Robert Elsmere

Lượt đọc: 244 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1

❊ ❊ ❊

Đó là một buổi chiều rực rỡ vào những ngày cuối tháng Năm. Mùa xuân năm ấy lạnh và đến muộn hơn hẳn mọi năm; nhìn vào khung cảnh chung của thung lũng Long Whindale vắng vẻ, ai nấy đều thấy rõ rằng hơi ấm và ánh nắng chỉ vừa mới chạm đến những hốc xanh cằn cỗi nơi đây. Những róm cây rải rác đang vội vã khoác lên mình tấm áo mùa hè trọn vẹn, thế nhưng dưới gốc chúng và dọc theo bờ suối, những đóa hoa của tháng Ba và tháng Tư vẫn còn lưu luyến, tựa như chúng không thể tin nổi rằng gã đồng hành cục cằn của mình — cơn gió đông — cuối con đường đã thực sự bỏ rơi chúng. Con đường nhỏ hẹp, sợi dây liên kết duy nhất giữa những ngôi trang trại được che chở bởi các mỏm đá ở đầu thung lũng với những miền đất xa xôi của thị trấn và nền văn minh gợi lên qua làn khói mờ ảo của Whinborough ở chân trời phía nam, được viền quanh bởi những khóm hoa anh đào dại trắng muốt, chạy uốn lượn như một mũi tên trắng xuyên qua thảm cỏ xanh mướt của các sườn đồi. Sườn của một số con lạch nhỏ đổ vào dòng sông chính và nhiều khu rừng quanh các trang trại cũng bừng sáng bởi loài cây ấy, khiến cho những ngôi trang trại với mái xám và tường xám ẩn mình trong các hõm đồi chốc chốc lại như rũ bỏ đi vẻ khắc khổ tự nhiên để hóa trang trong bộ y phục trắng xanh diêm dúa do sự thất thường của mùa xuân áp đặt lên.

Trong phần lớn chiều dài của mình, thung lũng Long Whindale khá bằng phẳng và đơn điệu. Những ngọn đồi ở đoạn hạ lưu thấp và tròn trịa, cừu và gia súc gặm cỏ trên các sườn dốc không bị chia cắt bởi rừng cây hay vách đá. Các cánh đồng trơ trụi và được sẻ ngắn sát gốc bởi những bầy gia súc; những bức tường đá hoặc chạy thẳng đứng lên sườn đồi ở nhiều nơi, hoặc vắt ngang theo chiều dài của chúng, nên ngoại trừ dải rừng ven dòng sông uốn khúc và những hàng rào rậm rạp bụi cây bên đường, toàn bộ thung lũng trông giống như một tấm bản đồ màu xanh bị chia cắt bởi các đường kẻ xám đen đều đặn. Nhưng khi người đi bộ tiến sâu hơn, vượt qua một khúc cua của dòng suối nằm ở giữa đầu thung lũng, những ngọn đồi trở nên dốc hơn, khoảng cách giữa chúng thu hẹp lại, các đường ranh giới bị phá vỡ và bẻ cong bởi những khối đá cùng các khoảng rừng trồng, và vài ngôi trang trại hiện lên táo bạo cùng nổi bật hơn hẳn, mỗi căn nằm trên một mỏm đất, ngước nhìn hoặc quay lưng lại với những vách đá sừng sững khép kín đầu thung lũng — những vách đá ngay từ khoảnh khắc xuất hiện đã mang lại cho nơi đây vẻ uy nghi và nét đẹp hoang dã.

Trên một trong những ngôi nhà cô độc ấy, ánh nắng buổi chiều — vốn chuẩn bị khuất sau dãy đồi chia cắt Long Whindale và Shanmoor — vẫn còn lưu luyến trong buổi chiều tháng Năm mà chúng ta đang miêu tả, làm nổi bật hiên nhà quét vôi trắng và các viền khung cửa rộng màu trắng trên nền đá xám của tòa nhà chính, mái nhà xám nhô ra, cùng cụm cây sung dâu và thông Scotland che chở nơi đây khỏi những cơn gió đông và gió bắc lạnh lẽo. Ánh sáng phương tây rọi thẳng vào một cây sồi đồng, tạo thành một mảng màu ấm áp đầy dễ chịu trước dãy nhà phụ dài màu xám nằm ngang với ngôi nhà chính, đồng thời chạm vào những chùm hoa anh đào dại đang đánh dấu hướng đi lên của con ngõ nhỏ nối trang trại cổ kính với con đường cái; phía trên nó là sườn đồi xanh mướt bị ngắt quãng đây đó bởi những mỏm đá nhô ra, còn bên dưới, mặt đất sụt xuống nhanh chóng qua một khoảng rừng hạt phỉ non — lúc này đang ngập một màu xanh của hoa chuông — hướng về phía mực nước sông. Cả bức trang toát lên một vẻ tươi tắn dịu dàng nhưng cũng vô cùng điềm đạm. Mùa hè ở phương Bắc cũng là khoảng thời gian vạn vật sinh sôi và vui tươi như bao nơi khác, thế nhưng nó hoàn toàn thiếu vắng vẻ trù phú, sự rực rỡ đột ngột và dồi dào thường thấy ở phương Nam. Trong những thung lũng xanh cằn cỗi này, ngay cả vào mùa hè cũng phảng phất một sự khắc khổ mong manh; ký ức về mùa đông dường như vẫn còn vương vấn đâu đây trên những sườn đồi lộng gió, quanh những ngôi trang trại với bức tường thô ráp bền bỉ xây cùng loại đá với vách đá phía sau, và những khe núi nơi những con lạch cạn nước róc rách chảy qua đống đổ nát của vô số tháng Mười Hai. Xứ sở này vui tươi, nhưng là một niềm vui điềm tĩnh. Thiên nhiên tỏ ra thân thiết với con người, nhưng không hề mang lại cảm giác say đắm hay mê muội. Con người vẫn hoàn toàn đủ sức chống lại thiên nhiên, sống cuộc đời độc lập của riêng mình với lao động và ý chí, đồng thời nuôi dưỡng sự bền bỉ của những cảm xúc kín đáo, thứ cường độ mục đích lớn dần chậm rãi mà thường bị dụ dỗ mất đi bởi những bùa phép của phương Nam.

Vẻ bề ngoài từ đằng xa của Burwood Farm không có gì khác biệt so với một vài trang trại thưa thớt nằm rải rác trên sườn đồi hoặc tụ tập bên dòng sông giữa nơi đây và điểm tận cùng đá sỏi của thung lũng. Nhưng khi đến gần hơn, một số dấu hiệu khác biệt bắt đầu hiện ra. Khu vườn, thay vì là một chốn lộn xộn mang phong cách cổ xưa gồm hoa phăng, bụi hoa oải hương, hoa hồng tháng Năm, cây lý gai, thảo mộc và cỏ pampas mà những người vợ nông dân ở Long Whindale yêu thích làm đầy các khoảng sân trước nhà, lại được cắt tỉa ngăn nắp với thảm cỏ chấm phá những luồng hoa gọn gàng, vào thời điểm chúng ta đang viết đây đang nở rộ những khoảng hoa hải quỳ đỏ tím, hoa tường vi và hoa pansy được sắp xếp trật tự. Bên hông nhà, một ô cửa sổ lồi mới — với kích thước và kiểu dáng khá khiêm tốn — được trổ ra hướng về một khoảng cỏ cắt sát khác, qua gợi ý về một trật tự văn minh xa xôi nào đó, đã làm phá vỡ ấn tượng mộc mạc mà những bức tường phủ đầy dây thường xuân nguyên bản, mái hiên giả dị và bệ cửa sổ rộng bằng đá phiến ở mặt tiền mang lại. Và rõ ràng là dãy nhà kho nằm ngang với nhà ở không còn dùng để che chở cho gia súc, xe cộ hay nông cụ vốn là số vốn nhỏ nhoi của một người nông dân Westmoreland nữa. Các ô cửa sổ trên đó còn rất mới, cửa ra vào được sơn mới và đóng kín mít; những tấm rèm bằng chất liệu mềm mại xa lạ xuất hiện ở nơi từng là chuồng ngựa, và thảm cỏ trải dài mượt mà cho đến tận lối đi rải sỏi hẹp phía trước, không một dấu chân làm xáo trộn. Không, rõ ràng là ngôi trang trại cũ kỹ này — bởi nó chắc chắn là thế — chỉ mới gần đây, hoặc tương đối gần đây, được biến đổi thành những công dụng mới mẻ và mềm mại hơn; lối sống du mục thô sơ từng là biểu tượng và trung tâm của nó nay không còn khua khoắng ồn ào qua đây nữa. Nơi này đã trở thành chốn dung thân cho những lý tưởng mới, là mái nhà của một giống người khác biệt và ôn hòa hơn so với những chủ nhân thuở trước.

Đối với một người lữ khách tình cờ ghé qua ngôi nhà lần đầu tiên vào buổi chiều đặc biệt này, cảm giác về một trật tự xã hội đang đổi thay và một quá khứ đang phai mờ — được tạo ra bởi những thay đổi nhỏ nhưng đầy ý nghĩa mà nơi đây đã trải qua — sẽ càng trở nên sâu sắc hơn bởi những âm thanh nào đó đang tuôn trào ra khoảng không gian buổi chiều từ một trong các gian của dãy nhà phụ một tầng dài gắn liền với tòa nhà chính mà chúng ta đã miêu tả. Có một nhạc công không biết mệt mỏi nào đó ở bên trong đang miệt mài tập violin với sức sống và năng lượng đáng ngạc nhiên, và ngay trong khu vườn nhỏ, tiếng róc rách xa xôi của dòng sông cùng nhịp thở nhẹ nhàng của cơn gió tây thổi quanh sườn đồi đã hoàn toàn bị lấn át và xua đuổi bởi những tiếng luyến láy đắc thắng, hay bởi những khúc biến tấu và đoạn giai điệu trữ tình rộng mở trích từ một bản Andante của Spohr. Trong chốc lát, khi mặt trời hạ thấp dần về phía những ngọn đồi Shanmoor, người nghệ sĩ ẩn mình ấy hoàn toàn làm chủ cuộc chơi; thung lũng và những không gian xanh của nó như bị chiếm lĩnh bởi dòng âm thanh xoáy lốc ấy, và không một dấu hiệu sự sống nào khác phá vỡ sự tĩnh lặng xám xết của ngôi nhà. Nhưng cuối cùng, đúng lúc quả cầu vàng chạm tới đỉnh ngọn đồi hiểm trở — ranh giới phía tây của thung lũng ở mút trên — cửa nhà mở ra, và một thiếu nữ, quàng khăn và ôm một bọc mềm trên tay, xuất hiện ở ngưỡng cửa, đứng đó trong chốc lát như thể đang thử nghiệm chất lượng không khí bên ngoài. Khoảng dừng khảo sát của cô có vẻ đã làm cô hài lòng, bởi cô bước tới, để ngỏ cánh cửa phía sau lưng, rồi băng qua bãi cỏ, an vị trên một chiếc ghế mây dưới gốc cây táo vừa mới rụng hết hoa xuống thảm cỏ bên dưới. Cô vừa ngồi xuống thì một trong những cánh cửa từ đằng xa mở ra hướng về lối đi rải s__|... bỗng bật mở, và một thiếu nữ khác — một sinh vật mảnh mai khoác trên mình bộ cánh mang phong cách thẩm mỹ với tông màu xanh lam, mái nhà tóc nâu đỏ bay bổng sau khuôn mặt — cũng bước ra vườn.

— Agnes! — người mới đến gọi, mang theo bầu không khí căng thẳng và phờ phạc đặc trưng của một người vừa chui ra sau buổi tập violin kéo dài. — Catherine đã về chưa?

— Không có gì là tao biết cả. Lại đây mà xem con mèo này; mày đã thấy bao giờ nó ra dáng thoải mái thế này chưa?

— Mày và nó trông lười biếng y như nhau. Cả buổi chiều mày làm gì thế?

— Tao trông thế nào thì là thế ấy, em yêu ạ. Làm gì ư? Ồ, tao đã chăm lo cho các nghĩa vụ gia đình của mình, cắm hoa, sửa lại chiếc váy hồng cho tối mai, và giúp mẹ giữ tinh thần thoải mái; mẹ đang buồn rầu vì phát hiện ra chuyện Elizabeth phung phí cái gì đó, và tao đã thuyết giảng cho mẹ rằng cứ làm cho Elizabeth khó chịu nếu mẹ thích, nhưng đừng có tự dằn vặt bản thân. Và rốt cuộc, tao với con mèo nhỏ đã ra đây để nghỉ ngơi. Bọn tao xứng đáng được thế, phải không Chattie? Còn mày, cô nàng nghệ sĩ ạ, tao rất muốn biết từ sau bữa trưa đến giờ mày đã làm gì vì lợi ích của đồng loại. Chắc là mày uống trà ở nhà xứ phải không?

Người đang nói ngước đôi mắt đầy dò hỏi lên nhìn người em gái, má vùi vào bộ lông ấm áp của một chú mèo Ba Tư lộng lẫy, toàn bộ dáng vẻ và giọng nói toát lên mức độ cao nhất của sự điềm tĩnh, thoải mái và tự chủ. Agnes Leyburn không hề xinh đẹp; phần nửa dưới khuôn mặt có nét hơi thô ở đường viền và cấu trúc; hàm răng không được đẹp cho lắm và chiếcếc mũi thì có phần kém xinh. Thế nhưng đôi mắt ẩn dưới hàng lông mi dài lại toát lên vẻ tinh anh tột độ, và giọng nói của cô mang một nét cá tính riêng biệt, một vẻ điềm đạm vui tươi trong cả ánh nhìn lẫn giọng điệu, để lại ấn tượng dễ chịu cho người bên cạnh. Trang phục của cô gọn gàng và trang nhã; mọi chi tiết đều tố lên một cô gái trẻ biết tôn trọng cả bản thân lẫn thời trang.

Ngược lại, người em gái của cô lại hoàn toàn chẳng mảy may bận tâm đến thời trang. Váy của cô được cắt may với nét ngây thơ đầy cuốn hút, cô đeo rất nhiều hạt hổ phách, và mái tóc nâu đỏ đã được uốn xoăn rối bù để trông giống một vầng hào quang nhất có thể. Nhưng bù lại, cô lại là một mỹ nhân, dẫu rằng lúc này bạn cảm thấy cô là một mỹ nhân đang giấu mình, giống như một nàng Lọ Lem trên sân khấu trong những khúc giẻ rách đầy quyến rũ, đang chờ đợi bà tiên đỡ đầu.

— Vâng, em đã uống trà ở nhà xứ, — cô thiếu nữ này nói, ngả mình lên bãi cỏ bất chấp lời phản đối lẩm bẩm của Agnes — người vốn có ác cảm bẩm sinh với bất kỳ hành động liều lĩnh thể xác nào, — và em đã gặp vô vàn khó khăn mới chuồn về được. Mrs. Thornburgh đang bấn loạn cả lên vì chuyến viếng thăm này! Cứ làm như đó là Giám mục cùng toàn bộ các vị Kinh sĩ và việc thăng chức phụ thuộc vào chuyến đi ấy không bằng, bà ấy nướng bao nhiêu là bánh và bày ra biết bao nhiêu là khăn ăn! Em không thèm ghen tị với anh chàng trẻ tuổi ấy đâu. Bà ấy sẽ chẳng còn chút tỉnh táo nào để mà tiếp chuyện anh ta nữa. Rốt cuộc em phải chữa cháy bằng một liều tinh dầu amoniac cho bà ấy đấy.

— Thế rồi, sau liều tinh dầu amoniac ấy, mày có moi được câu nào ra hồn từ bà ấy về anh chàng kia không?

— Dần dần chứ, — cô gái đáp, đôi mắt lấp lánh; — nếu người ta cứ cố nhớ được sợi dây liên kết giữa các câu chuyện thì thế nào cũng túm được sự kiện thôi. Xen giữa cái chết của cha Mr. Elsmere và việc anh ta vào đại học, chúng ta có — để xem nào — rèm cửa phòng dành cho khách, cách may và giặt chúng, sự ng u ngốc của con mụ Sarah cứ bám lấy gã người yêu tồi tệ, giá trà lúc mụ ta kết hôn, sở thích kỳ lạ của Mr. Thornburgh là ăn cừu luộc thay vì cừu quay, những bài thơ bà ấy từng viết tặng bản thân khi mười tám tuổi, và tá lả thứ khác nữa mà em không sao kể hết. Nhưng em đã giữ vững lập trường, và cứ thỉnh thoảng em lại khéo léo nhưng cương quyết kéo bà ấy quay lại chủ đề chính, và giờ thì em nghĩ mình đã biết mọi thứ cần biết về vị khách thú vị này rồi.

— Những ý niệm của chị về anh ta chẳng có mấy, — Agnes vừa nói vừa cọ má nhẹ nhàng lên bộ lông con mèo đang rừ rừ, — và hình như chúng chẳng có trật tự gì sất. Anh ta rất tài năng — là một người kiêng rượu tuyệt đối — từng đến Thánh địa, và tóc bị cắt ngắn lởm chởm sau một cơn sốt. Nghe có vẻ kỳ quặc, nhưng chị chẳng thấy tò mò chút nào. Chị hoàn toàn có thể chờ đến tối mai.

— Ồ, chà, nói về những ý niệm về một con người thì chẳng ai lại đi mong đợi điều đó từ Mrs. Thornburgh cả. Nhưng em biết anh ta bao nhiêu tuổi, học đại học trường nào, mẹ anh ta sống ở đâu, một số đặc điểm tính cách của mẹ anh ta — có vẻ rất Ireland và kỳ quặc, nhà xứ của anh ta ở đâu, giá trị bao nhiêu, và thậm chí cả màu mắt của anh ta nữa, theo như những gì Mrs. Thornburgh có thể khai thác được.

— Mày bứt phá xa thế cơ à? — Agnes lười biếng nói. — Thế nhưng điều gì khiến bà cụ tội nghiệp ấy phấn khích đến thế?

Rose ngồim thẳng dậy và bắt đầu ném những quả thông nằm vãi quanh mình về phía một mục tiêu đằng xa với năng lượng xứng đáng với vóc dáng hoàn hảo cùng sự tự do phóng khoáng chuẩn gu thẩm mỹ của cô.

— Vì, em yêu ạ, Mrs. Thornburgh lúc này lúc nào cũng tự coi mình như một kẻ âm đang ngồi cầm diêm châm ngòi quả mìn. Mr. Elsmere chính là ngòi diêm — còn chúng ta là quả mìn!

Agnes nhìn em gái, và cả hai cùng bật cười, nụ cười trong trẻo lăn tăn của những cô gái trẻ thừa hiểu giá trị bản thân và chẳng vội vàng áp đặt cái giá đó lên thế giới đàn ông.

— Chà, — Rose thong thả nói, má ửng hồng vì vận động, mắt lấp lánh, — biết thế nào được. „Gần thường sinh gần“ — như Mrs. Thornburgh vẫn luôn nhắc nhở chúng ta đấy thôi. — Nhưng mà Catherine đâu rồi nhỉ? Chị ấy đi ra ngoài ngay sau bữa trưa mà.

— Chị ấy ra thăm cậu thanh niên bị đau lưng ở nhà Tynes — ít nhất là chị ấy nói chuyện với mẹ về việc đó, và chị ấy đi với một cái giỏ trông giống như có đựng nước súp thịt bò.

Rose hơi nhíu mày.

— Và em đoán là lẽ ra em nên đến trường hoặc thăm Mrs. Robson, thay vì ngồi kéo đàn suốt cả buổi chiều. Chắc chắn là em nên thế — chỉ có điều, ngặt một nỗi là em thích cây đàn của mình, chứ không thích những căn phòng ngột ngạt; còn mấy quyển sách đạo đức ấy, em đọc tệ đến mức mấyà già còn phải mắng ngược lại em cơ mà.

— Chị thì hình như đang tận hưởng mặt tốt của cả hai thế giới, — Agnes điềm tĩnh đáp. — Chị chẳng làm cái gì mà chị không thích cả, nhưng chị đã cầm lấy chiếc váy mà con bé đem về để may cho bé Emma Payne và gần như hoàn thành phần tùng váy rồi, thế nên chị thấy lòng thanh thản hệt như khi đi lễ nhà thờ hai bận vào ngày Chủ nhật mưa gió. À, kìa Catherine. Chị nghe thấy tiếng cổng rồi.

Vừa dứt lời, tiếng bước chân đã vang lên từ phía lùm cây che khuất chiếc cổng nhỏ vào vườn, và khi Rose vùng đứng dậy, một dáng người cao trong trang phục trắng xám hiện ra trên nền cây sung dâu, sải bước nhanh về phía hai chị em.

— Các em yêu, chị xin lỗi nhé; chị sợ các em phải chờ chị lâu. Nhưng khổ nỗi bà Tyson cần chị quá nên chị không thể dứt ra được. Chẳng có ai ở bên cạnh hay giúp đỡ bà ấy cho đến khi đứa con gái lớn đi làm về.

— Chẳng sao đâu ạ, — Rose nói khi Catherine vòng tay ôm lấy vai cô; — mẹ có số ruột gan gì đâu, còn Agnes thì trông cứ như chẳng bao giờ muốn nhúc nhích nữa ấy.

Đôi mắt trong veo của Catherine — lúc này trông như đang ánh lên thứ ánh sáng nội tâm được thắp lên bởi một trải nghiệm vừa trải qua — dừng lại đầy trìu mến nhưng chỉ với một nửa ý thức trên người cô em út, khi Agnes khẽ gật đầu mỉm cười với chị. Rõ ràng là cô lớn tuổi hơn hẳn hai người kia — cô trông khoảng hai mươi sáu tuổi, một người phụ nữ trẻ trung và vạm vỡ ở độ tuổi sung mãn nhất về sức khỏe lẫn thể lực. Dáng người có phần hơi gầy và mảnh dẻ, nhưng đã được làm dịu đi bởi chiếc áo bó rộng và chiếc chân váy dài buông thả, cùng những nếp gấp của chiếc khăn tay bằng vải muslin trắng lớn bắt chéo trước ngực. Khuôn mặt được che khuất bởi chiếc mũ vành rộng giản dị cũng có chút khuyết điểm về nhan sắc do những đường nét hơi sắc cạnh quanh cằm và miệng, cùng đôi gò má hơi cao, nhưng đôi mắt màu xám xanh thẫm thì rất đẹp, chiếcếc mũi thanh tú, trán phẳng mịn đẹp đẽ, trong khi làn da bắt lấy vẻ tươi tắn và tinh khôi của không khí lẫn những con suối ở Westmoreland. Thoạt nhìn gương mặt lẫn vóc dáng, người ta thấy phảng phất một vẻ quyến rũ mộc mạc khắc khổ, thứ gì đó hòa hợp với những sườn đồi trải dài hoang vắng và các mỏm đá cô quạnh, thứ gì đó khiến cô trông như một người con thực thụ của miền núi cao, vừa thừa hưởng sự dịu dàng lại vừa mang nét nghiêm nghị của chúng. Cô thuộc về nơi này, bên cạnh ngôi nhà mộc mạc xứ Westmoreland và dưới bóng râm của những ngọn đồi. Khi bạn mới nhìn thấy hai người em gái, bạn sẽ tự hỏi cơ may quái quỉ nào đã đưa họ đến với thung lũng hẻo lánh ít người thưa thớt ấy; rõ ràng họ là những kẻ lưu vong, và là những kẻ lưu vong đầy ý thức khỏi sự náo nhiệt và phấn khích của một đời sống xã hội phong phú hơn. Thế nhưng Catherine lại gây ấn tượng như một phiên bản tinh tế hơn của thổ nhưỡng nơi đây; bạn có thể tìm thấy rất nhiều người giống cô — theo một nghĩa nào đó — giữa những người phụ nữ nghiêm nghị hiền hậu ở các trang trại lân cận. Giờ đây, khi cô và Rose đứng cạnh nhau, bàn tay cô vẫn đặt nhẹ lên vai người em, một câu hỏi từ Agnes đã quét sạch nụ cười nhạt trên môi cô, chỉ để lại vẻ sáng bừng nội tâm, biểu cảm của một người vừa bước qua — có thể nói thế — một khoảnh khắc sống kiên cường và anh dũng, và vẫn đang chìm đắm trong sự thăng hoa của ký ức.

— Thế ra anh chàng tội nghiệp ấy nặng hơn à?

— Ừ. Bác sĩ Baker, người đến khám hôm nay, bảo cột sống đã bị tổn thương vô phương cứu chữa. Cậu ấy có thể sống tiếp trong cảnh bại liệt thêm vài tháng hoặc lâu hơn, nhưng hoàn toàn không có hy vọng chữa khỏi.

Cả hai cô gái đều thốt lên một tiếng kêu bàng hoàng. — Một thanh niên khỏe mạnh vạm vỡ thế cơ mà! — Rose thì thầm. — Cậu ấy biết chưa?

— Rồi; lúc chị đến thì bác sĩ vừa đi, và Mrs. Tyson — người hoàn toàn không chuẩn bị tinh thần cho điều khủng khiếp nhường ấy — trông như đã mất hết hồn vía, tội nghiệp bà ấy! Chị tìm thấy bà ở căn bếp trước với chiếc tạp dề trùm lên đầu, ngồi ngả người qua lại, còn tội nghiệp Arthur ở phòng bên trong — hoàn toàn cô độc — đang chờ đợi trong sự thấp thỏm.

— Thế ai đã nói cho anh ấy biết? Anh ấy vẫn luôn tràn đầy hy vọng cơ mà.

— Chị, — Catherine nhẹ nhàng đáp; — họ bắt chị phải làm thế. Cậu ấy muốn biết sự thật, còn mẹ cậu thì không thể — bà ấy đã chạy vụt khỏi phòng. Chị chưa từng thấy cảnh nào xót xa đến thế.

— Ôi, Catherine! — Rose thốt lên với giọng xúc động, trong khi Agnes đứng bật dậy và Chattie lững thững nhảy phắt khỏi lòng cô, chẳng ai màng tới nữa.

— Cậu ấy chịu đựng thế nào?

— Đừng hỏi chị, — Catherine nói, trong khi những giọt nước mắt lặng lẽ dâng ngập đôi mắt và giọng cô nghẹn ngào khi những cảm xúc kìm nén bộc phát. — Thật khủng khiếp! Chị không biết làm thế nào mà hai bác cháu chị vượt qua nổi nửa tiếng đồng hồ ấy. Giống như đang vật lộn với một ai đó đang oằn mình trong cơn đau đớn quằn quại. Cuối cùng cậu ấy kiệt sức — cậu ấy để cho chị đọc Kinh Lạy Cha; chị nghĩ nó giúp cậu ấy dịu lại, nhưng chẳng thể chắc được. Cậu ấy trông như chìm vào giấc ngủ nửa vời lúc chị rời đi. Ôi! — cô kêu lên, siết chặt tay lên cánh tay Rose, — nếu em nhìn thấy đôi mắt của cậu ấy, và đôi bàn tay tội nghiệp ấy — có quá nhiều sự tuyệt vọng trong đó! Người ta bảo, dù còn trẻ thế, cậu ấy đã tính chuyện lập gia đình; và cậu ấy lại rất chăm chỉ, là một người con ngoan!

Một sự im lặng bao trùm lấy cả ba người. Catherine đứng nhìn đằng xa qua thung lũng hướng về phía hoàng hôn. Giờ đây, khi nhu cầu phải giữ bình tĩnh và kiên cường không còn nữa, và khi sự thăng hoa tôn giáo giúp cô trải qua ba tiếng đồng hồ vừa qua đang nhạt dần, nỗi xót thương thuần chất con người của cảnh tượng vừa chứng kiến dường như đang tràn ngập lấy cô. Môi cô run rẩy, và hai ba giọt nước mắt lặng lẽ lăn dài. Rose quay sang dịu dàng hôn lên má chị, còn Agnes thì âu yếm chạm tay cô. Cô mỉm cười với họ, bởi bản tính cô không cho phép bất kỳ dấu hiệu yêu thương nào trôi qua trong vô vọng, và chỉ vài giây sau cô đã làm chủ lại được bản thân.

— Các em yêu, chúng ta phải vào nhà thôi. Mẹ có ở trong phòng không? Ôi, Rose! Mặc chiếc váy mỏng tang nằm trên bãi cỏ thế kia; lẽ ra chị không nên bắt em ở ngoài lâu. Giờ thì lạnh lắm rồi đấy.

Và cô giục giã hai cô em đi vào, để mặc họ giám sát việc chuẩn bị bữa tối ở tầng dưới trong lúc cô chạy lên phòng mẹ.

Mười lăm phút sau, tất cả đã quây quần bên bàn ăn tối, các ô cửa sổ mở toang ra hướng khu vườn và chạng vạng tháng Năm. Ngồi bên tay phải Catherine là Mrs. Leyburn, một phụ nữ cao gầy mang vẻ đẹp mong manh, quàng chiếc khăn choàng trắng, người chỉ có ba điểm đáng chú ý — một tính cách ôn hòa, một chút sức khỏe kém vừa đủ để viện cớ khỏi những nghĩa vụ phiền toái nhất trong đời, và một thói quen không thể sửa chữa là ca tụng các cô con gái mọi lúc mọi nơi trước mặt mọi người. Các cô con gái thường co rúm lại vì điều đó: Catherine, bởi việc bị lôi ra bàn tán mang lại cho cô sự đau đớn thực sự; những người còn lại, vì tuổi trẻ thấu hiểu hơn hết mong muốn tự lập nên những dấu ấn của riêng mình theo cách riêng. Thế nhưng, chẳng có gì có thể sửa chữa được khuyết điểm này ở Mrs. Leyburn cả. Sức mạnh ý chí của Catherine đôi khi có thể kìm hãm nó lại, nhưng nhìn chung thì đành phải ngậm ngùi chịu đựng. Một lời sắc sảo có thể làm câm ném tiếng lải nhải thiện chí của người mẹ bất cứ lúc nào — bởi bà là một người phụ nữ mong manh, hay lo lắng và hoàn toàn phụ thuộc vào môi trường xung quanh — nhưng chẳng ai trong số họ làm thế được, và sự bướng bỉnh cỏn con của họ chẳng tính là gì.

Phòng ăn nơi họ tụ họp mang một vẻ uy nghi mộc mạc đậm chất gia đình, và đối với nhà Leyburn, nơi đây tràn ngập những hoài niệm. Chiếc ghế dài bằng gỗ sồi gần lò sưởi, chiếc tủ đựng bát đĩa bằng gỗ sồi chạy dọc một bên tường, chiếc bàn gỗ sồi màu đen với những chân chạm trổ mà họ đang ngồi quây quần, đều là những món đồ cổ chính hiệu xứ Westmoreland từng thuộc về ông nội họ. Tấm thảm dày trải trên sàn đá của cái phòng vốn hai mươi năm trước là nhà bếp của trang trại là di vật sót lại từ một ngôi nhà ở miền nam nước Anh từng che chở cuộc đời họ suốt tám năm hạnh phúc. Phía trên lò sưởi treo bức chân dung người cha quá cố của các cô gái, một khuôn mặt dài và nghiêm nghị, hình dáng phảng phất nét mặt của Wordsworth và có nét tương đồng mạnh mẽ với Catherine; một hàng tranh cắt giấy hình bóng đen trang trí bệ lò sưởi; trên tường là các bức tranh khắc các nhà thờ lớn Winchester và Worcester, những bức ảnh chụp Hy Lạp, cùng hai bức tranh khắc cổ điển vẽ Dante và Milton; trong khi một tủ sách — dường như đựng đầy sách vở thời đại học, giải thưởng đại học của cha và những tác giả yêu thích nhất trong những năm cuối đời của ông, chủ yếu là các nhà thơ, triết gia và nhà thần học — mang lại điểm nhấn cuối cùng cho sự ấm cúng đầy tính sinh hoạt của căn phòng. Bữa ăn nhỏ cùng các vật dụng đi kèm — trứng, bánh mỳ tự làm cùng mứt, bơ hấp dẫn và những món đồ bạc cổ kính lấp lánh giữa những khóm hoa được Rose sắp xếp với sự khéo léo đầy ngẫu hứng trong những chiếc lọ Nhật Bản do chính cô chuẩn bị — gợi lên cùng những phẩm chất gia đình như căn phòng vậy. Sự tiết kiệm, lòng tự trọng cá nhân trang nhã, ý thức gia đình gắn bó bền chặt với ký ức và ân cần nâng niu từng món đồ vật nhỏ bé vốn là biểu tượng cho những ký ức ấy — rõ ràng tất cả những yếu tố này đều thấm sâu vào truyền thống nhà Leyburn.

Và trong truyền thống ấy, với những lời khẳng định và phủ nhận ngầm hiểu, rõ ràng Catherine Leyburn, người chị cả, là hiện thân rõ nét nhất trong số tất cả những con người quây quần trong căn phòng nhỏ này. Cô ngồi đầu bàn, chiếc giỏ đựng chìa khóa của cô và mẹ nằm ngay bên cạnh. Bộ trang phục của cô là chiếc áo đầm bằng gấm đen mềm mại, với cổ áo và cổ tay bằng ren, từng thuộc về một người dì bên họ mẹ. Nó hơi già so với tuổi của cô cả về kiểu dáng lẫn chất liệu, nhưng lại mang đến cho cô một vẻ uy nghi dịu dàng, suýt soát phong thái của một người phụ nữ đã gia thất, rất hợp với cô. Đôi bàn tay dài gầy guộc, đầy nét cá tính và thanh tú, di chuyển thoăn thoắt giữa những tách trà; mọi cử chỉ của cô đều điềm tĩnh nhưng quả quyết. Rõ ràng trong nhóm nhỏ này, cô — chứ không phải người mẹ sướt mướt — mới là người thực sự nắm quyền uy. Tuy nhiên, tối nay nét mặt cô đặc biệt mềm mại. Cảnh tượng cô trải qua vào buổi chiều đã để lại cho cô vẻ xanh xao, với những dấu hiệu mệt mỏi kiên nhẫn quanh mắt và miệng, nhưng mọi xúc cảm đã tan biến, và cô đang dốc lòng vì những người khác, hưởng ứng với sự quan tâm nhanh nhạy cùng những nụ cười sẵn sàng cho mọi điều họ muốn nói, đồng thời kể lại những trải nghiệm nhỏ nhoi trong ngày của chính mình để đáp lại.

Rose ngồi bên tay trái cô trong một chiếc váy khác mang màu sắc kỳ lạ và kiểu dáng cổ kính. Những chiếc váy của Rose nhiều như quân Nguyên. Chúng được may bởi con gái một người nông dân bên kia thung lũng, dưới sự giám sát nghiêm ngặt và chính xác của cô. Cô vốn có thói quen, như cô từng mạnh dạn tuyên bố, là tự giam mình vào đầu mỗi mùa trong năm trong suốt hai ngày để suy ngẫm về đề tài này. Và giờ đây, nhờ có hơi ấm mùa xuân, cuối cùng cô cũng đang tận hưởng trọn vẹn thành quả từ những đêm thức trắng cầu nguyện hồi tháng Tư của mình.

Catherine đã ngắm nhìn cô khi bước vào phòng với một nụ cười, nhưng nụ cười ấy không hoàn toàn vừa ý Rose.

— Gì nữa thế, Röschen? — cô đã cất lời, với đôi lông mày khẽ nhướng lên một chút. — Em chưa từng tâm sự với chị điều đó. Em nghĩ chị không xứng đáng với món đồ nghệ thuật thế này chắc?

— Không hề ạ, — Rose điềm tĩnh đáp, ngồi xuống ghế. — Em nghĩ chị bận việc quan trọng hơn cơ.

Nhưng một màu hồng vụt bay qua đôi má trong suốt của cô, và lát sau cô liếc mắt đầy khó chịu sang phía Agnes — người nãy giờ cứ nhìn cô rồi lại nhìn Catherine với đôi mắt đầy thích thú.

— Chị vừa gặp Mr. Thornburgh và Mr. Elsmere lái xe từ ga về, — Catherine bất ngờ thông báo; — ít nhất là có một quý ông đội mũ rộng Vành kiểu giáo sĩ, mang theo vali phía sau, nên chị đoán chắc chắn là anh ta rồi.

— Trông có triển vọng không chị? — Agnes dò hỏi.

— Chị nghĩ là chị không để ý, — Catherine đơn giản đáp, nhưng nét mặt thoáng thay đổi chớp nhoáng. Các cô em gái, nhớ lại cách chị bước vào nhà với vẻ mặt của một kẻ «được nhấc bổng lên», liền hiểu tại sao chị không để ý, và kìm lại không hỏi thêm nữa.

— Chà, chỉ mong là anh chàng trẻ tuổi ấy đủ sức chống chọi với các cuộc vui chơi ở Long Whindale, — Rose nói. — Mrs. Thornburgh định thả phanh họ đầu độc anh ta vào tối mai đấy.

— Ai sẽ đến thế? — Mrs. Leyburn háo hức hỏi. Những bữa tiệc trà lác đác trong vùng luôn là niềm phấn khích không bao giờ dứt đối với bà, đơn giản vì qua việc trang điểm chút ít phù hợp với dịp lễ, chúng giúp bà ngắm nhìn các cô con gái dưới những góc độ mới mẻ đôi chút. Được nhìn Catherine — người chẳng bao giờ bận tâm đến ngoại hình — bị ép mặc chiếc váy trắng, đeo chuỗi ngọc trai quanh cổ đầy đặn, cài một đóa hoa lên mái tóc nâu bởi những ngón tay kiêu kỳ của Rose; được ngồi ở một góc khuất gió để ngắm nhìn hiệu ứng từ nhan sắc chớm nở của Rose và thấm đượm những lời khen ngợi của chòm xóm dành cho ngón đàn của Rose, khả năng trò chuyện của Agnes, hay tài năng thực tế của Catherine — đó chính là niềm đam mê của Mrs. Leyburn, và một bữa tiệc trà luôn thỏa mãn bà trọn vẹn.

— Mẹ cứ hỏi cứ như thể mẹ thực sự muốn có câu trả lời ấy, — Agnes khô khốc nhận xét. — Mẹ yêu ơi, chẳng nhẽ đến giờ này mà mẹ vẫn không tự vẽ ra được một bữa tiệc trà ở nhà Mrs. Thornburgh trong đầu mình sao?

— Gia đình Seaton nhỉ? — Mrs. Leyburn dò hỏi.

— Mrs. Seaton và cô Barks, — Rose đáp. — Cha xứ sẽ không đến đâu ạ. Và em khỏi phải nói, sau khi đã làm trời làm đất để mời được Mrs. Seaton thì giờ đây Mrs. Thornburgh lại đang khổ sở vì mời được bà ta. Tham vọng được thỏa mãn, nhưng bà ấy thừa biết mình đã làm hỏng bét bữa tiệc. À vả lại, tất nhiên là có Mr. Mayhew, con trai ông ấy, cùng cây sáo của anh ta nữa.

— Mày sẽ đệm đàn cho anh ta chứ? — Agnes thâm trầm chêm vào. Môi Rose cong lên.

— Trừ phi cô Barks biết chuyện đó, — cô dứt khoát đáp, — hoặc trừ phi em biết. Gia đình Baker, dĩ nhiên rồi, chính chúng ta, và nhân vật bí ẩn kia.

— Bác sĩ Baker lúc nào cũng dễ mến, — Mrs. Leyburn ngả người ra sau, uể oải quấn chiếc khăn choàng trắng quanh người. — Hồi nọ bác ấy bảo với mẹ, Catherine ạ, rằng nếu không có con thì bác ấy phải xin nghỉ hưu rồi. Bác ấy coi con như cộng sự cấp dưới của mình ấy chứ. „Cô con gái lớn của nhà mình có tài chăm sóc người bệnh thật tuyệt vời, Mrs. Leyburn ạ“, bác ấy bảo thế hôm nọ. Quả là một người cực kỳ dễ chịu.

— Không biết liệu ngày kia em có moi nổi vài ý kiến thẳng thắn từ Mr. Elsmere ra không nhỉ? — Rose trầm ngâm nói. — Thật khó mà tránh khỏi việc có chút ấn tượng nào đó về Mrs. Seaton.

— Các vị tiến sĩ Oxford không bao giờ buôn chuyện và chẳng đời nào thật thà đâu, — Agnes nghiêm nghị nhận xét.

— Thế thì các vị tiến sĩ Oxford chán chết được! — Rose kêu lên. — Dù sao đi nữa, — và nét mặt cô bừng sáng, — nếu anh ta ở đây bốn tuần, bọn mình có thể uốn nắn anh ta.

Trong khi đó, Catherine ngồi nhìn hai cô em với sự bao dung dịu dàng của người chị cả. Phải chăng chính vì vẻ ngoài rạng rỡ thu hút của chúng mà ý nghĩ ấy thoảng qua đầu cô: „Không biết chàng trai trẻ kia trông sẽ thế nào nhỉ?“

— Ồ nhân tiện, — Rose nói tiếp, — suýt nữa em quên mất hai lời nhắn của Mrs. Thornburgh. Em đã thông báo với Agnes rằng chị đã từ bỏ màu nước và định chuyển sang vẽ sơn dầu, và bà ấy bảo em phải nài nỉ chị đừng làm thế, vì „vẽ màu nước trông ra dáng tiểu thư khuê nữ hơn sơn dầu nhiều“. Còn về phần chị, Catherine, bà ấy gửi một lời nhắn vô cùng đặc biệt. Em phải nói với chị rằng bà ấy cực kỳ thích kiểu tóc tết dạo này của chị — rằng nó y hệt bức tranh nàng Jeanie Deans mà bà ấy treo trong phòng khách, và bà ấy sẽ không bao giờ tha thứ cho chị nếu tối mai chị không tết tóc kiểu đó đấy.

Catherine hơi đỏ mặt khi đứng dậy khỏi bàn.

— Mrs. Thornburgh có đôi mắt cú vọ thật đấy, — cô vừa nói vừa bước đi để đỡ tay mẹ — người đang nhìn cô đầy trìu mến và cất lời ca ngợi gu thẩm mỹ của Mrs. Thornburgh.

— Rose! — Agnes phẫn nộ kêu lên khi hai người kia đã đi khuất. — Mày với Mrs. Thornburgh đúng là mất hết cả khôn ngoan rồi đấy. Mày nói câu đó với Catherine làm cái quái gì cơ chứ?

Rose ngẩn người; rồi mặt cô xị xuống một chút.

— Em nghĩ thế là ngốc nghếch thật, — cô thừa nhận. Rồi cô chống đầu bằng một tay và dùng tay kia vẽ những đường nét vẩn vơ lên khăn bàn. — Chị biết đấy, Agnes, — lát sau cô ngẩng lên nói, — việc có một vị thánh Elizabeth làm chị gái cũng có lắm nỗi phiền toái đấy.

Agnes khôn khéo không đáp lời, và Rose bị bỏ lại một mình. Cô ngồi thẫn thờ vài phút, khóe miệng đỏ trĩu xuống. Rồi cô vùng đứng dậy với một tiếng thở dài thườn thượt. — Một chút đời sống! — cô lẩm bẩm nửa lời, — một chút hư hỏng! — và cô hất mái tóc xoăn đầy thách thức.

Vài phút sau, ở căn phòng khách nhỏ đối diện bên kia sảnh, Catherine và Rose đứng cạnh cửa sổ mở toang. Lần đầu tiên trong một mùa xuân dằng dặc, không khí trở nên mềm mại và dịu dàng; một màu xám ngắt dịu ngọt bao phủ thung lũng; trời chưa hẳn là tối, dẫu rằng phía trên những đường nét rõ mồn một của sườn đồi, các vì sao đang lấp lánh trên bầu trời xanh nhạt. Đằng xa dưới mỏm đá phía bên kia High Fell, một ánh đèn đang tỏa sáng. Khi đôi mắt Catherine bắt gặp nó, có một phản ứng nhanh nhạy hiện lên trên khuôn mặt xinh đẹp tựa Đức Mẹ.

— Chiều nay có tin tức gì từ nhà Backhouses cho chị không? — cô hỏi Rose.

— Không, em chẳng nghe thấy gì cả. Chị ấy thế nào rồi?

— Sắp chết rồi, — Catherine điềm tĩnh đáp, rồi đứng im lặng nhìn ra ngoài. Rose không ngắt lời cô. Cô biết rằng ngôi nhà phát ra ánh sáng kia đang che chở một tấn bi kịch; cô đoán già đoán non bằng sự ngây thơ của tuổi mười chín rằng đó là một bi kịch của đam mê và tội lỗi; thế nhưng Catherine không hề cởi mở về đề tài này, và từ lâu Rose đã dựng lên một sự kháng cự câm lặng trước lối sống lẫn suy nghĩ đặc trưng của chị mình, ngăn cản cô cất lời hỏi han lúc này. Cô mang tâm lý lo lắng không muốn để cho sức mạnh đạo đức phi thường của Catherine chiếm thêm bất kỳ ưu thế nào trước cô nữa.

Tuy nhiên, lát sau, Catherine vòng tay ôm lấy cô với sự chở che trìu mến.

— Chiều nay em làm gì thế, Röschen?

— Em tập đàn hai tiếng, — cô gái cộc lốc đáp, — và hai tiếng buổi sáng nữa. Bản Spohr của em gần như hoàn hảo rồi đấy.

— Và em không ghé qua trường học à? — Catherine ngập ngừng hỏi; — Chị biết cô Merry chờ em mà.

— Không, em không ghé. Khi người ta biết chơi violin mà chẳng biết dạy ai ngoài con vẹt mào, thì việc lãng phí thời gian vào việc dạy học có ích gì cơ chứ?

Catherine không đáp. Một phút sau, Mrs. Leyburn gọi cô, và cô bước đến ngồi xuống chiếc ghế đẩu dưới chân mẹ, hai tay đặt lên đùi người phụ nữ lớn tuổi, toàn bộ dáng vẻ của thân hình cao ráo hoạt bát toát lên sự phó mặc đẹp đẽ và thơ ngây. Mrs. Leyburn muốn tâm sự với cô về một chiếc mũ mới, và Catherine hào hứng đón nhận đề tài ấy, khiến mẹ cô vui vẻ cho đến tận giờ đi ngủ.

— Sao chị ấy không thể hứng thú với bản Spohr của mình đến thế nhỉ? — Rose thầm nghĩ.

Đêm muộn hôm đó, lâu sau khi đã hoàn tất mọi việc vặt vãnh phục vụ mẹ, Catherine Leyburn vẫn bận rộn trong phòng riêng sắp xếp một chiếc tủ lớn đựng thuốc men và các vật tư y tế thông thường — kho dự trữ cung cấp cho mọi trường hợp khẩn cấp đơn giản ở đầu thung lũng của họ. Cô mặc một chiếc áo ngủ bằng nỉ trắng và bước đi không tiếng động, chính là hiện thân của sự ngăn nắp, thuần khiết và năng lượng điềm tĩnh. Căn phòng nhỏ rèm trắng toát lên sự cằn cỗi và gọn gàng tuyệt đối. Dọc theo tường có vài chiếc kệ sách, đựng những cuốn sách mà cha cô đã tặng. Phía trên giường là hai bức chân dung phóng to của cha mẹ cô, cùng một hàng những dị vật bé xíu phai màu kỳ lạ, miêu tả Rose và Agnes qua các giai đoạn thơ ấu khác nhau. Trên chiếc bàn cạnh giường là một chồng sách cũ kỹ — Keble, Jeremy Taylor, Kinh Thánh — gắn liền trong tâm trí người chủ nhân căn phòng với những khoảnh khắc mãnh liệt nhất của đời sống tâm linh. Có một dải thảm nhỏ cạnh giường, vài chiếc ghế đơn giản, một chiếc tủ lớn; ngoài ra chẳng có món đồ nội thất nào không thực sự cần thiết và cũng chẳng có đồ trang trí nào khác. Thế nhưng, bất chấp sự trống trải ấy, căn phòng nhỏ với vẻ ngăn nắp và tinh tươm lại mang cái hồn và vẻ ma lực của một chốn thánh đường.

Khi công việc hoàn tất, Catherine bước tới chiếc bàn trang điểm nhỏ xíu, đứng lặng một lúc trước chiếc gương nhà quê bình dị đặt trên đó. Ngọn nến phía sau hắt bóng đường nét đầu và mặt cô tối sẫm lên trần nhà trắng xóa. Mái tóc nâu mềm mại được tết cao trên vầng trán rộng, mang lại cho cô vẻ uy nghi bổ sung, đồng thời để lộ những đường nét thanh tân của cổ. Mrs. Thornburgh và mẹ cô đã hoàn toàn đúng. Dù kiểu tóc mới đơn giản đến thế nào, nó khó lòng có thể mang lại hiệu ứng tốt hơn thế.

Thế nhưng chiếc gương chẳng nhận được nụ cười nào đáp lại những thông tin nó phản chiếu. Catherine Leyburn còn trẻ; cô đang ở một mình; cô đang được chỉ rõ rành mạch rằng, nhìn chung, cô vốn là, hoặc có thể bất cứ lúc nào trở thành, một người phụ nữ đẹp. Và tất cả những gì cô đáp lại chỉ là một cái cau mày và hành động bước vội ra khỏi gương. Giơ tay lên, cô bắt đầu tháo những bím tóc một cách vội vã, gần như thiếu kiên nhẫn; cô vuốt phẳng toàn bộ mái tóc vừa được buông xõa về lại trật tự nghiêm ngặt nhất, tết chúng lại thật chặt, rồi thổi tắt nến, quăng mình xuống đầu gối bên cửa sổ đang hé mở đón ánh sao trời và núi non. Tiếng dòng suối từ đằng xa vọng lại từ những tầng sâu mờ sương của thung lũng, cùng tiếng lá cây xào xạc khẽ khàng ngay bên ngoài, là những âm thanh duy nhất phá vỡ sự tĩnh lặng suốt một thời gian dài sau đó.

Khi Catherine xuất hiện ở bàn ăn sáng vào sáng hôm sau, mái tóc của cô đã được vén gọn gàng thành một búi chặt phía sau — cách chải chuốt quen thuộc của cô từ năm lên mười ba tuổi. Agnes liếc nhanh sang Rose; Mrs. Leyburn, ngay khi nhìn qua cặp kính lão để nhận ra chuyện gì đang xảy ra, liền bùng nổ những lời phàn nàn tha thiết.

— Nó thoải mái hơn mẹ ạ, lại đỡ mất thời gian hơn nhiều, — Catherine đỏ mặt đáp.

— Tội nghiệp Mrs. Thornburgh! — Agnes khô khốc nhận xét.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.