Đó là một ngõ cụt hẹp và dài, mở ra một con phố nhỏ uốn lượn như một đường khâu ngoằn ngoèo cắt ngang qua thành phố, ở đằng kia. Lúc ấy là cuối mùa hè; và vào những buổi tối mùa hè, thật khó lòng tìm thấy miệng ngõ, bởi vì người ta ngồi kín cả lối đi và xung quanh đó, đang hổ hển hít thở những luồng gió bẩn thỉu lảng vảng dọc con phố như những tên ăn mày xảo quyệt đi tìm một góc tối để ngủ — hệt như những kẻ ăn mày ti tiện, đã đánh mất cả cái tinh thần tự do phóng khoáng của những cơn gió trời. Sâu thẳm trong cái ngõ hụt ấy, không khí hoàn toàn đặc quánh; người ta có cảm giác như mình bị bao bọc trong một vũng nước ngập ngụa bọt bèo, và theo từng nhịp thở, những sợi rễ cây vô hình dài ngoẵng — những rễ cây đầm lầy — lại bứt đứt và rối bời trong lồng ngực đang giãy giụa của bạn.
Tôi buộc phải đi đến tận cùng, đến tận đáy của cái ngõ hụt ấy. Nơi đó, sâu thẳm trong những hốc hẻm tồi tàn này, là nơi sinh sống của người phụ nữ mà tôi phải mang ơn vì sự trắng sạch của chiếc áo sơ-mi tôi đang mặc trên người. Cách bà làm điều đó thế nào, tôi chẳng thể hay biết; sự nghèo đói vẫn thường tạo ra những phép màu như thế, cũng giống như bùn đen đầm lầy lại nở ra những đóa hoa huệ tinh khiết.
Tôi gõ cánh cửa cuối cùng, và chẳng mấy chốc, giọng một người đàn ông yếu ớt, nghẹn ngào vang lên từ ô cửa sổ trên lầu. Tôi giải thích rõ lý do. — "Có cái ghế ở đó đấy; cứ ngồi xuống đi. Bà ấy sẽ về sớm thôi." Và tiếng nói ấy bị cắt ngang bởi một cơn ho sặc sụa.
Hóa ra đây chính là người chồng mắc bệnh lao phổi mà bà đã kể với tôi! Tôi ngước nhìn ô cửa vuông mờ ảo hiện lên trong bóng tối, nơi phát ra tiếng ho, và đột nhiên cảm thấy một sức nặng khủng đè nặng lên tim cùng một cảm giác vướng víu kỳ lạ, tựa như tất cả những mạng lưới bệnh tật vô hình trong chốc lát đã nhận ra con mồi nằm gọn trong móng vuốt của chúng, và siết chặt lại như một con bạch tuộc. Nỗi kinh hoàng ám ảnh về những điều chưa biết, sự hoảng sợ mờ mịt về một Sự hiện diện thù địch, sự chùng xuống trước kẻ thù đang lê bước tàn nhẫn và lơ lửng mà ta chẳng thể nắm bắt hay chiến đấu nổi, cảm giác ghê tởm quay lưng lại với một Thực thể đã vươn tay từ phía sau trong lúc ta đang cố đối mặt với nó, thứ đang chờ đợi ta với tiếng cười mỉa mai đến rợn người của Sự tĩnh lặng — tất cả những điều đó cuồn cuộn quét qua và bao trùm lấy tôi khi tôi ngước nhìn lên màn đêm.
Trên chiếc giường ở trên kia, hắn đang nằm đó, kẻ đã bị giăng mắc trong tấm lưới định mệnh suốt ba năm ròng rã — và giờ vẫn đang vùng vẫy! Trong bóng tối, tôi cảm nhận được nhịp thở nặng nhọc của hắn.
Tiếng chó sủa gắt gỏng vang lên như một sự giải thoát. Tôi quay lại chiếc ghế gãy, rồi ngồi xuống để chờ đợi. Con hẻm bị bao bọc bởi một bức tường cao, và từ phía bên kia bức tường, sừng sững vươn lên bốn cổ thụ nguy nga, những tán lá vĩ đại của chúng thả xuống lời thì thầm huyền thoại về những khu rừng đã lùi vào dĩ vãng và luồng không khí trong lành vô tận từng thổi qua chúng từ rất lâu về trước, thứ không bao giờ có thể quay trở lại nữa. Đã bao lâu, bao lâu rồi kể từ những ngày tháng tinh khôi xa xôi ấy, trước khi vết nhơ của Con Người bò đến bám lấy chúng! Những người khổng lồ già cỗi kiêu hãnh ấy thật mạnh mẽ làm sao khi chưa bị bóp nghẹt! Chúng mới đẹp đẽ làm sao! Còn những sinh vật méo mó ngồi bênềm cửa của những hang ổ dơ dáy do chính chúng tạo ra lại tầm thường và xấu xí biết bao, cứ luyên thuyên, luyên thuyên mãi, giống như loài vượn từng luyên thuyên trong rừng sâu từ muôn thuở trước! Chúng thật là những con thú kỳ lạ làm sao, với những cái chân và cái đầu thò ra từ những tấm vải quấn quanh thân mình — cứ luyên thuyên, luyên thuyên không dứt, và lúc nào cũng ngọ nguậy di chuyển, chẳng tài nào hiểu nổi những sinh trưởng tĩnh lặng và mạnh mẽ của cõi thinh lặng.
Cứ thế, nửa giờ đồng hồ trôi qua.
Cuối cùng, tôi nhìn thấy một khoảng trống xuất hiện giữa đám đông đang tụ tập ở lối vào ngõ, và một bóng người mệt mỏi quen thuộc xách giỏ đang bước vào lối đi lát gạch. Bà dừng lại ở nửa đoạn đường, nơi con hẻm mở rộng thành một khoảng sân phơi chung, với những sợi dây phơi giăng mắc đan chéo vào nhau, thả những cái bóng như hình mạng nhện xuống mặt đường; sau khi liếc nhìn bầu trời đã kéo mây âm u, bà thở dài nặng nhọc rồi lại tiếp bước. Dưới ánh đèn hẻm nhợt nhạt, tấm lưng gù của bà trông rũ rượi như lưng của một mụ phù thủy già. Thế mà người phụ nữ ấy vẫn còn trẻ. Để bà khỏi giật mình, tôi cất tiếng gọi: "Chào buổi tối."
Câu trả lời được thốt lên bằng cái giọng vui vẻ gượng gạo mà những kẻ khốn cùng vẫn thường dùng với chủ nhân của họ; thế nhưng bà ngã quỵ xuống bậc thềm, thốt lên câu nói quen thuộc của một kẻ hiếm khi được ngồi: "Chà, tôi mừng quá được ngồi xuống."
— "Chắc là mệt lả rồi nhỉ. Hôm nay trời nóng quá mà."
— "Vâng, và lát nữa tôi lại phải bắt tay vào ủi đồ đến tận mười một giờ, trong cái nhà bếp ấy nóng khủng khiếp. Vào mùa hè thì tôi không ngại giặt giũ lắm đâu; tôi giặt ngay ngoài này mà. Nhưng ủi đồ thì nóng lắm. Anh có đang vội không?"
Tôi đáp là không, rồi ngồi xuống tiếp. "Bà trả tiền thuê nhà bao nhiêu?" tôi hỏi.
— "Bảy đô-la."
— "Ba phòng à?"
— "Vâng."
— "Phòng nọ chồng lên phòng kia chứ?"
— "Vâng. Tiền thuê đắt cắt cổ mà ổng chẳng chịu sửa sang gì cả. Cái cửa thì sắp sút bản lề đến nơi rồi, còn giấy dán tường thì trông gớm ghiếc."
— "Bà ở đây lâu chưa?"
— "Hơn ba năm rồi. Chúng tôi chuyển đến đây trước khi ổng đổ bệnh."
Tôi chẳng giữ lại được gì nguyên vẹn nữa, nhưng ngày trước mọi thứ đẹp đẽ lắm. Ở tận đằng sau này cách xa đường phố nên yên tĩnh lắm; chẳng nghe thấy tiếng ồn ào nào đâu. Cái hàng rào kia đáng lẽ phải được quét vôi trắng. Ngày trước tôi vẫn giữ cho nó trắng tinh, và mọi thứ đều sạch sẽ. Ngồi ngoài này dưới mấy tán cây vào mùa hè thật là thích. Cứ có cảm giác như mình đang ở trong công viên vậy.
Một sự kinh ngạc kỳ lạ chạy dọc sống lưng tôi. Đâu đó tận sâu thẳm trong tâm trí tôi, một tiếng nói đang thì thầm: "Kẻ nào đã có, sẽ được ban thêm; còn kẻ nào không có, thì ngay cả cái hắn có cũng sẽ bị tước đoạt." Cái vũng nước kinh tởm này mà đối với bà ấy lại là "đẹp đẽ" ư! Lại một lần nữa, tôi cảm thấy cái vực thẳm đang tóm lấy mình bằng những chiếc xúc tu của nó, và vút tận trên cao tán cây kia, tôi như nghe thấy tiếng cười nhạo báng ma quái.
— "Vâng," tôi cố gắng thốt lên, "chúng là những cái cây tuyệt vời. Tôi tự hỏi sao chúng có thể sống lâu đến thế."
— "Ngộ ghê phải không anh? Trong đó có một cái sân rộng lắm; người chủ cũ của nó là một người làm vườn, và đến giờ vẫn còn rất nhiều loài hoa kỳ lạ ở đó. Nhưng ông ấy mất rồi, và những người đang ở đây chẳng chăm sóc gì cả. Chắc họ đang đợi để bán đi ấy mà."
Phía trên đầu chúng tôi, tiếng ho khục khặc lại vang lên. "Có kinh khủng không cơ chứ?" bà thì thầm. "Ngày lẫn đêm, ngày với đêm; ổng chẳng được nghỉ ngơi chút nào, mà tôi cũng vậy. Chẳng trách có khối người phải tự tử."
— "Ông ấy có bao giờ nhắc đến chuyện đó không?" tôi hỏi. Giọng bà hạ xuống thành tiếng thì thầm. "Bây giờ thì ít hơn rồi, từ hồi mấy người ở nhà thờ đến thăm ổng. Ngày trước hay nói lắm; tôi nghĩ ổng đã làm thật rồi nếu không vì họ đấy. Nhưng dạo này họ cứ đến nói chuyện với ổng, bảo rằng làm thế là không đúng — nhân vụ tiền bảo hiểm ấy mà, anh biết đấy."
Trái tim tôi thắt lại một cách dữ dội đầy phẫn uất, và tôi nghiến chặt hàm răng. Ồ con người, con người ơi, ngươi đã tự biến mình thành cái gì thế này! Ngu ngốc hơn tất cả muôn thú trên mặt đất, chỉ vì một chút bố thí từ những thứ do chính tay ngươi làm ra để rồi bị cướp đoạt sự sống — để rồi bị tước đoạt và đầu độc — ngươi cam chịu cái chết đang gặm nhấm bằng muôn vàn cái miệng, gặm nhấm một cách tàn nhẫn không chút khoan nhượng. Ngươi cúi đầu chịu đựng những cực hình không tên dưới danh nghĩa thần thánh của... Bảo hiểm! Và nhân danh Bảo hiểm, người phụ nữ khốn khổ này vẫn đang duy trì hơi thở cho bộ xương của một con người!
Tôi xách bói đồ lên và bước đi. Suốt dọc đường đi, tôi cảm giác như mình đang phải bứt phá qua những cành tua tủa của sự chết chóc đang rủ xuống và đung đưa từ bức tường hôi hám, vồ lấy mọi thứ trên đường đi. Và suốt dọc đường, hiện lên trong tâm trí tôi là hình ảnh của bộ xương khô và người phụ nữ, vốn dĩ phải được khoác lên mình lớp thịt săn chắc, trẻ trung, rạng rỡ và tràn trề tình yêu của những kẻ khỏe mạnh, cường tráng. Ah, nếu lúc đó có ai nói với bà rằng: "Rồi sẽ có ngày mày phải làm tôi mọi đầu tắt mặt tối để giữ cho hắn sống qua những nỗi thống khổ vô nghĩa, để rồi phần thưởng cuối cùng mày nhận được là cầm lấy đồng tiền đổi bằng nỗi đau đớn của hắn"!...
Tôi đã sai. Tôi tưởng bà thèm muốn số tiền bảo hiểm, nhưng tôi đã hiểu lầm bà. Tôi nhận ra điều đó vào một ngày tháng Mười gió lộng hơn một năm sau, khi tôi tìm đến cuối con hẻm lần thứ hai.
Người bệnh đã "chịu đựng xong nỗi đau"; bộ khung xương gầy gò ốm o của người đàn ông ấy không còn nằm bên khung cửa sổ trên gác thượng nữa. Người phụ nữ đã được giải thoát. "Cuối cùng thì cả hai cũng được yên nghỉ," tôi thầm nghĩ.
Nhưng sự thật không như tôi tưởng tượng.
Tôi cứ ngỡ sự thư thái sẽ hiện lên trên gương mặt hốc hác của người phụ nữ, và tấm lưng gù của bà sẽ được duỗi thẳng. Thế nhưng, một điều hoàn toàn khác lại xuất hiện trên cả hai, một thứ gì đó vô cùng bất thường và khó tài nào hiểu nổi: ánh mắt ngẩn ngơ, khóe miệng trĩu xuống một cách đờ đẫn, dáng đi loạng choạng như thể của một kẻ đang phân vân không biết có nên quay lại tìm thứ gì đó hay không. Hơn thế nữa, công việc của bà bắt đầu xuất hiện sự thất thường đến khó chịu, gây không ít phiền toái.
Cuối cùng, vào ngày tháng Mười định mệnh ấy, sự bấp bênh mới mẻ này đã đẩy lòng kiên nhẫn của tôi đến giới hạn. Tôi sắp rời khỏi thành phố; tôi cần đồ giặt của mình, cần gấp; thế mà đã là bốn giờ chiều, chuyến tàu thì khởi hành vào ban đêm, và chẳng thể gói ghém hành lý nếu chưa có quần áo sạch. Nó đã trễ hạn năm ngày rồi.
Gió gào thét dữ dội, mưa quất từng đợt trắng trời, nhưng chẳng còn cách nào khác; tôi buộc phải đến "Cuối con hẻm" rồi quay về bằng mọi giá.
Bầu không khí xám xịt đẫm mưa ấy càng trở nên xám ngắt hơn trong con hẻm — và càng xám ngắt hơn nữa ở tận cùng đáy ngõ. Giữa cái màu xám xịt và làn mưa rả rích ấy, tôi suýt chẳng nhận ra sinh vật đang ngồi đối diện khi mình vừa mở cửa — một thứ hình hài con người nhòe nhoẹt, còng queo trên chiếc ghế bập bênh, đầu gục xuống ngực.
Đáp lại tiếng kêu giật mình của tôi, khuôn mặt ấy ngẩng lên một cách đờ đẫn trong tích tắc rồi lại gục xuống. Nhưng tôi đã kịp nhìn thấy: say khướt, say đến bất tỉnh nhân sự!
Và người phụ nữ này vốn dĩ chưa từng biết uống rượu.
Tôi đưa mắt nhìn quanh căn phòng tồi tàn. Bên khung cửa sổ, nơi ánh sáng xám xịt hắt vào, là chiếc bàn bày đầy chén đĩa chưa rửa; vài con ruồi muộn màng đang bò lổm ngổm trong những rãnh nước thải, những sinh linh khốn khổ say mèm, ng u ngốc lảo đảo bò lên bò xuống bộ đồ sứ nứt nẻ. Trên lò sưởi đặt vài chiếc bàn là, nhưng chẳng có nổi một đống lửa. Một đống quần áo chưa ủi nằmn bừa bộn trên chiếc ghế dài cũ kỹ và vắt vẻo trên lưng hai chiếc ghế trống. Trên bức tường phía trên chiếc ghế dài, bức chân dung của người đàn ông đã khuất vẫn đang treo đó.
Tôi bước đến bên cái bóng đang đổ gục trên chiếc ghế bập bênh, và với sự tàn nhẫn không kìm nén nổi, tôi gằn giọng đòi: "Hóa ra đây là lý do cô không đem quần áo cho tôi ư! Đồ của tôi đâu?"
Tôi nghe thấy chính giọng mình sắc lẹm như lưỡi dao, và chợt thấy nửa hổ thẹn khi sinh vật yếu ớt, đang run lẩy bẩy ấy ngẩng cái khuôn mặt ngờ nghệch lên, trân trân nhìn tôi bằng đôi mắt đục ngầu, ngơ ngác chẳng hiểu chuyện gì.
— "Quần áo của tôi," tôi nhắc lại; "chúng ở đây hay ở trên gác?"
— "Ch-chắc là có..." giọng nói ngọng nghịu lắp bắp, "ch-chắc thế."
— "Chẳng còn cách nào khác ngoài việc tự đi mà tìm," tôi lầm bầm, bắt đầu lục lọi đống đồ trên chiếc ghế dài. Chẳng có món nào của tôi ở đó cả, thế là tôi đành phải trèo lên cái Golgotha ở tầng hai — nơi bóng hình Thánh Giá đã biến mất, nhưng vẫn còn hằn lại những dấu tích từ cuộc hành xác dài đằng đẵng của nạn nhân: một đôi dép lê cũ vẫn nằm bên cửa sổ, chiếc mũ ngủ treo trên tường. Người ta đôi khi chẳng thể nào vứt bỏ nổi những món đồ từng chạm vào cơ thể người thân đã khuất.
Từng món một, tôi tìm thấy những bộ quần áo "khô thô" nằm ở đây, ở kia, ngoài hành lang, trên gác mái, treo lủng lẳng hoặc vo tròn nhét giữa hàng tá thứ khác. Và suốt khoảng thời gian tôi lục tìm, mưa vẫn quất, gió vẫn gào, hòa quyện với một thứ âm thanh trầm đục thứ ba cứ văng vẳng từ dưới tầng trệt vọng lên. Tim tôi thắt lại khi nghe thấy tiếng động ấy, bởi tôi thừa biết đó là tiếng người phụ nữ đang nức nở. Con người Phari-si tự đắc bên trong tôi bật lên tiếng cười nhạo đầy kiên nhẫn: "Những giọt nước mắt cồn cào!" Nhưng một cái gì đó lại bóp nghẹt lấy cổ họng tôi, khiến tôi vô thức liếc nhìn đôi giày của người quá cố.
Khi bước xuống lầu, tôi tránh chiếc ghế bập bênh, gói ghém bọc quần áo của mình lại, đếm tiền rồi đặt lên bàn, sau đó quay người lại, điềm tĩnh và lạnh lùng tuyên bố: "Tiền của cô đây; đừng có lấy nó đi mua rượu mạnh đấy, thưa bà Bossert."
Tiếng khóc đã giúp bà tỉnh táo lại đôi chút. Bà ngẩng lên, ánh mắt vẫn thiếu đi sự lanh lợi vốn có của một con chú chó thông minh, nhưng đã phảng phất một chút tự nhận thức mơ hồ. Trông gương mặt ấy hệt như một bóng hình hiện lên sau những bọt nước méo mó. Bà khẽ giơ tay lên rồi buông thõng xuống, lắp bắp: "Không, tôi không mua đâu. Chẳng có ích gì cho ai cả."
Cái ham muốn thuyết giáo vô lối lại bủa vây lấy tôi.
— "Bà Bossert," tôi lớn tiếng, "bà không thấy xấu hổ với bản thân mình sao? Một người phụ nữ như bà, đã trải qua bao nhiêu giông bão, lâu đến thế, và kiên cường đến thế! Để rồi giờ đây, khi có thể sống một cách đàng hoàng, lại hành xử thế này!"
Cái miệng nhão nhoét há hốc ra, đôi mắt đờ đẫn trân trân nhìn tôi ngây dại, rồi dịch chuyển sang bức chân dung trên tường; và với một nụ cười ngây ngô giả tạo như của một ả đàn bà hư hỏng già cả đang giả nai tuổi trăng tròn, bà vừa lảm nhảm vừa gật đầu chào bức chân dung: "Tất cả... vì tình yêu... dành cho ổng."
Cảnh tượng ấy nực cười đến mức tôi phải bật cười. Rồi một cơn giận buốt giá tràn ngập tâm trí tôi: "Này," tôi nói (và tôi lại nghe thấy giọng mình vang lên, lạnh lùng và tĩnh lặng, cắt ngang không gian như một nhát roi), "nếu bà tin, như tôi từng nghe bà nói, rằng chồng bà có thể nhìn xuống bà từ bất cứ nơi nào, hãy nhớ rằng bà chẳng thể làm điều gì khiến ông ấy đau lòng hơn những gì bà đang làm lúc này đâu. 'Tình yêu' cơ đấy!"
Đòn roi đã giáng trúng đích. Thân hình tàn tạ co rúm lại; giọng nói thốt ra nghe rên rỉ như tiếng kêu của một kẻ câm: "Ồ... tôi cô độc lắm."
Và rồi, đột nhiên tôi hiểu ra. Hồi nãy tôi đã lầm tưởng cái nhìn liếc liếc đầy vẻ cợt nhả vào chiếc bóng trên tường, câu nói lắp bắp dãi dượi "Tất cả... vì tình yêu... dành cho ổng" là một sự chế giễu, là một sự báng bổ. Thế nhưng đó lại là một điều vô cùng thiêng liêng! Không phải lời tỏ tình của đôi lứa thốt lên vào buổi bình minh của tuổi trẻ với những ngày tháng chưa từng trải nghiệm trước mắt, dưới thứ bùa yêu quyến rũ của hơi thở và những nụ hôn hòa quyện, của dòng máu sục sôi và những cơ thể đang rạo rực; mà là lời của một người phụ nữ còng lưng vì phục dịch, hằn sâu dấu vết lao động, tiều tụy vì thức khuya dậy sớm canh chừng; lời của người phụ nữ từng bên bồn giặt mà vẫn gồng mình nuôi người chồng đau ốm bằng chính đôi tay lao động, và chăm sóc ông trong những giấc ngủ chập chờn ngắn ngủi. Đó là thứ niềm đam mê muôn thuở của một tâm hồn bé nhỏ bình thường, vốn chẳng có gì nhiều, từng chẳng có gì, và giờ đã mất đi tất cả. Năm tháng đọng lại trong đó. Suốt bao năm trời, bà đã gánh vác gánh nặng của đời mình; và bà đã mang nó cho đến tận mép vực của nấm mồ. Nơi đó, gánh nặng đã rơi xuống, và đôi tay bà trở nên trống rỗng. Chẳng còn việc gì để làm nữa. Cô độc một mình.
Bà chợt ngồi bật dậy, trên khuôn mặt thoáng lóe lên một tia sáng rực rỡ chớp nhoáng. — "Chừng nào còn ổng," bà nói, "thì tôi còn làm việc được. Đã không biết bao nhiêu lần tôi từng nghĩ mình sẽ thấy nhẹ nhõm khi ổng qua đời. Nhưng tôi thà rằng ổng vẫn còn ở trên kia... Tôi đã làm mọi thứ cho ổng. Tôi không tống tiễn ổng đi một cách tệ bạc đâu. Có một trăm hai mươi lăm đô-la tiền bảo hiểm cơ mà. Tôi tiêu sạch vào ổng hết. Ổng được phủ kín bằng hoa."
Tia sáng vụt tắt, và bà khuỵu xuống như một chiếc túi xẹp lép. Tôi nhìn thấy sự trống rỗng xám xịt đang lan dần vào trong hướng về phía đốm sáng trí tuệ cuối cùng trong đôi mắt bà, hệt như một mẩu than hồng đang dần hóa trắng vào tới tâm điểm lửa mờ nhạt cuối cùng. Rồi đống giẻ rách ấy run lên bần bật kèm theo tiếng rên rỉ phi nhân tính: "C-ô... đ-ơ-n."
Giữa bóng tối đang cuồn cuộn vây quanh, tôi cảm thấy sự hoang vắng đang siết chặt lấy mình như chiếc ê-tô. Phía sau cái bóng gục đầu trên chiếc ghế kia, một thứ hồn ma giữa đêm đen đang tụ hợp; trong khoảnh khắc, tôi bắt gặp ánh chớp lóe lên từ đôi mắt đầy vương giả và hiểm độc của hắn, Chúa tể của những đống đổ nát nhân gian, Chú rể sát nhân của những tâm hồn góa bụa, Vua Cồn-khô-hol (Rượu).
— "Dù sao thì kết cục thế này hay thế khác cũng chẳng khác gì nhau," tôi lầm bầm; và cất tiếng nói to (nhưng cái âm điệu sắc bén như roi quất đã biến mất khỏi giọng tôi): "Tiền ở trên bàn đấy."
Bà chẳng hề nghe thấy tôi; vị Chú rể kia "đã ban Giấc Ngủ cho Người Yêu của Ngài."
Tôi lặng lẽ bước ra ngoài làn mưa dữ dội, và phía trên cao, giữa những tán cây trơ trụi quật quại roi và quanh cái ngõ hụt, gió đang rên rỉ: "C-ô... đ-ơ-n."