Long Và Thiếu Niên Du

Lượt đọc: 234 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Lời Thề Của Thời Gian Và Sinh Mệnh

❊ ❊ ❊

"Pháo đài Thượng Hải" được viết vào nửa đầu năm 2006, năm đó tôi hai mươi chín tuổi.

Đây là một cuốn tiểu thuyết pha trộn rất nhiều tình cảm cá nhân, nay quay đầu lại sửa chữa, không khỏi thổn thức cảm thán. Trên người một số nhân vật được khắc sâu bóng hình của chính mình, có người lại là cô gái mà bản thân từng ngưỡng mộ. Ngôn từ vội vã hỗn độn nhưng lại đầy sức lực, giống như nét chữ cuồng thảo trong cơn say. Quả thực, cái kết của cuốn sách này được viết trong một cơn say mướt mải, khi sửa chữa, tôi cố gắng tránh sửa đổi những cảm xúc bộc lộ tùy tiện, cuồng loạn ấy, để giữ lại nguyên bản vốn có của nó.

Con người ta không thể dùng sự trưởng thành của tuổi ba mươi mấy để phủ nhận sự cô đơn thời niên thiếu của tuổi hai mươi mấy.

Mạch truyện chính không có bất kỳ thay đổi nào, nhưng đã được thêm vào không ít chi tiết, trong số đó có rất nhiều chi tiết đã được nghĩ ra hoặc thậm chí viết thành đoạn từ sáu năm trước, chỉ là lúc đó thời gian vội vã nên không thể đưa vào tiểu thuyết. Phần dung lượng viết thêm chiếm khoảng 30%. Về phần thiết kế nhân vật cũng có một số chỉnh sửa, tôi đã "cà khịa" kha khá bạn bè trong giới cầm bút, đưa hình ảnh của họ vào câu chuyện, nếu đọc kỹ thì không khó để nhận ra bóng dáng của họ từ trong văn bản.

Cuốn tiểu thuyết mang ý nghĩa tri ân "Pháo đài không gian", đây là một bộ phim hoạt hình rất cũ, do đại sư hoạt hình Nhật Bản Mikimoto Haruhiko đảm nhận thiết kế nhân vật và kịch bản, phiên bản tiếng Nhật có tên là "Macross". Sau đó người Mỹ đã mua bản quyền về lồng tiếng và phát hành lại, đổi tên thành "Pháo đài không gian", khoảng vào cuối những năm thập niên tám mươi của thế kỷ 20, đài truyền hình các tỉnh ở Trung Quốc đều từng phát sóng.

So với "EVA" – một kiệt tác hoạt hình khoa học viễn tưởng khác, "Pháo đài không gian" có phần tươi sáng và lãng mạn hơn. Câu chuyện kể rằng loài người khai quật được một chiếc phi thuyền vũ trụ khổng lồ rơi từ ngoài hành tinh xuống, sau khi sửa chữa cải tạo liền trở thành tàu sân bay ngoài không gian đầu tiên của loài người, mang tên "Pháo đài không gian". Tàu sân bay vô cùng to lớn, chở theo máy bay chiến đấu biến hình Valkyrie, và trong một lần nhảy cóc không gian đã hút cả một thị trấn nhỏ vào trong khoang tàu, thế nên trên chặng đường chinh phục của mình, các phi công lái máy bay chiến đấu vẫn có thể đi dạo phố và hẹn hò với các cô gái.

Những ai từng xem bộ phim hoạt hình đó đều không khó hiểu, mặc dù là hai câu chuyện hoàn toàn đi ngược lại nhau, nhưng các yếu tố thiết kế của "Pháo đài Thượng Hải" và "Pháo đài không gian" lại rất giống nhau. Cảm ơn bộ phim hoạt hình cũ ấy đã đồng hành cùng tôi suốt những năm tháng tuổi trẻ.

Nhân vật nữ mà tôi thích nhất trong đó là Lisa Hayes, nữ chỉ huy quân đoàn, nhiệm vụ của cô là phân công nhiệm vụ cho các phi công lái máy bay chiến đấu, mặc dù chức danh nghe rất đáng sợ, nhưng cô chỉ là một cô gái trẻ tuổi, xuất sắc và trí thức, mái tóc uốn xoăn lọn lớn (sau đó trong cuộc phiêu lưu cùng nam chính vì rơi xuống nước nên biến thành tóc thẳng dài), ánh mắt luôn cụp xuống, rất khó nhìn rõ biểu cảm của cô ấy. Tạo hình của Lâm Lan lấy cảm hứng phần lớn từ hình tượng của cô ấy.

Hình tượng của Lộ Y Y lại lấy cảm hứng từ một nữ chính khác trong "Pháo đài không gian", đó là nữ ca sĩ Lâm Minh Mỹ. Đương nhiên, cá nhân tôi cho rằng Lộ Y Y thông minh, đáng yêu và hiểu chuyện hơn Lâm Minh Mỹ rất nhiều.

Trông thì tính cách của Lâm Lan và Lộ Y Y khác biệt lớn như vậy, nhưng thực chất lại bắt nguồn từ cùng một cô gái. Đây là một bí mật tôi đã giấu kín rất lâu, hai nữ chính đối với tôi thực chất là cùng một người.

Chuyện quá khứ thì không nhắc đến nhiều nữa.

Tôi từng làm việc ở Thượng Hải một năm rưỡi, từng chứng kiến những tòa nhà cao tầng và các cô nàng công sở (officelady) ở đó, từng uống rượu và ngắm nhìn sông Hoàng Phố tại quán bar Bund 18 nổi tiếng nhất thời bấy giờ, cũng từng ngồi xe đi qua con đường cao tốc dài đằng đẵng trong đêm sâu, nhìn xuống toàn bộ thành phố qua lớp cửa sổ kính, cảm thấy nó thật xa lạ và tang thương.

Nói thật lòng thì tôi không thích Thượng Hải cho lắm, bởi vì nơi đây quá vội vã, nhà cao tầng quá nhiều, quá áp lực. Tôi rất sẵn lòng đến Thượng Hải du lịch, đi dạo qua những con phố hiện đại thời trang, thử những nhà hàng và quán cà phê cầu kỳ, nhưng lại không thích làm việc và định cư ở đó. Thế nhưng khoảng thời gian một năm rưỡi sinh sống tại Thượng Hải lại là quãng thời gian quý giá đối với tôi, đến tận bây giờ vẫn thường xuyên nhớ đến.

Cuốn tiểu thuyết này cũng là sự tưởng niệm của tôi đối với cuộc sống ở Thượng Hải.

Rất nhiều địa điểm được nhắc đến trong tiểu thuyết, ví dụ như Khách sạn Cẩm Thương Văn Hoa (Jin Jiang Hotel), Quảng trường Trung Tín Thái Phú (Citic Square), Quảng trường Hằng Long (Plaza 66), Tòa nhà Kim Mậu, sân bay Phố Đông, đều là những nơi tôi thường xuyên lui tới vào thời điểm đó. Có lúc tôi ngồi trong phòng họp, ra vẻ đang nghiêm túc đàm phán với người ta, nhưng trong lòng lại đang nghĩ ngợi về mấy chuyện kiểu "nếu đột nhiên có người ngoài hành tinh đến ném bom", lúc hai mươi chín tuổi tôi vẫn chỉ là một đứa trẻ đầu óc đầy những ý nghĩ kỳ quái.

Bối cảnh chính là Quảng trường Trung Tín Thái Phú chính là nơi làm việc trước đây của tôi, tiệm McDonald's và cửa hàng Đại Xương ở dưới lầu coi như nhà ăn của tôi trước kia, còn nhà ăn nhân viên ở lầu hai thì quả thực là có thật, tôi vẫn còn giữ chiếc thẻ cơm màu vàng của nhà ăn nhân viên.

Tầm quan trọng của cuốn tiểu thuyết này đối với cá nhân tôi còn nằm ở chỗ, những chi tiết nhỏ nhặt mà có lẽ độc giả sẽ lướt qua nhanh, lại chính là dấu chân của tôi ở Thượng Hải thuở đó. Tôi đã viết không ít tác phẩm, phần lớn các tác phẩm là để tự giải trí và giải trí cho người khác, cũng giống như dụng ý viết tiểu thuyết kiếm hiệp của tiên sinh Kim Dung, nhưng quả thực có một số ít tác phẩm tôi có thể nói rằng, "Đây chính là cuộc đời tôi."

"Pháo đài Thượng Hải" là một trong số đó.

Ngoài "Pháo đài không gian" và Thượng Hải ra, chất liệu thứ ba của cuốn tiểu thuyết này chính là nhà thơ trân châu của Ai Lập Lan (Ireland) - Yeats.

Trong suốt quá trình sáng tác, tôi vẫn luôn đọc "Bức thư của một người phụ nữ lạ mặt" của Zweig và tập thơ của Yeats, nghe "Tỳ bà ngữ" của Lâm Hải và "Thượng Hải hoa" của Hạ Quang Lôi, những yếu tố này đều được sử dụng trong tiểu thuyết. Nhưng trải nghiệm cá nhân của Yeats hầu như đã giúp tôi xây dựng nên toàn bộ tuyến tình cảm, ngay phần đầu tiểu thuyết đã trích dẫn bài thơ "Khi bạn đã già" của Yeats, để bày tỏ sự kính trọng đối với nhà thơ.

Nhà thơ Ai Lập Lan Yeats (William Butler Yeats), người đạt giải Nobel Văn học năm 1923.

"Khi bạn đã già" được đưa vào tập thơ "The Rose" xuất bản năm 1893, là bài thơ Yeats viết cho một người phụ nữ nổi tiếng tên là Maud Gonne. Nhà thơ cả đời ái mộ Maud Gonne, những ai đọc thơ Yeats đều biết giai thoại này, tôi xin trích dẫn đơn giản như sau:

Ngày 30 tháng 1 năm 1889, Yeats ở tuổi hai mươi ba lần đầu tiên gặp nữ diễn viên xinh đẹp Maud Gonne, khi đó cô ấy hai mươi hai tuổi, là con gái của một đại tá quân đội Anh đồn trú tại Ai Lập Lan, không lâu trước đó sau khi cha qua đời cô đã thừa kế một gia tài kếch xù. Maud Gonne không chỉ xinh đẹp phi thường, dáng người thanh mảnh quyến rũ, hơn nữa, sau khi cảm nhận được tình cảnh khốn cùng của nhân dân Ai Lập Lan bị tầng lớp thống trị gốc Anh chèn ép, cô đã bắt đầu đồng cảm với nhân dân Ai Lập Lan, kiên quyết từ bỏ cuộc sống xã hội thượng lưu ở Dublin để dấn thân vào phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của Ai Lập Lan, và trở thành một trong những nhà lãnh đạo. Điều này đã tô điểm thêm một tầng vầng hào quang đặc biệt cho Maud Gonne trong tâm trí Yeats.

Yeats đã yêu Maud Gonne từ cái nhìn đầu tiên, hơn nữa còn yêu sâu sắc, ông từng miêu tả hoàn cảnh lần đầu tiên nhìn thấy Maud Gonne thế này: "Cô ấy đứng bên cửa sổ, bên cạnh là một cụm hoa táo nở rộ; cô ấy rực rỡ chói lọi, tựa như chính bản thân là những cánh hoa được tắm đẫm ánh mặt trời." Yeats đem lòng yêu sâu đậm cô ấy, nhưng lại cảm thấy vô vọng vì hình tượng cao quý mà cô ấy tạo dựng trong lòng mình, chàng trai trẻ Yeats cảm thấy bản thân "chưa trưởng thành và thiếu thành tựu", thế nên, mặc dù chuyện tình yêu đang dằn vặt ông, nhưng ông vẫn chưa thổ lộ với cô, một phần là vì sự rụt rè, phần khác là vì cảm thấy cô không thể gả cho một tên sinh viên nghèo.

Maud Gonne vẫn luôn giữ khoảng cách xa gần không rõ ràng với Yeats, vào tháng 7 năm 1891, Yeats đã hiểu lầm thông điệp cô truyền đạt trong bức thư gửi cho mình, tưởng rằng cô đang ám chỉ tình cảm với mình, liền hớn hở chạy đi cầu hôn Maud Gonne lần đầu tiên. Cô đã từ chối, nói rằng cô không thể kết hôn với anh, nhưng hy vọng được giữ mối quan hệ bạn bè với Yeats. Kể từ đó Maud Gonne vẫn luôn từ chối sự theo đuổi của Yeats. Năm 1903, cô kết hôn với thiếu tá quân đội Ai Lập Lan John MacBride, cuộc hôn nhân này sau đó gặp không ít trắc trở, thậm chí còn xuất hiện cả thảm kịch, nhưng cô vô cùng cố chấp, ngay cả khi hôn sự hoàn toàn thất vọng, cô vẫn từ chối sự theo đuổi của Yeats. Dù vậy, tình cảm ái mộ của Yeats dành cho cô vẫn trọn đời không đổi, vì thế, nỗi đau khó lòng giải tỏa đã lấp đầy một khoảng thời gian rất dài trong cuộc đời Yeats.

Nỗi đau đớn và bất hạnh của một tình yêu vô vọng đã thúc đẩy Yeats viết nên rất nhiều bài thơ về Maud Gonne. Trong suốt mấy chục năm trời, từ đủ mọi góc độ khác nhau, Maud Gonne liên tục khơi gợi nguồn cảm hứng sáng tác cho Yeats, có lúc là tình yêu nồng nhiệt, có lúc là nỗi oán hận tuyệt vọng, và nhiều hơn cả là sức căng phức tạp giữa yêu và hận.

"Khi bạn đã già", "Ông muốn có những gấm vóc thiên đường", "Chim trắng", "Sự hòa giải", "Phản đối những lời ca tụng vô giá trị"… đều là những tác phẩm nổi tiếng mà Yeats viết cho Maud Gonne.

Sự hiểu biết của tôi về Yeats chỉ giới hạn ở việc đọc một số tác phẩm thơ của ông, nhưng từ câu chuyện của nhà thơ, tôi đã biên tập lại thành câu chuyện về một chàng trai nhút nhát ái mộ một cô gái.

Yêu hận đan xen, đau thấu tâm can.

Nhiều năm sau, thiếu niên từng nhút nhát ấy đã đứng trên bục nhận giải thưởng Nobel, giành được vinh quang to lớn, nhưng ánh hào quang của ông đến quá muộn, chỉ có thể soi sáng chính mình, lại chẳng thể chiếu tới trán của Maud Gonne. Khi đọc diễn văn, ông nói: "Đã có lúc tôi cũng từng khôi ngô tuấn tú như một thiếu niên, nhưng khi ấy những vần thơ non nớt của tôi yếu ớt không chịu nổi, vị thần thơ của tôi cũng đã già cỗi; giờ đây tôi đã già và mắc bệnh thấp khớp, vóc dáng không còn đáng bận tâm nữa, nhưng nàng thơ của tôi lại trẻ lại rồi, tôi thậm chí còn tin rằng, nàng sẽ mãi mãi tiến về phía trước hướng tới những năm tháng thanh xuân, giống như những thiên thần mà Thụy Điển Bửu (Swedenborg) nhìn thấy trong linh thị."

Tôi thường tự hỏi không biết nàng thơ của ông có phải mang hình dáng của Maud Gonne hay không.

Yeats viết "Khi bạn đã già" thực ra mới chỉ hai mươi tám tuổi, hãy tưởng tượng xem, một người đàn ông hai mươi tám tuổi viết ra những vần thơ như vậy, giống như đang nguyền rủa thề thốt với cô gái mình yêu rằng, đợi khi em đã già, em sẽ hiểu được tình yêu của anh dành cho em, đợi khi những người đàn ông ngưỡng mộ nhan sắc của em đều lui bước, em sẽ biết rằng chỉ có anh là vẫn yêu em.

Một người bạn từng nói với tôi một quan điểm, anh ấy nói rằng: "Khi chúng ta còn trẻ, chúng ta đều tin rằng chỉ có chúng ta mới yêu cô gái trân quý đó nhất, chỉ có chúng ta mới có thể mang lại hạnh phúc cho họ. Người khác chỉ mang lại đau khổ cho cô ấy, những người đàn ông khác bên cạnh cô ấy đều là lũ ngốc nghếch. Cho đến tận nhiều năm sau, chúng ta mới buộc phải thừa nhận rằng, hóa ra cô ấy gả cho người khác, nhưng vẫn có thể hạnh phúc như thường. Khoảnh khắc người đàn ông hiểu ra điều này, cũng là lúc anh ta bắt đầu già đi."

Nhưng Yeats rõ ràng là một người đàn ông cố chấp hơn người bình thường rất nhiều, ông cho đến tận năm mươi hai tuổi mới kết hôn, trong khoảng thời gian đó vẫn liên tục cầu hôn Maud Gonne, sau khi thất bại không cam lòng lại tiếp tục cầu hôn con nuôi của Maud Gonne, trăm phương ngàn kế làm đủ mọi cách, đều bị từ chối, có thể gọi là đường cùng. Cho đến những tháng cuối cùng trong cuộc đời, ông vẫn viết thư hẹn Maud Gonne ra uống trà, kết quả vẫn bị từ chối. Sau khi ông qua đời, Maud Gonne đã từ chối tham dự đám tang của ông.

Tình yêu của Yeats đến cuối cùng có lẽ đã biến thành một sự cố chấp cực đoan, sự mãnh liệt của chấp niệm này cho thấy tình yêu sâu sắc mà ông từng chìm đắm thuở ban đầu.

Nói một câu bất kính, Maud Gonne và Yeats có thể coi là cặp oan gia đỉnh cao. Người trước khi trẻ tuổi là nữ diễn viên vạn người mê, là danh viện lóa mắt hào quang, người sau chỉ là một tên sinh viên nghèo, duy chỉ mang trong lòng sự ái mộ. Người sau nhiều năm sau mũ mão ngợp thiên hạ, người trước thì nay đã già nua bóng xế. Thân phận của hai người từ đầu đến cuối đều không tương xứng.

Hơn nữa Maud Gonne lại là một thanh niên văn nghệ lãng mạn, năm 1908 cô từng viết thư cho Yeats nói rằng bản thân bị một thứ cảm giác nào đó cuốn lấy: "Vào một đêm nọ lúc mười một giờ kém mười lăm, tôi khoác lên mình tấm áo thân thể và tư tưởng của anh, khao khát được đến bên cạnh anh." Nói một câu lương tâm, nếu tôi là Yeats nhìn thấy lời này, có lẽ tôi sẽ ngay lập tức mặc quần áo cạo râu để đến ứng hẹn mối tình đinh ước này... Nhưng Maud Gonne thực tâm chỉ là đang giao lưu tâm linh với Yeats mà thôi... Bạn nói xem đã giao lưu tâm linh thì hà cớ gì lại viết ra những lời dễ khiến người ta tơ tưởng đến vậy... Kế đến là sự kiêu ngạo và cá tính của Maud Gonne không thay đổi cho đến chết, nói không yêu là không yêu, cho đến khi cô tái hôn rồi chồng chết thì vẫn cứ không yêu, Yeats ơi anh có đợi đến chết cũng vô ích thôi! Thế mà Yeats cứ chịu đựng cái kiểu đó của Maud Gonne, bị trị cho chết cứng, lại còn cố chấp.

Tôi từng viết không ít tiểu thuyết, có người bình luận rằng bất kể tôi viết tiểu thuyết gì thì bên trong cũng đều có tình yêu cả, cho nên thực chất là một nhà văn chuyên viết truyện ngôn tình. Tôi luôn phản bác rằng 15 bộ tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung bộ nào mà chẳng có tình yêu, chẳng lẽ ông ấy cũng là nhà văn viết truyện ngôn tình sao?

Thực ra tình yêu vốn là một đề tài vĩ đại biết bao, cùng với thế hệ tác giả như tôi, ngược dòng lên tận các nhà viết kịch Hy Lạp cổ đại, tất cả các tiểu thuyết trong lịch sử loài người, đều rất khó để nói cho tường tận.

Tôi cảm thấy bản thân về bản chất là một người thiếu hiểu biết về tình yêu và phụ nữ, điểm này rất giống Giang Dương. Maud Gonne đối với Yeats, Lâm Lan đối với Giang Dương, rốt cuộc là thứ tình cảm thế nào, thực ra tôi cũng chẳng có kết luận gì cả. Viết một câu chuyện dài như vậy, đến cuối cùng đọng lại thành năm chữ "Chúc ngủ ngon, ngủ ngon nhé", thế nhưng Lâm Lan rốt cuộc vẫn chưa từng nói với Giang Dương về tâm tư của chính mình. Tôi vốn cho rằng bi kịch của câu chuyện này không nằm ở việc Lâm Lan đã chết, mà là vượt qua mười ba năm trời, Giang Dương thấp thoáng nhìn thấy Lâm Lan của quá khứ đang kể lể điều gì với anh, thế nhưng lại cách trở bởi muôn vàn núi non sông ngòi, chẳng thể nghe thấy tiếng.

Hồi tưởng lại cuộc gặp gỡ như ở con hẻm lướt qua nhau giữa Lâm Lan và Giang Dương, cùng với Maud Gonne bên khóm hoa táo, khoảng thời gian sau đó lại thê thiết đến vậy, chỉ vì khoảnh khắc ấy ban đầu quá đỗi đẹp đẽ.

Sự tồn tại của một số khoảnh khắc ngay từ khi bắt đầu đã là vì để được hoài niệm, sự nở rộ của một số nụ cười chỉ đơn thuần là vì để được hồi tưởng.

"Pháo đài không gian" có tập tranh nguyên bản, tôi rất thích phong cách màu nước của Mikimoto Haruhiko trong đó, cách dùng màu ấm áp và đượm buồn, giống như những bức ảnh cũ bị phai màu dưới ánh nắng sau khi đã trải qua gió mưa phơi sải.

Nghe sấm bên hồ ngắm cá trước thềm, hoa nở ngàn năm người vẫn chưa già, suy cho cùng cũng chỉ là giấc mơ của thuở niên thiếu mà thôi.

Phụ lục: Bản tiếng Anh của bài thơ "Khi bạn đã già"

When you are old and gray and full of sleep, And nodding by the fire, take down this book, And slowly read, and dream of the soft look Your eyes had once, and of their shadows deep;

How many loved your moments of glad grace, And loved your beauty with love false or true, But one man loved the pilgrim soul in you And loved the sorrows of your changing face;

And bending down beside the glowing bars, Murmur, a little sadly, how Love fled And paced upon the mountains overhead And hid his face among a crowd of stars.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.