“Tôi sinh ra tại một ngôi làng ở hạt Somersetshire, tên là Mark, vào năm 1657. Cha tôi là một trong những người mà người ta vẫn gọi là những điền chủ làm ruộng. Ông có một cơ ngơi nhỏ trị giá khoảng ba trăm bảng Anh một năm do tự mình gây dựng, lại thuê thêm một điền trang khác có giá trị xấp xỉ như vậy. Ông là một người cẩn trọng, chăm chỉ và là một gia trưởng vô cùng mẫu mực, đến nỗi lẽ ra ông đã có thể tận hưởng một cuộc sống vô cùng thảnh thơi và dễ chịu, nếu như không có một người vợ đanh đá cay nghiệt đến cùng cực làm tổn hại đến sự bình yên trong gia đình. Nhưng dẫu hoàn cảnh này có lẽ đã làm ông đau khổ, nó lại không khiến ông trở nên túng quẫn; bởi ông quản thúc bà gần như suốt ngày ở nhà, thà chịu đựng những lời chì chiết vĩnh viễn trong chính ngôi nhà của mình còn hơn là tổn hại gia tài bằng cách nuông chiều những thói hoang phí mà bà ta thèm muốn ở bên ngoài.”
“Bà Xanthippe ấy” (vợ của Socrates cũng mang tên đó, Partridge lên tiếng)—“bà Xanthippe ấy sinh hạ được hai người con trai, và tôi là người em. Cha dự định cho cả hai chúng tôi một nền học thức tử tế; thế nhưng người anh cả của tôi, vì điều bất hạnh cho nó lại là đứa con cưng của mẹ, nên đã lơ là việc học hành đến mức sau khi đã đi học ngũ lục năm mà tiến bộ chẳng được là bao, cha tôi, khi được ông giáo bảo rằng tiếp tục giữ nó lại ở đó cũng chỉ vô ích, cuối cùng đã chiều ý mẹ mà đón nó về khỏi tay kẻ bạo chúa ấy, theo như cách gọi của mẹ đối với người thầy; dẫu thực ra ông thầy ấy dùng roi vọt ít hơn nhiều so với sự lười biếng của thằng bé đáng phải chịu, nhưng có vẻ như lại nhiều hơn mức mà vị công tử trẻ tuổi thích thú, bởi nó liên tục phàn nàn với mẹ về sự đối xử cay nghiệt của thầy, và mẹ nó cũng đều đặn không kém mà lắng nghe những lời than vãn đó.”
“Phải, phải,” Partridge kêu lên, “tôi từng thấy những người mẹ như thế; chính bản thân tôi cũng từng bị họ đối xử tệ bạc, và vô cùng bất công; những bậc sinh thành như thế đáng bị trừng phạt chẳng kém gì lũ trẻ.”
Jones quở trách ông thầy dạy học vì tội ngắt lời, rồi người lạ mặt tiếp tục câu chuyện.
“Lúc ấy đã ở tuổi mười lăm, anh trai tôi từ giã mọi sách vở chữ nghĩa, và cả mọi thứ khác ngoại trừ con chó và khẩu súng; với thứ vũ khí sau, nó trở nên thành thạo đến mức, dẫu có lẽ ông sẽ cho là chuyện hoang đường, nó không chỉ có thể bắn trúng một mục tiêu đứng yên với độ chính xác cao, mà thực sự đã hạ gục một con quạ đang bay lượn trên không trung. Nó cũng cực kỳ cừ khôi trong việc phát hiện ra những con thỏ đang nằm ẩn mình, và chẳng mấy chốc nổi danh là một trong những tay săn bắn cừ khôi nhất trong vùng; một tiếng tăm mà cả nó lẫn mẹ nó đều tận hưởng thỏa thích như thể nó vừa được công nhận là một học giả uyên bác nhất.”
“Hoàn cảnh của anh trai lúc đầu khiến tôi cho rằng số phận của mình khắc nghiệt hơn khi phải tiếp tục ở lại trường học: nhưng tôi sớm thay đổi quan điểm; bởi khi tôi tiến bộ khá nhanh trong việc học, những bài tập trở nên dễ dàng, và việc học tập mang lại niềm vui lớn đến nỗi những kỳ nghỉ lại là khoảng thời gian khó chịu nhất đối với tôi; vì người mẹ vốn chưa từng yêu thương tôi nay lại lo sợ rằng tôi chiếm được phần tình cảm lớn hơn của cha, đồng thời nhận thấy, hoặc ít nhất là nghĩ rằng, tôi được chú ý nhiều hơn bởi một số tao nhân mặc khách, đặc biệt là vị mục sư trong giáo xứ, so với anh trai tôi, nên bà nay đâm ra căm ghét mỗi khi nhìn thấy tôi, và biến nhà cửa thành một nơi chốn vô cùng khó chịu đối với tôi, khiến cái gọi là Ngày Thứ Hai Đen Tối của học sinh trường làng lại trở thành ngày tươi sáng nhất trong cả năm của tôi.”
“Sau khi hoàn thành việc học tại trường Taunton, tôi được chuyển lên trường Exeter College ở Oxford, nơi tôi lưu lại trong bốn năm; vào cuối khoảng thời gian đó, một biến cố đã khiến tôi từ bỏ hoàn toàn việc học hành; và từ đây, tôi có thể thực sự xem là mốc khởi đầu cho mọi chuyện xảy ra với cuộc đời mình sau này.”
“Cùng học tại ngôi trường ấy với tôi có một người tên là Sir George Gresham, một thanh niên được hưởng một gia tài kếch xù, mà theo di chúc của cha, anh ta chưa được toàn quyền sở hữu cho đến khi tròn hai mươi lăm tuổi. Tuy nhiên, sự hào phóng của các giám hộ đã khiến anh ta chẳng có mấy lý do để tiếc nuối sự cẩn trọng quá mức của người cha; bởi họ chu cấp cho anh ta năm trăm bảng một năm khi anh ta còn ở đại học, nơi anh ta nuôi ngựa, nuôi tình nhân, và sống một cuộc đời đồi trụy, hoang đàng chẳng kém gì khi đã hoàn toàn làm chủ gia tài của mình; vì ngoài năm trăm bảng nhận từ người giám hộ, anh ta còn xoay sở tiêu xài thêm tới một ngàn bảng nữa. Anh ta đã qua tuổi hai mươi mốt, và chẳng gặp chút khó khăn gì trong việc vay mượn bất cứ khoản tiền nào tùy ý.”
“Cậu thanh niên này, trong vô số những tật xấu có thể châm chước được, lại có một thói quen vô cùng quỷ quái. Anh ta rất khoái trá trong việc hủy hoại và tàn phá tuổi trẻ của những người có gia thế kém hơn, bằng cách lôi kéo họ vào những khoản chi tiêu vượt quá khả năng tài chính như anh ta; và một thanh niên càng tốt đẹp, càng đáng trắc ẩn, càng chừng mực bao nhiêu, thì sự đắc ý và niềm vui chiến thắng trong việc hủy hoại người đó của anh ta lại càng lớn bấy nhiêu. Cứ thế, anh ta đóng trọn vai trò được chép trong kinh về quỷ dữ, đi lang thang khắp nơi tìm kiếm xem ai có thể nuốt chửng.”
“Bất hạnh thay cho tôi khi lại quen biết và thân thiết với người đàn ông này. Tiếng tăm chuyên cần trong học tập đã biến tôi thành một đối tượng hoàn toàn phù hợp cho ý đồ phá hoại của hắn; và xu hướng tự nhiên của bản thân cũng tạo điều kiện thuận lợi để hắn đạt được mục đích; bởi dẫu tôi đã vùi đầu vào sách vở với sự chuyên cần lớn lao và tìm thấy niềm vui trong đó, vẫn có những lạc thú khác mà tôi có thể tận hưởng say mê hơn nhiều; vì tôi vốn là kẻ bốc đồng, dồi dào sinh lực, lại có chút ít tham vọng và cực kỳ đa tình.”
“Chẳng bao lâu sau khi kết thân với Sir George, tôi trở thành kẻ đồng lõa trong mọi cuộc vui chơi của hắn; và khi đã bước chân vào chốn đó, ý chí lẫn tính khí chẳng cho phép tôi đóng một vai trò mờ nhạt. Tôi chẳng thua kém bất kỳ ai trong nhóm về những hành vi trụy lạc; thậm chí, tôi sớm nổi danh rền trời trong mọi cuộc bạo loạn và quậy phá đến mức tên tôi thường đứng đầu trong sổ đen của những kẻ phạm tội; và thay vì được thương xót như một học trò bất hạnh của Sir George, tôi lại bị buộc tội là kẻ đã dẫn dắt và làm hư hỏng vị công tử triển vọng ấy; bởi dẫu hắn mới là kẻ cầm đầu và khơi mào mọi trò quỷ quái, người ta lại chưa bao giờ nhìn nhận hắn như vậy. Cuối cùng, tôi rơi vào án kỷ luật của phó hiệu trưởng, và suýt chút nữa thì bị đuổi học.”
“Ngài sẽ dễ dàng tin rằng, thưa ngài, một cuộc đời mà tôi đang mô tả chắc chắn không thể đi đôi với con đường học vấn của tôi; và càng chìm đắm trong những lạc thú buông thả bao nhiêu, tôi càng xao lãng việc học hành bấy nhiêu. Đó chính xác là hệ quả tất yếu; nhưng chưa hết. Các khoản chi tiêu của tôi lúc bấy giờ đã vượt xa không chỉ nguồn thu nhập trước đó, mà cả những khoản tiền tôi vòi vĩnh thêm từ người cha nhân hậu khốn khổ của mình, với cái cớ cần tiền để chuẩn bị cho kỳ thi cử nhân nghệ thuật sắp đến. Tuy nhiên, những yêu sách ấy cuối cùng trở nên thường xuyên và quá đáng đến mức cha tôi, qua thời gian dài, đã bắt đầu lắng nghe những lời đồn thổi từ khắp nơi về cách hành xử hiện tại của tôi, điều mà mẹ tôi không quên tiếp lời một cách trung thành và oang oang; bà thêm vào rằng: `À, kìa vị công tử lịch lãm, bậc học giả mang lại vinh quang cho gia tộc và là người sẽ làm rạng danh dòng họ đây ư. Ta đã biết trước học thức thế này rồi sẽ ra sao mà. Hóa ra nó sẽ là kẻ tàn phá tất cả chúng ta, sau khi người anh cả của nó đã phải chịu cảnh thiếu thốn những vật dụng thiết yếu vì nó, để rồi cuối cùng thành tài cho trọn vẹn, thứ thành tài mà hắn phải trả cho chúng ta bằng ngợi ca với lãi suất thế đấy; ta đã biết thừa cái thứ lãi suất ấy rồi sẽ đi về đâu`, cùng với rất nhiều lời lẽ tương tự như vậy; nhưng tôi tin rằng chừng đó cũng đủ để ngài hình dung phần nào.”
“Do đó, cha tôi bắt đầu gửi những lời quở m trách thay vì tiền bạc để đáp lại các yêu sách của tôi, điều này có lẽ đã đẩy nhanh chuyện của tôi đến bờ vực khủng hoảng; nhưng dẫu ngài có gửi toàn bộ thu nhập cho tôi đi nữa, ngài cũng có thể tưởng tượng rằng nó chỉ đủ duy trì trong một thời gian ngắn ngủi cho kẻ tiêu xài bạt mạng sánh ngang với Sir George Gresham.”
“Hơn cả có thể xảy ra là sự túng quấn vì tiền bạc lúc bấy giờ của tôi, cùng với việc không thể tiếp tục duy trì lối sống đó, lẽ ra đã có thể kéo tôi trở về với lý trí và sách vở ngay lập tức, giả sử tôi mở mắt ra trước khi vướng vào những khoản nợ nần mà từ đó tôi chẳng thấy chút hy vọng nào có thể rứt ra được. Quả thực, đó là thủ đoạn cao cường của Sir George, nhờ đó hắn đã hoàn thành việc hủy hoại nhiều người, để rồi sau đó cười nhạo họ là những kẻ ngốc nghếch và ngạo mạn dám đú đởn, theo cách nói của hắn, với một kẻ lắm tiền nhiều của. Để đạt được mục đích này, thỉnh thoảng hắn tự mình ứng trước một ít tiền, nhằm duy trì chữ tín cho những chàng trai bất hạnh với những người khác; cho đến khi, chính nhờ uy tín đó, họ bị hủy hoại hoàn toàn không cách nào cứu vãn.”
“Tâm trí tôi vì thế mà trở nên tuyệt vọng chẳng kém gì gia tài, chẳng có tội ác nào mà tôi không tính đến để tìm đường giải thoát. Ngay cả việc tự sát cũng trở thành đề tài được tôi suy tính nghiêm túc, và chắc chắn tôi đã quyết định làm thế, nếu như một ý nghĩ hổ thẹn hơn, dẫu có lẽ ít tội lỗi hơn, không đánh bật nó ra khỏi đầu tôi.”—Đến đây hắn ngập ngừng giây lát, rồi kêu lên: “Tôi xin thề, từng ấy năm trôi qua vẫn chưa thể gột rửa hết nỗi nhục nhã của hành động ấy, và tôi vẫn đỏ mặt khi kể lại nó.” Jones khuyên hắn nên bỏ qua bất cứ điều gì có thể mang lại đau đớn trong câu chuyện; nhưng Partridge sốắng xắng kêu lên: “Ôi, xin ngài, xin hãy kể chuyện này đi; tôi thà nghe chuyện này còn hơn tất cả những thứ khác; nguyện xin ơn cứu độ, tôi sẽ không hề hé răng nhắc đến một lời nào đâu.” Jones định mắng hắn, nhưng người lạ mặt đã ngăn lại bằng cách tiếp tục kể:
“Tôi có một người bạn cùng phòng, một cậu thanh niên rất cẩn trọng và tiết kiệm, dẫu không được chu cấp quá nhiều tiền, nhờ tính keo kiệt mà đã dành dụm được hơn bốn mươi đồng guineas, thứ mà tôi biết cậu ta cất trong chiếc tủ đựng giấy tờ. Do đó, tôi đã chớp thời cơ để thò tay vào túi quần cậu ta lấy trộm chìa khóa trong lúc cậu ta đang ngủ, nhờ thế mà chiếm đoạt toàn bộ số gia tài ấy; sau đó tôi lại đút trả chìa khóa vào túi quần cậu ta, và làm bộ giả vờ đang ngủ—dẫu tôi chẳng hề nhắm mắt lấy một lần, nằm lì trên giường cho đến khi cậu ta thức dậy và đi lễ cầu nguyện—một việc mà từ lâu tôi đã bỏ bê.”
“Những tên trộm nhát gan, vì quá cẩn trọng, thường tự chuốc lấy sự bại lộ mà những kẻ bạo gan hơn có thể thoát nạn. Chuyện đã xảy ra với tôi đúng là như vậy; bởi nếu tôi bạo gan cạy tung chiếc tủ giấy của cậu ta, có lẽ tôi đã thoát khỏi cả sự hoài nghi của cậu ta; nhưng vì rành rành ra đấy là kẻ trộm đã lấy được chìa khóa, nên ngay khi phát hiện mất tiền, cậu ta chẳng mảy may nghi ngờ gì nữa mà khẳng định chắc nịch rằng bạn cùng phòng chính là thủ phạm. Giờ đây, vì bản tính nhút nhát và thua kém tôi rất nhiều về thể lực lẫn lòng can đảm, cậu ta không dám đối chất trực tiếp với tôi về tội lỗi ấy, vì sợ những hậu quả tồi tệ hơn về thể xác có thể giáng xuống đầu mình. Do đó, cậu ta lập tức đến gặp phó hiệu trưởng, và sau khi thề thốt về vụ trộm cùng các tình tiết liên quan, đã dễ dàng xin được lệnh bắt giữ đối với một kẻ lúc bấy giờ đang mang tai tiếng khắp toàn trường đại học.”
“May mắn cho tôi là tối hôm đó tôi ngủ lại ngoài khuôn viên trường; bởi ngày hôm đó tôi đưa một tiểu thư ngồi xe ngựa đi Witney, nơi chúng tôi ở lại suốt đêm, và trên đường trở về Oxford vào sáng hôm sau, tôi gặp một người bạn chí cốt, kẻ đã cho tôi biết đủ tin tức về bản thân để tôi quay đầu ngựa đi hướng khác.”
“Thưa ngài, thế cậu ta có nhắc gì đến lệnh bắt giữ không?” Partridge lên tiếng hỏi. Nhưng Jones nài nỉ người quý tộc tiếp tục câu chuyện mà không cần bận tâm đến những câu hỏi vô duyên; và ông đã làm theo như sau:—
“Sau khi đã từ bỏ mọi ý định quay lại Oxford, điều tiếp theo hiện ra trong đầu tôi là một chuyến đi đến London. Tôi thổ lộ ý định này với người bạn đồng hành nữ, lúc đầu cô ta phản đối, nhưng khi tôi trưng ra số tài sản của mình, cô ta liền lập tức đồng ý. Chúng tôi liền rẽ ngang qua vùng đồng quê để vào con đường lớn đi Cirencester, và phóng nhanh đến mức chúng tôi đã có mặt ở London vào tối ngày hôm sau nữa.”
“Khi ngài nghĩ đến chốn mà tôi đặt chân tới, và những kẻ đồng hành cùng tôi lúc bấy giờ, tôi tưởng tượng rằng ngài sẽ hiểu chẳng mất bao lâu để tôi tiêu sạch số tiền mà mình đã vơ vét một cách bất chính ấy.”
“Tôi giờ đây rơi vào cảnh túng quẫn trầm trọng hơn trước rất nhiều; những nhu yếu phẩm của cuộc đời bắt đầu lọt vào danh sách thiếu thốn của tôi; và điều làm cho hoàn cảnh của tôi càng thêm bi đát là người tình mà tôi lúc bấy giờ đã mê mẩn đến độ vô độ cũng chịu chung cảnh ngộ khốn cùng với tôi. Chứng kiến người phụ nữ mình yêu lâm vào cảnh khốn khó; bất lực chẳng thể cứu giúp, đồng thời ngẫm nghĩ lại rằng chính mình đã đẩy cô ta vào hoàn cảnh này, có lẽ là một lời nguyền rủa mà không trí tưởng tượng nào có thể hình dung hết sự kinh hoàng đối với những ai chưa từng nếm trải.”—“Tôi tin điều đó từ tận đáy lòng,” Jones kêu lên, “và tôi thương xót cho ngài từ tận đáy lòng mình:” cậu liền đi lại vài bước đầy hỗn loạn trong phòng, cuối cùng cất lời xin lỗi rồi ngả người xuống ghế, miệng thốt lên: “Tạ ơn Chúa, tôi đã thoát khỏi cảnh đó!”
“Hoàn cảnh ấy,” người đàn ông tiếp tục, “đã khoét sâu thêm một cách tàn nhẫn những nỗi kinh hoàng trong tình trạng hiện tại của tôi, khiến chúng trở nên hoàn toàn không thể chịu đựng nổi. Tôi có thể chịu đựng với ít đau đớn hơn sự cào xé của những ham muốn tự nhiên chưa được thỏa mãn trong cơ thể, dẫu là đói hay khát, còn hơn là phải khuất phục trước việc để cho những ý thích bất chợt nhất của người phụ nữ mà tôi say mê đến mức dẫu biết cô ta từng là tình nhân của một nửa số người quen, tôi vẫn đinh ninh muốn cưới làm vợ, phải chịu cảnh không được đáp ứng. Nhưng người phụ nữ tốt bụng ấy lại không nỡ đồng ý với một hành động mà thiên hạ có thể cho là quá bất lợi cho tôi. Và có lẽ, vì động lòng trắc ẩn trước những nỗi lo âu hằng ngày mà cô ta hẳn đã nhận ra tôi phải chịu đựng vì mình, cô ta quyết định chấm dứt nỗi khốn khổ của tôi. Quả thực, cô ta chẳng mấy chốc tìm ra cách giải cứu tôi khỏi tình cảnh phiền toái và rắc rối; bởi trong lúc tôi đang đầu óc quay cuồng với đủ mọi mưu chước để cung phụng những niềm vui cho cô ta, cô ta đã rất ân cần—phản bội tôi với một trong những tình nhân cũ ở Oxford, nhờ sự tận tâm và siêng năng của kẻ đó mà tôi đã bị tống giam ngay lập tức.”
“Tại đây, lần đầu tiên tôi bắt đầu suy ngẫm một cách nghiêm túc về những lầm lỡ trong quãng đời trước đây; về những tội lỗi mà tôi từng phạm phải; về những bất hạnh mà tôi tự chuốc lấy cho chính mình; và về nỗi đau đớn mà tôi hẳn đã gây ra cho một trong những người cha tuyệt vời nhất. Khi tôi cộng thêm vào tất cả những điều ấy sự bội bạc của người tình, nỗi kinh hoàng trong tâm trí tôi lớn đến mức cuộc sống, thay vì tiếp tục là điều đáng khao khát, lại trở thành đối tượng khiến tôi ghê tởm; và tôi đã có thể hân hoan đón nhận cái chết như người bạn thân thiết nhất, nếu như nó đến với tôi mà không phải vướng bận nỗi ô nhục.”
“Mùa xử án chẳng mấy chốc tới, và tôi được dẫn giải bằng trát habeas corpus đến Oxford, nơi tôi đinh ninh bản thân chắc chắn sẽ bị kết tội và phán quyết; nhưng điều khiến tôi vô cùng kinh ngạc là chẳng có ai đứng ra tố cáo tôi, và vào cuối phiên tòa, tôi được phóng thích vì không có bên nào theo kiện tóm lại, người bạn cùng phòng đã rời Oxford, và chẳng biết vì lười biếng hay vì động cơ nào khác mà tôi hoàn toàn mù tịt, đã từ bỏ việc dây dưa thêm nữa vào vụ việc này.”
“Có lẽ,” Partridge lên tiếng, “cậu ta không muốn vấy máu của ngài trên tay mình; và cậu ta đã hành động đúng đắn. Nếu có kẻ nào bị treo cổ dựa trên lời khai của tôi, tôi sẽ chẳng bao giờ dám nằm một mình sau đó vì sợ nhìn thấy hồn ma của hắn.”
“Ta sắp phải hoài nghi rồi đấy, Partridge,” Jones nói, “liệu ngươi có nhiều lòng dũng cảm hay khôn ngoan hơn đây.”—“Ngài có thể cười nhạo tôi, thưa ngài, tùy ý ngài,” Partridge đáp; “nhưng nếu ngài chịu nghe một câu chuyện rất ngắn mà tôi có thể kể, và chắc chắn là sự thật một trăm phần trăm, có lẽ ngài sẽ thay đổi quan điểm. Tại giáo xứ nơi tôi sinh ra—” Đến đây Jones định bắt hắn im lặng; nhưng người lạ mặt đã lên tiếng can thiệp, xin cho phép hắn được kể câu chuyện của mình, và hứa trong lúc đó sẽ tranh thủ nhớ lại phần còn lại của câu chuyện đời ông.
Partridge liền tiếp tục thế này: “Tại giáo xứ nơi tôi sinh ra, có một bác nông dân tên là Bridle, và ông ta có một đứa con trai tên là Francis, một chàng trai trẻ đầy hứa hẹn; tôi từng học ngữ pháp chung trường với cậu ta, và tôi nhớ cậu ta đã học đến mấy bài Thơ Tình của Ovid, thỉnh thoảng có thể dịch suôn sẻ liền tù tì ba dòng mà chẳng cần mở từ điển. Ngoài ra, cậu ta là một cậu nhóc rất ngoan ngoãn, chưa bao giờ vắng mặt ở nhà thờ vào các ngày Chủ Nhật, và được coi là một trong những tay hát thánh ca cừ khôi nhất toàn giáo xứ. Thực ra thỉnh thoảng cậu ta cũng hay quá chén vài ly, và đó là khuyết điểm duy nhất mà cậu ta mắc phải.”—“Thôi nào, vào thẳng chuyện con ma đi chứ,” Jones giục giục.
“Đừng sợ, thưa ngài; tôi sẽ kể đến nó sớm thôi,” Partridge đáp. “Ngài phải biết thế này, bác nông dân Bridle mất một con ngựa cái, hình như là con ngựa tía, theo như trí nhớ tốt nhất của tôi; và thế là chuyện xảy ra là chẳng bao lâu sau, chàng trai trẻ Francis này đến một phiên chợ ở Hindon, hình như vào ngày—, tôi không nhớ rõ ngày tháng; và trong lúc đang dạo chợ đúng cái cảnh ấy, cậu ta vô tình đụng độ ngay một kẻ đang cưỡi trên lưng con ngựa của cha mình. Frank liền hô lên bắt trộm ngay lập tức, và vì đang giữa lúc chợ phiên đông đúc, ngài biết đấy, gã kia đời nào trốn thoát được. Thế là họ bắt giữ gã ta và điệu đến quan tòa; tôi nhớ đó là quan tòa Willoughby xứ Noyle, một quý ông vô cùng đáng kính; và ông ta tống giam gã, đồng thời bắt Frank lập một bản cam kết, tôi nhớ người ta gọi thế — một từ khó hiểu ghép từ re và cognosco; nhưng nghĩa của nó lại khác biệt so với việc dùng từ đơn, giống như bao từ ghép khác. Thế rồi, cuối cùng thì ngài Chánh án Page cũng thân chinh về hạt để mở phiên tòa xử án; và thế là gã kia được dẫn lên, còn Frank cũng được dẫn lên với tư cách nhân chứng. Quả thực, tôi sẽ chẳng bao giờ quên nổi nét mặt của vị thẩm phán khi ngài bắt đầu gặng hỏi gã kia có lời gì để biện hộ cho hành vi của mình. Ông khiến tội nghiệp Frank phải run lẩy bẩy trong giày. `Này anh bạn kia`, chánh án cất lời, `anh có điều gì muốn nói không? Đừng có mà ậm à ậm ừ, nói toạc móng heo ra.` Nhưng rồi, chẳng mấy chốc ông lại tỏ ra vô cùng lịch thiệp với Frank, và quay sang gầm thét với gã kia; và khi ông hỏi gã có điều gì muốn tự bào chữa không, gã ta bảo rằng mình nhặt được con ngựa. `Thế á!`, vị thẩm phán đáp lại, `anh đúng là kẻ may mắn đấy; ta đi tuần các hạt suốt bốn mươi năm nay mà chưa từng nhặt được con ngựa nào trong đời; nhưng ta nói cho anh hay, anh bạn trẻ, anh còn gặp may hơn cả những gì anh tưởng tượng đấy; vì anh không chỉ nhặt được một con ngựa, mà còn nhặt được cả một cái tròng lọng treo cổ nữa đấy, ta hứa với anh là thế.` Quả thực, tôi sẽ chẳng bao giờ quên câu nói đó. Nghe vậy ai nấy đều bò lăn ra cười, vì làm sao mà nhịn được chứ? Chưa hết, ngài còn phun ra tới hai mươi câu trò cười khác mà giờ tôi chẳng thể nhớ nổi. Có đoạn nói về sự am hiểu của hắn về giống ngựa khiến tất cả mọi người được một trận cười bể bụng. Chắc chắn là vị thẩm phán phải là một người vô cùng gan dạ, lại thêm phần uyên bác. Quả thật xem các phiên tòa xử án tử hình là một trò tiêu khiển vô cùng thú vị. Có một điều tôi thú nhận là mình thấy có chút bất công, đó là luật sư bào chữa cho bị cáo không được phép mở miệng nói giùm hắn, dù hắn chỉ xin được nói một từ cực kỳ ngắn gọn, thế mà ngài chánh án lại chẳng thèm đếm xỉa đến, dẫu ngài cho phép một vị biện hộ bên buộc tội tha hồ sủa gầm lên chống lại hắn tới hơn nửa tiếng đồng hồ. Tôi thấy điều đó thật bất công, thú thật là vậy; khi mà có chừng ấy người bâu vào: ngài chánh án, rồi triều đình, rồi bồi thẩm đoàn, rồi các luật sư, rồi đám nhân chứng, tất cả đều chĩa vào một con người khốn khổ độc nhất, mà hắn lại còn đang xiềng xích trên tay. Chà, thế là gã kia bị treo cổ, đương nhiên chẳng thể khác được, và tội nghiệp Frank thì chẳng tài nào bình tâm nổi về chuyện ấy. Cứ hễ một mình trong bóng tối là cậu ta lại tưởng tượng ra cảnh mình trông thấy hồn ma của gã kia.”—“Thế nào, câu chuyện của anh chỉ có thế thôi à?” Jones lên tiếng hỏi.
“Không, không,” Partridge đáp. “Lạy Chúa xin thương xót lấy con! Con sắp sửa vào vấn đề chính rồi đây; bởi vì có một đêm nọ, khi đang đi từ quán rượu về qua một con hẻm nhỏ vừa dài vừa tối tăm, cậu ta đụng độ trực diện với hắn; và con ma toàn thân mặc một bộ đồ trắng toát, lao thẳng vào tấn công Frank; còn Frank, vốn là một cậu nhóc cứng cáp, cũng không vừa mà lao vào đánh nhau với con ma, và họ đã có một trận vật lộn tưng bừng với nhau ở đó, kết quả là tội nghiệp Frank bị đánh cho nhừ tử; quả thật cuối cùng cậu ta cũng rịn mọ lết được về nhà; nhưng ngặt nỗi vừa vì đòn roi, vừa vì quá hoảng sợ, cậu ta nằm liệt giường hơn nửa tháng trời; và tất cả những điều này hoàn toàn là sự thật trăm phần trăm, cả giáo xứ này xin đem danh dự ra làm chứng.”
Người lạ mặt mỉm cười trước câu chuyện này, còn Jones phá lên cười ha hả; nghe vậy Partridge liền kêu lên: “À, ngài có thể cười; và một số kẻ khác cũng cười thế đấy, đặc biệt là một vị điền chủ vốn bị coi chẳng khá hơn một kẻ vô thần; lão ta đấy, chỉ vì người ta tìm thấy xác một con bê mặt trắng chết lăn quay ngay trong con hẻm ấy vào sáng hôm sau, nên cứ khăng khăng cho rằng trận chiến đó diễn ra giữa Frank với con bê, cứ làm như một con bê dám lao vào tấn công con người không bằng. Chưa kể, Frank kể với tôi rằng cậu ta biết chắc chắn đó là một hồn ma, và sẵn sàng thề độc trước bất kỳ tòa án nào trong thế giới Cơ Đốc giáo; lúc đó cậu ta cũng chỉ mới nốc tầm một hai vò rượu hay đại loại thế vào người mà thôi. Lạy Chúa trên cao thương xót, và xin giữ gìn tất cả chúng ta khỏi việc nhúng tay vào vấy máu người, con xin khấn nguyện là thế!”
“Thưa ngài,” Jones quay sang nói với người lạ mặt, “ông Partridge đã kể xong câu chuyện của mình, và tôi hy vọng sẽ không làm ngài ngắt lời thêm nữa, nếu ngài vui lòng tiếp tục.” Ông liền nối lại câu chuyện; nhưng vì ngài đã tạm nghỉ một lát để lấy hơi, chúng tôi thấy thật phải phép khi nhường lại phần này cho độc giả, và do đó xin được khép lại chương này tại đây.