"Tôi đã nói từ sớm rồi, số hàng dự trữ một ngàn chiếc là không đủ, dù chỉ là giai đoạn đầu thì ít nhất cũng phải dự trữ năm ngàn chiếc, nếu không thì căn bản không thể thỏa mãn nhu cầu khổng lồ của thị trường!"
"Đây là Bắc Mỹ thất tỉnh, đất rộng người thưa, nhà nào cũng có cả trăm mẫu thậm chí vài trăm mẫu đất, mấy gia đình nhân khẩu đông đúc thậm chí có đến cả ngàn mẫu đất, nhu cầu của họ đối với máy kéo hơi nước là vô cùng lớn!"
"Đặc biệt là những gia đình có vài trăm mẫu thậm chí ngàn mẫu đất, đối với họ mà nói, máy kéo hơi nước là vật bất ly thân!"
"Dù là những gia đình có ít đất hơn, họ hoàn toàn có thể hợp tác kinh doanh nông trại của mình, cho nên việc mua một chiếc máy kéo hơi nước cũng là chuyện hết sức bình thường!"
Lời nói của chàng thanh niên này lại khiến những người khác cảm thấy bất mãn!
Nói như thể ai cũng không biết tiềm năng thị trường Bắc Mỹ thất tỉnh là khổng lồ vậy, nhưng bảo dự trữ năm ngàn chiếc là năm ngàn chiếc sao.
Số tiền vốn bị đọng lại trong này là bao nhiêu chứ!
Dù không nói đến chuyện tiền bạc, anh tưởng máy kéo hơi nước là bắp cải à, muốn bao nhiêu là có bấy nhiêu sao? Các nhà sản xuất máy kéo hơi nước tại bản thổ đế quốc, sản lượng một năm chỉ có chừng đó thôi, hơn nữa sản lượng này về cơ bản đều đã dự kiến cung ứng cho thị trường bản thổ.
Các khu vực như Đông Bắc, Trung Á của bản thổ cũng là đất rộng người thưa, cũng giống như Bắc Mỹ, những năm đầu dùng cày ngựa, giờ đây thì dần dần chuyển hóa sang canh tác cơ giới hóa.
Chỉ riêng khu vực bản thổ thôi cũng đã có thể tiêu thụ sạch sành sanh năng lực sản xuất máy kéo hơi nước hiện có rồi.
Hơn nữa, kế hoạch phát triển kinh tế của đế quốc đâu phải chỉ nhắm vào mỗi Bắc Mỹ, mà là nhắm vào tất cả lãnh địa hải ngoại trên toàn cầu, khu vực được phép bán và sử dụng máy móc nông nghiệp cũng không ít đâu.
Ngoài Bắc Mỹ thất tỉnh ra, còn có một phần khu vực Nam Mỹ, đồng thời là khu vực Nam Phi vốn đã từng phần bản địa hóa từ trước, cùng với các châu như Qua Hà, Bạc Mộc tại Ấn Độ.
Công ty mậu dịch máy móc Vĩnh Lai của họ giành được hạn ngạch một ngàn chiếc này từ tay các công ty mậu dịch máy móc ở khu vực khác đã là rất tốt rồi.
Muốn nhiều hơn nữa, giá cả cũng không xong!
Bởi vì kế hoạch phát triển kinh tế đó là chiến lược của đế quốc, trong tình huống sản lượng máy kéo hơi nước hiện có hữu hạn, để mọi nơi đều có thể cảm nhận được chính sách nhân trị từ phía Kim Lăng, cảm nhận được hoàng ân hạo đãng của Thánh Thiên Tử.
Sản lượng này đều là phân bổ theo địa phương cả đấy!
Bản thổ bao nhiêu, Bắc Mỹ thất tỉnh bao nhiêu, Nam Phi bao nhiêu, khu vực Ấn Độ bao nhiêu, đó đều là sau khi cấp cao thảo luận rồi mới định ra.
Công ty mậu dịch máy móc Vĩnh Lai của họ thì có cái quyền lên tiếng gì chứ, bên trên giao bao nhiêu hạn ngạch thì họ chỉ có thể bán bấy nhiêu.
"Haiz, bây giờ cũng chẳng còn cách nào khác, nguồn hàng hiện tại chỉ có chừng này, lát nữa chúng ta nghiên cứu xem bảy tỉnh này phân chia thế nào, haiz việc này khó làm thật, làm không tốt là đắc cử người ta ngay!"
Hạn ngạch máy kéo hơi nước và các loại máy móc nông nghiệp khác không đủ, công ty mậu dịch máy móc Vĩnh Lai cũng không còn cách nào khác.
Vốn dĩ họ là công ty mang tính chính sách, nhiệm vụ cũng không phải là kiếm được bao nhiêu tiền, mà là phục vụ cho sự hội nhập kinh tế, vừa để nông dân nhận được thiết bị máy móc nông nghiệp, cũng phải ngăn chặn những thiết bị máy móc này bị thất thoát.
Đặc biệt là tránh thất thoát vào tay thổ dân.
Mấy kẻ người Thát Đát đó trong đầu toàn là muốn thông qua đủ loại kênh để có được các loại sản phẩm máy móc của đế quốc, đặc biệt là thứ máy hơi nước này.
Cho nên, mỗi một thiết bị máy móc bán đến các tỉnh hải ngoại, nhất là thiết bị máy móc có máy hơi nước, cái nào cũng phải được đánh số, ghi chép và theo dõi riêng biệt.
Nông hộ mua về dùng thế nào họ không quản, chuyển nhượng trực tiếp cho nông hộ khác họ cũng không quản, nhưng máy kéo hơi nước này thì không được phép biến mất, việc chuyển nhượng giữa các nông hộ bắt buộc phải đăng ký ghi chép.
Giám sát các thiết bị máy móc nông nghiệp này, nhất là từng chiếc máy hơi nước ở phía trên, đó mới là nhiệm vụ chính của công ty Vĩnh Lai.
Và đây cũng chính là lý do vì sao chỉ có công ty mậu dịch do Bộ Quốc xí nắm giữ toàn bộ cổ phần mới được làm việc này, tư bản dân doanh không hề có tư cách đó.
Mặc dù bị hạn chế rất nhiều, nhưng dù sao đi nữa, các chủ nông trại ở Bắc Mỹ thất tỉnh cuối cùng cũng đã có thể mua được máy kéo hơi nước, không ít người sau khi đặt đơn hàng đã bắt đầu tính toán xem năm nay cụ thể nên mở rộng diện tích trồng trọt ra sao, nên trồng cái gì.
Loại này trồng ra cũng không cần lo không bán được, nếu thật sự không được thì bán trực tiếp cho Tổng công ty Lương thực Đại Đường!
Chi nhánh châu Mỹ của Tổng công ty Lương thực Đại Đường đã thông qua tờ Đại Đường Triều Báo phiên bản châu Mỹ để công bố giá bán cũng như giá thu mua hướng dẫn các loại lương thực trong năm nay, giá cả về cơ bản là ngang bằng với năm ngoái.
Mặc dù giá thu mua lương thực của Tổng công ty Lương thực Đại Đường luôn thấp hơn giá thị trường một chút, bán cho họ dường như có chút thiệt thòi, nhưng bạn phải biết rằng việc thu mua của Tổng công ty Lương thực Đại Đường là bao nhiêu cũng lấy hết.
Mấy năm trước, Tân Nam Châu được mùa lúa mì lớn, rất nhiều nông dân tại địa phương lo lắng giá lúa mì sẽ rớt thê thảm, nhưng Tổng công ty Lương thực Đại Đường chi nhánh châu Mỹ vẫn mở rộng cửa thu mua, giá cả vẫn ngang bằng với năm ngoái.
Chuyện kiểu này thường xuyên xảy ra khắp nơi trên Đại Đường, bất kể là được mùa hay mất mùa, Tổng công ty Lương thực Đại Đường luôn đứng ở vị trí tiên phong.
Được mùa thì mở rộng cửa thu mua.
Mất mùa thì mở rộng cửa bán ra.
Giá lương thực vào thời điểm đó tuyệt đối sẽ không vì được mùa mà rớt giá thê thảm, hay mất mùa mà tăng vọt, luôn duy trì ở mức độ hợp lý bình thường.
Tất nhiên, Tổng công ty Lương thực Đại Đường làm vậy thực ra cũng không bị lỗ vốn, dù có lỗ một phần, nhưng phần lớn thì không, số ít thậm chí còn có lãi.
Ví dụ như lương thực ở phía châu Mỹ này, sau khi họ thu mua thường là vận chuyển trực tiếp bằng tàu hàng vạn tấn về bản thổ.
Sau khi vận chuyển về bản thổ, vì giá lương thực hai nơi có sự chênh lệch khá lớn, nên dù cộng cả phí vận chuyển, Tổng công ty Lương thực Đại Đường cũng không bị lỗ, thường là còn kiếm được một khoản nhỏ.
Được rồi, thực ra đối với các hoạt động thương mại cứ động một chút là phải đầu tư vài trăm ngàn tiền vốn, loay hoay cả nửa năm mới kiếm được mấy ngàn Đường nguyên, nếu xét về hành vi thương mại thuần túy thì là lỗ to rồi.
Nhưng Tổng công ty Lương thực Đại Đường đâu phải là công ty thương mại, công ty này là cơ quan hành chính chính hiệu đấy...
Có thể ổn định giá lương thực, đồng thời không bị lỗ, đối với họ mà nói chính là thành công rồi.
Có Tổng công ty Lương thực Đại Đường ở đây, nông dân Đại Đường về cơ bản không cần phải lo lương thực trồng ra không có người mua.
Trước kia thì là có lòng mà không có sức, không trồng được nhiều như vậy, đồng thời giao thông khá khó khăn, nhất là những nơi đường sông không thông suốt, việc dựa vào xe ngựa để vận chuyển có chi phí cao khủng khiếp.
Nhưng bây giờ, kế hoạch đường sắt châu Mỹ cũng đã bắt đầu thực thi, ngoài tuyến đại lộ là đường sắt lớn châu Mỹ ra, còn dự kiến sẽ xây dựng một số tuyến đường sắt nhánh tại các khu vực đông dân cư ở ven biển phía Đông.
Dù sao những nơi này đều là bình nguyên, tu sửa đường sắt thuận tiện vô cùng.
Đã có đường sắt, cộng thêm hệ thống vận tải đường thủy vốn có, điều này đã giúp chi phí vận chuyển giảm xuống không ít.
Nới lỏng hạn chế đường sắt, nới lỏng hạn chế thiết bị máy móc nông nghiệp, chỉ riêng hai hạng mục này thôi cũng đã đủ để lấy lòng những người di dân ở châu Mỹ.
Người bình thường sẽ không quan tâm nhiều đến vậy, họ chỉ quan tâm đến lợi ích của bản thân, mà đối với đại đa số dân cư châu Mỹ, lợi ích của họ chính là lợi ích nông nghiệp.
Chỉ cần sản phẩm nông nghiệp của họ bán được, bán được giá cao, thì họ sẽ ủng hộ phía Kim Lăng.
Ngược lại, họ sẽ đi theo sau những kẻ có dã tâm kia mà hô hào cái gọi là bản địa hóa châu Mỹ gì đó.
Ổn định nhóm nông dân trong số người di dân hải ngoại, và nhập khẩu lượng lớn nông sản hải ngoại, đây là một chính sách cốt lõi trong kế hoạch phát triển kinh tế.
Bởi vì đây cũng là mục tiêu cốt lõi trong sự hội nhập kinh tế, đó chính là gắn kết đại đa số nhóm nông dân ở lãnh địa hải ngoại với bản thổ đế quốc.
Sản lượng lương thực ở lãnh địa hải ngoại nhiều như vậy, bản thân họ không thể tiêu thụ hết, chỉ có thể cung ứng cho thị trường bản thổ.
Một khi mất đi thị trường bản thổ, hệ thống kinh tế của các chủ nông trại ở lãnh địa hải ngoại sẽ sụp đổ trong phút chốc.
Mà đây, chính là bản chất của sự hội nhập kinh tế.
Khiến cho họ từ nay về sau không thể rời xa bản thổ!
Không phải từ tình cảm, mà là từ lợi ích!
Nếu nói nông nghiệp là ổn định nền tảng cơ bản của lãnh địa hải ngoại, thì việc nới lỏng hạn chế đối với khai thác khoáng sản, thương mại và nhiều ngành nghề khác sau đó, chính là để dùng cho việc ổn định tầng lớp sĩ thân ở lãnh địa hải ngoại.