấn Độ, làm từ trà đen pha cùng với các loại hương liệu thảo mộc, phổ biến ở Nam Á, Trung Đông và Bắc Phi, ND.
[8] Baklava: Bánh ngọt tráng miệng có nguồn gốc từ đế quốc Ottoman, phổ biến ở vùng Trung và Tây Á, Bắc Phi và bán đảo Balkan, làm từ nhiều lớp bột filo phủ trên các loại hạt cắt nhỏ, ND.
[9] Tiếng Ả Rập: Bàn ăn tối, ND.
[10] Nghĩa là whore: Con đĩ, TG.
[11] Henna: Thuốc nhuộm/xăm làm từ cây henna, bắt nguồn từ bán đảo Ả Rập, Nam Á, Trung Đông, Địa Trung Hải và Bắc Phi, ND.
[12] Cộng hòa Lebanon, là một quốc gia ở Tây Á. Phía Bắc và phía Đông giáp với Syria, phía Nam giáp Israel, trong khi đảo Síp nằm ở phía Tây qua biển Địa Trung Hải.
[13] (Tiếng Ả Rập): Mẹ của Ali, ND.
[14] Rumi: Tên phiên âm từ tiếng Ba Tư là Jalāl ad-Dīn Muḥammad Rumi (1207 - 1273), là nhà thần học, nhà thơ viết bằng tiếng Ba Tư của Hồi giáo mật tông, một trong những nhà thơ vĩ đại nhất mọi thời đại.- Hafez: còn gọi là Hafiz, tên phiên âm từ tiếng Ba Tư là Khwajeh Shams od-Din Muhammad Hafez-e Shirazi (khoảng 1321 - 1390), là một nhà thơ lớn của Ba Tư thời Trung cổ.- Gibran: Tên phiên âm từ tiếng Ả Rập là Gibran Khalil Gibran (1883 -1931), là một nghệ sĩ, nhà thơ và nhà văn Liban. Tác phẩm của ông viết bằng cả tiếng Anh và tiếng Ả Rập.
[15] Naseeb (Tiếng Ả Rập): Nghĩa đen là chia sẻ, nhưng thường được hiểu là "một phần đóng góp" của ai đó trong cuộc đời, hay số mệnh của họ. Ở đây có thể hiểu nghĩa tương đương với "vận mệnh", ND.
[16] Tiếng Ả Rập, có nghĩa là "nhà và nhà", ND.
[17] Văn bản tín ngưỡng quan trọng nhất của đạo Hồi và người Hồi giáo tin rằng đây là lời nói thiên khải cuối cùng của Thượng Đế, ND.
[18] Nguyên tác: ""It doesn't matter where you live as long as your home is yours. Free of occupation and blood." Yacob dặn con gái như vậy bởi thế hệ ông bị ám ảnh với những xung đột giữa Palestine và Israel và việc đất đai của người Palestine bị chiếm đóng, ND.
[19] Hawiya: Chứng minh thư của người Palestine do chính phủ Israel cấp, để phân biệt với người Israel, ND.
[20] Loài cây có nguồn gốc từ Trung Đông, thường được dùng làm gia vị hay làm thuốc, ND.
[21] Knafa: một loại bánh ngọt tráng miệng truyền thống đến từ các nước Trung Đông, ND.
[22] Cửa hàng tạp hóa, ND.
[23] Khăn đội đầu kẻ sọc truyền thống của người Palestine, ND.
[24] Falafel: Một loại chả viên làm từ các loại đậu đỗ và gia vị phổ biến trong các món ăn của người Trung Đông, ND.
[25] Từ viết tắt của delicatessen. Ở Mỹ, delicatessen chỉ các cửa hàng tạp hóa kiêm nhà hàng bán đồ ăn nhanh, như là bánh mì sandwich, hoặc salad, cũng như các loại thực phẩm đã được chế biến sẵn, như là xúc xích, thịt nguội hoặc, phô mai, ND.
[26] Imam: Người lãnh đạo các nghi lễ cầu nguyện trong nhà thờ và các cộng đồng Hồi giáo theo dòng Sunni, ND.
[27] Ramadan: Tháng thứ chín của người Hồi giáo. Trong tháng lễ này, các tín đồ theo đạo Hồi sẽ nhịn ăn và uống từ sáng đến tối, cầu nguyện, sám hối và tổ chức các hoạt động từ thiện, ND.
[28] Lời cầu nguyện sau hoàng hôn. Đây là một trong năm lời cầu nguyện bắt buộc hàng ngày của người Hồi giáo, ND.
[29] Kohl: Một loại phấn mắt màu đen thường được phụ nữ Ả Rập dùng để trang điểm, ND.
[30] Một âm thanh vừa to vừa sắc.
[31] Darbuka: Một loại trống hình ly truyền thống của người Ai Cập, phổ biến ở Bắc Phi và các nước Trung Đông, ND.
[32] Tarboosh: Một loại mũ nỉ màu đỏ hình trụ thấp, có núm tua ở trên đầu, được phổ biến rộng rãi dưới sự ảnh hưởng của Đế Quốc Ottoman, ND.
[33] Sultan: Tước hiệu chỉ định nhà vua ở các quốc gia Hồi giáo, có nghĩa là "quyền lực" hoặc "sự thống trị" trong tiếng Ả Rập - ND.