Các ngươi không được chiến đấu. Đừng làm hại bất cứ ai. Hãy luôn làm điều phải.—Wovoka.
Nền tảng cốt lõi của giáo lý Điệu múa Hồn ma là niềm tin rằng sẽ đến một thời điểm toàn bộ các bộ lạc da đỏ, cả người đang sống lẫn người đã khuất, được đoàn tụ trên một Trái Đất được tái sinh. Ở đó, họ sẽ sống một cuộc đời hạnh phúc nguyên thủy, mãi mãi vĩnh biệt cái chết, bệnh tật và đau khổ. Dựa trên nền tảng này, mỗi bộ lạc đã tự xây dựng nên một hệ thống tín ngưỡng mang màu sắc thần thoại riêng của mình. Từng vị sứ giả và tín đồ lại tự đắp đổi thêm các chi tiết theo năng lực trí tuệ hoặc quan niệm riêng về hạnh phúc, kèm theo những mặc khải mà họ nhận được trong cơn xuất thần. Một số thay đổi chắc chắn cũng xuất hiện do giáo lý ấy phải truyền qua một phương tiện trung gian còn nhiều hạn chế là ngôn ngữ ký hiệu. Sự khác biệt trong cách lý giải này cũng tương tự như những gì chúng ta vẫn thấy trong Ki-tô giáo, với hàng trăm giáo phái khác nhau và vô số sắc thái quan điểm cá nhân. Người da trắng, với tư cách là những kẻ xa lạ, đóng vai trò thứ yếu và hầu như chẳng có thực, hoàn toàn không có chỗ đứng trong kế hoạch tái sinh nguyên thủy này. Họ sẽ bị bỏ lại phía sau cùng với những thứ trần tục đã hoàn thành sứ mệnh tạm thời của mình, hoặc sẽ hoàn toàn biến mất khỏi cõi đời.
Toàn bộ viễn cảnh ấy sẽ do một quyền năng tâm linh tối cao thực hiện mà không cần bất kỳ sự trợ giúp nào từ con người. Mặc dù một số thầy pháp từng có xu hướng muốn đẩy nhanh ngày hội ngàn năm của người da đỏ bằng cách hô hào kháng cự lại sự lấn tới của người da trắng, những lời dạy đó không nằm trong giáo lý chân chính. Chỉ ở những nơi mà sự bất mãn âm ỉ lâu ngày bị khoét sâu thêm bởi những bất công mới đây, chẳng hạn như ở tộc Sioux, phong trào ấy mới mang sắc thái đối đầu. Ngược lại, tất cả các tín đồ đều được khuyên nhủ hãy tự rèn giũa bản thân để xứng đáng với niềm hạnh phúc đã được tiên tri bằng cách gạt bỏ mọi thứ liên quan đến chiến tranh, đồng thời thực hành sự trung thực, hòa bình và lòng thiện chí—không chỉ giữa những người cùng tộc với nhau mà cả đối với người da trắng, chừng nào hai bên còn sống chung. Thậm chí, một vài sứ giả còn tin rằng mọi ranh giới chủng tộc rồi sẽ bị xóa nhòa, và người da trắng cũng sẽ cùng người da đỏ hưởng trọn niềm vui sắp tới. Dù vậy, điều này dường như hoàn toàn trái ngược với cốt lõi giáo lý đã được ra giảng ban đầu.
Nhiều mốc thời gian khác nhau đã được ấn định vào từng thời điểm để chờ đợi lời tiên tri ứng nghiệm. Dù là năm nào đi nữa, người ta vẫn thường quan niệm rằng—bởi những lý do hết sức tự nhiên—sự tái sinh của Trái Đất và sự hồi sinh của muôn loài sẽ diễn ra vào đầu mùa xuân. Trong một số trường hợp, tháng Bảy, đặc biệt là ngày mùng 4 tháng Bảy, lại là thời điểm được ngóng chờ. Cần lưu ý rằng đây khoảng thời gian mà trước kia, các bộ lạc vùng đồng cỏ thường tổ chức nghi lễ múa mặt trời lớn hàng năm. Bản thân vị giáo chủ cũng từng dời lại mốc thời gian này hết lần này đến lần khác khi những lời tiên tri lần lượt trôi qua mà chẳng thành hiện thực; và trong bức thông điệp gửi cho người Cheyenne cùng Arapaho vào tháng 8 năm 1891, ông đã để ngỏ toàn bộ vấn đề này. Mốc thời gian được mọi bộ lạc công nhận rộng rãi ngay trước thời điểm bùng nổ cuộc nổi dậy của người Sioux chính là mùa xuân năm 1891. Thế nhưng, khi mùa xuân đến rồi đi, mùa hạ lớn lên rồi lụi tàn, để rồi mùa thu lại nhường chỗ cho mùa đông mà những niềm hy vọng cùng nỗi khát khao vẫn không thành hiện thực, giáo lý ấy dần mang hình hài như ngày nay: rằng vào một thời điểm nào đó trong tương lai vô định, người da đỏ sẽ đoàn tụ với những người thân đã đi trước để mãi mãi hưởng niềm hạnh phúc tột cùng; và người ta có thể đón trước niềm hạnh phúc ấy trong những giấc mơ—nếu không thực sự thúc đẩy nó xảy ra trong thực tại—thông qua việc thành kính và thường xuyên tham gia điệu múa thiêng.
Khi trở lại với người Cheyenne và Arapaho ở Oklahoma, sau chuyến thăm Wovoka vào tháng 1 năm 1892, tôi ngay lập tức được những người bạn từ cả hai bộ lạc tìm đến. Họ vô cùng sốt sắng muốn nghe tường thuật về chuyến đi cũng như tận mắt nhìn thấy những vật phẩm linh thiêng mà tôi đã mang về từ vị giáo chủ. Đặc biệt, người Arapaho—những kẻ có đời sống tâm linh sâu sắc hơn bất kỳ bộ lạc nào khác—đã bày tỏ sự quan tâm sâu sắc và chăm chú lắng nghe từng chi tiết trong câu chuyện của tôi. Ngay khi tin tôi trở về lan rộng, đàn ông lẫn đàn bà, đi theo nhóm hoặc đi lẻ loi, đều tìm đến gặp tôi. Sau khi siết chặt tay tôi, họ lại cất lên một lời cầu nguyện dài và thành thiết; có lúc cất thành tiếng, có lúc chỉ mím môi thầm thì, và thường thì những giọt nước mắt lăn dài trên má trong khi toàn thân run lên bần bật vì xúc động mạnh. Thường thì trước khi lời cầu nguyện kết thúc, trạng thái của tín đồ đã suýt sửa rơi vào cơn cuồng loạn, chẳng kém gì mấy so với chính Điệu múa Hồn ma. Nội dung cốt lõi của lời cầu nguyện thường là lời khẩn cầu vị giáo chủ hãy mau chóng mang lại niềm hạnh phúc đã hứa hẹn, kèm theo ước nguyện rằng: vì bản thân người cầu nguyện không thể thực hiện chuyến đi đường dài, nên qua việc nắm lấy bàn tay của một người đã từng diện kiến và trò chuyện trực tiếp cùng giáo chủ, họ có thể được ban ơn để thoáng thấy vinh quang sắp tới trong những thị kiến xuất thần của mình. Suốt những dịp như vậy, những người đứng quanh chờ đến lượt mình đều giữ một sự im lặng đầy cung kính. Chẳng mấy chốc, tình cảnh ấy trở nên vô cùng bối rối, nhưng nếu chưa kể đi kể lại câu chuyện ấy nhiều lần thì tôi chẳng có cách nào rút lui mà không làm tổn thương tình cảm của họ. Điều tương tự cũng xảy ra sau đó đối với người Arapaho miền bắc ở Wyoming. Thậm chí có tù trưởng còn đưa hai tay về phía tôi, miệng thốt lên những tiếng kêu ngắn hŭ! hŭ! hŭ!—y như cách mà các tín đồ đôi khi làm quanh một vị thầy tế trong Điệu múa Hồn ma—với hy vọng, như chính ông giải thích, rằng nhờ đó mà ông có thể ngay lập tức chìm vào trạng thái xuất thần tại chỗ. Dù vậy, hy vọng ấy đã không trở thành hiện thực.
Sau màn thử thách mở đầu đó, những vị khách của tôi lại đề nghị được ngắm nhìn những món đồ mà tôi mang về từ chỗ vị giáo chủ: nào áo choàng da thỏ, hạt thông piñon, gậy chơi trò chơi, những chiếc lông chim ác là thiêng liêng, và trên hết là thứ sơn đỏ linh thiêng. Đây là một loại đất son màu đỏ tươi, có màu sắc xỉn tựa như bột gạch, được người Paiute khai thác từ vùng phụ cận của ngọn núi thiêng Mount Grant của họ. Thứ đất này được nghiền nhỏ, rồi nhào với nước để nặn thành những khối bánh hình bầu dục dài chừng 6 inch. Đây là loại sơn chủ yếu được người Paiute sử dụng trong Điệu múa Hồn ma. Những phần nhỏ của nó sẽ được vị giáo chủ ban phát cho tất cả các sứ giả để họ mang về cho bộ lạc của mình; tại đó, nó được trộn với một lượng lớn hơn loại sơn đỏ của riêng từng bộ lạc rồi dùng để trang điểm lên khuôn mặt cho những người tham gia điệu múa. Việc tô vẽ này được chính tay thầy pháp tiến hành một cách vô cùng trang nghiêm cho từng vũ công. Người ta tin rằng thứ sơn này có khả năng xua đuổi bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và trợ giúp cho thị kiến trong lúc xuất thần. Trên chiến trường Wounded Knee, tôi từng thấy thứ sơn này được bôi lên những cây cột của hàng rào vây quanh hào chôn cất những người da đỏ đã tử trận. Tôi thấy thật khó khăn để từ chối vô số lời xin được chia lại một ít sơn, nhưng vì bản thân chỉ có đúng một bánh, tôi không thể quá hào phóng. Dù vậy, những người bạn của tôi vẫn rất khao khát được chạm tay vào nó. Thế nhưng, khi phát hiện ra rằng ai nấy cũng cố gắng chà xát thật mạnh để bôi càng nhiều bột sơn càng tốt lên lòng bàn tay, rồi sau đó trét lớp bụi đỏ ấy lên mặt mình và người thân trong gia đình, tôi buộc phải cất kỹ nó đi để tự vệ.
Những hạt thông piñon, dẫu không được tôn sùng là quá linh thiêng, cũng khơi gợi sự tò mò đầy thành kính. Vào một buổi tối, theo lời mời của Left Hand—vị tù trưởng tối cao của người Arapaho—tôi đã sang lều của ông để trò chuyện về vị giáo chủ cùng xứ sở của ngông, đồng thời mang theo một lượng hạt thông để chia phát. Khi bước vào, tôi thấy vị tù trưởng cùng một số bô lão ngồi xếp hàng ở một bên bếp lửa, trong khi người vợ cùng vài người phụ nữ khác và những đứa cháu nhỏ quây quần hoàn tất vòng tròn ở phía bên kia. Lần lượt từng người trưởng thành bước đến bắt tay tôi kèm theo một lời cầu nguyện y như đã miêu tả ở trên, dài ngắn và thành kính tùy thuộc vào lòng sùng đạo của mỗi người. Nghi lễ ấy ngốn một khoảng thời gian khá đáng kể. Sau đó, tôi lấy hạt thông ra đưa cho Left Hand, đồng thời kể cho ông nghe cách mà người Paiute sử dụng chúng làm thức ăn. Ông liền chia một phần cho vợ mình, và trước khi tôi kịp hiểu chuyện gì sắp xảy ra, cả hai người liền đứng phắt dậy tại chỗ, hướng đôi bàn tay về phía tây bắc—vùng đất của vị giáo chủ—rồi cất tiếng cầu nguyện thật dài và thành thiết rằng Hesûnanin, tức “Cha của chúng ta,” hãy ban phúc cho họ cùng con cái qua thứ thức ăn linh thiêng này, đồng thời đẩy nhanh thời điểm Ngài ngự đến. Những người khác, cả nam lẫn nữ, đều lắng nghe với cái đầu cúi gằm, thỉnh thoảng lại cất lên những lời khẩn cầu tương tự hướng về “Đức Cha.” Cảnh tượng ấy thực sự xúc động sâu sắc. Đó lại là một trong những màn trình diễn đầy ấn tượng về tôn giáo tự nhiên mà tôi may mắn được chứng kiến nơi người da đỏ, qua đó rọi sáng một khía cạnh trong tính cách của họ mà những quan sát viên da trắng bình thường không bao giờ dám mơ tới. Sau lời cầu nguyện, đám hạt được cất công chia đều cho tất cả những người có mặt, kể cả đứa trẻ sơ sinh nhỏ tuổi nhất, để ai nấy đều được nếm thử thứ mà đối với họ chính là bánh hằng sống đích thực.
Vì từ trước đến nay tôi vẫn luôn bày tỏ sự đồng cảm với tư tưởng và tình cảm của họ, lại vừa thực hiện một chuyến hành trình dài đến gặp chính vị giáo chủ với cái giá phải trả là vô vàn khó khăn, gian khổ, cuối cùng người da đỏ cũng hoàn toàn tin tưởng rằng tôi thực sự khao khát tìm hiểu sự thật về tôn giáo mới của họ. Vài ngày sau chuyến viếng thăm của tôi tới lều Left Hand, một vài sứ giả từng được cử đi vào tháng Tám năm trước đã đến tìm tôi, dẫn đầu là Black Short Nose, một người thuộc tộc Cheyenne. Sau những lời chào hỏi ban đầu, ông tuyên bố rằng người Cheyenne và Arapaho giờ đây đã tin chắc tôi sẽ nói sự thật về tôn giáo của họ. Và vì họ vô cùng yêu mến tôn giáo ấy, lại tha thiết muốn người da trắng biết rằng nó hoàn toàn tốt đẹp, không hề chứa đựng điều gì xấu xa hay thù hận, họ quyết định trao lại cho tôi thông điệp mà chính vị giáo chủ đã truyền dạy cho họ, để tôi mang về trình lên Washington. Nói đoạn, ông lấy từ trong một chiếc túi thêu cườm ra một bức thư trao cho tôi. Hóa ra đây chính là lời nhắn nhủ hay bản tuyên ngôn về giáo lý mà Wovoka đã truyền đạt cho phái đoàn Cheyenne và Arapaho—với Black Short Nose là một thành viên—trong dịp họ ghé thăm Nevada lần cuối vào tháng 8 năm 1891. Nó đã được ghi chép lại ngay tại chỗ bằng thứ tiếng Anh bập bẹ bởi một thành viên trong phái đoàn Arapaho tên là Casper Edson, một thanh niên từng có chút ít học thức tiếng Anh qua nhiều năm theo học tại trường da đỏ của chính phủ ở Carlisle, Pennsylvania. Ở mặt sau của tờ giấy là bản sao chép lại bằng thứ tiếng Anh có phần trôi chảy hơn đôi chút, do một người con gái của Black Short Nose—cũng là một nữ sinh—chép lại theo lời đọc của cha khi ông trở về. Những lá thư này chứa đựng thông điệp cần trao tận tay cho hai bộ lạc, và như văn bản đã ghi rõ, chúng không hề dành cho mắt của người da trắng. Cô con gái của Black Short Nose từng cố gắng tẩy xóa đoạn này trước khi cha cô mang thư đến cho tôi, nhưng những nét chữ vẫn còn hằn lên rõ mồn một. Đây chính là bản tuyên ngôn chính thức và đích thực về giáo lý của Điệu múa Hồn ma, do chính vị giáo chủ truyền lại cho các môn đồ của mình. Nó được tái bản nguyên văn thành hai bản y hệt như lúc nhận được, kèm theo bản dịch dành cho những ai chưa quen với thứ tiếng Anh kiểu Carlisle. Theo thỉnh cầu của người da đỏ, tôi đã mang bản gốc về Washington, nơi nó được đọc bởi Ủy viên Sự vụ Da đỏ, Ngài T. J. Morgan. Sau đó, tôi cho sao làm hai bản, giao một bản cho ủy viên còn bản kia tôi giữ lại, và trả lại bản gốc cho chủ nhân của nó là Black Short Nose.
Bức thư của Vị giáo chủ (Phiên bản Arapaho)
Khi các người về đến nhà hãy tổ chức điệu múa, và ngài sẽ ban lại y như thế. khi các người múa bốn ngày và một đêm
vào ban đêm, múa ban ngày, năm ngày rồi đến ngày thứ năm, sẽ tắm rửa năm lần cho tất cả mọi người. Ngài thích các
người bầy đàn các người dâng cho ngài rất nhiều đồ vật, lòng ngài đang hoan hỉ cảm thấy thật tuyệt. Sau khi các người về nhà, sẽ ban cho áng mây lành, và cho các người cơ hội để làm cho các người cảm thấy dễ chịu. và ngài ban cho thần linh tốt lành. và ngài ban cho tất cả lớp sơn tuyệt hảo.
Hỡi những người thiện lành, ngài muốn các người hãy đến đây trong ba [tháng] tới, bất kỳ bộ lạc nào từ nơi ấy. Sẽ có
một trận tuyết khá dày trong năm nay. Thỉnh thoảng có mưa, vào mùa thu, năm nay có chút mưa, chưa bao giờ ban cho các người điều gì giống như thế. ông nội đã nói khi ông ấy chết không bao giờ khóc lóc. không làm tổn thương bất cứ ai. không chiến đấu, luôn cư xử tốt, nó sẽ mang lại cho các người sự thỏa mãn, chàng thanh niên này, ngài ấy là một người cha và người mẹ nhân từ, đừng kể cho người da trắng nào biết. Chúa Giê-su đã ở trên mặt đất, ngài tựa như áng mây.
Mọi người đều sống lại, tôi không rõ khi nào họ sẽ [có mặt] ở đây, có lẽ vào mùa thu này hoặc mùa xuân.
781
Mọi người sẽ không bao giờ đau ốm nữa, lại trở thành người trẻ—(nếu thanh niên không còn đau ốm nữa), làm việc cho người da trắng không bao giờ gây rắc rối với họ cho đến khi các người rời đi, khi mặt đất rung chuyển chớ nên sợ hãi không làm hại bất cứ ai.
Các người hãy múa trong sáu tuần liền ban đêm, và đặt thực phẩm [thức ăn?] của các người vào điệu múa để mọi người cùng ăn và tắm rửa trong nguồn nước. đó là tất cả những gì muốn nói, tôi trao lại cho các người. và các người sẽ nhận được những lời hay ý đẹp từ ngài vào một lúc nào đó, Đừng nói dối.
Bức thư của Vị giáo chủ (Phiên bản Cheyenne)
Khi về đến nhà các người phải tổ chức điệu múa. Các người phải múa bốn đêm và một ban ngày. Các người sẽ tắm rửa vào buổi sáng trước khi về đến những ngôi nhà của mình, cho tất cả mọi người, và ban cho tất cả các người y như thế này. Jackson Wilson yêu mến tất cả các người, ngài rất vui mừng khi nhận được rất nhiều đồ vật. Lòng ngài đang hoan hỉ ngập tràn sự vui sướng, sau khi các người về nhà, ta sẽ ban cho
một áng mây lành và cho các người cơ hội để cảm thấy dễ chịu. Ta ban cho các người một thần linh tốt lành, và ban cho tất cả các người lớp sơn tuyệt hảo, ta muốn những người các người hãy đến đây lần nữa, muốn trong ba tháng bất kỳ bộ lạc nào của các người từ đó. Sẽ có rất nhiều tuyết năm nay. Thỉnh thoảng có những cơn mưa, vào mùa thu năm nay có chút mưa, chưa bao giờ ban cho các người điều gì như thế, ông nội, đã nói, khi họ chết đi chớ bao giờ khóc lóc, không làm tổn thương bất cứ ai, làm bất kỳ điều hại nào vì nó, tuyệt đối không chiến đấu. Hãy luôn cư xử thật tốt. Nó sẽ đem lại sự thỏa mãn trong đời sống của các người. Chàng thanh niên này là một người cha và người mẹ nhân từ. Đừng kể với người da trắng về điều này, Chúa Giê-su đang ở trên mặt đất, ngài tựa như áng mây. Mọi người đều sống lại. Tôi không rõ khi nào ngài ấy sẽ có mặt ở đây, có lẽ sẽ vào mùa thu này hoặc mùa xuân. Khi điều đó xảy ra có lẽ sẽ là thế này. Sẽ không còn bệnh tật và quay trở lại tuổi trẻ. Đừng từ chối làm việc cho người da trắng hay đừng gây bất kỳ rắc rối nào với họ cho đến khi các người rời xa họ. Khi mặt đất rung chuyển chớ nên sợ hãi nó sẽ không làm hại các người. Ta muốn các người tổ chức điệu múa trong sáu tuần. Ăn uống và tắm rửa thật sạch sẽ cho bản thân [Phần còn lại của bức thư đã bị tẩy xóa].
Bức thư của Vị giáo chủ (Bản dịch thoáng)
Khi về đến nhà, các người phải tổ chức một điệu múa kéo dài trong năm ngày. Hãy múa liên tục trong bốn đêm liền, và vào đêm cuối cùng, hãy duy trì điệu múa cho đến tận sáng ngày thứ năm; khi ấy, tất cả mọi người phải tắm rửa dưới sông rồi mới tỏa về nhà của mình. Tất cả các người phải làm theo đúng cách đó.
Ta, Jack Wilson, yêu mến tất cả các người, và lòng ta tràn ngập niềm vui sướng trước những món quà mà các người đã mang đến cho ta. Khi các người về đến nhà, ta sẽ ban cho các người một áng mây lành [mưa chăng?] để giúp các người cảm thấy dễ chịu. Ta ban cho các người một thần linh tốt lành và ban cho tất cả các người lớp sơn tuyệt hảo. Ta muốn các người hãy quay lại đây sau ba tháng nữa, mỗi bộ lạc hãy cử một số đại diện đến vùng lãnh thổ này.
Sẽ có rất nhiều tuyết vào năm nay cùng một vài trận mưa. Vào mùa thu, sẽ có một trận mưa lớn chưa từng có tiền lệ mà ta từng ban cho các người trước đây.
Ông nội [một danh xưng tôn kính phổ quát trong cộng đồng người da đỏ, ở đây dùng để chỉ vị giáo chủ] dạy rằng: khi bạn bè qua đời, các người không được khóc lóc. Các người không được làm tổn thương bất cứ ai hay gây hại cho bất kỳ người nào. Các người không được chiến đấu. Hãy luôn làm điều phải. Nó sẽ mang lại cho các người sự thỏa mãn trong đời sống. Chàng thanh niên này có một người cha và người mẹ nhân từ. [Có lẽ câu này ám chỉ Casper Edson, chàng thanh niên Arapaho đã ghi chép lại thông điệp này của Wovoka cho phái đoàn].
Đừng kể cho người da trắng nghe về những điều này. Chúa Giê-su giờ đây đang ngự trên mặt đất. Ngài hiện hình tựa như một áng mây. Tất cả những người chết đều đã sống lại. Ta không rõ khi nào họ sẽ có mặt ở đây; có lẽ là vào mùa thu này hoặc mùa xuân tới. Khi thời điểm ấy điểm đến, sẽ không còn bệnh tật nào nữa và tất cả mọi người sẽ lại trẻ trung như thuở nào.
Đừng từ chối làm việc cho người da trắng và đừng gây ra bất kỳ rắc rối nào với họ cho đến khi các người rời xa họ. Khi mặt đất rung chuyển [trong ngày tàn của thế giới cũ] chớ nên sợ hãi. Nó sẽ không làm hại các người đâu.
Ta muốn các người múa cứ sáu tuần một lần. Hãy mở một bữa tiệc trong lúc múa và chuẩn bị thức ăn để mọi người cùng thưởng thức. Sau đó hãy tắm rửa trong nguồn nước. Chỉ thế thôi. Rồi sẽ có lúc các người lại nhận được những lời hay ý đẹp từ ta. Đừng nói dối.
782
Mọi tôn giáo có tổ chức đều sở hữu một hệ thống luân lý, một hệ thống thần thoại và một hệ thống nghi thức hành lễ. Trong bức thông điệp từ vị đại tư tế của Điệu múa Hồn ma, chúng ta tìm thấy bản tóm lược của cả ba yếu tố ấy. Xét về phần nghi thức, việc thanh tẩy mang tính nghi lễ và tắm táp đã trở thành một phần—dưới hình thức này hay hình thức khác—của mọi tôn giáo lớn kể từ bình minh lịch sử, trong khi điệu múa tôn giáo lại có từ tận thời điểm xa xưa trước cả ngày mà "con gái của Saul nhìn qua khung cửa sổ và trông thấy Vua David đang nhảy nhót, ca múa trước mặt Chúa." Buổi tiệc tùng được răn dạy cũng là một phần trong mọi buổi tụ họp mang tính nghi lễ của người da đỏ, dù là về mặt tôn giáo, chính trị hay xã hội. Điệu múa sẽ kéo dài trong bốn đêm liên tiếp, phù hợp với hệ thống thông lệ của người da đỏ, trong đó số bốn là con số linh thiêng, giống như số ba trong Ki-tô giáo. Tuân theo thông điệp này, các bộ lạc vùng đồng cỏ phía nam, sau khi phái đoàn trở về vào tháng 8 năm 1891, đã chấm dứt việc tổ chức các điệu múa một đêm diễn ra ngắt quãng không theo quy luật như trước kia và bỏ luôn cả nghi thức tắm gác lại. Thay vào đó, họ áp dụng hệ thống múa bốn đêm diễn ra theo chu kỳ đều đặn sáu tuần một lần, nối tiếp bằng nghi lễ tắm gác vào buổi sáng ngày thứ năm.
Hệ thống thần thoại của giáo lý này chỉ được hé lộ qua loa, dẫu vậy những cốt lõi chính đều đã được chỉ rõ. Người chết đều đã sống lại và những đoàn quân tâm linh đang tiến đến, nay đã đặt chân đến ranh giới của cõi trần gian này, được dẫn dắt phía trước bởi đấng tái sinh mang dáng dấp mờ ảo tựa mây trời. Vị thủ lĩnh tâm linh của cõi âm luôn được khắc họa dưới diện mạo mờ ảo này. Biến cố vĩ đại sẽ mở màn bằng một trận rung chấn của mặt đất, và tại đó, các tín đồ được dặn dò không được hoảng sợ. Niềm hy vọng được thắp lên cũng chính là thứ đã truyền cảm hứng cho người theo đạo Ki-tô trong suốt mười chín thế kỷ qua—một sự bất tử hạnh phúc trong tuổi trẻ vĩnh hằng. Còn về việc ấn định ngày tháng, vị giáo chủ cũng tỏ ra thận trọng chẳng kém gì bậc tiền bối của ông trong các lời tiên tri, đấng từng tuyên bố rằng "không một ai biết được giờ đó, ngay cả các thiên thần trên trời." Những dự báo thời tiết của ông ta cũng chính xác ngang ngửa với những lời phán truyền đầy linh ứng từ đền Delphi.
Bộ quy tắc đạo đức được truyền thụ thì vô cùng trong sáng, toàn diện và giản dị chẳng kém gì bất cứ thứ gì được tìm thấy trong các hệ thống tôn giáo từ thời đại của Phật Thích Ca cho đến thời của Chúa Giê-su Ki-tô. “Đừng làm hại bất cứ ai. Hãy luôn làm điều phải.” Liệu có điều gì giản đơn hơn, nhưng đồng thời lại chính xác và đòi hỏi khắt khe hơn thế không? Nó truyền dạy sự trung thực—“Đừng nói dối.” Nó rao giảng lòng nhân ái—“Đừng làm hại bất cứ ai.” Nó nghiêm cấm những phong tục để tang xa hoa từng rất phổ biến giữa các bộ lạc—với câu “Khi bạn bè qua đời, các người không được khóc lóc,” mà các bộ lạc vùng đồng cỏ giải thích là lệnh cấm giết ngựa, đốt lều và phá hủy tài sản, cắt tóc hay rạch cơ thể bằng dao—tất cả những điều từng là lề thói rợn người trong mỗi đám tang cho đến khi bị giáo lý mới cấm tiệt. Như một người Arapaho từng nói với tôi khi đứa con trai bé bỏng của ông qua đời: “Ta sẽ không bắn con ngựa nào cả, và vợ ta cũng sẽ không tự rạch tay mình nữa. Trước kia chúng ta thường làm thế khi bạn bè qua đời, bởi vì chúng ta nghĩ rằng mình sẽ chẳng bao giờ gặp lại họ được nữa, và điều đó khiến lòng dạ chúng ta quặn đau. Nhưng giờ đây chúng tôi biết rằng tất cả rồi sẽ được đoàn tụ.” Nếu tộc Kiowa vẫn giữ vững giáo lý của Điệu múa Hồn ma thay vì từ bỏ nó như những gì họ đã làm, thì họ đã không phải chịu cảnh mất mát hàng ngàn đô-la vì ngựa, lều, xe cộ cùng nhiều tài sản khác bị thiêu rụi; đồng thời tránh được biết bao nỗi đau đớn tinh thần cùng mọi thương tổn thể xác bắt nguồn từ trận dịch bệnh chết người mới đây trong bộ lạc—khi mà suốt nhiều tuần nhiều tháng, tiếng than khóc vang lên mỗi sớm mỗi chiều, và ở mọi trại, người ta có thể nhìn thấy đàn ông đàn bà hàng ngày với đầu tóc bù xù, tóc cắt ngắn sát da đầu, máu đóng cục trên da, hoặc túa ra từ những ngón tay bị cắt cụt cùng những vết rạch rưới mới toanh trên mặt, trên tay và cả trên chân. Nó rao giảng hòa bình với người da trắng và sự vâng lời đối với chính quyền cho đến ngày giải thoát huy hoàng kề cận. Hơn hết, nó nghiêm cấm chiến tranh—“Các người không được chiến đấu.” Thật khó lòng để chúng ta hình dung được sự thay đổi vĩ đại và triệt để mà giáo lý này tạo ra trong toàn bộ tinh thần của lối sống hoang dã. Cuộc đời của mọi người da đỏ từ xưa đến nay vẫn luôn gắn liền với đường chiến trận. Danh hiệu kiêu hãnh nhất của họ chính là chiến binh. Những câu chuyện ban ngày và những giấc mơ ban đêm của họ đều xoay quanh những chiến công đẫm máu nhằm vào kẻ thù của bộ lạc. Niềm kiêu hãnh cao cả nhất của họ nằm ở số lượng chiến tích da đầu thu được, và niềm vui thích tột cùng ở nhà là điệu múa chiến tranh cùng điệu múa da đầu. Cơn khát máu và tàn sát dường như đã ngấm sâu vào máu thịt của mọi người đàn ông, người đàn bà và đứa trẻ ở bất kỳ bộ lạc nào. Thế nhưng giờ đây, một vị tiên tri xuất hiện như sứ giả của Chúa để cấm tiệt không chỉ chiến tranh, mà còn cả những thứ mang hơi hướng chiến tranh—điệu múa chiến tranh, điệu múa da đầu, và thậm chí cả nghi thức tra tấn đẫm máu của vũ điệu mặt trời—để rồi lời dạy của ông được đón nhận và tuân thủ bởi bốn phần năm các bộ lạc săn bắn hiếu chiến vùng núi non lẫn đại ngàn. Chỉ những ai từng thấu hiểu lòng căm thù tận xương tủy từng sục sôi giữa người Ute, Cheyenne và Pawnee đối với nhau, rồi lại có thể đối chiếu nó với tinh thần tương thân tương ái hiện tại của họ, mới biết được tôn giáo Điệu múa Hồn ma đã làm được những gì trong công cuộc đưa kẻ hoang dã bước vào nền văn minh. Đó là một cuộc cách mạng chỉ xuất hiện một lần trong vòng đời của một chủng tộc.
Những niềm tin tồn tại trong các bộ lạc khác nhau liên quan đến thảm họa tận thế cũng có xác suất hợp lý ngang ngửa một số quan điểm về cùng chủ đề ấy do những bậc chính thống giáo chủ xướng. Về phần điệu múa, với những khung cảnh kích động tột cùng, những hành động co giật cùng sự kiệt sức về thể chất cho đến mức bất tỉnh, những hiện tượng như thế vẫn luôn đi kèm với các cuộc chấn hưng tôn giáo ở các dân tộc nguyên thủy, và không hẳn là hoàn toàn xa lạ ngay cả với chính chúng ta. Tại một đất nước sản sinh ra nào là những bậc thầy chữa bệnh bằng từ tính, những giáo phái Shaker, những nhà đồng cốt xuất thần và vân vân, tất cả những điều này hoàn toàn có thể tìm thấy các trường hợp tương đương một cách dễ dàng mà chẳng cần phải đi đâu xa.
Tựu trung lại, chúng ta có thể nói về vị tiên tri cùng giáo lý của ông đúng như những gì một nhà nghiên cứu cẩn trọng và tài năng từng nhận xét về một trong số các sứ giả của ông: “Ông ấy đã ban cho những con người này một tôn giáo tốt đẹp hơn bất kỳ tôn giáo nào họ từng có trước đây, dạy cho họ những lời răn mà nếu được thực hiện trung thành, sẽ giúp họ hòa hợp tốt hơn với những người láng giềng da trắng của mình, đồng thời dọn đường cho công cuộc Kitô hóa họ hoàn toàn.” (G. D., 4, và A. G. O., 5.)
784
Giờ đây, chúng ta có thể đi sâu vào các chi tiết của giáo lý theo cách nhìn nhận của từng bộ lạc, bắt đầu từ người Paiute—nơi cội nguồn của nó sinh ra. Bản tường thuật xuất sắc nhất về niềm tin của người Paiute nằm trong báo cáo gửi Bộ Chiến tranh của Đại úy J. M. Lee. Ông được phái đi vào mùa thu năm 1890 để điều tra tâm tư và sức chiến đấu của người Paiute cùng các bộ lạc da đỏ lân cận vùng Fort Bidwell ở đông bắc California. Chúng tôi xin lược lại lời khai do ông thu thập từ Captain Dick, một người Paiute, được trút bầu tâm sự vào một ngày nọ một cách dường như chẳng hề giấu giếm, sau khi hầu như toàn bộ người da đỏ đã rời khỏi phòng:
Lâu lắm rồi, cách đây hai mươi năm, thầy pháp da đỏ ở thung lũng Mason bên hồ Walker cũng nói y như thế, hệt như những gì anh đang nghe bây giờ. Chừng một năm, có lẽ vậy, sau khi ông ta bắt đầu cất lời thì qua đời. Ba năm trước, một thầy pháp khác lại bắt đầu ra giảng y hệt. Huyên thuyên mãi thôi. Người da đỏ nghe mọi điều về nó ở khắp nơi. Người da đỏ từ muôn nơi kéo đến nghe ông ta. Họ đến từ phương đông; họ ra hiệu. Hai năm trước tôi đến Winnemucca và hồ Pyramid, tôi gặp người da đỏ Sam, một tù trưởng, và Johnson Sides. Sam bảo tôi rằng anh ấy vừa đi gặp thầy pháp da đỏ để nghe ông ấy nói chuyện. Sam kể rằng thầy pháp nói thế này:
“Tất cả người da đỏ phải múa, ở khắp mọi nơi, cứ tiếp tục múa. Chẳng mấy chốc vào mùa xuân tới Đại Ông [Đại Linh Thần] sẽ đến. Ngài mang trở lại mọi loài thú rừng. Thú vật sẽ nhung nhúc khắp nơi. Tất cả người da đỏ đã khuất sẽ quay về và sống lại. Họ sẽ đều khỏe mạnh y như thanh niên, trẻ trung trở lại. Ông già mù lòa sẽ lại nhìn thấy được, trẻ lại và có những khoảng thời gian tuyệt vời. Khi Ông Già [Thượng Đế] đến hướng này, thì tất cả người da đỏ sẽ lên núi, lên thật cao tránh xa người da trắng. Khi ấy người da trắng không thể làm hại người da đỏ. Rồi trong lúc người da đỏ ở trên cao tít, một trận đại hồng thủy sẽ ập đến ngập nước và tất cả người da trắng sẽ chết, bị chết đuối. Sau đó nước rút đi và khi ấy chẳng còn ai ngoài người da đỏ khắp nơi cùng muôn loài thú rừng nhung nhúc. Khi đó thầy pháp dặn người da đỏ hãy gửi tin cho mọi người da đỏ tiếp tục duy trì việc múa và ngày vui sẽ tới. Người da đỏ nào không múa, không tin vào lời này, sẽ bị teo nhỏ lại, chỉ cao chừng một bàn chân, và cứ thế mãi. Một vài kẻ trong số họ sẽ biến thành khúc gỗ và bị thiêu cháy trong lửa.” Đó là cách Sam kể lại lời của thầy pháp. (A. G. O., 6.)
Trung úy N. P. Phister, người đã thu thập một phần tài liệu được đưa vào báo cáo của Đại úy Lee, đã xác nhận lời tường thuật chung này và cung cấp thêm một vài chi tiết phụ. Trận hồng thủy sẽ là sự hòa trộn giữa bùn và nước, và khi những tín đồ kéo lên núi cao, những kẻ hoài nghi sẽ bị bỏ lại phía sau và hóa đá. Vị tiên tri tuyên bố rằng ông ta nhận được những lời mặc khải này trực tiếp từ Thượng Đế và các linh hồn của những người da đỏ đã khuất trong những cơn xuất thần. Ông ta cũng khẳng định rằng mình là kẻ đao bất nhập, và nếu binh lính có mưu toan sát hại ông ta, họ sẽ ngã quỵ như thể chẳng có lấy một khúc xương trong mình rồi chết ngóm, trong khi ông ta vẫn cứ sống nhăn, dẫu cho có bị băm thành trăm mảnh đi chăng nữa. (Phister, 3.)
Một trong những người đầu tiên và nổi bật nhất mang giáo lý này đến các bộ lạc vùng đồng cỏ chính là Porcupine, một người Cheyenne. Vào mùa thu năm 1889, ông đã vượt núi cùng vài người đồng hành đến thăm Wovoka và tham gia điệu múa gần hồ Walker, Nevada. Trong bản tường thuật về những trải nghiệm của mình, được trình bày vài tháng sau đó trước một sĩ quan quân đội, ông cho biết Wovoka đã tự nhận chính là Chúa Ki-tô tái thế. Ngài đã quay trở lại, nhiều thế kỷ sau lần bị cự tuyệt đầu tiên, vì lòng trắc ẩn để dạy dỗ những đứa con của mình. Ông dẫn lại lời của vị tiên tri rằng:
Ta nhận thấy những đứa con của mình quá hư hỏng, thế nên ta đã quay trở về thiên đàng và bỏ mặc chúng. Ta bảo chúng rằng sau hàng trăm năm nữa ta sẽ trở lại để thăm nom những đứa con của mình. Vào 785cuối khoảng thời gian này, ta được phái quay trở lại để tìm cách dạy dỗ chúng. Cha ta bảo rằng Trái Đất đang già cỗi, tàn tạ và con người thì ngày càng hư hỏng, và rằng ta phải đổi mới vạn vật trở lại như thủa ban đầu và làm cho nó tốt đẹp hơn.
Ngài cũng bảo với chúng ta rằng toàn bộ những người chết của chúng ta sẽ được hồi sinh; rằng tất cả họ sẽ quay trở lại Trái Đất, và vì Trái Đất quá chật chội đối với họ lẫn chúng ta, ngài sẽ dẹp bỏ thiên đàng và mở rộng Trái Đất đủ sức chứa tất cả chúng ta; rằng chúng ta phải kể cho mọi người mà chúng ta gặp nghe về những điều này. Ngài nói với chúng ta về chuyện chiến đấu, và bảo rằng đó là điều xấu xa và chúng ta phải tránh xa nó; rằng Trái Đất kể từ nay sẽ hoàn toàn tốt đẹp, và tất cả chúng ta phải là bạn bè của nhau. Ngài nói rằng vào mùa thu, tuổi thanh xuân của tất cả những người thiện lương sẽ được hồi sinh, để không ai phải chịu cảnh quá bốn mươi tuổi, và nếu họ cư xử tốt sau thời điểm này, tuổi thanh xuân của mỗi người sẽ lại được đổi mới vào mùa xuân. Ngài nói rằng nếu tất cả chúng ta đều sống tốt, ngài sẽ phái những con người đến giữa chúng ta—những kẻ có thể chữa lành mọi vết thương và bệnh tật chỉ bằng một cái chạm tay—và rằng chúng ta sẽ được sống đời đời. Ngài dặn chúng ta không được cãi vã, đánh nhau, đấm đá hay bắn giết lẫn nhau; rằng người da trắng và người da đỏ sẽ hòa làm một. Ngài nói nếu bất kỳ kẻ nào bất tuân lệnh ngài, bộ lạc của kẻ đó sẽ bị xóa sổ khỏi mặt đất; rằng chúng ta phải tin tưởng mọi điều ngài nói, không được nghi ngờ hay bảo rằng ngài nói dối; rằng nếu chúng ta làm thế, ngài sẽ thừa sức nhận ra; rằng ngài sẽ thấu suốt mọi suy nghĩ và hành động của chúng ta bất kể chúng ta đang ở xó xỉnh nào trên thế giới này. (G. D., 5.)
Ở đây chúng ta bắt gặp tuyên bố rằng cả hai chủng tộc sẽ sống chung như một. Chúng ta cũng bắt gặp giáo lý chữa bệnh bằng cái chạm tay. Việc đây có phải là một phần thiết yếu của hệ thống hay không vẫn còn là điều đáng bàn, nhưng chắc chắn một điều rằng các tín đồ tin tưởng mạnh mẽ rằng những phước lành lớn lao về thể xác sẽ đến với họ, với con cái họ và với những người đau ốm nhờ vào nghi thức đặt tay của các tư tế múa, tách biệt khỏi khả năng thấu thị cõi tâm linh mà nghi thức ấy mang lại.
Một tư tưởng khác được trình bày ở đây, đó là việc Trái Đất trở nên già cỗi, tàn tạ và đòi hỏi tuổi thanh xuân của nó phải được hồi sinh vào cuối những chu kỳ vĩ đại nhất định, vốn là điểm chung của một số bộ lạc, đồng thời giữ một vị trí quan trọng trong các tôn giáo cổ xưa nhất trên thế giới. Như một người Arapaho nói tiếng Anh từng diễn tả: “Trái Đất này quá già rồi, cỏ quá già rồi, cây cối quá già rồi, cuộc đời chúng ta cũng quá già rồi. Rồi tất cả sẽ được đổi mới.” Đại úy H. L. Scott cũng tìm thấy ở các bộ lạc vùng đồng bằng phía nam niềm tin tương tự rằng các dòng sông, ngọn núi và chính Trái Đất đã cằn cỗi và phải được làm mới lại, đi kèm với một ý niệm mập mờ rằng cả hai chủng tộc đều phải chết cùng một thời điểm, để rồi được hồi sinh trong những thế giới mới nhưng tách biệt.
Người Washo, Pit River, Bannock cùng các bộ lạc khác giáp ranh với người Paiute về phía bắc và phía tây tiếp nhận giáo lý về cơ bản giống hệt như những gì chính vị giáo chủ truyền dạy. Chúng ta có rất ít thông tin về niềm tin của người Walapai, Cohonino, Mohave và Navaho ở phía nam, ngoại trừ thực tế chung rằng sự phục sinh và sự trở về của người chết là tín điều cốt lõi. Vì các bộ lạc này tiếp nhận hiểu biết về tôn giáo mới trực tiếp từ các sứ giả người Paiute, rất có thể họ đã thực hiện rất ít sự thay đổi hay thêm thắt vào bức thông điệp nguyên thủy.
Một nhân chứng từng chứng kiến điệu múa giữa người Walapai vào năm 1891 đã thu được từ các thủ lĩnh của nghi lễ những điểm tương đồng về giáo lý như đã đề cập ở người Paiute—từ đó người Walapai cũng đã áp dụng nhiều bài hát và các từ ngữ nghi lễ liên quan786 đến điệu múa. Lúc bấy giờ, họ đang mong chờ vị cứu thế của người da đỏ xuất hiện trên mặt đất trong vòng ba đến bốn năm tới. Họ đặc biệt tha thiết muốn làm rõ rằng ý định của họ không hề mang tính thù hận đối với người da trắng, và rằng họ ao ước được sống hòa bình với người da trắng cho đến khi vị cứu thế xuất hiện, nhưng khi khoảnh khắc ấy điểm đến, họ sẽ đành bất lực trước việc ngăn chặn sự diệt vong của người da trắng dẫu cho họ có muốn hay không. (J. F. L., 3.)
Phương thức diễn ra biến cố cuối cùng và sự tiêu diệt người da trắng đã được lý giải theo nhiều cách khác nhau khi giáo lý này được truyền đi khỏi trung tâm xuất phát của nó. Ở phía đông dãy núi, người ta thường quan niệm rằng một giấc ngủ say sẽ giáng xuống các tín đồ, và trong khoảng thời gian đó, thảm họa vĩ đại sẽ hoàn tất, để rồi những người trung kiên sẽ tỉnh giấc trong sự bất tử trên một Trái Đất mới. Người Shoshoni ở Wyoming nói rằng giấc ngủ này sẽ kéo dài bốn ngày bốn đêm, và vào buổi sáng ngày thứ năm, tất cả sẽ mở mắt chào đón một thế giới mới, nơi cả hai chủng tộc sẽ chung sống bên nhau mãi mãi. Người Cheyenne, Arapaho, Kiowa và một số bộ lạc khác ở Oklahoma lại cho rằng Trái Đất mới—mang theo toàn bộ những người chết được hồi sinh từ thuở khai thiên lập địa, cùng với bò rừng, nai sừng xám và muôn loài thú rừng khác—sẽ xuất hiện từ phương tây rồi lướt qua bề mặt của Trái Đất hiện tại, tựa như bàn tay phải lướt qua bàn tay trái. Khi nó tiến đến, người da đỏ sẽ được đưa lên cao và đáp xuống nhờ sự trợ giúp của những chiếc lông chim thiêng dùng trong điệu múa được cài trên tóc, đóng vai trò như đôi cánh nâng họ bay lên. Sau đó họ sẽ rơi vào trạng thái bất tỉnh trong bốn ngày, và khi tỉnh dậy khỏi cơn xuất thần, họ sẽ thấy mình đang quây quần bên những người bạn cũ giữa mọi cảnh vật quen thuộc thuở xưa. Theo Sitting Bull, vị sứ giả người Arapaho, ông cho rằng Trái Đất mới này khi tiến đến sẽ được dọn đường bởi một bức tường lửa, quét sạch người da trắng trôi dạt sang bên kia đại dương về với vùng đất nguyên thủy và đích thực của họ, trong khi người da đỏ sẽ nhờ vào những chiếc lông chim thiêng mà vượt qua biển lửa để chạm tay vào miền đất hứa. Khi công cuộc trục xuất người da trắng hoàn tất, ngọn lửa sẽ được dập tắt bởi một cơn mưa kéo dài mười hai ngày. Một số ít người lại tin rằng một trận cuồng phong kèm sấm chớp sẽ giáng xuống để tiêu diệt riêng người da trắng. Ý niệm sau cùng này được cho là cũng tồn tại ở người Walapai xứ Arizona, những kẻ mở rộng phạm vi của nó để bao trùm cả những người da đỏ không chịu tin theo. (G. D., 6.)
Giáo lý được lưu giữ bởi người Caddo, Wichita và Delaware ở Oklahoma nhìn chung cũng tương tự như giáo lý của người Arapaho và Cheyenne mà từ đó họ đã tiếp thu. Tất cả các bộ lạc này đều tin rằng việc tiêu diệt hoặc trục xuất người da trắng sẽ được thực hiện hoàn toàn bằng những phương thế siêu nhiên, đồng thời họ kịch liệt lên án người Sioux vì đã khơi mào một cuộc xung đột vũ trang do sự thiếu kiên nhẫn của họ thay vì nhẫn nại chờ đợi Chúa Trời giải cứu họ vào thời điểm ngài thấy thích hợp.
Trong tất cả các bộ lạc đã đón nhận đức tin mới, người ta đều tin rằng việc thành kính tham gia điệu múa thường xuyên sẽ giúp xua đuổi bệnh tật và phục hồi sức khỏe cho người đau ốm, điều này không chỉ áp dụng cho những người trực tiếp tham gia múa mà còn cho cả con cái và bạn bè của họ. Ý niệm về việc gặt hái những phước lành trần thế như phần thưởng cho việc thực hiện trung thành các bổn phận tôn giáo là một điều quá đỗi tự nhiên và phổ biến, chẳng cần phải bàn cãi thêm. Nghi thức thanh tẩy bằng nhà tắm hơi, vốn đóng vai trò là phần mở đầu quan trọng cho điệu múa ở người Sioux, dẫu mang mục đích sùng tín, có lẽ cũng mang lại những hiệu quả tích cực về mặt y tế.
Đối với tộc Sioux hùng mạnh và hiếu chiến ở vùng Dakotas—vốn đã sục sôi bất mãn trước những bất công cả cũ lẫn mới, lại vừa bị đẩy đến bờ vực đó nạn đói do việc cắt giảm khẩu phần ăn—giáo lý này nhanh chóng mang sắc thái đối đầu và phát triển một số đặc trưng kỳ quái. Chính vì thế, nó xứng đáng nhận được sự chú ý đặc biệt khi bàn về bộ lạc này. Những lời đồn đại đầu tiên về vị giáo chủ mới đến với người Sioux từ các bộ lạc phía tây xa xôi vào mùa đông năm 1888–89, nhưng bản tường thuật chính xác đầu tiên lại do một phái đoàn vượt núi đến thăm giáo chủ vào mùa thu năm 1889 mang về khi họ trở về vào mùa xuân năm 1890. Dựa trên báo cáo của phái đoàn này, điệu múa đã lập tức được khai mở và lan rộng nhanh chóng đến mức chỉ trong vài tháng, tôn giáo mới đã được đa số thành phần trong bộ lạc đón nhận.
Có lẽ bản tường thuật xuất sắc nhất về phiên bản của người Sioux đến từ vị viên chức kỳ cựu James McLaughlin, đặc phái viên tại trạm Standing Rock. Trong một bức thư chính thức đề ngày 17 tháng 10 năm 1890, ông viết rằng người Sioux, dưới ảnh hưởng của Sitting Bull, đang vô cùng cuồng nhiệt trước viễn cảnh cận kề của một ngày hội ngàn năm của người da đỏ hay "sự trở về của các hồn ma." Khi ấy, người da trắng sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn và người da đỏ lại một lần nữa nắm quyền tối cao—điều mà các thầy pháp đã hứa hẹn sẽ xảy ra ngay khi cỏ xanh mọc trở lại vào mùa xuân. Họ được bảo rằng Thượng Đế đã phái giống loài thống trị đến trừng phạt họ vì tội lỗi của mình, và giờ đây tội lỗi ấy đã được chuộc sạch, thời khắc giải thoát đã kề cận. Hàng ngũ thưa thớt của họ sẽ được tiếp viện bởi tất cả những người da đỏ từng qua đời từ trước đến nay, và những linh hồn này đang trên đường trở về tái chiếm trái đất—vốn dĩ thuộc về người da đỏ từ thuở ban đầu—đồng thời lùa phía trước họ, trên đường tiến về, là những đàn trâu rừng khổng lồ cùng những chú ngựa tuyệt đẹp. Thượng Đế, đấng đã ruồng rẫy những đứa con da đỏ của mình suốt bấy lâu nay, giờ đây lại một lần nữa đứng về phía họ và chống lại người da trắng, và thuốc súng của người da trắng sẽ không còn quyền năng đẩy một viên đạn xuyên qua lớp da của người da đỏ nữa. Bản thân người da trắng sẽ sớm bị nhấn chìm và ngộp thở dưới một trận lở đất sâu thẳm, bị đè chặt bởi những lớp cỏ và khúc gỗ, và những kẻ may mắn trốn thoát sẽ chỉ biến thành những con cá nhỏ bé dưới các dòng sông. Để mang lại kết quả hạnh phúc này, người da đỏ phải tin tưởng và tổ chức Điệu múa Hồn ma.
Vị đặc phái viên viết tiếp:
Thật khó lòng tưởng tượng nổi khi có bất kỳ ai, dẫu cho có ngu dốt đến đâu, lại có thể bị dắt mũi để tin vào thứ nhảm nhí vô lý nhường ấy; nhưng trên thực tế, rất nhiều người da đỏ tại trạm này lại thực sự tin sái cổ vào nó. Kể từ khi giáo lý mới này được du nhập từ các trạm người Sioux phía nam vào đây, sự lây lan của nó thật đáng kinh ngạc và vô cùng độc hại. Nó đã lan sang cả những người da đỏ từng được xếp vào hàng ngũ tiến bộ và thông minh hơn, và nhiều người ưu tú nhất của chúng ta dường như trở nên ngẩn ngơ, lúng túng khi bàn về nó, bởi những thói mê tín cắm rễ sâu trong bản chất của họ đã bị khơi dậy triệt để. (G. D., 7.)
788
Đoạn trích sau đây được dịch từ một bức thư đề ngày 30 tháng 3 năm 1891, viết bằng tiếng Sioux bởi một người da đỏ ở Pine Ridge gửi cho một người bạn tại trạm Rosebud:
Và giờ tôi sẽ kể thêm một chuyện khác. Dạo gần đây có một người đã chết đi rồi sống lại, và anh ta kể rằng mình từng đến quốc gia hồn ma của người da đỏ, đồng thời loan báo rằng quốc gia những người da đỏ đã khuất đều đang trên đường trở về nhà. Hồn ma người da đỏ bảo anh ta hãy đến lấy chiếc mũ chiến của mình. Người da đỏ (không phải hồn ma) đã trao mũ chiến cho anh ta rồi anh ta lại chết lần nữa. (G. D., 8.)
Người Sioux, cũng giống như các bộ lạc khác, tin rằng vào thời khắc thảm họa xảy ra, mặt đất sẽ rung chuyển. Theo một phiên bản, trận lở đất sẽ đi kèm với một trận đại hồng thủy tràn vào miệng người da trắng khiến họ ngạt thở vì bùn. Bão táp và lốc xoáy cũng sẽ góp sức vào công cuộc tiêu diệt họ. Người da đỏ sẽ vượt qua trận lở tuyết, có lẽ theo cách đã mô tả khi nói về các bộ lạc phía nam, và khi chạm đến bề mặt của Trái Đất mới, họ sẽ chiêm ngưỡng những thảo nguyên vô tận phủ đầy cỏ cao ngút ngàn cùng những đàn trâu rừng vĩ đại cùng muôn loài thú rừng khác. Khi thời điểm đã đến gần, họ phải tụ họp tại những điểm hẹn định sẵn và chuẩn bị cho cuộc từ bỏ vĩnh viễn mọi thứ trần thế bằng cách cởi bỏ quần áo. Phù hợp với tinh thần chung là quay trở về lối sống nguyên thủy, các tín đồ đã tước bỏ, trong khả năng có thể, trang phục và vật dụng của người da trắng. Những ai có thể kiếm được da nai súc—vốn nay đã trở nên vô cùng khan hiếm ở miền đất của người Sioux—liền mặc lại trang phục da nai, trong khi các vũ công khoác lên mình những chiếc "áo sơ mi hồn ma" làm bằng vải thô, nhưng được cắt may và trang trí theo kiểu cách của người da đỏ. Tuyệt đối không có bất kỳ kim loại nào được phép xuất hiện trong điệu múa, không dao kéo, thậm chí cả khuyên tai hay thắt lưng làm bằng bạc giả—những thứ vốn chiếm vị trí quan trọng trong trang phục của người da đỏ vùng đồng cỏ. Điều này trái ngược với phong tục của người Cheyenne cùng các bộ lạc phía nam khác, nơi phụ nữ luôn đeo trong điệu múa những chiếc thắt lưng đẹp nhất đính những đĩa bạc Đức cỡ lớn. Những hạt cườm được sử dụng dày đặc trên giày moca-xin và xà-cạp dường như được xem như vật thay thế cho vỏ tiền wampum và lông nhím truyền thống, do đó không nằm trong diện bị cấm đoán. Bất kỳ thứ vũ khí nào cũng không được phép mang theo trong Điệu múa Hồn ma bởi bất kỳ bộ lạc nào, dù là phương bắc hay phương nam—một thực tế bác bỏ hoàn toàn luận điệu cho rằng đây lại là một biến thể khác của điệu múa chiến tranh. Dù vậy, tại một số điệu múa của người Sioux, người ta lại buộc những mũi tên thiêng và một cây cung thiêng, cùng một số vật dụng khác, lên cái cây ở chính giữa vòng tròn.
GIẢI THÍCH VỀ BẢN KHẮC XCIII
Những chiếc áo sơ mi hồn ma nguyên bản này, hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Quốc gia, được thu nhặt bởi các trinh sát có mặt trong trận chiến, lấy từ thi thể của những người da đỏ tử trận tại Wounded Knee. Chúng được tác giả lấy về ở Pine Ridge từ Philip Wells và Louis Menard, những thông dịch viên con lai, trong đó người đi đầu cũng từng tham gia với tư cách thông dịch viên cho đội trinh sát người da đỏ trong trận chiến. Chúng được làm bằng vải thô màu trắng, khâu bằng gân thú. Một trong số những chiếc áo bị cháy xém một phần, có lẽ được vớt ra từ một trong những chiếc lều bị lật úp và thiêu rụi trong trận chiến. Hai chiếc áo sơ mi hồn ma khác, được cho là lấy từ cùng chiến trường ấy, cũng đang có mặt tại Bảo tàng Quốc gia.
Những góc nhìn giá trị liên quan đến phiên bản giáo lý của người Sioux được rút ra từ bài giảng tại trại Red Leaf trên khu bảo tồn Pine Ridge vào ngày 31 tháng 10 năm 1890, do Short Bull trình bày. Ông là một trong số những người được tuyển chọn đến thăm vị giáo chủ, và sau đó trở thành một trong những thủ lĩnh chủ chốt của điệu múa:
Hỡi những người bạn và anh em họ hàng của tôi: Ta sẽ sớm đưa công việc này vào guồng quay hoạt động. Ta từng bảo với các người rằng điều này sẽ ứng nghiệm trong hai mùa, nhưng vì lũ người da trắng cứ đâm chọc can thiệp quá sâu, ta sẽ đẩy nhanh thời gian lên so với những gì cha trên cao đã dặn, để thời gian được rút ngắn lại. Do đó các người không được sợ hãi bất cứ điều gì. Một số họ hàng của ta không có tai, vậy nên ta sẽ thổi bay chúng đi.
789
Giờ đây, sẽ có một cái cây đâm chồi nảy lộc, và tất cả các tín đồ thuộc tôn giáo cũng như bộ lạc của chúng ta sẽ tụ họp lại nơi đó. Đó sẽ là nơi chúng ta được gặp lại những người thân đã khuất. Nhưng trước thời điểm đó, chúng ta phải múa cho đến hết vầng trăng này; khi vầng trăng khuyết đi cũng là lúc mặt đất rung chuyển dữ dội. Bất cứ khi nào điều này xảy ra, ta sẽ nổi gió thổi bùng lên. Chính chúng ta sẽ là những kẻ được gặp lại cha, mẹ và tất cả mọi người. Chúng ta, bộ lạc người da đỏ, chính là những kẻ đang sống một cuộc đời linh thiêng. Chính Thượng Đế, người cha của chúng ta, đã phán dạy, ra lệnh và cho ta thấy những điều này.
Cha chúng ta trên thiên đàng đã cắm những dấu mốc tại bốn phương tám hướng. Thứ nhất, một chiếc tẩu đất, nằm ở hướng mặt trời lặn và đại diện cho bộ lạc Sioux. Thứ hai, một mũi tên thánh nằm ở phương bắc, đại diện cho bộ lạc Cheyenne. Thứ ba, ở hướng mặt trời mọc là những hạt mưa đá, đại diện cho bộ lạc Arapaho. Thứ tư, một chiếc tẩu và chiếc lông chim đẹp nằm ở phương nam, đại diện cho bộ lạc Crow. Cha ta đã cho ta thấy những điều này, thế nên chúng ta phải tiếp tục điệu múa này. Nếu lính giáp vây quanh các người bốn lớp, ba trong số các người—những ai được ta mặc cho những chiếc áo thánh—sãy cất cao bài ca mà ta đã dạy các người để vây quanh họ, khi ấy một số kẻ sẽ ngã quỵ xuống chết ngay lập tức. Sau đó những kẻ còn lại sẽ bắt đầu tháo chạy, nhưng ngựa của chúng sẽ lún sâu vào lòng đất. Những kỵ sĩ sẽ nhảy khỏi lưng ngựa, nhưng rồi họ cũng sẽ lún sâu xuống đất nốt. Khi ấy các người muốn xử trí thế nào với chúng tùy ý. Giờ đây, các người phải ghi nhớ điều này, rằng toàn bộ binh lính và giống loài đó đều sẽ bỏ mạng. Sẽ chỉ còn vỏn vẹn năm ngàn kẻ sống sót trên trái đất. Hỡi những người bạn và họ hàng của ta, điều này hoàn toàn thẳng thắn và sự thật.
Giờ đây, chúng ta phải tụ tập tại lạch Pass nơi cái cây đang đâm chồi. Tại đó chúng ta sẽ bước vào giữa những người thân đã khuất của mình. Các người không được mang theo bất kỳ vật phẩm trần thế nào. Khi đó đàn ông phải cởi sạch quần áo và phụ nữ cũng phải làm như vậy. Không ai được phép xấu hổ khi để lộ thân thể. Cha trên cao của chúng ta đã dạy chúng ta làm thế, và chúng ta phải tuân theo những gì ngài phán. Các người không được sợ hãi bất cứ điều gì. Súng ống là thứ duy nhất chúng ta sợ hãi, nhưng chúng thuộc về cha chúng ta trên thiên đàng. Ngài sẽ lo liệu để chúng không gây ra chút tổn hại nào. Dù người da trắng có nói với các người điều gì đi nữa, chớ nên lắng nghe họ, hỡi những họ hàng của ta. Chỉ thế thôi. Giờ đây ta sẽ giơ tay hướng về cha và khép lại những gì ngài đã phán qua lời ta. (Short Bull, War, 4.)
Chiếc tẩu được nhắc đến ở đây là vật thiêng liêng nhất trong thần thoại Sioux và sẽ được miêu tả chi tiết hơn khi bàn về các bài ca của người Sioux. Vật phẩm linh thiêng của người Cheyenne là “mũi tên thần dược,” hiện đang được bảo quản bởi cộng đồng sinh sống gần trạm Cantonment, Oklahoma. Những chi tiết quy chiếu về người Crow và Arapaho thì không được rõ ràng cho lắm. Người Arapaho được người Sioux gọi là tộc “Mây Xanh,” một cái tên có lẽ ít nhiều dính líu đến mưa đá. Cái cây đâm chồi nơi mọi tín đồ phải tụ họp ám chỉ cái cây hoặc cây cột được người Sioux dựng lên chính giữa vòng tròn múa. Các phương hướng được gán cho các bộ lạc khác ở đây có lẽ dùng để chỉ vị trí cư ngụ trước kia của họ so với người Sioux. Người Cheyenne và Arapaho, những kẻ hiện đang sống xa về phía tây và phía nam của người Sioux, vốn dĩ ban đầu sinh sống ở phía bắc và phía đông của họ, quanh khu vực sông Red và lưu vực Saskatchewan.
Thứ nổi tiếng nhất gắn liền với Điệu múa Hồn ma trong cộng đồng người Sioux chính là chiếc “áo sơ mi hồn ma” được mặc bởi tất cả các tín đồ của giáo lý—đàn ông, đàn bà và trẻ em đều như nhau. Nó được miêu tả bởi Đại úy Sword trong bản tường thuật về Điệu múa Hồn ma được đính kèm ở phần phụ lục của chương này, và sẽ được bàn kỹ lưỡng sau đây khi đề cập đến nghi thức múa. Trong suốt buổi múa, nó được mặc như một lớp áo khoác ngoài, nhưng người ta nói rằng những lúc khác nó được mặc lót bên dưới trang phục thường ngày. Mặc dù kiểu dáng, tua rua và đồ trang trí bằng lông chim về cơ bản giống hệt nhau trong mọi trường hợp, vẫn có những sự biến thể đáng kể790 liên quan đến phần họa tiết trang trí. Hình vẽ trên một số chiếc áo rất đơn giản, trong khi những chiếc khác lại phủ kín các hình ảnh về mặt trời, mặt trăng, các vì sao, những vật phẩm linh thiêng trong thần thoại của họ cùng các thị kiến trong cơn xuất thần. Những chiếc lông chim đính kèm trên trang phục luôn là lông đại bàng, và chỉ khâu luôn là thứ gân thú truyền thống. Trong một số trường hợp, phần tua rua hoặc các chi tiết khác được quét lớp sơn đỏ linh thiêng của vị giáo chủ. Chiếc áo được tin tưởng một cách tuyệt đối là có khả năng chống lại đạn dược hay bất kỳ loại vũ khí nào. Khi một trong những người phụ nữ bị trúng đạn trong vụ thảm sát Wounded Knee được tiếp cận lúc đang nằm trong nhà thờ và được bảo rằng họ phải cởi bỏ chiếc áo sơ mi hồn ma để có thể xử lý vết thương dễ dàng hơn, cô ấy đã đáp rằng: “Vâng; hãy cởi nó ra đi. Họ bảo rằng đạn không thể xuyên thủng cơ thể. Giờ thì tôi chẳng cần nó nữa đâu.”
Ý niệm bảo vệ đi kèm với chiếc áo sơ mi hồn ma dường như không phải là một đặc điểm nguyên thủy của người da đỏ. Các chiến binh da đỏ thường có thói quen xung trận với phần thân trên để trần. Bùa hộ mệnh bảo vệ của họ là một chiếc lông chim, một chiếc túi nhỏ đựng thứ bột thiêng nào đó, móng vuốt của một loài thú, cái đầu của một loài chim, hoặc một vật nhỏ bé nào đó có thể dễ dàng giắt vào tóc hay giấu giữa các lớp khiên mà chẳng gây chú ý. Linh nghiệm của nó hoàn toàn phụ thuộc vào nghi thức thánh hiến chứ không nằm ở kích thước hay chất liệu vải vóc. Lớp sơn chiến trận cũng mang một quyền năng bảo vệ thần kỳ tương tự. Việc che kín thân thể khi ra trận không phù hợp với lề thói của người da đỏ, vốn đòi hỏi người chiến binh phải giữ cho chuyển động của mình được tự do và thanh thoát nhất có thể. Chiếc gọi là “áo chiến” chủ yếu chỉ được mặc trong các dịp duyệt binh nghi lễ và rất hiếm khi được dùng trên đường chiến trận.
Giấc mơ chẳng qua chỉ là sự kết hợp rời rạc của những ý niệm lúc tỉnh giấc, và phảng phất đâu đó chút ký ức ngay cả trong những thị kiến hoang đường nhất của giấc ngủ. Chiếc áo sơ mi hồn ma rất có thể là nguồn cảm hứng bắt nguồn từ cơn xuất thần, trong khi bản thân thị kiến xuất thần lại là kết quả của những tư tưởng đúc rút từ những quan sát hoặc lời kể trước đó. Tác giả nghiêng hẳn về quan điểm cho rằng ý niệm về một trang phục thiêng bất khả xâm phạm không xuất phát từ người da đỏ, mà giống như một số điểm quan trọng khác thuộc về giáo lý Điệu múa Hồn ma, nó là sự áp dụng mang tính thực tiễn của họ đối với những ý niệm tiếp thu từ việc tiếp xúc với một giáo phái nào đó của người da trắng. Nó có thể được gợi ý từ “chiếc áo choàng ban phước” của người Mặc-môn—một bộ trang phục liền mảnh bằng vải muslin trắng được trang trí bằng các hình tượng biểu trưng, do các tín đồ mới nhập đạo mặc như một biểu tượng thiêng liêng nhất cho đức tin của họ, và bởi nhiều tín đồ tin rằng nó mang lại cho người mặc khả năng bất khả xâm phạm. Người Mặc-môn từ trước đến nay vẫn luôn thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến người da đỏ—những kẻ mà họ coi là người Laman trong các văn thư thánh thiện của mình—và do đó đã thực hiện những nỗ lực đặc biệt để truyền đạo cho họ. Kết quả là một số lượng đáng kể các bộ lạc lân cận gồm người Ute, Paiute, Bannock và Shoshoni đã được kết nạp vào giáo hội Mặc-môn và được trao tặng chiếc áo choàng ban phước ấy. (Xem phần phụ lục của chương này: “Người Mặc-môn và người da đỏ;” đồng thời xem “Hãy kể hết mọi chuyện,” của bà T. B. H. Stenhouse.) Người Shoshoni và người Arapaho miền bắc cùng sinh sống trên một khu bảo 791tồn tại Wyoming, và bất cứ điều gì liên quan đến bộ lạc này ít nhiều cũng trở thành đề tài bàn tán của bộ lạc kia. Vì người Sioux, Cheyenne và các bộ lạc miền đông khác thường xuyên ghé thăm người Arapaho, và vì những người Arapaho này chính là những sứ giả vĩ đại của Điệu múa Hồn ma, thật dễ hiểu làm sao khi một ý niệm vay mượn bởi người Shoshoni từ người Mặc-môn lại có thể tìm đường thông qua người Arapaho để đến với người Sioux và Cheyenne trước tiên, rồi sau đó lan tới những bộ lạc xa xôi hơn. Bản thân Wovoka đã công khai chối bỏ mọi trách nhiệm liên quan đến chiếc áo sơ mi hồn ma, và cả người da trắng lẫn người da đỏ đều đồng tình rằng nó không hề là một phần trong trang phục múa tại thung lũng Mason. Khi tôi lần đầu tiên đặt chân đến vùng đất của người Cheyenne cùng các bộ lạc lân cận ở Oklahoma vào tháng 1 năm 1891, chiếc áo sơ mi hồn ma vẫn chưa đặt chân đến đây. Chẳng lâu sau đó, chiếc đầu tiên được mang xuống từ vùng đất của người Sioux bởi một người Cheyenne tên là White Buffalo, từng là học sinh tại trường Carlisle. Tuy vậy, sau khi bàn thảo vấn đề, người Arapaho và Cheyenne đã từ chối cho phép mặc nó trong điệu múa, với lý do rằng giáo lý của Điệu múa Hồn ma mang tinh thần hòa bình, trong khi người Sioux lại biến chiếc áo sơ mi hồn ma thành một công cụ phụ trợ cho chiến tranh. Hệ quả của quyết định này là những chiếc áo như thế chưa từng được các vũ công ở các bộ lạc miền nam mặc lên người. Thay vào đó, họ diện trong điệu múa những chiếc áo sơ mi và áo đầm bằng da nai đẹp nhất, được phủ kín bởi những hình vẽ và hạt cườm lấy từ hệ thống thần thoại của Điệu múa Hồn ma cũng như những thị kiến xuất thần.
Điệu múa Hồn ma mang những tên gọi khác nhau tùy theo từng bộ lạc. Tại nguyên quán của nó trong cộng đồng người Paiute, nó được gọi là Nänigükwa, nghĩa là “điệu múa vòng tròn” (nüka là múa), để phân biệt với các điệu múa khác của bộ lạc, vốn chỉ có bước nhún lên nhún xuống thông thường mà không có chuyển động vòng tròn. Người Shoshoni gọi nó là Tänä′räyün hoặc Tämanä′rayära, có thể dịch thoát là “mọi người cùng kéo lê,” ám chỉ cách thức mà các vũ công di chuyển vòng quanh vòng tròn trong khi nắm tay nhau, hệt như cách lũ trẻ chơi trò chơi vòng tròn. Họ khăng khăng rằng đây là sự hồi sinh của một điệu múa tương tự từng tồn tại giữa họ năm mươi năm về trước. Người Comanche gọi nó là A′p-anĕka′ra, nghĩa là “điệu múa của Đức Cha,” hoặc đôi khi là điệu múa “nắm chặt tay nhau.” Người Kiowa gọi nó là Mânposo′ti guan, nghĩa là “điệu múa đan chặt tay,” còn cơn cuồng loạn được gọi là guan â′dalka-i, nghĩa là “điệu múa cuồng dại.” Người Caddo biết đến nó với tên Ă′ă kakĭ′mbawi′ut, nghĩa là “lời cầu nguyện của tất cả hướng về Đức Cha,” hoặc gọi là Nänisana ka-au′-shan, “điệu múa nänisana,” bắt nguồn từ từ nänisana, nghĩa là “những đứa con của tôi,” vốn là điệp khúc vang lên trong vô số bài ca hồn ma bằng ngôn ngữ của người Arapaho—những kẻ mà họ đã tiếp thu điệu múa này. Đối với người Sioux, Arapaho và hầu hết các bộ lạc vùng đồng cỏ khác, nó được gọi là điệu múa “tinh linh” hoặc “hồn ma” (tiếng Sioux: Wana′ghi wa′chipi; tiếng Arapaho: Thigû′nawat), bởi vì mọi thứ gắn liền với nó đều liên quan đến sự xuất hiện của các linh hồn người chết từ cõi âm, và chính qua cái tên này mà nó trở nên nổi tiếng trong cộng đồng người da trắng.
792