Long Và Thiếu Niên Du

Lượt đọc: 268 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Những Năm Tháng Ấy Tôi Tắm Mình Trong Ánh Hào Quang Của Thần

❊ ❊ ❊

Hồi nhỏ tôi rất sùng bái Einstein.

Không vì lý do gì khác, chỉ vì trong sách miêu tả con người này cực kỳ ngầu.

Hồi đó năm nào tôi cũng viết một bài văn, đầu đề là "Lý tưởng của tôi", vì năm nào cũng viết nên không thể lặp lại mãi, trông sẽ tụt lùi. Những điều tôi còn nhớ đến bây giờ thì lý tưởng của tôi bao gồm việc muốn làm quân nhân giải phóng quân, muốn làm công nhân, muốn làm nhà khoa học, tức là Einstein.

Toàn bộ sự hiểu biết của tôi về Einstein đều xuất phát từ bộ sách "Năm nghìn năm thế giới" mà bố mua cho tôi. Vẫn nhớ trong đó có câu chuyện về Einstein và chiếc áo khoác rách. Bây giờ nhớ lại câu chuyện đó, ý nghĩa chẳng qua cũng chỉ là "Mũ mão ngập kinh kỳ, người này riêng tiều tụy", hoặc "Thiên hạ ai người không biết quân".

Câu chuyện đại loại thế này: trước khi thành danh, Einstein mặc một chiếc áo khoác cũ rách, bạn bè khuyên rằng anh nên đổi một chiếc áo khoác mới đi, Einstein đáp đằng nào cũng chẳng ai nhận ra tôi, tại sao tôi phải mặc áo khoác mới? Sau này ông nổi tiếng khắp thiên hạ rồi mà vẫn mặc chiếc áo khoác rách đó, bạn bè bảo bây giờ anh nên đổi áo khoác mới rồi chứ, nhìn xem cả thế giới đều biết anh kìa. Einstein nói, dù sao đi nữa thì cả thế giới cũng đã biết tôi rồi, vậy thì tại sao còn phải đổi áo khoác mới chứ?

Tôi nghĩ đây mới đúng là ngầu thực sự, chậc chậc, ai không nhận ra người mặc áo khoác rách như bạn thì đều phải về nhà quay mặt vào tường suy ngẫm.

Nhiều năm sau, tôi dần dà ngẫm ra mùi vị, thực ra giấc mơ của tôi chỉ là nhìn người khác quay mặt vào tường suy ngẫm chứ không phải biến thành Einstein, thậm chí tôi còn chẳng biết phương trình thuyết tương đối là gì cả. Chẳng qua chỉ là hy vọng ai cũng thấy mình rất ngầu, ai ai cũng biết tôi, gặp tôi là giơ ngón cái lên.

Đạo lý này giống như việc bố tôi vẫn luôn sùng bái lãnh tụ, còn hồi nhỏ tôi lại hơi phản anh hùng, hễ thấy người ở trên cao là bắt buộc phải hoài nghi, cho nên có chút khoảng cách với bố. Tôi cảm thấy ông cụ cổ hủ không chịu thay đổi, ông cụ lại thấy tôi tuổi trẻ tài cao ngông cuồng. Sau này khi tôi tốt nghiệp đại học, qua khỏi cái thời kỳ không được bàn chuyện chính trị, không được bàn chuyện chính trị, không được bàn chuyện phụ nữ, không được bàn chuyện dã tâm lang sói, rồi ngồi chém gió thần sầu với bố trên bàn ăn, mới phát hiện ra thứ mà bố sùng bái không phải là lãnh tụ trải qua muôn vàn gian khổ để kiến tạo nên đất nước, mà là cảm thấy cá nhân lãnh tụ có mị lực vô địch, xuất thân từ chốn bần hàn mà trở thành đệ nhất thiên hạ, từng cưới không chỉ một người vợ, vung tay hô một tiếng là thiên hạ tụ hội, quả thực là một người đàn ông ngầu lòi. Thực ra chỉ cần thỏa mãn những điều đó, lãnh tụ có hoài bão vì thiên hạ hay không, có mở ra con đường hào quang và thiết lập nên lý luận chính xác hay không đều không quan trọng, mấu chốt chính là phải ngầu. Lúc này tôi mới bừng tỉnh nhận ra bố cũng giống như tôi, chỉ là sùng bái những người đàn ông ngầu lòi mà thôi.

Hồi đó tôi sùng bái một người, mấu chốt là nhìn vào kết quả chứ không nhìn vào quá trình.

Einstein sau đó đã bị tôi vứt xó, bởi vì vật lý hiện đại của tôi chỉ vừa đủ điểm đậu, thế là tôi mất đi hứng thú với vật lý.

Không có sự sùng bái thì rất tệ, trong mấy năm liền tôi vô cùng cô độc.

Không sùng bái không có tín ngưỡng thực ra có thể tính là một cuộc khủng hoảng tâm lý. Hồi ở Mỹ, tôi từng nói với nữ sếp người da trắng xinh đẹp của mình rằng Trung Quốc là một xã hội không có tín ngưỡng. Lúc đó vốn từ vựng của tôi có hạn, không đánh vần nổi chữ đảng và duy vật chủ nghĩa, thế là tôi đánh đồng tất cả, nói rằng chúng tôi chẳng tin cái gì ở Trung Quốc cả.

“Oh, my god! No religion?” Nữ sếp há hốc miệng, tròng mắt dường như muốn rơi vào lòng bàn tay tôi, khiến tôi có cảm giác mình giống như một tên dã nhân đến từ Guinea Xích Đạo.

Tôi thầm nghĩ không có tín ngưỡng thì có gì ghê gớm chứ? Từ nhỏ đến lớn tôi chẳng có tín ngưỡng nào mà chẳng phải vẫn phát triển rất khỏe mạnh sao? Các người là người Mỹ hết tin cái này đến tin cái khác, chẳng qua cũng chỉ là Thiên Chúa giáo, Cơ Đốc giáo và Giáo hội Mormon, theo đạo thì có gì ghê gớm lắm chứ?

Thực ra tôi từng đến nhà thờ. Nhà thờ ở Mỹ thường có tên gọi, nhà thờ của người Hoa hoặc gọi là Cải chánh hội hoặc là Đồng khế hội. Riêng tư tôi cảm thấy những cái tên này rất đậm chất giang hồ, ví dụ như Thiên Địa hội, Hồng Hoa hội, Thanh bang Hồng Môn Yamaguchi-gumi. Những điều được tuyên truyền cũng là anh em một lòng, cùng nhau tiến bộ, điểm khác biệt duy nhất là có mang theo đao ra ngoài chém người hay không mà thôi. Tôi đến nhà thờ chủ yếu là để kiếm đồ ăn. Hồi đó tôi nấu ăn không giỏi lắm, trong túi cũng chẳng có mấy đồng bạc, ở Mỹ ăn một suất sashimi tốn tận năm mươi đô la mỹ, ăn một bát mì bò cũng mất sáu đô la mỹ, mỗi đao chém vào đều đau như cắt thịt trong lòng, lại càng khiến tôi thấy anh em ở nhà thờ thật tốt, chỉ cần đến tham gia hoạt động là được ăn miễn phí. Bữa ăn miễn phí không hề xa hoa nhưng cũng vô cùng phong phú, có đồ uống, có sủi cảo lại còn có bánh gạo hiệu Thái Dương. Món này là hấp dẫn nhất, mỗi lần tôi đều hận không thể vùi cả đầu vào bát bánh gạo để ăn ngấu nghiến. Hồi mới đầu hòa nhập vào nhà thờ, tôi cứ tưởng chỉ là đến ăn uống, ngờ đâu ăn xong còn phải nắm tay hát ca. Hồi đó ở khoa kinh tế Đại học Washington có một mỹ nhân, trong lòng tôi từng ngưỡng mộ nhan sắc của người ta, nhưng vì cứ cắm mặt vào bánh gạo và sủi cảo, cho nên đến lúc tôi đi nắm tay thì tay của mỹ nhân sớm đã bị anh em vắt cho đầy mồ hôi dầu rồi. Tôi không tiện tranh giành với anh em nên đành phải nắm tay mấy ông chú già.

Lời bài hát trong nhà thờ vô cùng diệu kỳ, câu mở đầu tiên là: "Tôi là một chú chim nhỏ."

Không sai, chính là câu này.

Câu thứ hai là: "Bay qua đại sơn, bay qua đại hà, nhìn thấy đấng tạo hóa."

Có chút chấn động nào không? Nếu ngất rồi thì tỉnh lại chúng ta tiếp tục nhé.

Vài người anh em có nền tảng chủ vật lý sâu dày và sức chịu đựng kém thì rất nhanh đã rút lui, có cơm cũng chẳng thèm đi ăn nữa. Tiếp theo đó nhà thờ còn sắp xếp các hoạt động như lớp học kinh thánh, Retreat ở Chicago v.v., lúc này không còn lấy việc ăn uống làm trọng tâm nữa mà là đóng cửa lại cùng nhau kể chuyện về Chúa. Tôi từng tham gia học kinh thánh một lần, cuốn "Phúc âm Luther", trong khoảng thời gian đó tôi còn nảy sinh ý tưởng viết một câu chuyện tên là "Yên thủy như mộng", kể về ân oán giang hồ, kích thích sướt mướt và còn là nam bản Mary Sue. Giờ đây nhớ lại, ở một nơi thần thánh trang nghiêm như thế mà lại đi cấu tứ một câu chuyện sướt mướt như vậy, Chúa vẫn chưa giáng sấm sét xuống đỉnh đầu tôi đã đủ để chứng minh ngài rất nhân từ rồi.

Nhân tiện phải nói thêm, những cuốn tiểu thuyết tầm trung mà tôi viết hồi ở Mỹ, bây giờ nhìn lại phần lớn đều có chút sướt mướt. Những tác phẩm còn xem được chỉ có vài cuốn như "Người trung gian", "Con thuyền nhỏ" và "Một nghìn lẻ một đêm của thần chết", tất cả đều mượn võ hiệp và kỳ ảo để viết người thật việc thật, có thể thấy việc tưởng tượng vô cớ vẫn là không được.

Trở lại vấn đề chính, sau khi học kinh thánh xong thì mọi người bắt đầu phát triển tín đồ mới. Thông thường những anh chị em có vết thương lòng hoặc đang mông lung thì dễ bị lôi kéo hơn. Khá nhiều người thoạt nhìn thì hào nhoáng nhưng thực chất lại từng chịu tổn thương trong gia đình hoặc tình cảm. Sau mấy bận thổ lộ tâm sự chân thành thì rơi nước mắt, chẳng bao lâu sau liền quy y Jehovah. Tôi nhìn mọi người ngồi tản mác trên ghế sofa giảng đạo lý của thần mà cảm thấy mông lung khó hiểu. Có giáo hữu đến hỏi tôi trong lòng có điều gì thắc mắc không. Tôi vắt óc suy nghĩ, ngoài quãng thời gian hồi trung học cảm thấy rất có thể không thi đậu nổi đại học tốt nên từng làm côn đồ dự bị một thời gian ngắn ra, thì quãng thời gian còn lại trong đời đều vô cùng phẳng lặng. Đến tận bây giờ tôi vẫn không biết phụ nữ là cái thứ gì, cho nên chưa từng đau lòng vì thất tình. Anh em trong nhà thờ thấy tâm can tôi vững chắc như chuông vàng áo giáp sắt, đao thương bất nhập, cảm thấy xã hội mới thực sự độc hại đối với tôi quá sâu sắc, thế là buổi học kinh thánh lần sau liền không gọi tôi nữa.

Nhưng tôi vẫn đến ăn cơm, bởi vì tôi vô cùng yêu bánh gạo.

Năm thứ hai có người mới đến, có một vị sư muội dắt theo cả chồng cùng đến. Sư muội rất có hứng thú với tư tưởng của chúa, nhưng người chồng lại cùng chí hướng với tôi, chiếc đĩa chất cao ngút bánh gạo. Sau bữa ăn, mọi người nhắc đến một giáo lý rằng người không tin thần thì không được lên thiên đường. Người chồng đó bèn hỏi, vậy người tốt cũng không được lên sao? Chủ xưởng của Đồng khế hội đáp, cho dù là người tốt, không tin thần ta không bước vào cửa nhà ta thì cũng không được lên. Người chồng nổi giận, nói: "Vậy Lôi Phong cũng không được lên sao?"

Cả hội trường xôn hào, đây là sự đối kháng giữa thần tượng của quốc gia và thần minh của miền tây vực. Anh em của Đồng khế hội phải đối mặt với thử thách chưa từng có, dự cảm rằng chỉ cần lơ là một chút thì ngoại đạo sẽ phá hủy Vạn Lý Trường Thành của mình. Thế là những anh em có tâm đắc học kinh thánh sâu sắc nhất liền vây quanh vị đó để tranh luận.

Đêm hôm đó không có hát ca.

Tôi tay cầm bánh gạo đứng bên cạnh nghe ké, vô tình nở nụ cười của một tên già đời trẻ tuổi, bị một giáo hữu hay đùa giỡn với tôi bắt gặp, liền bước lên vỗ tôi một cái, cảm thán nói: "Cậu thế này thì chắc chắn sẽ xuống địa ngục rồi."

Kể từ đó ngay cả email mời ăn cơm miễn phí tôi cũng không nhận được nữa.

Cứ như vậy, tôi đã bỏ lỡ thần. Từng có một năm trời tôi tận hưởng thức ăn do ngài ban tặng, tắm mình trong ánh hào quang của ngài, thế nhưng trên lòng tôi lại giương một chiếc ô đen kịt.

Sau khi về nước, tôi tình cờ gặp lại bạn cùng lớp đại học, chúng ta có thể gọi anh ta là lão L. Gặp lại nhau mừng mừng tủi tủi, không khỏi thổn thức. Cả lớp chúng tôi đều tung hoành ngang dọc vượt biển khơi, ai nấy đều đầu quân cho người phương Tây, những người vẫn ở lại Trung Quốc có thể coi là đốm lửa nhỏ.

Lão L đã theo đạo Cơ Đốc, hoặc phải nói là sắp theo đạo rồi, đang giãy giụa trong tuyệt vọng. Nghe nói gia nhập đạo phải nộp thuế một phần mười, hơn nữa đã vào rồi thì rất khó quay đầu. Lão L sớm đã sùng bái đạo Cơ Đốc sát đất, nhưng vẫn còn thiếu một chút cảm giác chấn động như tia chớp xẹt qua trong khoảnh khắc yêu đương từ cái nhìn đầu tiên của thiếu nam thiếu nữ, cho nên vẫn đang chần chừ. Tóm lại là toàn bộ tâm can đã phó thác hết rồi, chỉ đợi một tiếng sét đánh ngang đỉnh đầu, đánh cho trái tim trong chốn bụi trần sáng bừng lên, từ đó cho dù có xuống sông Hằng tắm rửa, đi bộ hành hương đến thánh địa Mecca hay là dập đầu lạy đủ chiều dài cơ thể hướng về Potala thì cũng kiên quyết không hối hận.

Nhưng chuyện theo đạo thì cứ theo, sự nghiên cứu của lão L đối với tôn giáo lại kém tôi một chút, thế cho nên lúc uống rượu cùng anh ta, tôi đã bổ túc cho anh ta một bài học về tín ngưỡng. Tôi từng học qua Phật giáo một thời gian, đọc vài cuốn sách về Nhân minh học, tự cảm thấy đã chạm đến được chút lông da của triết học Ấn Độ, bèn dùng Nhân minh học để suy luận thần học. Tôi dùng đũa vẽ trên bàn, phân tích bắt đầu từ một điểm gốc, từng bước từng bước đi xuống, cuối cùng bảo với lão L rằng giáo lý của đạo Cơ Đốc và logic thông thường của nhân loại có một điểm đứt gãy, chính là hào sương mù giữa "tin" và "không tin". Cậu tin, OK, thiên hạ đại cát, cậu chính là người của thần, thế nào cũng giải thích thông suốt; cậu còn đang do dự xem có nên tin hay không, muốn thần chứng minh cho cậu trước, thế thì tiêu đời, sự tồn tại của thần là thứ không thể chứng minh được.

Lão L tranh luận logic không lại tôi, đành chịu nhưng tâm can đã phó thác rồi nên rất phiền muộn.

Lại một lần nữa tôi uống rượu với lão L, cả hai đều uống khá nhiều, cuối cùng quán nhện đóng cửa, hai người mua mấy lon bia ở cửa hàng tiện lợi mở cửa 24/7, ngồi trên bậc thềm góc đường giữa đêm khuya nói về dòng thời gian trôi như nước, nói về sinh tử biệt ly, trông giống hệt như hai tên lang thang vô gia cư. Lão L lại nói với tôi về thần, lão L bảo tôi nghĩ cuối cùng chắc chắn mình vẫn sẽ tin thôi. Cái điểm đứt gãy của cậu ấy à, nước cách có tấc gang, tôi tung người một bước là vượt qua, mặc kệ cậu logic hay không logic, không cản nổi tôi đâu. Cứ tin như thế rồi chết đi thôi, an tĩnh bình hòa.

Lão L vẫn luôn là một người ôn hòa, tôi nghĩ câu nói mà anh ta chưa thốt ra chính là, tao có duỗi chân thì cũng duỗi một cách ung dung thong thả hơn mày, không cần phải giống như mày, đến tận phút cuối cùng cận kề cái chết mà trong đầu vẫn cứ chiếu phim tua nhanh toàn bộ những dự án làm không thành, người con gái cầu mà không được, những vấn đề triết học chiêm nghiệm mãi không thông trong suốt cuộc đời, để rồi cuối cùng bật dậy ngâm thơ rằng "Cuộc đời năm mươi năm, chuyện cũ tựa chiêm bao".

Tôi hỏi linh hồn cậu có thể lên thiên đường không? Lão L bảo tôi không biết.

Tôi hồi tưởng lại câu nói cứ tin như thế rồi chết đi thôi, an tĩnh bình hòa của anh ta, cảm thấy rất hay.

Cứ vừa viết như thế này, lại muốn mời lão L đi uống một trận rượu nữa.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.